QUẢN TRỊ TÀI SẢN SỞ HỮU TRÍ TUỆ TRONG DOANH NGHIỆP

LÊ TẤT CHIẾN & NGUYỄN HÙNG

Cũng như nhiều lĩnh vực khác, hoạt động quản trị tài sản trí tuệ là một trong những nội dung mà các doanh nghiệp cần hết sức quan tâm, nhất là trong điều kiện nền kinh tế tri thức và hội nhập sâu rộng như hiện nay.

Doanh nghiệp dù lớn hay nhỏ khi tham gia vào hoạt động sản xuất, kinh doanh thì ít hay nhiều đều liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ. Trước tiên là tên thương mại – được hình thành và bảo hộ khi doanh nghiệp sử dụng thực tế trong hoạt động sản xuất kinh doanh mà không cần đăng ký bảo hộ. Tiếp đến là bí mật kinh doanh (bí quyết kỹ thuật và bí mật thương mại) hầu như doanh nghiệp nào cũng có, vấn đề là các thông tin đó có được bảo mật bằng các biện pháp hữu hiệu hay không để được hưởng quyền sở hữu công nghiệp theo Luật Sở hữu trí tuệ. Với các đối tượng khác như sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu thì doanh nghiệp phải đăng ký với nhà nước và đáp ứng được các tiêu chí thì mới được bảo hộ. Rõ ràng việc đầu tư để tạo dựng, đăng ký, sử dụng, phát triển và bảo vệ các tài sản trí tuệ (hay còn được gọi là quản trị) là hết sức cần thiết đối với bất cứ một doanh nghiệp nào, nhất là khi các tài sản trí tuệ ngày càng trở lên quan trọng đối với mỗi nền kinh tế và doanh nghiệp trong xu thế hội nhập sâu rộng như hiện nay.

Vậy, việc quản trị các tài sản trí tuệ được thực hiện như thế nào, làm cách nào để có hiệu quả nhất giúp nâng cao uy tín và sức cạnh tranh của doanh nghiệp, đó là những nội dung mà doanh nghiệp cần lưu tâm.

Việc đầu tiên của quản trị tài sản trí tuệ mà doanh nghiệp cần làm, đó là thống kê, đánh giá và phân loại các tài sản trí tuệ hiện có trong doanh nghiệp. Việc thống kế các tài sản trí tuệ cần được thực hiện dựa theo bản chất và quy định của pháp luật đối với từng đối tượng. Nếu tài sản trí tuệ là các đối tượng thuộc quyền sở hữu công nghiệp thì có thể thuộc một trong hai loại sau: loại thứ nhất gồm các đối tượng mà quyền sở hữu công nghiệp được xác lập không cần đăng ký, như tên thương mại, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu nổi tiếng; loại thứ hai gồm các đối tượng mà quyền sở hữu công nghiệp chỉ được xác lập thông qua đăng ký, như sáng chế, kiểu dáng công nghiệp và nhãn hiệu.

Continue reading

KINH NGHIỆM LÀM ĐƠN YÊU CẦU XỬ LÝ XÂM PHẠM QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ

LÊ TẤT CHIẾN & NGUYỄN HÙNG

Để xử lý có hiệu quả các hành vi xâm phạm quyền sở hữ trí tuệ (SHTT), bên cạnh sự cần thiết của việc phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan có thẩm quyền, thì việc doanh nghiệp cung cấp những thông tin, chứng cứ liên quan đến các hành vi xâm phạm vừa là trách nhiệm, nghĩa vụ, nhưng cũng là quyền lợi của doanh nghiệp trong việc phối hợp nhằm tăng cường hiệu quả thực thi quyền SHTT.

Cũng như tài sản vật chất, một trong những quyền quan trọng của chủ sở hữu tài sản trí tuệ đó là quyền ngăn cấm người khác sử dụng đối tượng SHTT. Để thực hiện quyền này, doanh nghiệp có thể thông báo cho người có hành vi xâm phạm chấm dứt hành vi xâm phạm và bồi thường thiệt hại hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền hay tòa án xử lý hành vi xâm phạm (theo Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2009). Trong thực tế, nếu là hành vi xâm phạm do vô ý thì thường người xâm phạm sẽ tự giác dừng việc sử dụng bất hợp pháp đó, còn nếu là cố ý thì việc thông báo trước là vô nghĩa. Vì vậy, doanh nghiệp phải chủ động yêu cầu các cơ quan chức năng xử lý chứ không chờ đến hoạt động thanh tra, kiểm tra của các cơ quan này. Thời gian vừa qua, nhiều vụ xâm phạm quyền SHTT việc xử lý bị kéo dài là do thiếu các căn cứ pháp lý và chứng cứ không đầy đủ, rõ ràng. Vậy thì, để việc bảo vệ quyền SHTT có hiệu quả, khi gửi đơn yêu cầu cơ quan chức năng xử lý hay tòa án giải quyết, doanh nghiệp cần nắm vững và tuân thủ các quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ doanh nghiệp trong việc đề nghị xử lý hay khởi kiện xâm phạm quyền SHTT.

Trước hết, khi gửi đơn, doanh nghiệp phải gửi kèm theo các tài liệu chứng minh mình là chủ thể quyền SHTT. Tức là, doanh nghiệp có quyền yêu cầu xử lý hoặc khởi kiện, khi ấy cơ quan chức năng hay tòa án mới thụ lý hồ sơ. Cụ thể là, nếu là sáng chế, nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp, chỉ dẫn địa lý thì các tài liệu chứng minh chủ thể quyền bao gồm bản gốc văn bằng bảo hộ đang có hiệu lực (nếu là bản sao thì phải có công chứng, chứng thực) hoặc bản trích lục sổ đăng ký quốc gia các đối tượng trên (được lưu giữ tại Cục SHTT).

Continue reading

PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN TÁC GIẢ VÀ PHÁP LUẬT VỀ BẢN QUYỀN – MỘT SỐ ĐIỂM KHÁC BIỆT

image THS. VŨ THỊ THANH TÚ – Học viên Khoa Luật – Đại học Tự do Brussels, Bỉ (Trong chương trình hợp tác nghiên cứu do Wallonie Bruxelles International tài trợ)

Sự tồn tại song song hai hệ thống luật chính trên thế giới – hệ thống Luật lục địa và hệ thống thông luật đã được đề cập đến trong nhiều nghiên cứu. Trong hai hệ thống này, liên quan đến việc bảo hộ quyền đối với tác phẩm văn học nghệ thuật, tồn tại hai hệ thống nhỏ : Pháp luật về Quyền tác giả (PLQTG) của hệ thống luật lục địa và Pháp luật về Bản quyền (PLBQ) của hệ thống thông luật. Các nước pháp dụng PLBQ như Hoa Kỳ, Anh, Canada, Úc,… Các nước áp dụng PLQTG tiêu biểu như Pháp, Đức, Việt Nam… Cùng với xu thế hội nhập các nước đã xây dựng nên các điều ước quốc tế với những quy định mang tính hài hòa. Tuy nhiên, giữa hai hệ thống vẫn còn một số điểm khác biệt quan trong.

So sánh giữa hai hệ thống, đặt các quy định của Pháp luật Việt Nam về quyền tác giả trong hệ so sánh là cách thức hiệu quả để hiểu rõ hơn về quy định cũng như tư tưởng của các nhà làm luật, đánh giá mức độ phù hợp của quy định với thực tế. Bài viết sử dụng những quy định của Bộ luật Sở hữu trí tuệ (SHTT) Pháp và Luật Bản quyền Hoa Kỳ – những văn bản pháp luật tiêu biểu cho mỗi hệ thống để minh họa.

Bài viết sẽ đi theo các nội dung sau :

1. Hình thức thể hiện tác phẩm

2. Tác giả

3. Nội dung quyền

1. HÌNH THỨC THỂ HIỆN TÁC PHẨM

Nói đến tác phẩm được bảo hộ là ta nhớ đến các tiêu chí : là sản phẩm của con người, được thể hiện dưới một hình thức nhất định và hình thức đó mang tính sáng tạo.

Về hình thức thể hiện tác phẩm, CƯ Berne cho phép các quốc gia lựa chọn việc tác phẩm bảo hộ phải được thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định hay không (K2Đ2).

Continue reading

THỰC TIỄN THỰC THI PHÁP LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ: CÓ TỊCH THU GIẤY PHÉP KINH DOANH KHÔNG?

LÊ VĂN KIỀU – Nguyên Chánh Thanh tra, Bộ Khoa học và Công nghệ

Công ty Honda Việt Nam sở hữu KDCN đối với các loại xe máy, trong đó có KDCN đã được cấp bằng độc quyền số 4306.

Công ty Li đã đưa ra thị trường loại xe máy có các chi tiết nhựa gồm mặt nạ, cặp cánh yếm trái và phải, chắn bùn trước, cặp ốp giảm sóc trước trái và phải, cặp ốp lườn trái và phải, cốp xe, đèn sau, chắn bùn sau, mu rùa, ốp nhựa giữa yếm, cặp ốp sườn trái và phải. Các chi tiết này tạo thành xe có kiểu dáng trùng với KDCN đã được cấp bằng độc quyền số 4306. Vụ vi phạm có nhiều tình tiết đáng lưu ý như hành vi có tính chất, quy mô lớn, có tổ chức, khép kín từ sản xuất, lắp ráp đến lưu thông trên thị trường. Đây là lần thứ 3 trong thời gian gần 1 năm, Công ty Li có hành vi vi phạm hành chính về SHCN. Hai lần trước đó Công ty này đã bị xử phạt.

Sau khi xem xét hành vi vi phạm và các tình tiết tăng nặng, UBND tỉnh Đồng Nai đã phạt Công ty Li 75 triệu đồng và tước quyền sử dụng giấy phép kinh doanh trong thời hạn 9 tháng, buộc tháo dỡ, tịch thu và tiêu huỷ toàn bộ các chi tiết vi phạm KDCN của Honda được lắp trên 72 chiếc xe máy của Công ty Li.

(Nguồn: Báo Đầu tư ngày 26.7.2005)

Lời bình:

1. Công ty Li đã bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực SHCN chưa hết thời hạn 1 năm, nay lại tiếp tục vi phạm. Hành vi vi phạm lần trước và lần này trong cùng lĩnh vực SHCN. Vì vậy, theo quy định của Pháp lệnh Xử phạt vi phạm hành chính bị coi là tái phạm. Tái phạm là trường hợp đã bị xử phạt nhưng chưa hết thời hạn 1 năm, kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt hoặc kể từ ngày hết hiệu lực thi hành của quyết định xử phạt mà lại thực hiện vi phạm hành chính trong lĩnh vực đã bị xử phạt. “Lĩnh vực” quy định tại khoản này được hiu là các lĩnh vực quản lý nhà nước được quy định tại từng nghị định của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính. Tái phạm là một trong các tình tiết tăng nặng. Bên cạnh đó, việc vi phạm của Công ty Li có tính chất, quy mô lớn, có tổ chức. Do hành vi của Công ty Li có nhiều tình tiết tăng nặng nên mức phạt phải cao hơn mức trung bình của khung tiền phạt. Vì vậy, căn cứ Nghị định số 12/1999/NĐ-CP xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực SHCN có hiệu lực vào thời điểm xảy ra vụ việc này, UBND tỉnh Đồng Nai đã quyết định mức phạt 75 triệu đồng là phù hợp.

Continue reading

HÀNG HOÁ GIẢ MẠO HAY HÀNG HÓA XÂM PHẠM QUYỀN NHÃN HIỆU

LÊ VĂN KIỀU -  Nguyên Chánh Thanh tra Bộ KH&CN

Cơ quan có thẩm quyền kiểm tra hai thanh niên đang vận chuyển 240 micro mang nhãn hiệu Yamaha vào ngày 1.11.2006. Lần theo hai người này phát hiện thêm 1.640 micro khác cũng mang nhãn hiệu Yamaha tại cửa hàng HT.

Đại diện cửa hàng HT cho biết đã mua hơn 1.880 micro trên tại chợ Nhật Tảo. Hóa đơn ghi rõ của chi nhánh Công ty HT xuất bán 2.000 micro với giá 15.200 đồng /cái.

Đại diện SHCN của Công ty Yamaha (chủ sở hữu nhãn hiệu Yamaha) xác nhận toàn bộ số hàng trên mang dấu hiệu trùng hoàn toàn với nhãn hiệu Yamaha đang được bảo hộ tại Việt Nam. Số micro này không phải do Yamaha đưa ra thị trường, vì công ty này đã ngừng sản xuất mặt hàng micro từ 15 năm nay. Xem xét nhận thấy là 1.880 sản phẩm này đều được làm khá tinh vi, nhãn hiệu và logo Yamaha được in trực tiếp lên sản phẩm nên người tiêu dùng sẽ bị nhầm lẫn.

(Nguồn:VnExpress.net, ngày 3.11.2006; Lao động, ngày 3.11.2006)

Lời bình

1. Luật SHTT xác định, hàng hoá giả mạo nhãn hiệu là hàng hoá có gắn dấu hiệu trùng hoặc khó phân biệt với nhãn hiệu (hoặc chỉ dẫn địa lý) đang được bảo hộ sử dụng cho chính mặt hàng đó mà không được phép của chủ sở hữu nhãn hiệu (hoặc tổ chức quản lý chỉ dẫn địa lý).

Như vậy, để kết luận một sản phẩm, hàng hoá nào đó là hàng hoá giả mạo nhãn hiệu (hoặc chỉ dẫn địa lý) thì phải đồng thời đáp ứng hai điều kiện: 1 – Nhãn hiệu, dấu hiệu trùng hoặc khó phân biệt với nhãn hiệu (hoặc chỉ dẫn địa lý) đang được bảo hộ và 2 – Mặt hàng gắn nhãn hiệu, dấu hiệu đó trùng với mặt hàng mà chủ sở hữu nhãn hiệu (hoặc chỉ dẫn địa lý) gắn nhãn hiệu (hoặc chỉ dẫn địa lý) đang được bảo hộ. Nói cách khác, để có thể kết luận hàng hoá giả mạo nhãn hiệu (hoặc chỉ dẫn địa lý) cần phải có mặt hàng thật cùng loại để so sánh.

Continue reading

QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ ĐỐI VỚI CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI, DỰ ÁN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

ĐÀO MINH ĐỨC

Chúng ta đã và đang triển khai thực hiện rất nhiều đề tài, dự án khoa học và công nghệ (KH&CN) nhưng những vấn đề liên quan tới quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) đối với các kết quả nghiên cứu lại chưa được quan tâm một cách đúng mức. Bài viết dưới đây giới thiệu những nét cơ bản về vấn đề này, hy vọng chúng ta có cái nhìn đầy đủ hơn nhằm phát triển và khai thác sử dụng có hiệu quả các tài sản trí tuệ của các đề tài, dự án.

Các tài sản trí tuệ của đề tài, dự án

Các kết quả nghiên cứu của một đề tài hoặc dự án, ngoài các sản phẩm, nguyên mẫu chế thử, thiết bị, dụng cụ chế thử… là các tài sản hữu hình được xử lý theo các quy định đã biết, còn có các thông tin mới, có giá trị sử dụng, khai thác nhất định trong các hoạt động kinh tế, xã hội, gọi là các tài sản trí tuệ của đề tài, dự án. Các tài sản trí tuệ này cần được ghi nhận và xác lập quyền sở hữu một cách kịp thời và đầy đủ như một dòng hàng đối lưu với dòng tiền đầu tư vào hoạt động R &D.

Các tài sản trí tuệ này thường phát sinh một cách tuần tự trong tiến trình triển khai đề tài, dự án, được thể hiện trong (nhưng không chỉ giới hạn ở nội dung) Báo cáo toàn văn và Tóm tắt đề tài, dự án mà còn bao gồm:

Các đối tượng SHTT được thể hiện hay mô tả dưới các hình thức: Tác phẩm văn học, tác phẩm khoa học, tác phẩm nghệ thuật, bản ghi âm, bản ghi hình, chương trình phát sóng, sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh, giống cây trồng mới… có khả năng bảo hộ theo pháp luật SHTT, hoặc theo cơ chế đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, hoặc theo cơ chế tự xác lập quyền khi thỏa mãn các điều kiện luật định;

Các thông tin không tiết lộ (cần được giữ kín trong một khoảng thời gian cần thiết) như: Thông tin có liên quan đến an ninh hoặc quốc phòng, thông tin có tính nhạy cảm đối với dư luận xã hội…

Continue reading

THỰC TIỄN THỰC THI PHÁP LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ: GIẢ MẠO “HÌNH THỨC” HAY GIẢ MẠO “NỘI DUNG”

LÊ VĂN KIỀU – Nguyên Chánh thanh tra Bộ Khoa học và Công nghệ

Vụ việc

Ông NK (huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu), thành lập cơ sở sản xuất nước mắm. Do sinh sau đẻ muộn, lại không có tên tuổi nên cơ sở ít có khách hàng. Thấy mọi người thích các nhãn hiệu phổ biến như Tám Phú, Bốn Phương, Phú Quốc – Thanh Châu…, ông đã thu mua vỏ chai cũ của các cơ sở này về làm sạch rồi bơm nước mắm của mình vào để đem bán. Được một thời gian, ông mua chai mới, in nhãn hàng mới có các dấu hiệu, hình thức hệt như sản phẩm của các cơ sở trên để làm thành các chai nước mắm thành phẩm loại 1 lít và 1/2 lít.

Công an phát hiện ra các hành vi trên. Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định chất lượng nước mắm do cơ sở của ông K sản xuất. Kết quả giám định ghi nhận: “Sản phẩm không có lạc khuẩn, giới hạn phát hiện nhỏ hơn 0,03 ml, nồng độ đạm ghi trên nhãn mác đúng với độ đạm được xác định ở nước mắm trong chai. Tức là nước mắm của cơ sở ông K hoàn toàn không gây hại đến sức khỏe của người tiêu dùng và đảm bảo như tiêu chuẩn cơ sở đã công bố. Từ lúc bắt đầu thực hiện cho đến khi bị phát hiện, cơ sở của ông NK đã sản xuất khoảng 5.000 lít nước mắm, thu lợi nhuận khoảng 3 triệu đồng.

Tháng 2.2008, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức đã ra quyết định truy tố ông NK về tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thực phẩm theo khoản 1 Điều 157 Bộ luật Hình sự. Tháng 3.2008, Tòa án nhân dân huyện mở phiên tòa sơ thẩm để xét xử bị cáo NK về tội danh này. Xét thấy hành vi của bị cáo gây thiệt hại không lớn, chất lượng nước mắm do cơ sở của bị cáo sản xuất tương đương với chất lượng nước mắm của các cơ sở mà bị cáo đã làm giả nên Tòa tuyên phạt bị cáo K 2 năm tù . Ông NK đã kháng cáo.

(Nguồn: Báo Pháp luật online – thành phố Hồ Chí Minh, ngày 9.5.2008)

Lời bình

1. Hành vi của ông NK là hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả là thực phẩm (giả về nội dung hàng hoá) quy định tại khoản 1 Điều 157 hay là hành vi xâm phạm quyền, sản xuất buôn bán hàng hoá giả mạo nhãn hiệu (giả về hình thức hàng hoá) quy định tại Điều 171 của Bộ luật Hình sự?

Continue reading

PHÁP LUẬT VỀ NHÃN HIỆU – MỘT SỐ Ý KIẾN CỦA GIỚI LUẬT GIA, LUẬT SƯ

ĐÀO MINH ĐỨC

Các luật gia, luật sư vừa là các chuyên gia trong lĩnh vực xây dựng pháp luật, vừa là đối tác đồng hành cùng doanh nghiệp trong hoạt động xác lập và bảo vệ quyền đối với nhãn hiệu. Với mong muốn tìm hiểu sự quan tâm, ý kiến của giới này về các định chế liên quan đến nhãn hiệu trong pháp luật về sở hữu trí tuệ (SHTT), tác giả đã tiến hành một cuộc khảo sát nhỏ đối với các luật gia, luật sư trên địa bàn Tp Hồ Chí Minh. Dưới đây là một số ý kiến rút ra qua cuộc khảo sát này.

Mẫu khảo sát và phương thức khảo sát

Luật SHTT bắt đầu có hiệu lực từ 1.7.2006 và 5 Nghị định hướng dẫn thi hành đã được ban hành vào cuối tháng 9.2006. Nhận biết vai trò của giới luật gia, luật sư trong việc xây dựng và thực thi Luật SHTT, vào quý 4 năm 2006 và quý 1 năm 2007, người viết bài này đã gửi 140 phiếu điều tra về các chế định liên quan đến nhãn hiệu trong pháp luật về SHTT hiện hành tới 140 luật gia, luật sư là những người đang làm việc tại các tổ chức đại diện sở hữu công nghiệp (SHCN), các văn phòng luật sư nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam và các chuyên gia pháp lý của một số cơ quan quản lý, Đoàn Luật sư, Hội Luật gia Tp Hồ Chí Minh. Số phiếu nhận lại là 116, trong đó có 22 phiếu đã bị loại qua câu hỏi kiểm tra chéo. Kết quả có 79 phiếu của các luật gia, luật sư đã tìm hiểu pháp luật về nhãn hiệu của Việt Nam từ mức 30% trở lên và có tham gia tư vấn ít nhất 1 vụ việc/tháng được đưa vào tổng hợp xử lý.

Trong mẫu điều tra này, có 21 người đã tìm hiểu pháp luật về nhãn hiệu với mức khoảng 30%; 19 người đã tìm hiểu khoảng 30-50%; 22 người đã tìm hiểu khoảng 50-80% và 17 người đã tìm hiểu khoảng 80-100%. Dưới góc độ thực thi pháp luật về nhãn hiệu: Có 46 luật gia, luật sư tiếp nhận và xử lý 1 yêu cầu tư vấn/tháng; 18 luật gia, luật sư tiếp nhận và xử lý từ 2 đến 4 yêu cầu tư vấn/tháng và 15 luật gia, luật sư tiếp nhận và xử lý trên 4 yêu cầu tư vấn/tháng.

Continue reading

XỬ LÝ VI PHẠM KIỂU DÁNG CÔNG NGHIỆP – NHỮNG VẤN ĐỀ CÒN BỎ NGỎ

VŨ THỊ YẾN, NGUYỄN TRỌNG TÚ, NGUYỄN VĂN HẢI – Công ty Cổ phần Sở hữu Công nghiệp INVESTIP, Bộ KH&CN

Tình trạng vi phạm kiểu dáng công nghiệp (KDCN) ở nước ta ngày càng phổ biến, phức tạp và đa dạng. Trong khi đó, nhiều doanh nghiệp chưa quan tâm đến vấn đề này, hoặc nếu có quan tâm thì lại gặp rất nhiều khó khăn khi phải đối phó với những vi phạm. Bài viết phân tích thực trạng vi phạm và tình hình xử lý vi phạm KDCN hiện nay, đồng thời đề xuất những giải pháp khắc phục.

THỰC TRẠNG VI PHẠM KDCN

Theo thống kê, mỗi năm Cục Quản lý Thị trường (Bộ Công thương) phát hiện và xử lý hàng nghìn vụ việc liên quan đến việc sản xuất và tiêu thụ hàng hóa có kiểu dáng “cải tiến” của các kiểu dáng đã được đăng ký bảo hộ KDCN. Thực trạng này không những gây thiệt hại cho các doanh nghiệp làm ăn chân chính cả về uy tín và doanh thu mà còn trực tiếp gây thiệt hại đến quyền lợi người tiêu dùng.

Từ lâu, cái tên Duy Lợi đã trở nên rất quen thuộc trong ngành võng xếp Việt Nam về cuộc chiến chống hàng giả, hàng nhái. Sau hành trình khó khăn, tốn kém, năm 2004, Công ty TNHH Duy Lợi đã thắng một vụ kiện tại Nhật Bản và năm 2005 đã thắng một vụ kiện khác tại Mỹ về việc vi phạm KDCN. Tuy nhiên, không lâu sau đó, Duy Lợi lại phải đau đầu vì tình trạng vi phạm kiểu dáng võng xếp của doanh nghiệp ở thị trường ViệtNam. Năm 2005, Duy Lợi tuyên bố có tất cả 16 cơ sở, doanh nghiệp sản xuất võng xếp vi phạm kiểu dáng độc quyền sản phẩm võng xếp của mình.

Một ví dụ điển hình khác về vi phạm KDCN là trường hợp xe máy Honda. Thời gian gần đây, nhiều người tiêu dùng bất ngờ thấy có những địa chỉ ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh rao bán các dòng xe Honda Spacy, SCR, AirBlade… với giá 16 triệu đồng/chiếc, thậm chí rẻ hơn. Theo giá niêm yết của Honda, hiện nay Honda Spacy chính hãng nhập khẩu có giá trên 90 triệu đồng/chiếc, còn xe AirBlade giá cũng khoảng trên 30 triệu đồng/chiếc. Như vậy, giá những chiếc xe “chợ đen” nêu trên được rao bán rẻ hơn rất nhiều so với xe gốc. Các sản phẩm xe máy chợ đen không chỉ nhái kiểu dáng bên ngoài, mà còn dán nhãn và gắn mác Honda lên trên sản phẩm. Theo ước tính của các chuyên gia, mỗi năm, thị trường Việt Nam tiêu thụ khoảng hơn 1 triệu chiếc xe máy giả, nhái, trong đó có đến 50% là xe giả, nhái Honda!

Continue reading

BÀN VỀ CƠ CHẾ KIỂM SOÁT BIÊN GIỚI NHẰM BẢO HỘ HIỆU QUẢ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ

TS. ĐẶNG VŨ HUÂN -  Bộ Tư Pháp

Bảo hộ sở hữu trí tuệ là vấn đề quan trọng trong thương mại quốc tế và là lĩnh vực được WTO quan tâm xây dựng hành lang pháp lý khá chặt chẽ thông qua Hiệp định về các khía cạnh thương mại liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS). Đây là một Hiệp định đa phương của WTO có tính toàn diện nhất về quyền sở hữu trí tuệ. Ngoài các yêu cầu chung quy định nghĩa vụ của các quốc gia thành viên trong xây dựng pháp luật, các thiết chế thực thi hiệu quả quyền sở hữu trí tuệ; phải đối xử công bằng đối với các chủ thể và đối tượng bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, TRIPS còn quy định về các biện pháp kiểm soát biên giới nhằm bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ (quy định từ Điều 51 đến Điều 60 của Hiệp định).

Trong bài viết này, chúng tôi muốn trao đổi về các biện pháp kiểm soát biên giới theo yêu cầu của TRIPS và những nỗ lực của Việt Nam trong việc xây dựng và hoàn thiện cơ chế kiểm soát biên giới nhằm bảo hộ hiệu quả quyền sở hữu trí tuệ.

1. Yêu cầu của các Hiệp định quốc tế về kiểm soát biên giới đối với hàng hóa xuất, nhập khẩu nhằm bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ

Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, bảo vệ môi trường kinh doanh lành mạnh, ngăn chặn sự thâm nhập của bất kỳ loại hàng hóa giả mạo, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ nào vào thị trường nội địa của các quốc gia đã trở thành yêu cầu không chỉ riêng cho hệ thống pháp luật của từng quốc gia, mà nó đã trở thành các cam kết quốc tế.

Trước khi có Hiệp định TRIPS, thì Công ước về Bảo hộ sở hữu công nghiệp (Công ước Pari năm 1883, được sửa đổi tại Stockholm năm 1967) tại Điều 9 có quy định về thu giữ khi nhập khẩu hàng hóa có gắn trái phép nhãn hiệu hàng hóa hay tên thương mại.

“1. Tất cả hàng hóa mang nhãn hiệu hàng hóa hoặc tên thương mại một cách bất hợp pháp đều bị thu giữ khi nhập khẩu vào những nước thành viên của Liên hiệp, nơi mà nhãn hiệu hàng hóa hoặc tên thương mại đó có quyền được bảo hộ pháp lý.

2. Việc thu giữ hàng hóa cũng áp dụng tại nước nơi đã xảy ra việc sản xuất hàng hóa có gắn nhãn hiệu hàng hóa hoặc tên thương mại một cách trái phép hoặc tại nước nơi hàng hóa đã được nhập vào.

Continue reading

THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT VI PHẠM BẢN QUYỀN: AI ĐỊNH GIÁ TANG VẬT XÂM PHẠM QUYỀN?

LÊ VĂN KIỀU – Nguyên Chánh Thanh tra Bộ KH&CN

Theo yêu cầu của chủ sở hữu kiểu dáng công nghiệp (KDCN) xe máy, cơ quan quản lý thị trường (QLTT) đã kiểm tra và phát hiện 106 xe máy xâm phạm KDCN. Để có căn cứ xác định khung tiền phạt và số tiền phạt cụ thể, cơ quan QLTT đã xác định giá trị của các chi tiết xâm phạm đối với xe xâm phạm kiểu dáng xe Future Neo. Các chi tiết tạo nên KDCN xâm phạm là toàn bộ phần đầu xe (cụm đèn pha, đèn xi nhan). QLTT định giá 30.000 đ/bộ, nhưng giá thực tế của cụm đầu xe này do Sở Tài chính xác định, cung cấp cho cơ quan điều tra là 90.000 đ/bộ (thời điểm tháng 9.2008) và 76.000 đ/bộ (thời điểm tháng 3.2009).

Đối với ốp sườn trước trái, phải (vè), QLTT định giá 50.000 đ/bộ nhưng Sở Tài chính xác định giá thực tế là 100.000-116.000 đ/bộ. Đối với chắn bùn sau (vè sau), QLTT định giá 20.000 đ/bộ nhưng Sở Tài chính định giá theo thực tế ngoài thị trường đến 50.000 đ/bộ.

Theo đó, mức giá của Sở Tài chính xác định dao động từ 425.000 đến 450.000 đ/bộ linh kiện có yếu tố xâm phạm, trong khi Chi cục QLTT thẩm định chỉ có 170.000-180.000 đ/bộ.

Trên cơ sở giá trị các chi tiết do Sở Tài chính xác định với tổng số xe xâm phạm là 106 xe, cơ quan cảnh sát điều tra cho rằng, có sự chênh lệch khi định giá giá trị lô hàng này, dẫn tới định giá sai làm thiệt hại cho Nhà nước. Cơ quan cảnh sát sẽ xem xét đề nghị xử lý theo hướng khởi tố vụ án hình sự hoặc xử lý hành chính, tùy theo mức độ sai phạm và tổng giá trị tài sản sau khi được thẩm định giá chính xác.

(Nguồn: Sài Gòn Giải phóng, ngày 16.6.2009)

Lời bình

1. Cơ quan QLTT đã xác định 106 xe là tang vật của vụ xâm phạm quyền về KDCN, vì trên các xe này có các yếu tố xâm phạm”. Đó là các yếu tố được tạo ra từ hành vi xâm phạm. Đối với KDCN đó là sản phẩm, phần sản phẩm bị coi là yếu tố xâm phạm quyền đối với KDCN thuộc trường hợp là trên sản phẩm hoặc phần sản phẩm bị xem xét, kể cả trường hợp đã được cấp Bằng độc quyền KDCN, có tập hợp các đặc điểm tạo dáng hợp thành một tổng thể là bản sao hoặc về bản chất là bản sao (gần như không thể phân biệt được sự khác biệt) KDCN của chủ sở hữu khác đã được bảo hộ mà không được sự đồng ý của người đó.

Continue reading

TRANH CHẤP SỞ HỮU TRÍ TUỆ: CHỨNG CỨ ĐÂU?

LÊ VĂN KIỀU – Nguyên Chánh Thanh tra Bộ KH&CN

Công ty TNHH Thương mại xây dựng sản xuất Phương Nga (Công ty Phương Nga) có đơn yêu cầu Thanh tra Sở Khoa học và Công nghệ (KH&CN) thành phố Hồ Chí Minh xử lý vi phạm hành chính đối với hai công ty khác vì cho rằng hai công ty này đã xâm phạm độc quyền giải pháp hữu ích của mình.

Bản chất giải pháp hữu ích của Công ty Phương Nga là khi muốn vận chuyển xi măng từ nhà máy sản xuất đến các công trình xây dựng, thông thường phải dùng xe ô tô chuyên dụng (dạng như xe bồn). Muốn vận chuyển theo cách này thì ít nhất phải có đường sá để xe chở xi măng chạy đến được công trình. Do đó, Công ty Phương Nga đã mày mò tìm cách giải quyết và cuối cùng nghĩ ra cách lấy công nghệ của xe bồn sang áp dụng cho xà lan. Hiểu nôm na là, do xi măng có dạng hạt mịn và nhẹ nên Công ty Phương Nga dùng máy nén khí và các ống dẫn để tạo áp lực hút xi măng “chảy” trực tiếp từ nhà máy – theo ống dẫn – xuống tàu và khi đến công trình thì có thể bơm ngược xi măng từ tàu – theo ống dẫn – ra bồn chứa xi măng của công trình.

Tháng 5.2006, Công ty Phương Nga nộp đơn đến Cục Sở hữu trí tuệ (SHTT), Bộ KH&CN xin được cấp bằng bảo hộ đối với giải pháp kỹ thuật: “Hệ thống chứa, bơm xi măng rời lên bờ từ phương tiện vận tải thủy bằng máy nén khí”. Đến tháng 11.2007, Cục SHTT đã cấp Bằng độc quyền giải pháp hữu ích cho Công ty Phương Nga, có giá trị độc quyền trong vòng 10 năm (đến năm 2016).

Chính vì cách thức hiệu quả trên nên ngay sau khi Công ty Phương Nga áp dụng giải pháp hữu ích này thì một số đơn vị cung cấp xi măng khác cũng bắt chước làm theo. “Như vậy là vi phạm sự độc quyền về giải pháp hữu ích của công ty chúng tôi”, Công ty Phương Nga khẳng định và đã có văn bản yêu cầu hai công ty khác ngưng hành vi xâm phạm, nhưng đến nay hai đơn vị này vẫn chưa ngưng. Lý do là, các công ty bị cho là xâm phạm quyền cho rằng mình không xâm phạm gì – “Giải pháp của Công ty Phương Nga đã có từ lâu đời, nhiều nơi đã ứng dụng chứ không có gì mới lạ, độc quyền cả!”.

Từ thực trạng trên, Công ty Phương Nga đã gửi đơn yêu cầu Thanh tra Sở KH&CN xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu giải pháp của mình. Tuy nhiên, Thanh tra Sở cho rằng, muốn xử lý xâm phạm thì phải cung cấp chứng cứ chứng minh hành vi xâm phạm, trong đó có tài liệu mô tả hệ thống chứa và bơm xi măng của bên xâm phạm và so sánh hệ thống này với hệ thống được cấp bằng độc quyền.

Trong khi đó, Công ty Phương Nga cho biết, chỉ có cách dùng “gián điệp kinh tế” thì may ra mới xâm nhập nội bộ của công ty kia mà lấy tài liệu mô tả chứ làm sao mà có được chứng cứ như Thanh tra Sở yêu cầu. Do đó, hiện tại Công ty Phương Nga đang chuẩn bị hồ sơ để kiện ra tòa yêu cầu các đơn vị này chấm dứt hành vi xâm phạm.

(Nguồn: Pháp luật thành phố Hồ Chí Minh online, 30-31.12.2009).

Bình luận

Continue reading

BẢO VỆ BÍ MẬT THƯƠNG MẠI

TS. TRẦN ĐÌNH HOÀNH – Washington DC

Binh Pháp Tôn Tử có câu “Biết người biết ta, trăm trận trăm thắng”. Thế có nghĩa là nếu đối thủ biết bí mật thương mại của ta thì ta trăm trận trăm thua. Bí mật thương mại của một công ty là tất cả những thông tin và kiến thức dùng trong công việc làm ăn của công ty mà chỉ có người của công ty biết được: công thức sản phẩm, danh sách các đối tác, danh sách các nhà cung cấp, danh sách khách hàng, thông tin tài chính, kế hoạch tiếp thị, v.v… Các loại thông tin này nếu bị lộ ra ngoài có thể đặt công ty trong tình trạng ra trận trong khi địch đã rõ hết đường đi nước bước của ta. Vậy thì làm thế nào để các công ty có thể bảo vệ được các bí mật thương mại của mình?

Bí mật thương mại khác với sở hữu trí tuệ (intellectual property) ở chỗ là tài sản trí tuệ như bằng sáng chế (patent), thương hiệu (trademark) và tác quyền (copyright) là tài sản công khai, phải đăng ký với Nhà nước cho mọi nguời biết. Phần thưởng cho việc đăng ký công khai là độc quyền khai thác trong một thời gian luật định. 

Bí mật thương mại (trade secret) có lợi ở chỗ là công ty có độc quyền khai thác bí mật vô hạn định, ngày nào bí mật còn là bí mật thì công ty còn độc quyền khai thác.  Tuy nhiên, bí mật thương mại nếu bị “bật mí” thì xem như không còn giá trị mấy.  Coca Cola là một trong những công ty đã chọn con đường không đăng ký bằng sáng chế (để được bảo vệ độc quyền trong một thời gian) công thức làm nước Coca Cola, mà giữ công thức này hoàn toàn bí mật (để được độc quyền vĩnh viễn). Cho đến ngày nay, Coca Cola vẫn thành công trong việc bảo vệ bí mật công thức này.  McDonald cũng có nhiều công thức làm thực phẩm bí mật không đăng ký bằng sáng chế với Nhà nước.

Dĩ nhiên là các đối thủ của một công ty có quyền tìm cách khám phá ra công thức bí mật bằng cách “thiết kế ngược,” nghĩa là phân tích một sản phẩm để tìm ra công thức chế tạo. Cách này hoàn toàn hợp pháp, và nếu công ty không đăng ký bằng sáng chế, thì công thức có thể bị mất. Tuy vậy, trong một số các lĩnh vực, như là thực phẩm chẳng hạn, thiết kế ngược để tìm đúng công thức cho ra đúng mùi vị không phải là việc dễ dàng.

Continue reading

“NHÃN HIỆU” VÀ “THƯƠNG HIỆU”

NGUYỄN ĐÌNH SAN

“Nhãn hiệu” và “Thương hiệu” là 2 từ lúc đầu xuất hiện trong lĩnh vực kinh tế, thương trường rồi sau đó mới mở rộng, hàm chứa nghĩa sang những lĩnh vực khác. “Nhãn hiệu” là cái vỏ, cái mác bên ngoài; còn “Thương hiệu” là cái làm nên giá trị của thứ đó. Nhãn hiệu thì có thể gắn với nội dung, chất lượng, có thể không. Hiểu nôm na, nhãn hiệu chỉ đơn giản là tên của một hãng, một sản phẩm hàng hoá.

Ví dụ như Sony, Daewoo, Hanel… (hàng địên tử); 555, Dunhill, Marlboro, Vinataba, Thăng Long… (Thuốc lá) là nhãn hiệu. Còn thương hiệu gắn với những sản phẩm nổi tiếng, chiếm được sự ưa chuộng của đa số khách hàng. Bản thân các nhãn hiệu không có tính cạnh tranh nhau vì đơn thuần chỉ là cái tên, sự phân biệt giữa các đơn vị kinh tế. Chỉ thương hiệu mới có tác dụng này, mới có khả năng loại bỏ nhau do chất lượng, uy tín đối với khách hàng khác nhau. Nhãn hiệu có thể đi liền với thương hiệu, có thể không. Những năm 50, 60 của thế kỷ trước, nhiều người ở Hà Nội đều biết đến hiệu dầu cao con hổ nổi tiếng Chính đại dược hàng. Đây là loại thuốc dùng để xoa bóp khi bị cảm lạnh, đau bụng rất hiệu quả. Dầu nhờn, được đựng vào hộp tròn, dẹt, to hơn đồng xu một chút, màu đỏ, có hình con hổ nổi. Không hiểu vì sao đến nay không thấy nữa. Bây giờ có thể có nhiều loại thuốc mới nhập khẩu từ nước ngoài cũng tốt, nhưng người ta vẫn không quên dầu cao con hổ của Chính đại dựơc hàng. Nhãn hiệu này đã là một thương hiệu. Khi đó không có dầu bôi nào sánh bằng. Hoặc như hiện nay, trong rất nhiều hãng cà phê đã nổi bật hãng Trung Nguyên. Thương hiệu này đã lấn át tất cả các hãng cà phê khác, gần như độc chiếm thị phần toàn quốc và một số nước trên thế giới. Đó là thương hiệu.

Như vậy, chỉ thương hiệu mới có giá trị, còn nhãn hiệu thì chẳng có ý nghĩa nếu không gắn liền với thương hiệu. Nhìn sang lĩnh vực khác – nghiên cứu khoa học hoặc văn học nghệ thuật chẳng hạn – điều đang bàn cũng không nằm ngoài những lẽ trên. Tất cả những bằng cấp (trung học, cao đẳng, đại học); học hàm (phó giáo sư, giáo sư); học vị (cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ), rồi những kỹ sư, bác sĩ, nhà văn, nhà báo, nhạc sĩ, thi sĩ… đều chỉ là “nhãn hiệu”, để phân biệt với các nghề nghiệp khác. Ngoài thông tin về công việc, nghề nghiệp, chưa nói lên điều gì. Phải là “thương hiệu”. Ví như ở nước ta, có tới hàng nghìn người làm nghề châm cứu nhưng chỉ Nguyễn Tài Thu mới là “thương hiệu” hàng đầu. Cũng như vậy trong những “thương hiệu” ở lĩnh vực nông học, phải nhắc đến 2 “thương hiệu” là Lương Đình Của và Vũ Tuyên Hoàng (cả 2 vị đều đã qua đời). Không thể kể hết mọi lĩnh vực đều có những “thương hiệu” đặc biệt, vượt lên, nổi trội hơn các “nhãn hiệu” khác.

Continue reading

BẢO HỘ ĐỘC QUYỀN SÁNG CHẾ Ở DOANH NGHIỆP: NHÌN TỪ GÓC ĐỘ KINH TẾ HỌC

TẠ DOÃN TRỊNH

Theo Adam B. Jaffe, lợi ích do tri thức tạo ra từ hoạt động nghiên cứu và triển khai (R&D) được các doanh nghiệp nắm giữ thông qua các phương thức sau1: Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ (SHTT); tận dụng thời gian đi trước dẫn đầu và cơ hội tích luỹ kinh nghiệm; nắm giữ những tài sản hay năng lực chuyên dụng. Trong nghiên cứu này, chúng ta sẽ tập trung vào phương thức bảo hộ quyền SHTT, đặc biệt xem xét ý nghĩa kinh tế của việc bảo hộ sáng chế, một sản phẩm đầu ra quan trọng trong hoạt động R&D của doanh nghiệp và cũng là sản phẩm có tác động to lớn đến phát triển kinh tế thông qua hiệu ứng lan toả của mình.

1. Tại sao phải bảo hộ quyền SHTT?

Trước hết, hãy cùng nhau trả lời cho câu hỏi: Điều gì sẽ xảy ra khi doanh nghiệp sở hữu một ý tưởng có tiềm năng khai thác thương mại trên thị trường?

Thông thường, để hiện thực hoá ý tưởng trong thực tiễn và tiếp đó là chuỗi hoạt động sản xuất – tiếp thị – bán sản phẩm trên thị trường, các doanh nghiệp cần một sự đầu tư nhất định. Trong trường hợp thiếu vốn đầu tư, doanh nghiệp phải đối mặt với nhiều thách thức: Đi tìm nhà đầu tư hay tìm người chấp nhận chuyển giao quyền sử dụng hoặc chuyển nhượng (mua đứt) quyền sở hữu sáng chế.

Từ đây sẽ xuất hiện tình thế khó xử cho doanh nghiệp: Bộc lộ sáng chế hay không bộc lộ nếu không tồn tại khả năng bảo hộ độc quyền cho sáng chế này. Tình thế khó xử này xuất phát từ bản chất bên trong của tri thức KH&CN, loại hàng hoá tiêu dùng công ích tạo ra hiệu ứng lan toả. Cụ thể là, trong quá trình thương thảo mua bán, nhà đầu tư hoặc người mua bất kỳ sẽ không sẵn lòng hứng chịu rủi ro nếu không được biết các thông tin đủ chi tiết về sáng chế để ước tính giá trị của sáng chế đó. Do vậy, nếu không bộc lộ, nhà đầu tư hay người mua bất kỳ sẽ khó có thể đánh giá hay nhận biết được đúng giá trị của sáng chế. Còn trong trường hợp bộc lộ hoàn toàn bản chất của sáng chế để thu hút đầu tư, sẽ xảy ra khả năng doanh nghiệp không thể kiểm soát được sáng chế do mình tạo ra.

Continue reading

VIẾT TIẾP BÀI “QUẢN LÝ TÀI SẢN TRÍ TUỆ TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÓ ĐÀO TẠO VỀ KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ”

TS. TRẦN VĂN HẢI – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn

Sau khi http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com đăng bài “Quản lý tài sản trí tuệ trong các trường đại học có đào tạo về kinh tế và quản lý” (sau đây gọi tắt là bài nghiên cứu trước), đã có một số sinh viên, học viên cao học và những người khác có quan tâm gặp trực tiếp hoặc gọi điện hỏi tác giả về quản lý nhãn hiệu dịch vụ của các trường đại học ở Việt Nam. Nhận thấy đây là một vấn đề mới, chưa hề có các nghiên cứu đi trước và cũng là để cho các bạn học viên cao học, sinh viên có tình huống thực tiễn thảo luận trong quá trình học tập và nghiên cứu sở hữu trí tuệ, tác giả viết tiếp bài nghiên cứu nói trên nhằm cung cấp thêm một số thông tin có liên quan.

Cũng cần lưu ý rằng hiện nay có một số website đã đăng không đầy đủ bài nghiên nói trên mà chưa được sự đồng ý của tác giả, nên tác giả cũng không có điều kiện để kiểm tra lại trước khi các website này đăng tải, dẫn đến việc các độc giả có thể không tiếp nhận đầy đủ về thông tin, nhằm khắc phục yếu tố này, tác giả chọn http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com để đăng tải toàn bộ thông tin về vấn đề nghiên cứu.

Trong bài nghiên cứu trước, có chi tiết được quan tâm, đó là Trường Đại học Dân lập Công nghệ Sài Gòn, chủ sở hữu nhãn hiệu ĐẠI HỌC SÀI GÒN, số bằng 78863, ngày cấp 25.01.2007. Trong chi tiết này đã xuất hiện hai chủ thể:

Trường Đại học Dân lập Công nghệ Sài Gòn (tiền thân là Trường Đại học Dân lập Kỹ nghệ Thành phố Hồ Chí Minh được thành lập tháng 04.2004 theo Quyết định số 57/2004/QĐ-TTg), sau đó trường đổi tên thành Trường Đại học Dân lập Công nghệ Sài Gòn vào tháng 03.2005 theo Quyết định số 52/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ;

Continue reading

BẮT BUỘC CHUYỂN GIAO QUYỀN SỬ DỤNG SÁNG CHẾ THEO LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ VIỆT NAM

THS. LÊ THỊ NAM GIANG & ĐOÀN CÔNG YÊN – ĐẠI HỌC LUẬT TPHCM

Bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng sáng chế (BBCGQSDSC) là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền của một quốc gia – trên cơ sở quy định của pháp luật – ra quyết định cưỡng chế, buộc người nắm độc quyền phải chuyển giao quyền sử dụng sáng chế cho Chính phủ hoặc cá nhân, tổ chức khác sử dụng thông qua hợp đồng bằng văn bản, với những điều kiện cơ bản đã được ấn định trong quyết định cưỡng chế mà không cần được sự đồng ý của người nắm độc quyền, với mục đích ngăn chặn sự lạm dụng độc quyền được xác lập bởi Bằng độc quyền sáng chế hoặc vì mục đích cộng đồng, phi thương mại.

Hiện nay, trong quá trình bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, một trong những vấn đề mà Việt Nam và các nước đang phát triển đặc biệt quan tâm là vấn đề bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng sáng chế. Luật sở hữu trí tuệ (SHTT) Việt Nam đã dành riêng một mục để định chế vấn đề quan trọng này. 

1. Quy định pháp luật

Căn cứ bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng sáng chế

Căn cứ BBCGQSDSC chính là cơ sở tiền đề làm phát sinh quan hệ chuyển giao quyền sử dụng sáng chế mà không cần sự đồng ý của chủ sở hữu (hay người nắm độc quyền). Khoản 1, Điều 145 Luật SHTT ghi nhận bốn căn cứ mà bất kỳ cá nhân, tổ chức nào có đủ điều kiện (theo luật định) cũng có thể nộp đơn đến cơ quan có thẩm quyền để xin cấp phép sử dụng sáng chế bắt buộc, bao gồm:

Thứ nhất, sử dụng sáng chế vì mục đích công cộng, phi thương mại. Mục đích này có thể hiểu là để nhằm phục vụ quốc phòng, an ninh, chữa bệnh, dinh dưỡng cho nhân dân hoặc đáp ứng các nhu cầu cấp thiết của xã hội. Đây chính là những nội dung cơ bản thuộc chức năng đối nội của một nhà nước. Do đó, để khai thác sáng chế với mục đích bảo vệ cộng đồng như vậy, các cơ quan nhà nước sẽ trực tiếp là Bên nhận chuyển giao quyền sử dụng sáng chế bắt buộc thuộc lĩnh vực mình quản lý. Và theo điểm a, khoản 1 Điều 145, khi ở vào trường hợp này, bất chấp tư cách pháp lý của chủ sở hữu là có vi phạm nghĩa vụ sử dụng sáng chế hay không, việc BBCGQSDSC vẫn được tiến hành. Đây là điểm chung của chế định BBCGQSDSC tại các nước, phù hợp với quy định của Hiệp định TRIPs Hiêp định về những vấn đề liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ.  của WTO.

Continue reading

QUẢN LÝ TÀI SẢN TRÍ TUỆ TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÓ ĐÀO TẠO VỀ KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ[1]

TS. TRẦN VĂN HẢI – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn

1. Dẫn nhập

Nhắc đến hoạt động khoa học và công nghệ, người ta không thể bỏ qua mảng sở hữu trí tuệ (SHTT), hay nói cách khác hoạt động SHTT là một bộ phận hữu cơ không thể tách rời các hoạt động khoa học và công nghệ. Trong ngành đào tạo Quản lý khoa học và công nghệ có một chuyên ngành đào tạo Quản lý SHTT.

Sản phẩm của hoạt động khoa học và công nghệ trong các trường đại học là một loại tài sản trí tuệ, bởi vậy việc quản lý nó có hiệu quả là một trong những yêu cầu để nâng cao chất lượng đào tạo trong các trường đại học.

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Quy định về quản lý hoạt động sở hữu trí tuệ trong cơ sở giáo dục đại học, ban hành kèm theo Quyết định số 78/2008/QĐ-BGDĐT ngày 29.12.2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.[2] (sau đây gọi tắt là Quy định).

Mục đích quản lý hoạt động SHTT theo Quy định là nhằm khuyến khích hoạt động sáng tạo, thúc đẩy quá trình khai thác, chuyển giao quyền SHTT và bảo vệ tài sản trí tuệ (TSTT) của cá nhân, tập thể, tổ chức và của chính cơ sở giáo dục đại học. TSTT theo Quy định là quyền SHTT và quyền đối với các tài sản khác (quyền đối với sáng kiến, giải pháp hợp lý hóa trong giáo dục và đào tạo và các đối tượng khác) phát sinh từ các hoạt động đào tạo, khoa học và công nghệ.

Do giới hạn của Hội thảo này, bài tham luận chỉ đề cập đến việc quản lý TSTT trong các trường đại học có đào tạo về quản lý và kinh tế (sau đây gọi tắt là các trường đại học), việc quản lý này phù hợp với Quy định do Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành. Mặt khác, bài tham luận cũng không đề cập lại những việc có liên quan đến quản lý TSTT như Quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã nêu.

Continue reading

NHU CẦU VỀ ĐÀO TẠO SỞ HỮU TRÍ TUỆ TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM

NGUYỄN THỊ QUẾ ANH -  Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Tóm tắt. Bài viết đề cập tới mục tiêu xây dựng nền văn hoá sở hữu trí tuệ (SHTT) tại Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, trong đó nhấn mạnh tới tầm quan trọng của các trường đại học trong việc tạo dựng những yếu tố cần thiết để góp phần tạo ra môi trường thuận lợi cho việc hình thành và phát triển nền văn hoá SHTT. Trên cơ sở tìm hiểu nhu cầu về đào tạo SHTT dưới các góc độ khác nhau, tác giả đưa ra một số đề xuất về nội dung và thời lượng giảng dạy về SHTT trong các trường đại học ở Việt Nam. Với cách nhìn nhận SHTT như là một lĩnh vực hết sức đa dạng và mang tính liên ngành, những đề xuất trong bài viết được xây dựng theo các tiêu chí khác nhau về cấp độ đào tạo cũng như định hướng chuyên môn của người học.

1. Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và mục tiêu xây dựng nền văn hoá sở hữu trí tuệ tại Việt Nam

SHTT đã trở thành một trong các nội dung cơ bản của các chương trình hợp tác kinh tế đa phương và song phương, trong đó có các thiết chế kinh tế mà Việt Nam đang tham gia. Mục tiêu của việc bảo hộ quyền SHTT đã được Tổ chức Thương mại thế giới cam kết theo đuổi, đó là ”Với mong muốn giảm sai lệch thương mại và các rào cản đối với thương mại quốc tế, … thúc đẩy việc bảo hộ một cách có hiệu quả và toàn diện các quyền sở hữu trí tuệ, và bảo đảm rằng bản thân các biện pháp và thủ tục thực thi quyền SHTT sẽ không trở thành rào cản đối với thương mại hợp pháp” (Lời nói đầu Hiệp định về các khía cạnh thương mại của quyền SHTT – TRIPS). Bên cạnh đó, mục tiêu của việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cũng được nhấn mạnh tại Điều 7 Hiệp định TRIPS:

”Việc bảo hộ và thực thi các quyền SHTT phải góp phần thúc đẩy việc cải tiến, chuyển giao và phổ biến công nghệ, góp phần đem lại lợi ích chung cho người tạo ra và người sử dụng kiến thức công nghệ, đem lại lợi ích xã hội và lợi ích kinh tế, tạo sự cân bằng giữa quyền và nghĩa vụ”.

Continue reading