LG. CAO HUYỀN TRANG
Trong các vụ mua bán và sáp nhập (M & A), vốn điều lệ của công ty sau khi sáp nhập được ghi nhận như thế nào là một vấn đề nan giải, đặc biệt đối với trường hợp sáp nhập thông qua phương án hoán đổi cổ phần và thực hiện đăng ký kinh doanh theo thủ tục sáp nhập tại điều 153 của Luật Doanh nghiệp và Nghị định 43/2010/NĐ-CP về đăng ký kinh doanh.
Bài viết này chỉ đề cập đến việc hoán đổi cổ phần, một phương thức mà thị trường sáp nhập ở Việt Nam ưa chuộng, vì nó đảm bảo được tỷ lệ sở hữu cổ phần của các cổ đông hiện hữu sau khi công ty sáp nhập.
Có thể đưa ra một ví dụ như sau, công ty A nhận sáp nhập công ty B, mỗi công ty có vốn điều lệ là 20 tỉ đồng, tương ứng mỗi công ty có 20 triệu cổ phần, mệnh giá một cổ phần là 10.000 đồng.
Sẽ rất dễ dàng xác định vốn điều lệ sau khi sáp nhập, nếu các công ty nêu trên được xác định giá trị doanh nghiệp ngang nhau và tỷ lệ hoán đổi cổ phần là 1:1. Khi đó, vốn điều lệ của công ty sau khi sáp nhập sẽ là tổng số vốn điều lệ của A và B, tức 40 tỉ đồng, tương ứng với 40 triệu cổ phần.
Nhưng nếu một trong hai công ty này ăn nên làm ra, khi đó giá thị trường một cổ phần của công ty A là 40.000 đồng, còn của công ty B là 20.000 đồng, câu chuyện lúc này không còn dễ dàng nữa.
Đối với trường hợp này, khi thực hiện việc sáp nhập theo phương thức hoán đổi cổ phần, công ty A sẽ phát hành thêm 10 triệu cổ phần để đổi 20 triệu cổ phần của công ty B. Như vậy, tổng số cổ phần sau khi sáp nhập sẽ là 30 triệu cổ phần, và theo quy định mệnh giá một cổ phần là 10.000 đồng, thì vốn điều lệ sẽ là 30 tỉ đồng.
Lúc này doanh nghiệp sẽ nộp hồ sơ đăng ký kinh doanh cho cơ quan cấp giấy chứng nhận với số vốn điều lệ tương ứng là 30 tỉ đồng, nhưng hồ sơ như thế sẽ bị bác.
Lập luận của cơ quan cấp phép cho rằng khi sáp nhập, vốn điều lệ của hai công ty phải cộng gộp với nhau vì theo Luật Doanh nghiệp, vốn điều lệ của công ty là vốn mà các cổ đông thực nộp vào công ty, do vậy số vốn thực nộp và thực có của hai công ty nêu trên là 40 tỉ đồng, nên vốn điều lệ sau khi sáp nhập phải là 40 tỉ đồng, không thể giảm xuống 30 tỉ đồng được.
Filed under: LTM - Chủ thể kinh doanh | Leave a comment »














Các quy định của pháp luật được dẫn chiếu trong các bài viết được đăng trên Trang Thông tin này có thể còn hiệu lực, không còn hiệu lực hoặc chỉ là dự thảo quy phạm pháp luật. Rất mong các bạn khi khai thác thông tin cần cẩn trọng với nội dung của từng bài viết - SO SÁNH VÀ PHẢN BIỆN KHOA HỌC LÀ BẢN LĨNH CỦA NGƯỜI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC.
NGUYỄN VÂN QUỲNH – Công ty Luật Phuoc & Partners
TÁC GIẢ CHƯA CẬP NHẬT
PHAN THỊ THU HÀ – Viện Khoa học xét xử, Tòa án nhân dân tối cao
TS. BÙI XUÂN HẢI – Trưởng khoa Luật Thương mại, ĐH Luật TP. Hồ Chí Minh
TS. VƯƠNG QUÂN HOÀNG – Công ty Nghiên cứu kinh tế DHVP
HOÀNG ANH TUẤN – Nghiên cứu sinh, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội
THS. TRƯƠNG TRỌNG HIỂU – Khoa Luật, ĐH Kinh tế – Luật, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh
TRẦN PHƯƠNG MINH (dịch từ Entrepreneur)
PHẠM HOÀI HUẤN
LG. VŨ XUÂN TIỀN – Ủy viên BCH Hội Luật gia Hà Nội Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty tư vấn VFAM Việt Nam


Các bạn thân mến, vì lý do thời gian tôi đã và đang chậm hồi đáp nhiều vấn đề được nêu trên trang thông tin. Rất mong các bạn thông cảm vì sự chậm trễ này. Qua đây, hy vọng các bạn cùng trao đổi và chia sẻ kiến thức nhiều hơn nữa vì lợi ích chung của cộng đồng nghiên cứu Luật học.
Civillawinfor đã nhận được sự chấp thuận chính thức của Giáo sư Trần Hữu Dũng, quản trị Tạp chí Thời đại mới, Ban Biên tập Tạp chí Cộng sản, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, Viên Triết học Viện hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, trang thông tin chungta.com về việc sử dụng lại các bài viết. Để bảo vệ bản quyền cho cơ quan phát hành và các tác giả, đề nghị các bạn khi khai thác thông tin cần nêu rõ nguồn trích, tên tác giả, không biên tập lại nội dung bài viết. Riêng các bài viết thuộc Tạp chí Thời đại mới, các bạn nghiên cứu bài viết trực tiếp trên trang thông tin, không in bài viết thành văn bản, không phổ biến dưới mục đích thương mại.










