THỰC TIỄN ÁP DỤNG LUẬT DOANH NGHIỆP: QUI ĐỊNH CHƯA RÕ, TÒA LÚNG TÚNG

NHÓM PHÓNG VIÊN BÁO PLTPHCM

Các tòa kinh tế hiện cũng còn không ít vướng mắc, khó khăn trong quá trình xử lý án, nhất là việc xác định thế nào là thành viên công ty, xử lý tài sản thế chấp… nên đã kiến nghị TAND Tối cao gỡ rối.

Tòa Kinh tế TAND TP.HCM than rằng khái niệm thành viên công ty hiện đang khiến nhiều thẩm phán lúng túng, không biết xác định thế nào cho đúng.

Rối khái niệm thành viên công ty

Có người cho rằng khái niệm này trong Bộ luật Tố tụng dân sự không đồng nghĩa với quy định tại Luật Doanh nghiệp 2005. Nghĩa là khi có tranh chấp giữa các thành viên của công ty với nhau thì tòa không phân biệt đó là công ty TNHH, công ty hợp danh hay công ty cổ phần. Cuối cùng tòa phải theo luật tố tụng dân sự mà giải quyết.

Tuy nhiên, có thẩm phán lắc đầu bảo không phải, khái niệm này được hiểu giống nhau giữa hai luật. Nên khi có tranh chấp giữa các thành viên công ty TNHH và công ty hợp danh thì tòa dựa vào luật doanh nghiệp để giải quyết. Riêng tranh chấp giữa các thành viên của công ty cổ phần về cổ phiếu thì tòa dựa vào luật tố tụng dân sự giải quyết.

Cạnh đó, tranh chấp việc góp vốn giữa các thành viên với nhau cũng có nhiều quan điểm. Khi một thành viên chuyển nhượng vốn của mình cho một người ngoài dù các thành viên khác đều biết nhưng hai người chưa đăng ký thay đổi thành viên công ty thì khi có tranh chấp, người được chuyển nhượng không được coi là thành viên công ty. Lúc này tòa phải giải quyết tranh chấp việc chuyển nhượng phần góp vốn theo hợp đồng chuyển nhượng vốn góp.

Continue reading

CHẠY VỐN, TRỐN NỢ – SỢ LÃI, HÃI TIỀN

LS. TRƯƠNG THANH ĐỨC – Chủ tịch HĐTV Công ty Luật BASICO

Các nguồn huy động vốn của doanh nghiệp bao gồm:
– Vốn chủ sở hữu của chủ doanh nghiệp, người góp vốn (vốn điều lệ, vốn từ các quỹ và lợi nhuận để lại);
– Vốn vay ngân hàng thương mại và ngân hàng phát triển;
– Vốn vay thương mại gồm mua trả chậm của nhà cung ứng, bán hàng trong và ngoài nước và chiếm dụng vốn của người khác;
– Vốn vay của các tổ chức, cá nhân khác thông qua việc phát hành trái phiếu hoặc nhận tiền ký quỹ, đặt cọc, trả trước;
– Vốn vay của các tổ chức, cá nhân khác, trong đó có bạn bè, người nhà thân quen và CBNV trong doanh nghiệp;
– Vốn huy động từ các nguồn khác.

Câu hỏi đầu tiên trong kinh doanh được đưa ra thật tự nhiên, đơn giản với nghĩa là “tiền đâu”? Có rất nhiều nguồn vốn phục vụ cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, đối với những doanh nghiệp bình thường, thật khó để “xoay” vốn trong thời kỳ lạm phát, kinh tế suy thoái.

Vốn chủ sở hữu, không cứu được ai

Vốn chủ sở hữu dường như không bao giờ đủ để kinh doanh. Có 100 triệu đồng vốn, người ta sẽ muốn kinh doanh với 1 tỷ. Khi có đến 10 tỷ đồng, người ta lại muốn mở rộng kinh doanh lên 100 tỷ. Phần vốn chủ sở hữu thường chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng tài sản. Đặc biệt trong thời kỳ khó tìm vốn, cái khó đầu tiên chính là không tăng được vốn chủ sở hữu, không bán được trái phiếu. Cổ phần, cổ phiếu hiện hữu đã khó chuyển nhượng, thì cũng rất ít khả năng được góp tăng thêm.

Kinh doanh mà không vay vốn, cũng đồng dạng với kiểu cá nhân đầu tư tiền gửi vào ngân hàng lấy lãi. Vay vốn nhiều đâu phải là không tốt. Số tiền vay cũng là một trong những yếu tố thể hiện sức mạnh và uy tín của doanh nghiệp. Nước Mỹ là một nền kinh tế lớn nhất thế giới và cũng là quốc gia vay nợ nhiều nhất. Các ngân hàng là những chủ nợ lớn nhất đồng thời cũng là những con nợ lớn nhất. Phần lớn doanh nghiệp trông chờ vào vốn vay.

Continue reading

NHỮNG NHẦM LẪN VÀ BẤT CẬP VỀ THỦ TỤC HỌP ĐẠI HỘI ĐỒNG CỔ ĐÔNG

LS. TRƯƠNG THANH ĐỨC – Chủ tịch Công ty Luật BASICO

Công ty cổ phần là một phát minh của nền kinh tế thị trường, là loại hình doanh nghiệp chiếm ưu thế lớn nhất về nguổn vốn và năng lực kinh doanh. Công ty cổ phần là nền tảng hình thành nên những công ty siêu quốc gia, những tập đoàn kinh tế lớn và thị trường chứng khoán. Nhưng đối với Việt Nam, công ty cổ phần chỉ mới có tuổi đời hai chục năm. VÌ vậy, chỉ riêng về trình tự, thủ tục tiến hành các cuộc họp Đại hội đổng cổ đông cũng đã có không ít sai sót, nhầm lẫn và bất cập.

1. Nhầm lẫn về tên gọi cuộc họp

Luật Doanh nghiệp năm 2005 quy định "Đại hội đổng cổ đông gổm tất cả cổ đông có quyền biểu quyết, là cơ quan quyết định cao nhất của công ty cổ phần". Đại hội đổng cổ đông là một co cấu tổ chức của công ty, luôn hiện hữu từ khi thành lập công ty cổ phần cho đến khi chấm dứt hoạt động. Mọi cổ đông đều là thành viên đương nhiên cấu thành nên Đại hội đồng cổ đông. Nhưng hầu hết các công ty, các phương tiện báo chí và cơ quan Nhà nước đã sử dụng nhầm lẫn chữ "Đại hội" trong cụm từ này đổng nghĩa với cuộc họp, cho nên viết là "mời dự Đại hội đổng cổ đông Tập đoàn Bảo Việt" hay "Đại hội đổng cổ đông thường niên Ngân hàng TMCP Hàng Hải" hoặc "Đại hội đổng cổ đông lần thứ nhất Ngân hàng TCMP Công thương Việt Nam". Theo đúng ngữ nghĩa cũng như quy định của Luật Doanh nghiệp, luôn luôn phải thêm từ cuộc họp hoặc từ khác tương đương vào cụm từ "Đại hội đổng cổ đông" để chỉ một cuộc họp.

Ngay chính Luật Doanh nghiệp cũng một lần bị nhầm lẫn và đã diễn ra không ít lần nhầm lẫn trong một số văn bản quy phạm pháp luật khác. Gần đây nhất là Công văn số 3069/BKH-PTDN ngày 04-5-2009 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng không chính xác khi viết câu trích yếu: "V/v Tỷ lệ tham dự Đại hội đổng cổ đông thường niên của công ty cổ phần".

2. Nhầm lẫn về thời hạn mời họp

Khoản 2, Điều 97 của Luật Doanh nghiệp về "Thẩm quyền triệu tập họp Đại hội đổng cổ đông" quy định: "Đại hội đồng cổ đông phải họp thường niên trong thời hạn bốn tháng, kể từ ngày kết thúc năm tài chính". Tuy nhiên, trên thực tế, rất nhiều công ty đã kéo dài thời hạn họp đến tận tháng 5, tháng 6 năm sau. Ví dụ, đến giữa tháng 6/2009 Ngân hàng TMCP Quân Đội mới tiến hành họp Đại hội đổng cổ đông hay Công ty Cổ phần chứng khoán APEC họp vào cuối tháng 6-2009.

Continue reading

VẬN DỤNG PHÁP LUẬT NHÃN HIỆU TRONG KINH DOANH[1]

ĐÀO MINH ĐỨC -  Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM

Các nhiệm vụ pháp lý thường gặp trong quản trị thương hiệu (corporate brand/trade name)

Trước hết, tên doanh nghiệp được hình thành trong thủ tục đăng ký kinh doanh, và có ít nhất hai thành tố là loại hình doanh nghiệp (công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn…) và tên riêng[2]. Tên doanh nghiệp viết bằng tiếng nước ngoài là tên được dịch từ tên tiếng Việt. Tên viết tắt của doanh nghiệp được viết tắt từ tên bằng tiếng Việt hoặc tên viết bằng tiếng nước ngoài[3].

Đi sâu vào các khía cạnh khác nhau, các pháp luật chuyên ngành lại sử dụng các thuật ngữ khác nhau khi điều chỉnh việc đặt và sử dụng tên của các chủ thể có hoạt động kinh doanh trong chuyên ngành đó, thí dụ như “tên gọi của pháp nhân”[4] hay tên của cá nhân có hoạt động kinh doanh hợp pháp trong pháp luật dân sự, “tên tổ chức khoa học công nghệ” trong pháp luật khoa học công nghệ[5], “tên hợp tác xã” trong pháp luật về hợp tác xã[6]

Do vậy, khi xem xét việc bảo hộ tên của mọi chủ thể có hoạt động kinh doanh, Luật Sở hữu trí tuệ sử dụng thuật ngữ chung là tên thương mại và định nghĩa: tên thương mại là tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động kinh doanh để phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh[7]. Quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại được xác lập trên cơ sở sử dụng hợp pháp tên thương mại đó[8].

Thuật ngữ pháp lý “tên thương mại” (trade name) có thể xem là có nội hàm tương đương với thuật ngữ thương hiệu của giới kinh doanh và bao gồm: thành phần tên riêng trong tên doanh nghiệp, tên tiếng nước ngoài, tên viết tắt hoặc tên giao dịch của doanh nghiệp.

Continue reading

THÂU TÓM VÀ HỢP NHẤT TỪ KHÍA CẠNH QUẢN TRỊ CÔNG TY: LÝ LUẬN, KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ THỰC TIỄN Ở VIỆT NAM

TS. NGUYỄN ĐÌNH CUNG & THS. LƯU MINH ĐỨC – Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương

1. Giới thiệu

Thâu tóm và hợp nhất công ty (tạm dịch từ mergers and acquisitions –M&A) là những hoạt động kinh doanh và quản trị không xa lạ ở các nền kinh tế phát triển trên thế giới. Tại Việt Nam, cho đến nay, các phương tiện thông tin đại chúng và thậm chí cả một số văn bản pháp luật của Việt Nam sử dụng thuật ngữ “sáp nhập và mua lại” để chỉ khái niệm M&A. Tuy nhiên, khái niệm và các hoạt động thuộc M&A đa dạng hơn nhiều so với khái niệm “sáp nhập và mua lại”.

Trên thế giới, các hoạt động M&A đã trải qua nhiều thăng trầm. Hơn 100 năm qua, Hoa Kỳ đã chứng kiến 5 chu kỳđỉnh cao của hoạt động sáp nhập công ty: đó là các năm 1895-1905, 1925-1929, 1965-1970, 1980-1985 và 1998-2000. Làn sóng M&A diễn ra mạnh mẽ và song hành với những giai đoạn kinh tế tăng trưởng nóng. Đó là thời điểm ban quản trị của các công ty liên tục hoạt động dưới sức ép cạnh tranh rất lớn từ thị trường. Khái niệm tăng trưởng lợi nhuận và mở rộng hoạt động thông qua M&A đồng nghĩa với sự tồn tại của công ty nói chung, cũng như địa vị của chính họ ở các công ty này nói riêng.

Bước vào thế kỷ XXI, nền kinh tế thế giới tiếp tục chứng kiến một làn sóng M&A mới, dưới những hình thức đa dạng và quy mô lớn chưa từng có. Đợt sóng này không chỉ bó hẹp trong phạm vi các nền kinh tế phát triển mà còn lan tỏa sáng các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển như Hàn Quốc, Singapore, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc, Trung Đông… Năm 2006, tổng giá trị M&A toàn cầu đạt mức cao kỷ lục, 3460 tỷđô la Mỹ (USD). Còn trong 5 tháng đầu năm nay, thị trường mua bán sáp nhập công ty trên thế giới đã đạt trị giá 2000 tỷ USD (trung bình 93 tỷ/tuần), tăng 60% so với cùng kỳ năm ngoái. Có thể liệt kê một số vụ M&A nổi bật nhưBarclays – ABN Amro (87 tỷ USD), Thomson – Reuters (17,2 tỷ USD), HeidelbergCement AG – Hanson Plc (15,5 tỷ USD), Quỹ Cerberus – Chrysler (7,4 tỷ USD), NYS Corp. – Euronext (9,96 tỷ USD), Blackstone – Hilton (26 tỷ USD)… Theo kết quả khảo sát 73 công ty tại 11 nền kinh tế tiêu biểu, 44% số công ty được hỏi cho biết họ có ý định thúc đẩy hoạt động M&A trong 2-3 năm tới.(1)

Continue reading

QUẢN TRỊ CÔNG TY GIA ĐÌNH TỐT: KINH NGHIỆM THÀNH CÔNG CỦA NHỮNG DOANH NGHIỆP LỚN

LS. ĐẶNG THẾ ĐỨC – Công ty Luật Indochine Counsel

Có rất nhiều công ty gia đình thành công và lọt vào Fortune 500. Tuy nhiên, theo số liệu điều tra, đại đa số (95%) các công ty gia đình đã suy giảm mạnh sau thế hệ thứ ba. Bí quyết của 5% doanh nghiệp thành công còn lại là gì? Câu trả lời là “hệ thống quản trị công ty tốt”.

Công ty gia đình là công ty trong đó các thành viên trong một gia đình nắm mức sở hữu đủ để quyết định cơ cấu thành viên hội đồng quản trị. Thông thường, ở công ty gia đình, đại diện của gia đình sẽ nắm giữ chức vụ Chủ tịch Hội đồng quản trị, Chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc Giám đốc và Tổng giám đốc. Các thành viên của gia đình vừa là cổ đông, vừa là người quản lý, điều hành công ty.

Một tỷ lệ lớn các doanh nghiệp tư nhân thành công của Việt Nam là các doanh nghiệp gia  đình. Điều này không phải là ngoại lệ trên thế giới. Ở những nền kinh tế đang phát triển, nhiều công ty thành công cũng có nguồn gốc từ các doanh nghiệp gia đình, điển hình là Wal-Mart, Bertelsmann và Bombardier ở Bắc Mỹ và châu Âu; các “chaebol” ở Hàn Quốc và “grupo” ở châu Mỹ La Tinh.

Khi gia đình ông Trần Kim Thành ra định cư ở nước ngoài, để lại cơ sở buôn bán bánh kẹo Đô Thành, ông và em trai là Trần Lệ Nguyên, mỗi người có một tiệm bánh đã góp lại lập ra Công ty TNHH Xây dựng và chế biến thực phẩm Kinh Đô. Bắt đầu từ ngày 01/10/2002, Công ty chuyển sang hình thức công ty cổ phần do ông Trần Kim Thành là Chủ tịch Hội ồng quản trị, em trai ông là Phó Chủ tịch thường trực Hội đồng quản trị kiêm Tổng giám đốc. Năm 2007, doanh thu của Kinh Đô đạt 1238 tỷ đồng.

Ưu điểm về mặt quản trị của các công ty gia đình

– Vì quyền sở hữu nằm trong tay một hoặc một vài thành viên trong gia đình, nên công ty gia đình có xu hướng "cá nhân hoá", thống nhất quyền lực vào tay người chủ gia đình. Quyền lực này cho phép công ty gia đình có thể thực thi một tầm nhìn dài hạn, tập trung đầu tư tạo ra những ưu thế cạnh tranh dài hạn mà những công ty chỉ chạy theo kết quả ngắn hạn trên thị trường chứng khoán không thể đạt được.

Continue reading

LẠI MỘT CÔNG VĂN SỬA NGHỊ ĐỊNH!

LG. VŨ XUÂN TIỀN – Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty TNHH Tư vấnVFAM Việt Nam

Sau khi Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư (năm 2005) có hiệu lực, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam hết hiệu lực thi hành. Việc thành lập doanh nghiệp có vốn của nhà đầu tư nước ngoài được thực hiện theo quy định của Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư.

Về việc thành lập doanh nghiệp của tổ chức, cá nhân người nước ngoài tại Việt Nam, khoản 3 điều 9 Nghị định 139/2007/NĐ-CP của Chính phủ “Hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp” quy định: “Tổ chức, cá nhân người nước ngoài lần đầu tiên đầu tư thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam được thực hiện như sau:

a) Trường hợp doanh nghiệp dự định thành lập có sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài hơn 49% vốn điều lệ thì phải có dự án đầu tư và thực hiện đăng ký đầu tư gắn với thành lập tổ chức kinh tế theo quy định của pháp luật về đầu tư. Trong trường hợp này, doanh nghiệp được cấp giấy chứng nhận đầu tư đồng thời là giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (sau đây gọi tắt là giấy chứng nhận đầu tư);

b) Trường hợp doanh nghiệp dự định thành lập có sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài không quá 49% vốn điều lệ thì việc thành lập doanh nghiệp thực hiện theo quy định của Luật Doanh nghiệp và Nghị định số 88/2006/NĐ-CP ngày 29-8-2006 của Chính phủ về đăng ký kinh doanh (sau đây gọi tắt là Nghị định số 88/2006/NĐ-CP). Việc đăng ký đầu tư trong trường hợp này áp dụng theo quy định tương ứng đối với dự án đầu tư trong nước”.

Với quy định trên, nhiều doanh nghiệp có thành viên góp vốn là nhà đầu tư nước ngoài và nhà đầu tư nước ngoài chiếm dưới 50% vốn điều lệ đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp.

Continue reading

TẬP ĐOÀN: Ý NGHĨA KINH TẾ VÀ NGUY HIỂM TRƯỚC MẮT

VŨ QUANG VIỆT

bài viết này nhằm trình bày quan niệm và thực tế về công ty (trong đó có tập đoàn nếu nó là công ty có tư cách pháp nhân) và sự kiểm soát về mặt luật pháp mà các nước phát triển đang thực hiện.  Bài viết cũng bàn thêm về những điều cần tăng cường kiểm soát ở Việt Nam nhằm bảo đảm sự phát triển ổn định của nền kinh tế.

Tập đoàn là gì?

Trước tiên cần định nghĩa tập đoàn kinh tế là gì. Trong tiếng Anh có hai từ: conglomerate và holding company. Đồng thời phải kể thêm hai từ xuất phát từ châu Á: keiretsu của Nhật Bản và chaebol của Hàn Quốc.

Từ tiếng Anh, conglomerate thường được định nghĩa là một công ty lớn, có sở hữu cổ phần ở nhiều công ty khác hoạt động trong các ngành nghề gần như không liên hệ gì với nhau. Từ này mang ý nghĩa tập đoàn được hiểu hiện nay ở Việt Nam. Thí dụ Công ty FPT doanh thu chủ yếu từ bán điện thoại di động, và sau này vì một lý do nào đó lại là một trong ba công ty được hưởng quyền sử dụng sóng, do đó có thể mở dịch vụ điện thoại di động và cung cấp dịch vụ Internet. FPT hiện nay lại được phép mở trường Đại học FPT, Ngân hàng FPT (Tiên Phong), Công ty Chứng khoán FPT…

Điểm căn bản đưa đến việc thành lập tập đoàn là nó cho phép một công ty đang tạo ra nhiều lợi nhuận, nhưng lại không thể phát triển mạnh thêm vì thị trường bão hòa, hướng vào ngành sản xuất mới có khả năng phát triển mạnh hơn trong tương lai.

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM

TS. LÊ ĐĂNG DOANH

Trong bài viết này, sau khi nói về trách nhiệm xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, tác giả tập trung luận giải vấn đề xây dựng xã hội dân sự và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ở Việt Nam trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường. Theo tác giả, trách nhiệm xã hội ở Việt Nam đã được nhận thức và bước đầu được thực hiện và đó chính là cơ sở để chúng ta tin rằng, cùng với quá trình phát triển đất nước, trách nhiệm đó sẽ được đề cao cùng với sự hoàn thiện của khung pháp luật, bộ máy nhà nước, thể chế kinh tế thị trường và các thể chế của xã hội dân sự.

1. Trách nhiệm xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp

Hội thảo của chúng ta diễn ra trong khi cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu ngày càng lan rộng và trở nên nghiêm trọng hơn. Nhân loại đang đứng trước những nguy cơ lớn về khủng hoảng năng lượng, khủng hoảng lương thực, trái đất ấm lên do hiệu ứng khí thải. Tất cả các hiện tượng này có nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân về trách nhiệm xã hội của chính phủ, của doanh nghiệp, của người dân và xã hội dân sự. Cuộc khủng hoảng toàn cầu – khởi đầu từ nước Mỹ và nhanh chóng lan rộng ra các nước khác trên thế giới, từ khủng hoảng tài chính – tiền tệ lan sang khủng hoảng “nền kinh tế thực” (real economy), dẫn đến khủng hoảng việc làm và khủng hoảng xã hội. Ở một số nước đã và sẽ diễn ra khủng hoảng chính trị như ở Băng Đảo (Iceland). Câu hỏi được đặt ra là, hệ thống kinh tế thị trường hiện nay với các biến thể của nó từ kinh tế thị trường tân tự do (Neoliberalism) ở Hoa Kỳ đến nền kinh tế thị trường xã hội (Social market economy) như ở Đức, nền kinh tế phúc lợi xã hội (Wealthfare economy) như ở Bắc Âu, trách nhiệm của nhà nước, trách nhiệm của thị trường và doanh nhân, trách nhiệm và quyền giám sát của người dân có những thiếu sót gì để dẫn đến một thảm hoạ như vậy. Mới đây, vụ sữa nhiễm độc melamine của công ty Tam Lộc (San Lu) ở Trung Quốc đã gây ra biết bao đau khổ cho các gia đình, trẻ nhỏ thì trách nhiệm của nhà nước, của doanh nghiệp như thế nào.

Continue reading

QUẢN TRỊ RỦI RO HOẠT ĐỘNG: KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ BÀI HỌC ĐỐI VỚI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

TS. LÊ THANH TÂM & PHẠM BÍCH LIÊN

“Hãy nói cho tôi biết bạn quản lý rủi ro ra sao, tôi sẽ nói ngân hàng bạn thế nào?” (1)

Rủi ro hoạt động, còn được gọi là rủi ro tác nghiệp hay rủi ro vận hành, là loại rủi ro có mặt trong hầu hết các hoạt động của ngân hàng nhưng lại khó lường nhất. Trong những năm qua, các ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam và trên thế giới đã phải gánh chịu những tổn thất không nhỏ do rủi ro hoạt động, ảnh hưởng rất lớn đến uy tín và tài sản của NHTM.

Trong bối cảnh cạnh tranh, hội nhập; công nghệ ứng dụng trong ngân hàng ngày càng hiện đại và đặc biệt trong giai đoạn khủng hoảng tài chính hiện nay, ngành ngân hàng cần phải cải cách mạnh mẽ để tăng cường quản trị rủi ro hoạt động. Ủy ban Basel đã đưa vấn đề rủi ro hoạt động vào nội dung sửa đổi Basel II. Hiện nay, nhiều ngân hàng trên thế giới đã áp dụng các biện pháp hiện đại để quản trị rủi ro hoạt động. Các biện pháp này có thể áp dụng cho các NHTM Việt Nam. Đó là ý tưởng chủ đạo của bài viết này.

RỦI RO HOẠT ĐỘNG: CÁC THÀNH PHẦN VÀ KHUNG QUẢN TRỊ

Rủi ro hoạt động (RRHĐ) luôn hiện hữu hầu như trong tất cả các giao dịch và hoạt động của NHTM. Theo Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng, “rủi ro hoạt động là rủi ro gây ra tổn thất do các nguyên nhân như con người, sự không đầy đủ hoặc vận hành không tốt các quy trình, hệ thống; các sự kiện khách quan bên ngoài. RRHĐ bao gồm cả rủi ro pháp lý nhưng loại trừ về rủi ro chiến lược và rủi ro uy tín”.(2) Rất nhiều vụ RRHĐ nổi tiếng xảy ra gần đây trên thế giới và ở Việt Nam như vụ rủi ro tại Ngân hàng Societe Generale của Pháp năm 2008 làm thiệt hại 4,9 tỷ EUR. Hoặc vụ việc nhân viên điểm giao dịch của một NHTM nhà nước giả mạo chữ ký khách hàng “thụt két” tới 24 tỷ đồng. Tổ trưởng tổ kế toán một điểm giao dịch một NHTM cổ phần biển thủ 7 tỷ đồng cá độ bóng đá. Cán bộ kho quỹ một NHTM cổ phần rút ruột 1,28 tỷ đồng và 8 nghìn USD trái phiếu là tài sản cầm cố của khách hàng để chơi chứng khoán. Thanh toán viên chọn nhầm loại tiền từ VND thành AUD. Khách hàng chuyển 4 triệu VND bị hạch toán thành 4 triệu AUD (tương đương 48,5 tỷ VND). (3)

Continue reading

DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC VÀ NHỮNG NỖI NIỀM . . .

PHAN THẾ HẢI

Trong nhiều ngày qua, trên các diễn đàn đại chúng, doanh nghiệp nhà nước được coi là tâm điểm của dư luận với không ít điều tiếng. Người ta chỉ trích những ưu ái giành cho khối này và phê phán sự kém hiệu quả của các doanh nghiệp nhà nước. Tuy nhiên ít ai hiểu được nỗi niềm của những người trong cuộc.

Bị trói bởi một hệ thống luật chưa rõ ràng

Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh doanh mà toàn bộ vốn thuộc sở hữu nhà nước. Vậy nên, phần lớn cán bộ công nhân viên đều là người Nhà nước. Mặc dù trong đó có Hội đồng quản trị, có ban giám đốc điều hành nhưng thực chất họ đều là người làm thuê 100%, không hơn không kém. Nếu như ở các loại hình doanh nghiệp khác, Hội đồng quản trị (HĐQT) là người đại diện cho cổ đông thì với các DN Nhà nước, HĐQT là người đại diện cho vốn của nhà nước, vốn của nhà nước lại thuộc sở hữu toàn dân, một ông chủ vừa mơ hồ vừa chịu sự chi phối của hàng loạt quy định bùng nhùng rắc rối.

Chính vì vậy nên ở trong các DN như vậy, mối quan hệ giữa lãnh đạo và nhân viên chỉ là mối quan hệ giữa những người làm thuê với nhau. Điều này khác hẳn với ở các DN ngoài quốc doanh, là mối quan hệ chủ tớ. Chính vì mối quan hệ giữa các người làm thuê nên khó có sự mạch lạc của quyền lực.

Ông Lê Văn, một người từng là Tổng giám đốc một DN nhà nước tâm sự: Khó nhất là quản lý nhân viên. Tuyển dụng vào thì dễ mà sa thải thì khó. Tâm lý cho rằng, họ là “người nhà nước”, không dễ gì sa thải khi khuyết điểm chưa rõ ràng. Trong khi đó, yếu kém về năng lực chưa phải là một lỗi được quy định trong luật. Chuyện xử lý nhân viên chỉ cần sơ suất về thủ tục là sẽ bị kiện tụng, phức tạp vô cùng.

Continue reading

TẬP ĐOÀN KINH TẾ TƯ NHÂN: LIỆU CÓ “CHÍN ÉP”?

MINH ÁNH

Xung quanh chuyện về tập đoàn kinh tế tư nhân đang có những đề xuất đòi “chính danh”, những băn khoăn xuất hiện song hành cùng sự kỳ vọng về sự lớn mạnh của các doanh nghiệp tư nhân. Nhớ lại, sau khi Luật Doanh nghiệp năm 2005 ra đời, cùng với sự phát triển nhanh của cộng đồng doanh nghiệp, tập đoàn tư nhân xuất hiện như những dấu ấn mới.

Những cái tên như Tập đoàn HIPT, Tập đoàn Thái Tuấn, Tập đoàn Việt Á, Tập đoàn Mai Linh, Tập đoàn Hòa Phát… bắt đầu được biết đến một cách thuyết phục và ấn tượng.

Câu chuyện tự phong

Thị trường chấp nhận những cái tên này một cách nhanh chóng bởi sự tăng trưởng, phát triển và sức lan tỏa mạnh của chính thương hiệu mà những doanh nghiệp đó tạo dựng. Khi đó, không có quá nhiều băn khoăn về tiền tố tập đoàn trong những thương hiệu được công bố.

Tuy nhiên, mọi việc lại có vẻ không dễ dàng ở khía cạnh pháp lý. Vướng mắc lớn xuất hiện ngay từ những thủ tục đầu tiên, tưởng chừng như rất nhỏ, là đăng ký tên gọi của doanh nghiệp khi chính các tập đoàn tư nhân đầu tiên của Việt Nam quyết định đăng ký đổi tên cho phù hợp với vị thế và quy mô mới. Có lẽ mọi sự rắc rối bắt đầu từ những từ chối của cơ quan đăng ký kinh doanh khi không tìm thấy quy định về tiền tố tập đoàn trong tên gọi. Khi đó, Tổ công tác của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp và Bộ Kế hoạch và Đầu tư phải vào cuộc. Và những cái tên công ty cổ phần tập đoàn A, công ty TNHH tập đoàn B xuất hiện như một sự dung hòa giữa pháp lý và đời sống doanh nghiệp.

Continue reading

TRÁCH NHIỆM DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM SỰ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP, CHÍNH PHỦ VÀ XÃ HỘI DÂN SỰ

GERD MUTZ – Giáo sư Kinh tế và Chính sách xã hội, Đại học Khoa học ứng dụng Munich, Cộng hoà Liên bang Đức, Giáo sư Chính sách xã hội, Đại học Bozen (Italy)

Người dịch: ThS.VŨ MẠNH TOÀN – Viện Triết học, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam

Bài viết bàn về vấn đề trách nhiệm doanh nghiệp và công dân doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường và trong xã hội dân sự. Sau những phân tích sâu sắc nội hàm định nghĩa trách nhiệm doanh nghiệp và công dân doanh nghiệp, tác giả phân tích vấn đề trách nhiệm doanh nghiệp ở châu Á. Trong đó, tác giả đặc biệt nhấn mạnh đến vấn đề trách nhiệm doanh nghiệp ở Việt Nam với một vốn hiểu biết phong phú.

Dẫn luận

Mối liên hệ giữa doanh nghiệp, chính phủ và xã hội dân sự đang lan rộng ra toàn thế giới. Ở phương Tây, các chương trình trách nhiệm doanh nghiệp và công dân doanh nghiệp đã xuất hiện ở nhiều doanh nghiệp dưới nhiều hình thức khác nhau. Tính công bằng trong thương mại, điều kiện lao động và nền sản xuất thân thiện với môi trường đã trở thành những nội dung trọng tâm của trách nhiệm doanh nghiệp. Thông qua các chương trình khác nhau, công dân doanh nghiệp (người lao động) đã được cử tới các tổ chức xã hội hoặc tham gia vào các dự án xã hội. Trong những năm gần đây, trách nhiệm doanh nghiệp và công dân doanh nghiệp được nhìn nhận như là bộ phận của quản lý bền vững với mục đích chính là đưa môi trường xã hội và môi trường sinh thái vào nội dung (của công tác) quản lý chứ không chỉ đơn thuần tính đến các chỉ số phát triển kinh tế.

Trách nhiệm doanh nghiệp và công dân doanh nghiệp là những phát kiến của các doanh nghiệp có nguồn gốc từ Mỹ và được áp dụng ở đó từ hơn hai mươi năm trước. Ngay từ đầu những năm 90 của thế kỷ XX, những chương trình này đã có mặt ở nhiều nơi trên thế giới: không chỉ ở châu Âu, mà còn ở Nam Mỹ và ở châu Á.

Continue reading

LỰA CHỌN LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP THEO LUẬT DOANH NGHIỆP 2005: Những vấn đề cần quan tâm

LỆ HẰNG

Theo quy định tại Điều 3 Luật Doanh nghiệp 2005 thì doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được thành lập hoặc đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.

Doanh nghiệp được tổ chức theo nhiều loại hình khác nhau. Mỗi loại hình doanh nghiệp có đặc trưng và từ đó tạo nên những hạn chế hay lợi thế của doanh nghiệp. Về cơ bản, những sự khác biệt tạo ra bởi loại hình doanh nghiệp là: uy tín doanh nghiệp do thói quen tiêu dùng; khả năng huy động vốn; rủi ro đầu tư; tính phức tạp của thủ tục và các chi phí thành lập doanh nghiệp; tổ chức quản lý doanh nghiệp. Do đó, khi cá nhân, tổ chức muốn thành lập doanh nghiệp thì việc lựa chọn loại hình doanh nghiệp phù hợp là rất quan trọng, nó có ảnh hưởng không nhỏ tới sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.

Dưới đây là những đặc điểm cơ bản cũng như một số ưu, nhược điểm của các loại hình doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2005.

Doanh nghiệp tư nhân

Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp; Chủ sở hữu duy nhất của doanh nghiệp tư nhân là một cá nhân; Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân; Doanh nghiệp tư nhân không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào (Điều 141)

Chủ doanh nghiệp tư nhân là đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp và có toàn quyền quyết định đối với tất cả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp; có toàn quyền quyết định việc sử dụng lợi nhuận sau khi đã nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật. Chủ doanh nghiệp tư nhân có thể trực tiếp hoặc thuê người khác quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh. Trường hợp thuê người khác làm Giám đốc quản lý doanh nghiệp, thì chủ doanh nghiệp tư nhân vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp (Điều 143)

Continue reading

LỰA CHỌN LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP THEO LUẬT DOANH NGHIỆP 2005: NHỮNG VẪN ĐỀ CẦN QUAN TÂM

LỆ HẰNG

Theo quy định tại Điều 3 Luật Doanh nghiệp 2005 thì doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được thành lập hoặc đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.

Doanh nghiệp được tổ chức theo nhiều loại hình khác nhau. Mỗi loại hình doanh nghiệp có đặc trưng và từ đó tạo nên những hạn chế hay lợi thế của doanh nghiệp. Về cơ bản, những sự khác biệt tạo ra bởi loại hình doanh nghiệp là: uy tín doanh nghiệp do thói quen tiêu dùng; khả năng huy động vốn; rủi ro đầu tư; tính phức tạp của thủ tục và các chi phí thành lập doanh nghiệp; tổ chức quản lý doanh nghiệp. Do đó, khi cá nhân, tổ chức muốn thành lập doanh nghiệp thì việc lựa chọn loại hình doanh nghiệp phù hợp là rất quan trọng, nó có ảnh hưởng không nhỏ tới sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.

Dưới đây là những đặc điểm cơ bản cũng như một số ưu, nhược điểm của các loại hình doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2005.

Doanh nghiệp tư nhân

Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp; Chủ sở hữu duy nhất của doanh nghiệp tư nhân là một cá nhân; Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân; Doanh nghiệp tư nhân không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào (Điều 141)

Chủ doanh nghiệp tư nhân là đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp và có toàn quyền quyết định đối với tất cả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp; có toàn quyền quyết định việc sử dụng lợi nhuận sau khi đã nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật. Chủ doanh nghiệp tư nhân có thể trực tiếp hoặc thuê người khác quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh. Trường hợp thuê người khác làm Giám đốc quản lý doanh nghiệp, thì chủ doanh nghiệp tư nhân vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp (Điều 143)

Continue reading

THỎA THUẬN CỔ ĐÔNG: MỘT NỘI DUNG MỚI CHO PHÁP LUẬT DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

TS. NGUYỄN QUỐC VINH – Học viện Tư pháp – Bộ Tư pháp

1. Thỏa thuận cổ đông là gì?

Tình huống thứ nhất: Vì giá cổ phiếu của doanh nghiệp liên tục đi xuống nên các thành viên hội đồng quản trị (HĐQT) của một công ty niêm yết (Công ty A) thỏa thuận với nhau rằng, để hạn chế tình trạng xả hàng khiến giá cổ phiếu càng xuống thấp, họ sẽ cùng nhau không bán số cổ phiếu mà mình nắm giữ trong thời hạn, ví dụ, 06 tháng.

Tình huống thứ hai: Một nhà đầu tư X (có thể là nhà đầu tư trong nước hoặc nước ngoài) dự định đầu tư vào một công ty cổ phần (Công ty B) dưới hình thức mua cổ phần của Công ty B (và có thể của cả một số cổ đông hiện hữu của Công ty B). Để tránh tình trạng các cổ đông khác tháo chạy khỏi doanh nghiệp, một trong những điều kiện mà nhà đầu tư X đặt ra với Công ty B là nhà đầu tư và toàn bộ cổ đông hiện hữu của Công ty B sẽ giao kết một thỏa thuận trong đó quy định rằng, nếu một cổ đông muốn bán toàn bộ hoặc một phần số cổ phần mà cổ đông này sở hữu trong Công ty B cho một bên thứ ba nào khác thì cổ đông này phải chào bán số cổ phần dự định bán cho nhà đầu tư X trước.

Tình huống thứ ba: Một nhà đầu tư Y (thường là nhà đầu tư nước ngoài) dự định đầu tư vào một doanh nghiệp (Công ty C) dưới hình thức mua cổ phần của doanh nghiệp này (nếu Công ty C là công ty cổ phần) hoặc phần vốn góp của một thành viên của doanh nghiệp (nếu Công ty C là công ty trách nhiệm hữu hạn). Để tránh tình trạng tiền vốn của mình bỏ vào doanh nghiệp có thể thất thoát dưới hình thức này hoặc hình thức khác, nhà đầu tư đặt điều kiện cho việc mua cổ phần (hoặc phần vốn góp) của mình là nhà đầu tư và toàn bộ các cổ đông (thành viên) khác cùng Công ty C giao kết một thỏa thuận trong đó quy định rằng, một số vấn đề nhất định (như ví dụ dưới đây) trước khi được đem ra thảo luận và biểu quyết tại HĐQT hoặc đại hội đồng cổ đông (hoặc hội đồng thành viên) của công ty thì phải có sự chấp thuận trước của nhà đầu tư Y. Nói cách khác chỉ khi nhà đầu tư cho phép thì những vấn đề đó mới được đem ra thảo luận và biểu quyết tại đại hội đồng cổ đông hoặc HĐQT. Những vấn đề này có thể bao gồm:

Continue reading

VIỆC ĐỐI NHÂN XỬ THẾ TẠI DOANH NGHIỆP

TẠ TÚC

Cách đây không lâu, có một bài viết đăng trên báo điện tử Vnexpress với tựa đề “Lãi suất 0% cũng chẳng buồn vay” nói về việc Nhà nước có chính sách cho vay không lãi suất để hỗ trợ các doanh nghiệp lớn trả lương, bảo hiểm xã hội và trợ cấp thất nghiệp cho người lao động nhưng chính sách này đã không thành công vì chỉ có vỏn vẹn ba doanh nghiệp làm hồ sơ xin vay.

Phải chăng vì các doanh nghiệp thừa sức để trả những khoản này? Tất nhiên là không, bởi đã có hàng chục ngàn lao động bị sa thải, số khác thì vẫn bị phát lương chậm và phải vật lộn với cuộc sống khó khăn trong thời buổi khủng hoảng.

Thông tin này không khỏi khiến chúng ta suy nghĩ nhiều về cách ứng xử với nhân viên của các doanh nghiệp lớn, rõ ràng là còn nhiều vấn đề đằng sau những khẩu hiệu rất kêu treo trong văn phòng, những phát biểu hùng hồn của các vị lãnh đạo về những cái gọi là “văn hóa doanh nghiệp”, “con người là then chốt”, “vì cộng đồng”, “vì đất nước”…

Hiểu một cách đơn giản, có lẽ vì muốn giảm thiểu những vấn nạn xã hội có nguyên nhân từ thất nghiệp mà Nhà nước đã đưa ra chính sách này. “May mắn” là một doanh nghiệp nhỏ nên công ty tôi không bị ảnh hưởng quá nhiều của khủng hoảng kinh tế và chưa phải sa thải nhân viên dù việc này cũng khiến chúng tôi lao đao.

Tò mò, tôi cố gắng tìm hiểu nguyên nhân vì sao chính sách trên không được các doanh nghiệp lớn hưởng ứng. Lời giải thích tôi nhận được khá “dễ hiểu”: việc đi vay như vậy chẳng mang lại lợi lộc gì cho doanh nghiệp (chính xác hơn là các ông chủ doanh nghiệp) lại khiến họ mắc thêm nợ nần. Tóm lại, khoản vay này sẽ bị chi “mất hút”, không thu hồi được.

Từ một câu chuyện quảng cáo

Trong những câu chuyện về quảng cáo đọc được khi còn làm giám đốc marketing, tôi rất ấn tượng với câu chuyện nói về một mẩu quảng cáo lạ được coi là “điên rồ” nhất từng được thực hiện.

Continue reading

CÓ HAY KHÔNG NHÂN CÁCH THƯƠNG HIỆU TỐT, XẤU?

NGUYỄN HỮU LONG – BDSC Corp

Thời gian gần đây, tại một số hội thảo và diễn đàn, người ta bàn nhiều đến vấn đề nhân cách thương hiệu (brand personality). Đặc biệt, trong giai đoạn có nhiều vụ tại tiếng liên quan đến một số thương hiệu lớn, vấn đề nhân cách thương hiệu lại càng được quan tâm.

Tựu trung, phần lớn các ý kiến cho rằng một thương hiệu muốn thành công phải có một nhân cách đàng hoàng, biết vì lợi ích cộng đồng, không gây hại cho môi trường… Và một thương hiệu “có nhân cách” được hiểu là một thương hiệu biết sống tốt, có đạo đức, và biết thấu hiểu nhân cách tiêu dùng…

Cách hiểu về nhân cách thương hiệu như trên tuy mang tính hướng thiện, với mong muốn mọi thương hiệu phải có “nhân cách tốt”, nhưng quả thật còn mang tính khiên cưỡng khi bản chất của cụm từ “brand personality” lại không bao hàm ý nghĩa như vậy.

Philip Kotler, ông tổ của marketing hiện đại, và Kevin Lane Keller, Giáo sư marketing của Đại học Dartmouth, đều định nghĩa: “A brand personality is the specific mix of human traits that may be attributed to a particular brand”, tạm dịch, “nhân cách thương hiệu là một tổng hợp đặc trưng những nét tiêu biểu của con người mà thương hiệu đó có thể có”.

Ở đây, thương hiệu đã được nhân cách hóa lên như một con người. Con người này có những nét tiêu biểu nào thì đó chính là tính cách của thương hiệu. Và những “nét tiêu biểu” ở đây không bao hàm ý nghĩa phải tốt hay xấu, quân tử hay tiểu nhân, hào hiệp hay keo kiệt…

Continue reading

MỐI QUAN HỆ GIỮA HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

THS. NGUYỄN TUẤN ANH

Ngân hàng thương mại (NHTM) là một loại hình doanh nghiệp kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ và tín dụng. Nếu xét trên phương diện những loại hình dịch vụ mà ngân hàng cung cấp thì ngân hàng được hiểu là: những tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế. Từ vai trò ngày càng quan trọng của dịch vụ ngân hàng, ngân hàng đã được coi là bà đỡ của nền kinh tế.

Bài viết này tập trung phân tích một số tác động hoạt động của hệ thống NHTM đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong mấy năm qua và đề xuất một số các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống NHTM tới nền kinh tế.

Khái quát về tăng trưởng kinh tế và tác động của NHTM đến tăng trưởng kinh tế

Tăng trưởng kinh tế được hiểu là sự gia tăng GDP của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định, thường là trong 01 năm. Sự gia tăng này được đánh giá trên hai góc độ: số tuyệt đối và số tương đối. Xét trên góc độ số tuyệt đối, tăng trưởng kinh tế được phản ánh thông qua quy mô GDP tăng thêm. Về số tương đối, tốc độ tăng GDP cho thấy tăng trưởng kinh tế là nhanh hay chậm. Tăng trưởng kinh tế thường chịu ảnh hưởng của các nhân tố:

– Các nhân tố định lượng: bao gồm các nhân tố ảnh hưởng đến tổng cầu (AD) như: chi cho tiêu dùng (C), chi đầu tư (I), chi tiêu của Chính phủ (G) và chi qua hoạt động xuất nhập khẩu (NX); cũng như các nhân tố làm biến động tổng cung (AS) gồm: vốn (K), lao động (L), tài nguyên (R), khoa học – công nghệ (T).

– Các nhân tố định tính: thể chế kinh tế – chính trị, đặc điểm văn hóa – xã hội, đặc điểm tôn giáo, địa vị các thành viên trong cộng đồng và khả năng tham gia của họ vào quản lý phát triển đất nước.Như vậy, hoạt động của hệ thống NHTM tác động tới tăng trưởng kinh tế thông qua cung ứng vốn (K) và được thể hiện qua các yếu tố sau:

(1) Khuyến khích tiết kiệm, góp phần hình thành và hỗ trợ các dòng vốn luân chuyển.

Continue reading