Về tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam SAU GẦN 5 NĂM THÍ ĐIỂM HOẠT ĐỘNG

TS. ĐINH LA THĂNG – Chủ tịch Hội đồng thành viên Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam

Thực hiện thí điểm hoạt động các tập đoàn kinh tế trong gần 5 năm qua là đưa Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa IX của Đảng vào cuộc sống. Tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện mô hình này là đòi hỏi khách quan và thực tiễn để xây dựng những tập đoàn kinh tế mạnh ở Việt Nam đủ sức cạnh tranh trên thị trường khu vực và quốc tế, thực hiện tốt mục tiêu bảo đảm vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Chủ trương phát triển các tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3(khóa IX) có nêu: Hình thành một số tập đoàn kinh tế mạnh trên cơ sở các tổng công ty nhà nước, có sự tham gia của các thành phần kinh tế, kinh doanh đa ngành, trong đó có ngành kinh doanh chính, chuyên môn hóa cao và giữ vai trò chi phối lớn trong nền kinh tế quốc dân, có quy mô rất lớn về vốn, hoạt động cả trong nước và ngoài nước, có trình độ công nghệ cao và quản lý hiện đại, đào tạo, nghiên cứu triển khai với sản xuất kinh doanh. Thí điểm hình thành tập đoàn kinh tế trong một số lĩnh vực có điều kiện, có thế mạnh, có khả năng phát triển để cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả như: dầu khí, viễn thông, điện lực, xây dựng…

Triển khai thực hiện Nghị quyết trên, Chính phủ đã chỉ đạo xây dựng thí điểm mô hình tập đoàn kinh tế từ đầu năm 2005 nhằm thực hiện các mục tiêu: 1 – Tập trung đầu tư và huy động các nguồn lực hình thành nhóm công ty có quy mô lớn trong các ngành, lĩnh vực then chốt, phát triển, nâng cao khả năng cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế; 2 – Bảo đảm các cân đối lớn trong nền kinh tế quốc dân, ứng dụng công nghệ cao, tạo động lực phát triển cho các ngành, các lĩnh vực khác và toàn bộ nền kinh tế; thúc đẩy liên kết trong chuỗi giá trị gia tăng, phát triển các thành phần kinh tế khác; 3 – Tăng cường quản lý, giám sát có hiệu quả đối với vốn, tài sản nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp trong tập đoàn; 4 – Tạo cơ sở để hoàn thiện cơ chế chính sách và pháp luật về tập đoàn kinh tế.

Continue reading

VỀ TẬP ĐOÀN KINH TẾ NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM SAU GẦN 5 NĂM THÍ ĐIỂM HOẠT ĐỘNG

TS. ĐINH LA THĂNG – Chủ tịch Hội đồng thành viên Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam

Thực hiện thí điểm hoạt động các tập đoàn kinh tế trong gần 5 năm qua là đưa Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa IX của Đảng vào cuộc sống. Tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện mô hình này là đòi hỏi khách quan và thực tiễn để xây dựng những tập đoàn kinh tế mạnh ở Việt Nam đủ sức cạnh tranh trên thị trường khu vực và quốc tế, thực hiện tốt mục tiêu bảo đảm vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Chủ trương phát triển các tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3(khóa IX) có nêu: Hình thành một số tập đoàn kinh tế mạnh trên cơ sở các tổng công ty nhà nước, có sự tham gia của các thành phần kinh tế, kinh doanh đa ngành, trong đó có ngành kinh doanh chính, chuyên môn hóa cao và giữ vai trò chi phối lớn trong nền kinh tế quốc dân, có quy mô rất lớn về vốn, hoạt động cả trong nước và ngoài nước, có trình độ công nghệ cao và quản lý hiện đại, đào tạo, nghiên cứu triển khai với sản xuất kinh doanh. Thí điểm hình thành tập đoàn kinh tế trong một số lĩnh vực có điều kiện, có thế mạnh, có khả năng phát triển để cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả như: dầu khí, viễn thông, điện lực, xây dựng…

Triển khai thực hiện Nghị quyết trên, Chính phủ đã chỉ đạo xây dựng thí điểm mô hình tập đoàn kinh tế từ đầu năm 2005 nhằm thực hiện các mục tiêu: 1 – Tập trung đầu tư và huy động các nguồn lực hình thành nhóm công ty có quy mô lớn trong các ngành, lĩnh vực then chốt, phát triển, nâng cao khả năng cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế; 2 – Bảo đảm các cân đối lớn trong nền kinh tế quốc dân, ứng dụng công nghệ cao, tạo động lực phát triển cho các ngành, các lĩnh vực khác và toàn bộ nền kinh tế; thúc đẩy liên kết trong chuỗi giá trị gia tăng, phát triển các thành phần kinh tế khác; 3 – Tăng cường quản lý, giám sát có hiệu quả đối với vốn, tài sản nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp trong tập đoàn; 4 – Tạo cơ sở để hoàn thiện cơ chế chính sách và pháp luật về tập đoàn kinh tế.

Continue reading

CẢI CÁCH DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC: PHAN BIỆT DOANH NGHIỆP ĐỘC QUYỀN VAFDOANH NGHIỆP CÓ VỐN NHÀ NƯỚC

GS.TS. NGUYỄN VÂN NAM

Nhà nước có nhiệm vụ hiến định bảo đảm mức sống ổn định tối thiểu cho người dân và can thiệp ở nơi và khi thị trường bất lực, nên tại đây, nhà nước phải sử dụng công cụ là các DNNN và trao cho nó độc quyền.

Nên đặt vấn đề cải cách doanh nghiệp nhà nước (DNNN) trong tổng thể chung giải quyết vấn đề kinh tế nhà nước như thế nào để hội nhập thành công. Cần có quy định pháp lý phân biệt rõ ràng DNNN độc quyền với doanh nghiệp có vốn góp của nhà nước.

Trong lịch sử kinh tế thế giới, kinh tế kế hoạch chỉ huy – kết hợp các ưu điểm của cơ chế thị trường dưới sự chỉ huy của lý trí “luôn luôn đúng“ của lãnh đạo – không xa lạ. Nền kinh tế kế hoạch chỉ huy thành công nổi tiếng nhất là nền kinh tế của nước Đức phátxít dưới sự lãnh đạo của Hitler. Thời đó, tỷ lệ thất nghiệp của Đức là 0%, Đức quốc xã là nước áp dụng thành công lý thuyết về vai trò kích cầu nhà nước của nhà kinh tế học nổi tiếng Keynes. Thành quả của nền kinh tế kế hoạch chỉ huy này đã tạo đầy đủ cơ sở vật chất cho Hitler tiến hành chiến tranh thế giới. Điểm đặc biệt nguy hại của một nền kinh tế như vậy là ở chỗ nó luôn phải tự tạo ra các nhu cầu phi thị trường theo ý chí chủ quan của người lãnh đạo. Với nước Đức phátxít, đó là nhu cầu chuẩn bị và phục vụ chiến tranh.

Dù có một nền kinh tế kế hoạch chỉ huy hoàn hảo đi chăng nữa thì nhà nước vẫn không thể giải quyết được vấn nạn thuộc về bản chất là không thể kiểm soát các DNNN. Nhà nước – do đủ thứ nguyên nhân và quan hệ chồng chéo – không bao giờ có thể có được đầy đủ và chính xác các thông tin cần thiết cho việc kiểm soát toàn diện hoạt động của DNNN.

Kinh nghiệm của rất nhiều nước cũng chỉ ra rằng chỉ có thể lựa chọn dứt khoát hoặc là kinh tế thị trường hoặc là kinh tế kế hoạch chứ không thể kết hợp cả hai. Là thành viên WTO, chúng ta đã không chỉ cam kết xây dựng kinh tế thị trường, mà còn có nghĩa vụ tự do hoá thị trường.

Kinh tế thị trường – thông qua thị trường và cạnh tranh tự do, lành mạnh – giải quyết hiệu quả hầu hết các vấn đề của doanh nghiệp, của hoạt động kinh tế. Nhưng kinh tế thị trường làm phát sinh những vấn đề xã hội mà không phải lúc nào thị trường cũng có thể giải quyết ổn thoả. Chính là ở đây, nhà nước mới có trách nhiệm, nghĩa vụ và được phép hoạt động thay thị trường. Tuy nhiên, hoạt động kinh tế này của nhà nước phải tuân thủ ba nguyên tắc: (1) Chỉ can thiệp vào nơi và khi thị trường đã tỏ ra bất lực; (2) Nguyên tắc trợ giúp; (3) Hạn chế đến mức thấp nhất tác động làm sai lệch môi trường cạnh tranh, làm hạn chế quyền tự do kinh doanh của công dân.

Continue reading

CÁC ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN TRUYỀN THỐNG

TỪ THẢO – Global Invest Co.ltd

– Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) là một loại hình công ty, một mô hình tổ chức kinh doanh trong nền kinh tế thị trường như các loại hình tổ chức kinh doanh khác.

– Công ty TNHH là một pháp nhân – một thực thể pháp lý trừu tượng và độc lập (trong tiếng Anh gọi là artificial legal person hay Separate legal entity). Công ty độc lập và tách bạch hoàn toàn với các chủ thể đã tạo lập ra nó và đưa tài sản taọ lập nên tài sản của nó về mặt pháp luật.

– Thành viên công ty không nhiều, thường bị giới hạn ở mức tối đa và thường là những người quen biết nhau. Các nhà làm luật thường không chấp nhận mô hình công ty này có số lượng thành viên quá lớn. Bên cạnh đó, các thành viên của mô hình công ty này thường có mối quan hệ với nhau về nhân thân: có thể là người trong dòng họ, gia đình hay bạn bè, thân thiết ở mức độ có thể tin cậy và chia sẻ. Tính chất của các mối quan hệ này gần giống như của công ty đối nhân (mà điển hình là các hơp danh – partnership).

– Bản chất của loại công ty này mang tính đóng chứ không mở như công ty cổ phần. Đặc tính này có liên quan chặt chẽ đến việc huy động vốn từ công chúng của loại công ty này trong sự so sánh với công ty cổ phần. Các loại công ty này thường không được quyền huy động vốn từ công chúng thông qua phát hành chứng khoán ra công chúng một cách công khai. Tuy nhiên, vấn đề cụ thể của việc phát hành chứng khoán có khác nhau ở các quốc gia. Có quốc gia cấm công ty TNHH phát hành mọi loại chứng khoán, có quốc gia cho phép nó phát hành giấy nhận nợ – trái phiếu (debenture) để vay vốn từ bên ngoài… Tuy nhiên, tất cả các nước đều không cho nó phát hành cổ phiếu (Shares) để huy động vốn từ công chúng vì nếu cho phép nó phát hành cổ phiếu vì nếu cho phép nó phát hành cổ phiếu,khi đó nó sẽ trở thành công ty cổ phần. Dù khả năng huy động vốn từ công chúng đến đâu, tất cả đều không thể làm thay đổi tư cách và số lượng thành viên bằng việc phát hành chứng khoán. Về cơ bản, chứng khoán có hai loại: các chứng chỉ đầu tư ở dạng cổ phiếu để trở thành cổ đông công ty và loại thứ hai là các trái phiếu ghi nợ, ai là chủ sở hữu thì họ là chủ nợ của công ty. Tính khép kín, tính đóng của loại công ty này không cho phép nó phát hành cổ phiếu vì phát hành cổ phiếu là huy động thêm vốn điều lệ, người mua nó sẽ trở thành chủ sở hữu, trở thành thành viên của công ty.

Continue reading

CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN “BÌNH MỚI, RƯỢU CŨ”

TS. BÙI XUÂN HẢI – Trưởng khoa Luật Thương Mại, ĐH Luật TP.HCM

Theo qui định tại Điều 166 Luật Doanh nghiệp 2005 thì chậm nhất trong thời hạn bốn năm kể từ ngày Luật DN 2005 có hiệu lực (01/7/2006), các công ty nhà nước thành lập theo quy định của Luật DNNN năm 2003 phải chuyển đổi thành công ty TNHH hoặc CTCP theo quy định của Luật DN 2005. Theo ước tính của Ban chỉ đạo đổi mới DN Trung ương, có khoảng 1.500 công ty nhà nước thuộc diện chuyển đổi sang mô hình công ty TNHH một thành viên vì chưa hoàn thành cổ phần hóa trước ngày 1/7/2010. Song, đến ngày 1-7 vẫn còn khoảng 50 doanh nghiệp chưa hoàn thành việc chuyển đổi thành công ty TNHH một thành viên hoạt động theo Luật DN 2005.

Chuyển đổi để cạnh tranh bình đẳng

Sự chuyển đổi này là đòi hỏi mang tính tất yếu của việc xây dựng một nền kinh tế đa thành phần theo cơ chế thị trường, tạo điều kiện cho sự cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế và đáp ứng yêu cầu của việc hội nhập kinh tế quốc tế. Không thể có những ‘sân chơi pháp lý’ khác nhau cho những loại hình doanh nghiệp khác nhau chỉ về sở hữu; không nên có những qui định quá khác nhau về địa vị pháp lý thể hiện sự phân biệt đối xử giữa một công ty thuộc sở hữu tư nhân với một công ty do nhà nước làm chủ sở hữu.

Khác với tất cả các nhà đầu tư khác, nhà nước có quyền ban hành luật, điều chỉnh các quan hệ xã hội bằng pháp luật theo ý chí của mình và tổ chức thực thi pháp luật. Vì vậy, việc tách rời hẳn chức năng quản lý nhà nước và chức năng kinh doanh thực sự là việc cần phải làm, không thể né tránh. Nhìn ở góc độ cụ thể, nhiều quan chức cao cấp trong bộ máy nhà nước, thậm chí đang là thứ trưởng, lại đang đồng thời giữ vị trí thành viên hay Chủ tịch HĐTV của một tập đoàn kinh tế nhà nước, vậy thì, thật khó khăn cho các vị quan chức này hoàn thành tốt vị trí, vai trò, nhiệm vụ của một quan chức – một chính khách và một nhà quản trị doanh nghiệp cao cấp – người quản lý công ty theo qui định của Luật DN 2005; sẽ không dễ dàng để hành xử một cách khách quan giữa hai vị trí rất khác nhau và đôi khi có sự xung đột về lợi ích.

Continue reading

BÀN THÊM VỀ QUYỀN ƯU TIÊN MUA CỔ PHẦN

TỪ THẢO – Cố vân Công ty Nam An Law

Cổ đông phổ thông được ưu tiên mua cổ phần mới chào bán tương ứng với tỷ lệ cổ phần của từng cổ đông trong công ty. Cụ thể như sau:

+ Một là, quyền ưu tiên mua cổ phần mới chào bán của công ty chỉ đặt ra khi một CTCP kinh doanh có lợi nhuận và phát hành thêm cổ phần mới để gọi thêm vốn cổ phần, khi đó, cổ đông của công ty sẽ được ưu tiên mua số cổ phần công ty mới chào bán này.

+ Hai là, chỉ có những cổ đông hiện hữu tại thời điểm công ty cổ phần (CTCP) gọi thêm vốn cổ phần mới được hưởng quyền này.

+ Ba là, quyền ưu tiên mua cổ phần mới được đặt ra để bảo vệ quyền lợi cho các cổ đông hiện hữu, họ là những người đã gắn bó vơi công ty, và khi công ty kinh doanh có hiệu quả họ cũng phải là những người đầu tiên được hưởng lợi từ kết quả hoạt động kinh doanh này. Sự ưu tiên này thể hiện ở hai khía cạnh sau đây:

Ưu tiên về giá: Theo quy định tại Điều 87.1 Luật doanh nghiệp 2005, giá chào bán cổ phần không được thấp hơn giá thị trường tại thời điểm chào bán… ngoại trừ một số trường hợp, trong đó có trường hợp cổ phần chào bán cho tất cả các cổ đông hiện hữu theo tỷ lệ cổ phần hiện có của họ trong công ty.

Như vậy, giá chào bán cổ phần cho các cổ đông hiện hữu có thể thấp hơn giá thị trường (dành cho mọi đối tượng khác trong xã hội). Nghĩa là để sở hữu một lượng cổ phần như nhau thì các cổ đông hiện hữu sẽ bỏ ra một số tiền nhỏ hơn so với những người khác phải mua theo giá thị trường, vì giá mua cổ phần chào bán của các cổ đông hiện hữu thấp hơn giá mua cổ phần (giá thị trường) của các chủ thể khác. Sự ưu tiên về giá mua cổ phần mới chào bán của cổ đông hiện hữu chính là ở điều này.

Ưu tiên về thứ tự mua cổ phần: theo đó số cổ phần mới chào bán sẽ phải bán cho những cổ đông hiện hữu trước, nghia là họ được ưu tiên mua trước, sau đó phần còn lại công ty mới có thể chào bán rộng rãi cho các nhà đầu tư khác.

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 102/2010/NĐ-CP VỀ HƯỚNG DẪN CHI TIẾT MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT DOANH NGHIỆP: TỐT VÀ CHƯA TỐT

NGUYÊN TẤN

So với quy định hiện hành, Nghị định 102/2010/NĐ-CP (gọi tắt là “Nghị định 102”) hướng dẫn chi tiết một số điều của Luật Doanh nghiệp vừa được Chính phủ ban hành có khá nhiều điểm mới. Có điểm mới tốt, tuy nhiên cũng có những điểm mới gây băn khoăn.

Những điểm mới ấn tượng

“Làn gió mới” đầu tiên mà Nghị định 102 mang đến là quy định về việc góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ. Theo đó, tổ chức, cá nhân được quyền sử dụng các tài sản liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ để góp vốn. Chính phủ cũng quy định luôn là Bộ Tài chính có trách nhiệm ban hành văn bản hướng dẫn về việc này (điều 5).

Lâu nay, thương hiệu – phần nào đó có liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ (nhãn hiệu, tên thương mại…) có được góp vốn vào doanh nghiệp hay không vẫn là vấn đề chưa rõ ràng về phương diện pháp lý. Có những văn bản, ví dụ như các quy định về xác định giá trị doanh nghiệp khi cổ phần hóa thừa nhận giá trị thương hiệu là một trong những loại tài sản được đưa vào giá trị doanh nghiệp.

Tuy nhiên, theo hướng dẫn của Tổng cục Thuế (cụ thể là tại công văn của Tổng cục Thuế giải thích Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 04-Tài sản cố định vô hình ban hành kèm theo Quyết định 149/2001/QĐ-BTC của Bộ Tài chính), thương hiệu không được ghi nhận là tài sản và do đó không được góp vốn bằng thương hiệu.

Vì lý do này, khi xác định giá trị Bệnh viện Bình Dân để cổ phần hóa cách đây ba năm các chuyên gia đã phải loại bỏ giá trị thương hiệu “Bình Dân” để chọn một phương án khác có giá trị thấp hơn. Dù không liên quan lắm đến vấn đề định giá doanh nghiệp cổ phần hóa nhưng dù sao với quy định trên, doanh nghiệp sẽ an tâm hơn khi đưa vốn vào kinh doanh bằng quyền sở hữu trí tuệ, trong đó có nhãn hiệu, tên thương mại…

Continue reading

VẤN ĐỀ ỦY QUYỀN DỰ HỌP ĐẠI HỘI CỔ ĐÔNG TRONG PHÁP LUẬT VỀ DOANH NGHIỆP

TRANG THÔNG TIN PHÁP LUẬT BỘ CÔNG THƯƠNG – Khi Đại hội đồng cổ đông họp thông thường, không phải mọi cổ đông đều có thể tham gia. Tuy nhiên pháp luật công ty nước nào cũng quy định về việc để phiên họp Đại hội đồng cổ đông có giá trị thì phải có đủ một tỉ lệ cổ đông nắm giữ một lượng cổ phần nhất định tham gia biểu quyết. Vậy làm sao để có đủ số lượng cổ đông cũng như cổ phần nhất định trong cuộc họp khi mà các cổ đông có thể đang ở khắp nơi trên thế giới? Và chính vì điều này mà vấn đề ủy quyền trong các cuộc họp Đại hội đồng cổ đông được bàn đến khá nhiều trong pháp luật về công ty.

1. Ủy quyền dự họp Đại hội đồng cổ đông theo pháp luật Việt Nam:

Trong pháp luật Việt Nam, vấn đề pháp lý này được quy định trong Luật doanh nghiệp và Nghị định 139/2007/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết thi hành một số điêu Luật doanh nghiệp hiện đang được sửa đổi. Theo đó, Luật doanh nghiệp tại Điều 79, khoản 1 điểm a quy định Cổ đông có quyền "Thực hiện quyền biểu quyết trực tiếp hoặc thông qua đại diện được ủy quyền". Dự thảo Nghị định sửa đổi Nghị định 139/2007/NĐ-CP tại Điều 27 khoản 1 điểm c quy định cổ đông có thể tham dự Đại hội đồng cổ đông bằng cách ủy quyền cho người khác dự họp Đại hội đồng cổ đông và "nếu điều lệ công ty không quy định khác hoặc cổ đông có liên quan không có ý kiến khác bằng văn bản, các thành viên độc lập của Hội đồng quản trị đương nhiên là người đại diện theo ủy quyền của tất cả các cổ đông không tham dự họp Đại hội đồng cổ đông"

Quy định nói trên nhằm giải quyết một vấn đề thực tiễn liên quan chủ yếu đến các công ty cổ phần niêm yết. Theo Luật doanh nghiệp tại Điều 102, khoản 1 thì cuộc họp của Đại hội đồng cổ đông được tiến hành khi có số cổ đông dự họp đại diện ít nhất 65% số cổ phần có quyền biểu quyết. Tuy vậy, trong thực tế cho thấy một bộ phận không nhỏ cổ đông, nhất là cổ đông là cá nhân của các công ty niêm yết thường ít quan tâm và không tham dự họp Đại hội đồng cổ đông, vì vậy, việc triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông lần đầu thường không đủ số cổ đông tham dự theo quy định và vì vậy không thế họp được.

Continue reading

AI QUẢN LÝ CỔ TỨC CỦA NHÀ NƯỚC?

HẢI LÝ

Doanh nghiệp quốc doanh là khu vực duy nhất của nền kinh tế hiện nay mỗi khi được tăng vốn không phải cam kết sẽ sử dụng vốn hiệu quả cụ thể ở mức nào.

Vietnam Report vừa công bố danh sách 1.000 doanh nghiệp nộp thuế thu nhập lớn nhất nước. Trong số 10 đơn vị hàng đầu, chỉ có hai công ty không có tí vốn nhà nước nào là Bảo hiểm nhân thọ Prudential và liên doanh Phú Mỹ Hưng. Đứng ở góc độ cơ quan quản lý, Nhà nước là người thu thuế, áp dụng một mức thuế thu nhập bằng nhau cho tất cả mọi thành phần kinh tế, nên doanh nghiệp nào nộp nhiều thuế cần phải được khen thưởng, động viên để họ làm ăn hiệu quả hơn nữa, để “nộp thuế năm sau cao hơn năm trước”.

Tuy nhiên, ở góc độ ông chủ – là người đầu tư vốn vào các doanh nghiệp quốc doanh – thì Nhà nước không thể không tính toán đến hiệu quả sử dụng đồng vốn của mình. Và sự tính toán đó không chỉ đơn thuần dựa trên số thuế thu nhập mà doanh nghiệp nhà nước nộp cho ngân sách.

Ngân hàng Ngoại thương Vietcombank đứng ở vị trí thứ tư trong bảng xếp hạng. Theo báo cáo thường niên năm 2009, Vietcombank nộp thuế thu nhập doanh nghiệp 1.060 tỉ đồng. Nhưng đây không phải là số tiền duy nhất ngân sách thu được từ ngân hàng.

Năm ngoái Vietcombank trả cổ tức 12% cho cổ đông hiện hữu. Với tư cách là cổ đông lớn nhất, nắm giữ 90,72% vốn của Vietcombank (vốn điều lệ Vietcombank năm 2009 là 12.100 tỉ đồng), Nhà nước còn nhận được 1.317 tỉ đồng cổ tức. Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) đại diện cho phần vốn nhà nước tại Vietcombank đã nhận cổ tức nói trên và nộp vào ngân sách.

Như vậy cổ tức của Vietcombank mà Nhà nước nhận được còn cao hơn thuế thu nhập doanh nghiệp của ngân hàng. Nhìn từ khía cạnh này, ông chủ Nhà nước bỏ tiền vào Vietcombank là một nhà đầu tư thành công.

Có những doanh nghiệp không có tên trong tốp 10 của Vietnam Report nói trên, nhưng sự làm ăn hiệu quả của họ đã mang lại cho Nhà nước một mức lợi nhuận đáng kể.

Continue reading

LÀM RÕ MỤC TIÊU SỞ HỮU DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

NHÓM TÁC GIẢ: PGS .TS. PHẠM DUY NGHĨA, PGS. TS. ĐẶNG VĂN THANH, LS. TRẦN HỮU HUỲNH, LS. NGUYỄN TIẾN LẬP

Chỉ khi làm rõ được mục tiêu của sở hữu, chúng ta mới có thể xác định một cách đúng đắn và hợp lý cách bảo vệ nó.

Có ba vấn đề cốt yếu liên quan đến nhau và đều cần được lý giải cả về lý luận và thực tiễn một cách đồng bộ. Đó là: Trong nền kinh tế thị trường có cần thiết duy trì doanh nghiệp nhà nước (DNNN) hay không, nếu có thì ở quy mô và lĩnh vực nào? Cách thức tổ chức, quản lý và điều hành DNNN ra sao? Ai sẽ là chủ sở hữu DNNN?

Trực tiếp kinh doanh, nhà nước cản trở thể chế thị trường

Trong nền kinh tế thị trường, chức năng kinh tế của Nhà nước không mất đi, tuy nhiên thay đổi về chất. Nhà nước (theo bản chất thông thường của nó) không còn “làm kinh doanh”, tức kiếm tiền để “nuôi ngân sách” nữa, mà chỉ còn định hướng, tác động và điều tiết nền kinh tế trên cơ sở chính sách, pháp luật và các công cụ quản lý vĩ mô nhất định. Nếu như vậy thì quy mô doanh nghiệp nhà nước phải bị thu hẹp lại, và tính chất, mục tiêu của nó phải thay đổi, tức không tham gia cạnh tranh trên thị trường mà chỉ thực hiện các nhiệm vụ mang tính xã hội và công ích.

Nguyên lý chung là như vậy, nhưng tình hình thực tiễn ở nước ta lại khác. Nhà nước, thông qua các doanh nghiệp của mình, vẫn trực tiếp kinh doanh một cách mạnh mẽ và duy trì các chức năng kinh tế khác.

Cho đến nay, vẫn tồn tại hai vướng mắc khá cơ bản. Thứ nhất, đó là mâu thuẫn giữa chủ trương giảm bớt doanh nghiệp nhà nước (DNNN thông qua cơ chế cổ phần hoá và tăng cường sức mạnh của DNNN thông qua chính sách “tập đoàn hoá”. Thứ hai, DNNN nói chung đang bị khoác lên vai quá nhiều vai trò và chức năng, bao gồm cả bảo đảm sức mạnh chính trị, duy trì ổn định xã hội, điều tiết kinh tế và “làm tiền” v.v…

Chính điều đó đã “đẻ” ra rất nhiều các hệ quả và hậu quả khó giải quyết, mà quan trọng nhất là các khó khăn, cản trở cho việc xây dựng và hoàn thiện các “thể chế kinh tế thị trường”.

Continue reading

DOANH NGHIỆP VÀ SỰ PHÂN BIỆT VAI TRÒ

image TÔ VĂN TRƯỜNG

Mặc dù doanh nghiệp nhà nước luôn được nuông chiều, chăm bẵm, ưu ái nhưng lại chậm lớn, ỷ lại, trong khi doanh nghiệp tư nhân thiệt thòi đủ điều lại biết vượt khó, ngày càng vươn lên, thành đạt.

Bất cứ quốc gia nào muốn phát triển kinh tế xã hội bền vững đều phải quan tâm đến cơ cấu kinh tế xã hội, nâng cao năng suất lao động, hiệu quả sử dụng nguồn tài nguyên, nhân lực. Trong quá trình phát triển, cải cách cơ cấu kinh tế xã hội là nỗ lực của toàn xã hội, trong đó Chính phủ đóng vai trò trung tâm. Trong xã hội, người ta vẫn ví von các doanh nghiệp nhà nước là con đẻ, còn doanh nghiệp tư nhân như con nuôi. Éo le thay, mặc dù con đẻ luôn được nuông chiều, chăm bẵm, ưu ái nhưng lại chậm lớn, ỷ lại, trong khi con nuôi thiệt thòi đủ điều lại biết vượt khó, ngày càng vươn lên, thành đạt.

Về mục tiêu phát triển, thực tế cho thấy do các suy luận chủ quan ban đầu dẫn tới việc cho rằng phải có các doanh nghiệp nhà nước lớn làm nền tảng chủ đạo hay đối trọng, cân bằng với các thế lực kinh tế “ngoại quốc”. Nhà nước, tập trung, ra sức tài trợ vốn, ưu ái sử dụng tài nguyên đất đai, khoáng sản, cơ chế chính sách cho doanh nghiệp nhà nước nhưng tốc độ tăng trưởng thấp nhất trong các thành phần kinh tế, tạo công ăn việc làm cũng ít nhất. Không ít người có năng lực nhưng làm việc trong môi trường thiếu động lực phát triển đã ảnh hưởng đến tư duy suy nghĩ và tư duy hành động.

Thực tế cho thấy, vai trò làm chủ của Nhà nước tại hầu hết các doanh nghiệp nhà nước chưa được luật hoá, thiếu vắng các cơ chế giám sát, kiểm tra rõ ràng, minh bạch, không theo kịp các diễn biến kinh tế xã hội cho nên nhiều doanh nghiệp gây thất thoát lớn tài sản công. Môi trường nhà nước thực sự là “chùm khế ngọt” là nơi, một số người có thể giàu to, đến người nước ngoài cũng phải ngạc nhiên, lắc đầu “khâm phục”! Các thống kê cho thấy, thậm chí thu nhập bình quân ở khu vực nhà nước vẫn cao hơn khu vực tư nhân trong khi chỉ số ICOR lại cao một cách đáng ngại khoảng 8 – 14 ở khu vực nhà nước so với khoảng 3 – 5 ở khu vực tư nhân. Điều này, cho thấy các ưu ái cho doanh nghiệp nhà nước thực sự không phát huy tác dụng, chỉ cổ vũ chút ít cho đồng lương bình quân mà hiệu quả tổng quan về tiêu chí tạo công ăn, việc làm mới, hiệu quả an sinh xã hội thấp, thu hút rất nhiều nguồn lực quốc gia về đất đai, khoáng sản, con người nhưng lại lập trình sẵn cho quá trình lãng phí, tham nhũng, tư lợi, đã và đang diễn ra với các tài sản công “cha chung không ai khóc”!

Continue reading

BẤT NGỜ VỚI VAI TRÒ CHỦ ĐẠO CỦA KINH TẾ NGOÀI QUỐC DOANH

MẠNH QUÂN

Riêng về thuế, theo tính toán của ông Nguyễn Quang A, số thu thuế thu nhập doanh nghiệp của khối DNNN hiện chỉ chiếm khoảng 7% tổng thu ngân sách, là con số quá thấp so với những đặc quyền của khu vực kinh tế này được hưởng. Hơn nữa, những DNNN hiện có đóng góp thuế thu nhập doanh nghiệp lớn như tập đoàn Dầu khí, tập đoàn Than – khoáng sản Việt Nam… thì thực chất, thu nhập của các tập đoàn này chủ yếu dựa trên việc moi tài nguyên của đất nước lên bán. Đó không thể coi như một thành tích của doanh nghiệp. Cũng giống như các khoản thuế VAT mà Sabeco, Habeco thu tiền khi bán bia, thực chất là doanh nghiệp đi thu hộ, nộp vào ngân sách.

Theo bảng xếp hạng 1.000 doanh nghiệp nộp thuế nhiều nhất Việt Nam (V-1000), số lượng doanh nghiệp tư nhân đã chiếm tỷ lệ ngang với doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn nước ngoài.

Bảng xếp hạng 1.000 doanh nghiệp nộp thuế nhiều nhất Việt Nam (V-1000) do công ty cổ phần Báo cáo đánh giá Việt Nam thực hiện, được công bố hôm qua (23.9) đã gợi lên rất nhiều suy nghĩ về vai trò của khu vực kinh tế tư nhân trong giai đoạn mới. Bởi vì, bất ngờ trong bảng xếp hạng này là số lượng doanh nghiệp tư nhân đã vươn lên chiếm tỷ lệ (khoảng 33%) ngang bằng với các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) về đóng góp thuế thu nhập doanh nghiệp (tính cho ba năm: 2007 – 2009)…

10 doanh nghiệp đứng đầu trong V-1000:

1. Công ty Thông tin di động (MobiFone)
2. Tập đoàn Viễn thông quân đội (Viettel)
3. Tổng công ty khí Việt Nam – Công ty TNHH MTV
4. Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank)
5. Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PetroVietnam)
6. Tập đoàn công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam
7. Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank)
8. Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam (Vietinbank)
9. Công ty TNHH bảo hiểm nhân thọ Prudential Việt Nam
10. Công ty TNHH liên doanh Phú Mỹ Hưng

Continue reading

SỨ MỆNH CỦA MỘT BỘ LUẬT

TƯ GIANG

Khi bộ luật Doanh nghiệp nhà nước chính thức kết thúc sứ mệnh vào ngày 1.7 vừa qua, nó đã không nhận được sự chú ý đầy đủ mà nó xứng đáng có được.

Báo chí và dư luận trong một tháng gần đây xung quanh cột mốc này hướng đến sự chuyển đổi thành công của phần lớn khối doanh nghiệp nhà nước thành mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên để cạnh tranh bình đẳng với các thành phần kinh tế khác, thay vì nhìn nhận lại bộ luật này.

Được ban hành đúng 15 năm trước đây, luật Doanh nghiệp nhà nước đã trở thành khuôn khổ pháp lý then chốt giúp định dạng nền kinh tế Việt Nam trong nhiều thập kỷ trước đây: đó là một mô hình kinh tế mà quốc doanh chiếm vị trí trấn áp.

Các doanh nghiệp của các nhà tư sản dân tộc về cơ bản đã được quốc hữu hoá trong các phong trào công tư hợp doanh ở miền Bắc sau năm 1954 và cải tạo công thương nghiệp ở miền Nam sau 1975.

Các xí nghiệp quốc doanh được hình thành từ các phong trào đó, hay được Nhà nước lập ra chỉ hoạt động theo các quy định của Chính phủ trong suốt một giai đoạn dài trước năm 1995.

Và khi bộ luật với nhiều ưu đãi và đặc quyền này được ban hành 15 năm trước, nó đã chính thức xác nhận và củng cố vị trí độc tôn của khu vực doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế, như khu vực này vẫn thể hiện trong suốt nhiều thập kỷ trước.

Tuy nhiên, tác động của bộ luật này đã giảm dần cùng các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế. Nhiều điều khoản của nó đã trở nên vô giá trị với các doanh nghiệp nhà nước khi một bộ luật khác mang tính lịch sử là luật Doanh nghiệp sửa đổi có hiệu lực thi hành từ giữa năm 2006.

Với việc chuyển đổi thành công của 1.500 doanh nghiệp nhà nước cuối cùng thành công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên vào đúng ngày 1.7 vừa qua, luật Doanh nghiệp nhà nước đã chấm dứt hiệu lực hoàn toàn.

Continue reading

BÌNH LUẬN VỤ VIỆC VỀ TRANH CHẤP NỘI BỘ CÔNG TY CỔ PHẦN

TỪ THẢO – Cố vấn cao cấp Công ty Tư vấn Nam An Luật.

Diễn biến sự việc

Ngày 23/10/2004, Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) công ty cổ phần (CTCP) Bạch Đằng thành lập, bầu ra Hội đồng quản trị (HĐQT) 5 người gồm ông Phúc, ông Lâm và các bà Phương, Hiền, Oanh. Các thành viên HĐQT đều là cổ đông sáng lập của Công ty. Ngày 2/11/2004, ông Phúc – Chủ tịch HĐQT đã đứng ra bán 17.602 cổ phần, bán cho người ngoài doanh nghiệp là ông Cường với giá hơn 3,363 tỷ đồng. Bà Hiền, kế toán trưởng cũng đã chuyển nhượng 1.000 cổ phần trong tổng số 1.353 cổ phần của mình cho người khác.

Việc mua bán cổ phần này bị các cổ đông phát giác và đề nghị tổ chức Đại hội cổ đông thường niên. Tuy nhiên, ông Phúc và một số thành viên HĐQT Công ty Bạch Đằng đã không tiến hành đại hội theo quy định của Luật Doanh nghiệp. Theo điều 16, khoản 2 điều lệ Công ty, ĐHCĐ thường niên do chủ tịch HĐQT triệu tập vào quý I hàng năm, nhưng đến hết quý II/2005, ông Phúc vẫn không triệu tập.

Ngày 4/5/2005, nhóm cổ đông nắm giữ 52,41% cổ phần liên tục sáu tháng đã gửi đơn đề nghị HĐQT triệu tập Đại hội cổ đông bất thường. Ngày 13/5/2005, HĐQT do bà Phó Chủ tịch HĐQT đại diện đã có thông báo không triệu tập họp ĐHĐCĐ. Ngày 17/6/2005, nhóm cổ đông nắm giữ 52,41% cổ phần đã đứng ra triệu tập Đại hội cổ đông bất thường vào ngày 2/7/2005.

Tại đại hội, các cổ đông tham dự đã bỏ phiếu bãi miễn 3 thành viên HĐQT, trong đó có ông Phúc, bà Hiền. Do đó, ông Quang – Chủ tịch HĐQT (mới) – đồng thời là cổ đông trong nhóm cổ đông 53,04% (nhóm cổ đông đã tham dự cuộc họp ngày 2/7/2005), đã kiện ra toà án yêu cầu: Công nhận kết quả Đại hội đồng cổ đông bất thường ngày 2/7/2005 là hợp pháp. Buộc các thành viên HĐQT bị bãi miễn, các thành viên Giám đốc điều hành bị bãi miễn phải bàn giao quyền, nghĩa vụ quản trị, điều hành, kiểm soát Công ty cho HĐQT, giám đốc mới.

Tuy vậy, bên bị kiện lại đề nghị hủy bỏ toàn bộ nội dung ĐHĐCĐ bất thường ngày 2/7/2005 vì cho rằng đây là hoạt động bất hợp pháp.

Bình luận tình huống

Luật áp dụng. Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng đối với hành vi xảy ra tại thời điểm mà văn bản đó đang có hiệu lực. Diễn biến tranh chấp trong nội bộ CTCP nêu trên diễn ra trong thời gian từ năm 2004 đến 2005, do vậy Luật áp dụng để giải quyết tình huống này là Luật doanh nghiệp 1999 (Luật Doanh nghiệp 1999 chấm dứt hiệu lực từ 1/7/2006 và được thay thế bằng Luật Doanh nghiệp 2005).

Continue reading

AI THỰC HIỆN QUYỀN CHỦ SỞ HỮU ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC?

QUANG MINH

Vấn đề quản lý có hiệu quả doanh nghiệp nhà nước (DNNN) đã được đặt ra từ nhiều năm nay, nhưng đến nay, sau hai thập kỷ cải cách DNNN, vẫn chưa tìm ra các giải pháp hữu hiệu.

Khoảng trống pháp lý

Đến thời điểm này, khi Luật DNNN đã hết hiệu lực, các DNNN không kịp cổ phần hóa trước ngày 1-7-2010 (ngày Luật DNNN hết hiệu lực) thì chuyển đổi sang mô hình công ty TNHH một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu theo Nghị định 25/2010/NĐ-CP.

Tuy nhiên, việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu tại các công ty mới chuyển đổi này lại chưa có quy định pháp lý nào điều chỉnh, vì Nghị định 132/2005/NĐ-CP hướng dẫn về thực hiện các quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu đối với DNNN vẫn chưa có văn bản thay thế.

Khoảng trống pháp lý này đang khiến các DNNN, đặc biệt là các tập đoàn, tổng công ty lớn, không biết phải thực hiện theo quy định nào trong khi chờ Bộ Kế hoạch và Đầu tư soạn thảo nghị định sửa đổi Nghị định 132 để trình Chính phủ ban hành.

Tuần trước, như một giải pháp tình thế, Phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng đã ký ban hành Văn bản 1626, tạm thời quy định các công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu áp dụng các quy định về tổ chức thực hiện quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước tại Nghị định 25/2010. Đối với các tổng công ty 91, áp dụng các quy định tại Nghị định 132/2005, Nghị định 86/2006 và Nghị định 25/2010. Còn các tập đoàn kinh tế nhà nước thì áp dụng các quy định tại Nghị định 101/2009…

Thực tế hoạt động của các DNNN trong thời gian qua, theo các quy định này, cũng đã chứng tỏ việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu đối với DNNN có nhiều bất cập, không phù hợp với thực tiễn và không mang lại hiệu quả trong việc quản lý vốn nhà nước tại DNNN.

Continue reading

DOANH NHÂN VÀ PHÁP LUẬT

PHƯƠNG NGUYỄN, HƯƠNG NGUYỄN, HIỀN LÃ

Từ khi có ý tưởng thành lập cho đến khi hình thành và phát triển kinh doanh, tạo ra lợi nhuận…doanh nghiệp đều phải tuân thủ các quy định pháp luật. Tuy nhiên trong thời kì hội nhập quốc tế hiện nay, Việt Nam đang tích cực tham gia vào các tổ chức kinh tế quốc tế, ký kết các hiệp định thương mại cùng với nước ngoài thì những quy định pháp luật về kinh doanh lại trở nên vô cùng phức tạp.

Doanh nghiệp sẽ không khỏi lúng túng khi va chạm với hệ thống pháp luật nước nhà, với những thay đổi về chính sách pháp lý, hay luật nước ngoài dẫn đến những thiệt hại về kinh tế và hình ảnh của doanh nghiệp.

Đâu sẽ là giải pháp để doanh nghiệp Việt Nam thoát khỏi những rủi ro đáng tiếc để có thể duy trì và phát triển tối ưu nhất? Câu trả lời phụ thuộc vào việc áp dụng đúng khung luật và vai trò chỉ đạo của người chủ doanh nghiệp kết hợp với sự hỗ trợ từ các chuyên gia tư vấn luật pháp cho doanh nghiệp.

Thực trạng hiểu biết pháp luật của doanh nghiệp

Việc am hiểu pháp luật trong kinh doanh của các doanh nghiệp hiện nay còn nhiều hạn chế. Nhiều doanh nghiệp biết luật, hoặc chưa nắm vững luật mà vẫn làm trái pháp luật vì lợi ích kinh doanh, hay không hiểu rõ luật dẫn đến việc chưa xử lý tốt các tình huống khi làm việc với nước ngoài gây nên những tổn thất nặng nề.

Không ít doanh nghiệp mới thành lập gặp khó khăn trong kê khai ước toán doanh thu. Mặc dù đưa ra con số lạc quan so với thực tế nhưng họ không nhận ra rằng doanh nghiệp sẽ bị “tạm truy thu thuế thu nhập doanh nghiệp” dựa trên các con số ước toán do doanh nghiệp đưa ra. Việc tạm nộp “dư” thuế đồng nghĩa với việc sử dụng không hiệu quả nguồn vốn của doanh nghiệp. Trong tất cả các kế hoạch đầu tư, doanh nghiệp đều phải đánh giá về môi trường vàcác rủi ro pháp lý bên cạnh hàng loạt các yếu tố kinh doanh khác.

Continue reading

LUẬT DOANH NGHIỆP VÀ VAI TRÒ “NGƯỜI LÀM VƯỜN”

THS. TRẦN THANH TÙNG – Công ty Luật Phước & Partners

Luật Doanh nghiệp vẫn chưa làm tốt vai trò “người làm vườn”, tức giúp doanh nghiệp “cắt gọt” các bộ phận hoạt động không hiệu quả.

Kể từ khi được giới thiệu lần đầu vào năm 1999, Luật Doanh nghiệp, với tư cách là luật chung về việc thành lập, quản lý và điều hành doanh nghiệp, đã thực hiện xuất sắc vai trò “bà đỡ” của mình với sự ra đời của hàng trăm ngàn doanh nghiệp.

Tuy nhiên, vai trò bà đỡ đã làm lu mờ một vai trò khác không kém phần quan trọng: tạo hành lang pháp lý cho quá trình tái cấu trúc doanh nghiệp. Hay nói cách khác, Luật Doanh nghiệp phải thực hiện được vai trò “người làm vườn”, tạo điều kiện cho doanh nghiệp “cắt gọt” những bộ phận không hiệu quả trong quá trình hoạt động.

Vai trò này, hiểu theo nghĩa rộng, không chỉ bao gồm các quy định về tổ chức lại, giải thể doanh nghiệp mà còn cả việc mua bán vốn góp/cổ phần, mua bán dự án, tài sản của doanh nghiệp. Bài viết này chỉ tập trung vào các quy định về tổ chức lại doanh nghiệp.

Nhiều lợi ích

Vai trò người làm vườn tạo ra nhiều lợi ích cho các bên liên quan và cho cả nền kinh tế.

Đối với nhà đầu tư, vai trò này giúp họ gia nhập thị trường thông qua việc mua vốn góp, cổ phần, thậm chí là mua lại toàn bộ doanh nghiệp.

Đối với doanh nghiệp, điều này cho họ khả năng rút lui khỏi thị trường khi làm ăn thua lỗ hoặc không muốn tiếp tục kinh doanh (thông qua việc bán doanh nghiệp) hoặc cơ cấu lại doanh nghiệp (như bán tài sản, chi nhánh…).

Đối với Nhà nước, doanh nghiệp được tái cấu trúc có thể tạo ra nguồn tài chính để đóng thuế cho Nhà nước, thay vì tiếp tục trở thành gánh nặng (vì hoạt động không hiệu quả).

Continue reading

CHUYỂN CÔNG TY NHÀ NƯỚC SANG CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN

TS. TRẦN TIẾN CƯỜNG – Trưởng Ban Cải cách và Phát triển doanh nghiệp, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương

Luật Doanh nghiệp 2005 quy định các công ty nhà nước phải chuyển đổi sang Luật Doanh nghiệp trước ngày 1-7-2010. Đến nay, thời điểm này đã qua, nhưng không ít vấn đề vẫn đang tồn tại và tiếp tục phát sinh. Vì vậy, cần có nhận thức đúng ý nghĩa và giải quyết một số vấn đề cần thiết, cấp bách nhằm thực hiện nghiêm những quy định của pháp luật.

1 – Ý nghĩa và sự cần thiết chuyển đổi công ty nhà nước thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên

Việc chuyển đổi các công ty nhà nước thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên (TNHH) tuy không mang tính đột phá như cổ phần hóa, nhưng là cần thiết và có ý nghĩa nhất định.

Một là, Luật Doanh nghiệp 2005 quy định các công ty nhà nước thực hiện theo lộ trình chuyển đổi, nhưng trước ngày 1-7-2006 phải chuyển thành công ty TNHH hoặc công ty cổ phần.

Trên thực tế từ năm 2001 các DNNN (gọi là công ty nhà nước từ năm 2003 theo Luật DNNN) bắt đầu chuyển thành công ty TNHH một thành viên theo Nghị định số 63/2001/NĐ-CP.

Hai là, với việc chuyển đổi doanh nghiệp mà Nhà nước giữ 100% vốn thành công ty TNHH một thành viên, bên cạnh mục tiêu để thực hiện thống nhất một Luật Doanh nghiệp, còn nhằm mục đích đổi mới tổ chức quản lý, cơ chế hoạt động, tạo sự bình đẳng với các loại hình doanh nghiệp khác. Đây là quá trình “công ty hóa” các công ty nhà nước, tạo vị thế “công ty” cho công ty nhà nước – có địa vị pháp lý của một pháp nhân kinh tế, có tài sản độc lập với cá nhân và tổ chức khác, kể cả với Nhà nước, có quyền nhân danh công ty tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập.

Ba là, việc chuyển đổi sang Luật Doanh nghiệp nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, tạo mặt bằng pháp lý với các thành phần kinh tế khác, thực hiện cam kết WTO là Nhà nước thực hiện các quyền chủ sở hữu tương tự như các chủ doanh nghiệp hay cổ đông khác không phải Nhà nước.

Continue reading

SỐ PHẬN CỦA THƯƠNG HIỆU

LÊ CHÍ CÔNG – Giám đốc Nemo Consulting

Cuối cùng thì Vedan cũng đã đồng ý đền bù vô điều kiện cho người nông dân. Tự hỏi thương hiệu Vedan rồi sẽ như thế nào và liệu nó có còn tiếp tục tồn tại. Liên quan đến số phận của một thương hiệu, dưới đây là góc nhìn của một người nghiên cứu về thương hiệu.

Sự ngộ nhận trong truyền thông

Có người cho rằng Vedan cố tình “cò cưa” về số tiền đền bù nhằm kéo dài thời gian và tận dụng số lần xuất hiện một cách “miễn phí” trên các phương tiện truyền thông để nổi tiếng. Liệu nhận định này có đúng nếu mức độ “không bằng lòng” hay “sự phẫn nộ” của người dân đối với một thương hiệu này được khảo sát qua từng bài báo?

Một thương hiệu được nhiều người biết đến chưa có gì đảm bảo là một thương hiệu mạnh. Nếu điều mà thương hiệu được biết đến là tích cực thì nó sẽ “nổi tiếng”, còn ngược là “tai tiếng” và không doanh nghiệp nào muốn nhận được cái “tiếng” thứ hai này cả.

Trong ngành quản trị thương hiệu, sức mạnh của một thương hiệu thường được đo bằng chính sự cảm nhận, tình cảm và hành vi cụ thể của người tiêu dùng đối với một thương hiệu chứ không chỉ là mức độ nhận biết về thương hiệu đó.

Tất cả nằm ở cái tên thương hiệu…

Có một sản phẩm tốt chưa hẳn là một doanh nghiệp tốt. Doanh nghiệp tạo ra sản phẩm nhưng người tiêu dùng thì chọn cái tên thương hiệu ở trên quầy kệ. Nhiều trường hợp, họ không chọn mua một sản phẩm đơn giản bởi vì họ không thích cái tên nhãn hiệu dán trên bao bì, hoàn toàn không liên quan gì đến chất lượng sản phẩm. Một cái tên vô hồn vô cảm, một cái tên viết tắt khó hiểu XYZ nào đó hay cái tên như Vedan đều có ảnh hưởng đến nhận thức và hành vi tiêu dùng của khách hàng trong từng bối cảnh cụ thể.

Có nên đặt tên thương hiệu riêng cho mỗi sản phẩm ngoài cái tên thương hiệu của doanh nghiệp? Đây là một trong những câu hỏi tưởng chừng như đơn giản nhưng nó mang tầm chiến lược, có thể mang tính quyết định đến sự tồn vong của một doanh nghiệp nếu nó hoạt động trong một lĩnh vực có nhiều rủi ro.

Continue reading