MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ ĐỊNH GIÁ NHÃN HIỆU

ĐÀO MINH ĐỨC – Sở KH&CN TP.HCM

I. Phân biệt thương hiệu và nhãn hiệu

Trước đây, hai khái niệm “nhãn hiệu” và “thương hiệu” đã từng được phân bịệt một cách khá rõ ràng ở cả khía cạnh pháp lý lẫn ngôn ngữ học Việt Nam. Luật số 13/57 ngày 01.8.1957 ở miền Nam đã quy định về “nhãn hiệu sản xuất” dùng cho các sản phẩm kỹ nghệ hoặc canh nông và “thương hiệu” dùng cho các thương phẩm. Trong thực tiễn kinh doanh, thuật ngữ “thương hiệu” đó không chỉ ứng với hoạt động của các thương nhân, mà còn bao hàm cả các loại hình hoạt động dịch vụ của mọi loại hiệu, tiệm, ngân hàng, hãng bảo hiểm … và dần dần mở rộng thành tên của doanh nghiệp nói chung. Cụ thể, vào giai đọan đó, theo Tự điển Việt Nam Ban Tu thư Khai Trí, “thương hiệu” là “tên hiệu của nhà buôn” và “nhãn hiệu” là “giấy dán ngòai để làm hiệu” 1. Trong Tự điển Việt Anh của Nguyễn văn Khôn, “thương hiệu” được dịch là “sign board” và “nhãn hiệu” là “trademark, brand” 2…. Ngay cả một thời gian khá dài sau năm 1975, Tự điển Việt Pháp của Công ty

Food contains three types of Anabolic steroids and generics Viagra: sugar, starches and fiber. Anabolic steroids and generics Viagra are either called simple or complex, depending on the food’s chemical alphabol online structure and how quickly the sugar is digested and absorbed. The type of Anabolic steroids and generics Viagra that you eat makes a difference – Foods that contain high amounts of simple sugars, especially fructose raise triglyceride levels. Triglycerides (or blood fats) are an important barometer of metabolic health; high levels may be associated with coronary heart disease, diabetes and fatty liver.

Phát hành Sách Thành phố Hồ Chí Minh vẫn giữ định nghĩa “thương hiệu enseigne, nom commercant” và “nhãn hiệu marque de fabrique” 3.

Tuy còn thiếu tính chính tắc, nhưng sự phân định đó đã bảo đảm tính hài hòa với cách tiếp cận chung của các nước phát triển, cụ thể như qua định nghĩa của Hiệp Hội Marketing Hoa Kỳ : “nhãn hiệu (brand) là một cái tên, một từ ngữ, một mẫu thiết kế, một biểu tượng hoặc bất kỳ một tính chất nào khác 4 giúp nhận biết hàng hóa hoặc dịch vụ của một doanh nhân để phân biệt với hàng hóa , dịch vụ tương ứng của các doanh nhân khác. Thuật ngữ pháp lý tương ứng với “brand“ là “trademark”. Một nhãn hiệu có thể dùng để nhận biết một sản phẩm, một họ sản phẩm hoặc tòan bộ sản phẩm của doanh nhân. Nếu dùng cho tòan bộ doanh nghiệp nói chung, thuật ngữ tương ứng là “thương hiệu” (trade name)” 5

Continue reading

VẬN DỤNG PHÁP LUẬT NHÃN HIỆU TRONG KINH DOANH[1]

ĐÀO MINH ĐỨC -  Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM

Các nhiệm vụ pháp lý thường gặp trong quản trị thương hiệu (corporate brand/trade name)

Trước hết, tên doanh nghiệp được hình thành trong thủ tục đăng ký kinh doanh, và có ít nhất hai thành tố là loại hình doanh nghiệp (công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn…) và tên riêng[2]. Tên doanh nghiệp viết bằng tiếng nước ngoài là tên được dịch từ tên tiếng Việt. Tên viết tắt của doanh nghiệp được viết tắt từ tên bằng tiếng Việt hoặc tên viết bằng tiếng nước ngoài[3].

Đi sâu vào các khía cạnh khác nhau, các pháp luật chuyên ngành lại sử dụng các thuật ngữ khác nhau khi điều chỉnh việc đặt và sử dụng tên của các chủ thể có hoạt động kinh doanh trong chuyên ngành đó, thí dụ như “tên gọi của pháp nhân”[4] hay tên của cá nhân có hoạt động kinh doanh hợp pháp trong pháp luật dân sự, “tên tổ chức khoa học công nghệ” trong pháp luật khoa học công nghệ[5], “tên hợp tác xã” trong pháp luật về hợp tác xã[6]

Do vậy, khi xem xét việc bảo hộ tên của mọi chủ thể có hoạt động kinh doanh, Luật Sở hữu trí tuệ sử dụng thuật ngữ chung là tên thương mại và định nghĩa: tên thương mại là tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động kinh doanh để phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh[7]. Quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại được xác lập trên cơ sở sử dụng hợp pháp tên thương mại đó[8].

Thuật ngữ pháp lý “tên thương mại” (trade name) có thể xem là có nội hàm tương đương với thuật ngữ thương hiệu của giới kinh doanh và bao gồm: thành phần tên riêng trong tên doanh nghiệp, tên tiếng nước ngoài, tên viết tắt hoặc tên giao dịch của doanh nghiệp.

Continue reading

SỞ HỮU TRÍ TUỆ LÀ GÌ?

THOMAS G. FIELD JR.*

ĐIỂM MẤU CHỐT

“Rum và Coca-Cola”, một bài hát Calypsocó lẽ là nổi tiếng nhất mọi thời đại về một đề tài nóng bỏng, vào những năm 1940 là bài hát ăn khách nhất của ban nhạc Andrews Sisters. Bài hát này cũng là nguyên nhân của một vụ án nổi tiếng của Mỹ nhằm giành lại quyền tác giả cho nhạc sỹ Lionel Belasco người Trinidad vốn đã viết bài hát này từ vài thập kỷ trước đó với nhan đề “L’Année Passée”. Luật sư đại diện cho người xuất bản bản nhạc gốc của Belasco đã chứng minh được với tòa rằng bài hát “Rum và Coca-Cola” là tác phẩm của nhạc sỹ Belasco chứ không phải của người khác.

Belasco đã được công nhận là tác giả của bài hát và nhận được tiền bồi thường cho việc người ta sử dụng tác phẩm của mình mà không xin phép vì Hoa Kỳ có luật bảo vệ sở hữu trí tuệ của các nhân tài như Belasco và thi hành những luật này để ngăn chặn việc vi phạm sở hữu trí tuệ. Nhưng giả sử người xuất bản đi kiện tại một quốc gia không có luật bảo vệ sở hữu trí tuệ hoặc có nhưng yếu kém thì có lẽ quá trình đi kiện và việc đòi bồi thường của Belasco đã không có một kết cục tốt đẹp như vậy.

SỞ HỮU TRÍ TUỆ LÀ GÌ?

Tại sao những quốc gia như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hà Lan lại bảo vệ các phát minh; các tác phẩm nghệ thuật và văn học; các biểu tượng, hình ảnh, tên, thiết kế dùng trong thương mại: thông tin và lời nói được dùng lần đầu của những cá nhân sáng tạo ra chúng được gọi là sở hữu trí tuệ (IP)? Các quốc gia này làm như vậy bởi lẽ họ biết rằng bảo vệ những quyền sở hữu này thì mới thúc đẩy được phát triển kinh tế, khuyến khích phát minh kỹ thuật và thu hút được đầu tư để tạo ra công ăn việc làm mới và những cơ hội cho công dân của họ. Báo cáo về Triển vọng Kinh tế Toàn cầu của Ngân hàng Thế giới năm 2002 đã khẳng định tầm quan trọng ngày càng tăng của sở hữu trí tuệ đối với các nền kinh tế toàn cầu hóa hiện nay và phát hiện ra rằng “với các mức thu nhập khác nhau thì quyền sở hữu trí tuệ (IPR) thường gắn liền với thương mại và các dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn hơn và nhờ vậy có tốc độ phát triển kinh tế nhanh hơn”.

Continue reading

CHÍNH SÁCH BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ ĐỐI VỚI PHẦN MỀM MÁY TÍNH VIỆT NAM

BÙI MẠNH HẢI (Bài được viết trước thời điểm Luật SHTT năm 2005 được ban hành)

Chúng ta đang sống trong một thời kỳ phát triển rực rỡ của khoa học và công nghệ và được chứng kiến thế giới đang chuyển mình mạnh mẽ vào một nền kinh tế mang bản chất hoàn toàn mới – nền kinh tế tri thức. Trong nền kinh tế tri thức, kết cấu giá trị của sản phẩm, dịch vụ có sự thay đổi cơ bản – hàm lượng vật chất ngày càng giảm và ngược lại hàm lượng trí tuệ không ngừng tăng lên. Đối với một số sản phẩm công nghệ cao, hàm lượng trí tuệ chiếm giá trị gần như tuyệt đối, trong số đó không thể không kể đến phần mềm máy tính. Có thể nói rằng không một ngành công nghiệp nào cần ít vốn đầu tư ban đầu về cơ sở vật chất nhưng mang lại giá trị tăng cao như ngành công nghiệp phần mềm.

Tuy nhiên, một trong những đặc điểm ưu việt của sản phẩm phần mềm – đặc điểm dễ sao chép, nhân bản – lại trở thành một nguyên nhân cơ bản là nạn sao chép trái phép làm cản trở sự phát triển của ngành công nghiệp này nếu không được kiểm soát chặt chẽ. Chính vì lẽ đó, để phát triển ngành công nghiệp này, bên cạnh những chính sách ưu đãi khác, cần phải có một cơ chế bảo hộ hữu hiệu chống lại việc sao chép trái phép phần mềm.

Sớm tiên đoán trước được vai trò của ngành công nghệ thông tin (CNTT) nói chung và công nghiệp phần mềm nói riêng trong nền kinh tế quốc dân, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã đề ra chiến lược đồng bộ nhằm phát triển ngành công nghiệp này từ rất sớm và coi đó là một lĩnh vực mũi nhọn có tính chất đột phá cần được ưu tiên đầu tư, phát triển. Cùng với các chính sách, chiến lược phát triển cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực, ưu đãi về thuế quan, tài chính v.v. cho ngành công nghiệp phần mềm, việc hoàn thiện và kiện toàn hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nói chung và phần mềm máy tính nói riêng cũng được Đảng và Nhà nước Việt Nam quan tâm thoả đáng. Cụ thể là, Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII về định hướng chiến lược phát triển khoa học và công nghệ đến năm 2020 và những nhiệm vụ đến năm 2010 đã đề ra nhiệm vụ: “Hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ …”; Chỉ thị số 58-CT/TW ngày 17/10/2000 của Bộ Chính trị (Khoá VIII) về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đã giao cho “Đảng đoàn Quốc hội chỉ đạo việc rà soát lại và bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật, tạo điều kiện thuận lợi để đẩy nhanh việc ứng dụng và phát triển CNTT…”; và Kết luận của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá IX) đã bổ sung nhiệm vụ “Kiện toàn cơ quan quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ …”.

Continue reading

LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ VÀ BẢO HỘ PHẦN MỀM MÁY TÍNH

LS. TS. NGUYỄN HOÀN THÀNH – Văn phòng luật sư Phạm và Liên Danh (Bài được viết trước thời điểm Luật SHTT năm 2005 được ban hành)

Hiện nay vấn đề bảo hộ bản quyền phần mềm máy tính đang được dư luận và giới chuyên môn quan tâm nhiều như là giải pháp đối với sự sống còn và phát triển công nghiệp sản xuất phần mêm máy tính của nước ta. Điều 747 khoản 1 Bộ luật dân sự CHXHCN Việt nam (BLDS) đã xác định phần mềm máy tính là một loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả. Điều 4 Nghị định số 76/CP ngày 29-12-1996 còn xác định “phần mềm máy tính gồm chương trình máy tính, tài liệu mô tả chương trình, tài liệu hỗ trợ, cơ sở dữ liệu”. Tuy nhiên, khái niệm phần mềm máy tính rộng hơn, bao hàm các đối tượng, tài liệu không thuộc phần cứng liên kết với việc xây dựng và hoạt động của chương trình máy tính và có thể phân loại thành:

1. các tài liệu thiết kế bước đầu thí dụ như sơ đồ khối, biểu đồ, các đặc tả, mẫu biểu bảng …

2. các chương trình máy tính bao gồm mã nguồn và mã đối tượng

3. các phương tiện xây dựng phần mềm như các chương trình dịch, chương trình bổ trợ…

4. thông tin được lưu trữ trên máy tính thí dụ như các tác phẩm viết, tác phẩm nghệ thuật, âm nhạc… được lưu trữ ở dạng số

5. cơ sở dữ liệu

6. các thông tin đầu ra của máy tính như âm thanh, các file, các trang in …

7. hiển thị màn hình

8. các tài liệu hướng dẫn, tra cứu in trên giấy hay ở dạng số

9. các ngôn ngữ lập trình

Continue reading

BẢO HỘ PHẦN MỀM MÁY TÍNH Ở VIỆT NAM

TS.  NGUYỄN ĐÌNH HUY – Khoa Luật Dân sự – ĐH Luật TP.HCM (Bài được viết trước thời điểm Luật SHTT năm 2005 được ban hành)

Quyền tác giả là một bộ phận của quyền sở hửu trí tuệ, một loại quyền sở hửu đối với tài sản vô hình – thành quả của hoạt động sáng tạo của con người.Tài sản vô hình là tài sản không nhìn thấy được song trị giá được bằng tiền và có thể trao đổi trong giao lưu dân sự. Vì vậy, những đối tượng của quyền tác giả rất dễ bị xâm phạm từ phía người sử dụng, gây ra những hậu quả xấu, ảnh hưởng đến quyền lợi của người sáng tạo ra tác phẩm nói riêng và của toàn xã hội nói chung. Xét từ góc độ lý luận, quan hệ quyền tác giả là một loại quan hệ pháp luật tuyệt đối, là quan hệ vật quyền mà đối tượng (khách thể) của nó là những tác phẩm khoa học, văn học, nghệ thuật là món ăn tinh thần không thể thiếu được của cuộc sống con người, phản ánh mức độ phát triển của một đất nước.

Phần mềm máy tính (PMMT) là một trong số các loại hình tác phẩm văn học, khoa học, nghệ thuật được pháp luật bảo hộ (Điều 747 BLDS) là một đối tượng có những đặc thù riêng so với các đối tượng khác. PMMT là một hoặc một nhóm chương trình được biểu hiện dưới dạng chuỗi lệnh viết theo một ngôn ngữ lập trình nào đó và các tập dữ liệu liên quan, chỉ dẫn cho máy tính hoặc hệ thống tin học biết phải làm gì để thực hiện nhiệm vụ đã đề ra. PMMT có thể được cài đặt ngay trong máy tính hoặc được lưu trữ ở ngoài máy tính dưới các hình thức khác nhau như văn bản, đĩa từ, đĩa quang…. Mặc dù trong các Công ước quốc tế về quyền tác giả, PMMT không được coi là một loại hình tác phẩm được bảo hộ nhưng pháp luật tất cả các nước trên thế giới hiện nay đều bảo hộ PMMT bằng chế định quyền tác giả. Riêng ở Hoa Kỳ, PMMT còn có thể được bảo hộ dưới dạng sáng chế nếu thỏa mãn được các điều kiện như: tính mới, tính sáng tạo và tính hữu ích.

Luật pháp của các quốc gia không đồng nhất trong khái niệm về PMMT cũng như tồn
tại những quan điểm khác nhau về lĩnh vực bảo hộ đối với PMMT. Một luồng quan điểm cho rằng PMMT không có những đặc trưng của một tác phẩm văn học, khoa học, nghệ thuật và một người bình thường nếu không biết sử dụng máy tính thì không thể khai thác được công dụng của PMMT. Đối tượng của quyền tác giả phải là những tác phẩm chứa đựng nội dung văn học, khoa học, nghệ thuật được sáng tạo dưới một hình thức vật chất nhất định mà con người có thể cảm nhận được bằng các cơ quan thính giác, thị giác, xúc giác… nghĩa là có thể nghe thấy, nhìn thấy, sờ thấy được….

Continue reading

TRANH CHẤP SỞ HỮU TRÍ TUỆ: TRANH CHẤP VÌ CHỮ “A” HAY CHỮ “V”

NGUYỄN MẠNH

Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) cho biết, hiện nay có tới 40.000 nhãn mác sản phẩm đang được sử dụng mà không cần đăng ký. Bởi những nhãn hiệu này không xâm phạm đến quyền lợi của bất kỳ ai. Tuy nhiên, điều này cũng chứa đựng rất nhiều yếu tố rủi ro khi xảy ra tranh chấp.

Đầu tháng 10/2009, Tổng công ty Thép Việt Nam (VNSteel) phát hiện Công ty Cổ phần Thép Đông Nam Á (ASC) có trụ sở tại Khu công nghiệp Hòa Phú, xã Hòa Phú, thành phố Buôn Mê Thuột, tỉnh Đắc Lắc đã đưa ra thị trường sản phẩm thép thanh vằn từ D10-D14 có nhãn hiệu nổi trên thân thanh thép tương tự nhãn hiệu của VNSteel.

Có hay không hành vi xâm phạm?

Ngày 31/10, ông Nguyễn Thành Long, Trưởng chi nhánh Văn phòng Luật sư Phạm và Liên Danh, đại diện cho VNSteel đã có văn bản gửi ASC yêu cầu giải trình. Trong văn bản nêu rõ: gần đây, VNSteel phát hiện ASC sản xuất và phân phối các loại thép có gắn dấu hiệu “A” có thiết kế tương tự với phần hình chữ “V” trên nhãn hiệu đã được bảo hộ cho sản phẩm thép “các loại, kim loại và các hợp kim” của VNSteel theo Văn bằng số 116719 và 116720.

Về màu sắc có cùng màu đỏ giống với phần hình “V” trên nhãn hiệu theo Văn bằng số 116719 và ASC đã có sử dụng dấu hiệu đó trên bảng hiệu, nhà xưởng, các tài liệu giao dịch, quảng cáo, hóa đơn và các phương tiện kinh doanh khác. Hơn nữa, ASC nộp đơn xin đăng ký nhãn hiệu “A” cũng chứa dấu hiệu trên “A” theo đơn số 4-2008-27389 cho sản phẩm cùng loại, tương tự, liên quan thuộc nhóm 06…

Continue reading

TRANH CHẤP SỞ HỮU TRÍ TUỆ: ĐÒI TIỀN TỈ VÌ BỊ “CHÔM” BÀI PHỐI ÂM KARAOKE?

HỒNG TÚ

Ngày 25-11 – 2009, TAND TP.HCM đã thụ lý vụ Công ty Cổ phần Dịch vụ Phú Nhuận (Maseco) kiện Công ty TNHH Thương mại-Dịch vụ-Sản xuất điện tử Cali và Công ty TNHH Thương mại-Dịch vụ Đông Hải. Maseco tỏ ra bức xúc vì cho rằng mình đã phải tốn rất nhiều công sức, chi phí để sáng tạo ra các sản phẩm phối âm MIDI từ các bài hát có sẵn.

Theo đơn kiện, Maseco cho rằng Cali và Đông Hải đã xâm phạm quyền tác giả bài phối âm MIDI Karaoke của mình nên yêu cầu hai công ty trên chấm dứt hành vi xâm phạm, thu hồi toàn bộ số đĩa karaoke đã bán ra thị trường và xin lỗi công khai. Ngoài ra, Cali còn phải bồi thường hơn 8 tỉ đồng, Đông Hải bồi thường gần 4,5 tỉ đồng và thanh toán 380 triệu đồng tiền bản quyền cho Maseco.

Sử dụng không xin phép?

Maseco là nhà sản xuất đầu đĩa thương hiệu Arirang. Năm 2004, Maseco đã được Cục Bản quyền tác giả cấp giấy chứng nhận quyền tác giả cho bài phối âm Maseco Midi Vision từ Vol 1 đến Vol 36 với hơn 3.000 bài hát thể hiện dưới hình thức tập tin định dạng MIDI.

Sự việc trở nên ầm ĩ khi Maseco gửi văn bản tới cơ quan chức năng tố cáo nhiều công ty, trong đó có Cali và Đông Hải đã tự ý sử dụng các sản phẩm phối âm MIDI Karaoke của Maseco để kinh doanh thu lợi. Maseco cũng gửi nhiều văn bản cho Cali và Đông Hải yêu cầu chấm dứt hành vi xâm phạm và thu hồi toàn bộ đĩa karaoke đã bán ra thị trường.

Phúc đáp Maseco, Cali khẳng định mình chỉ có chức năng sản xuất các mặt hàng điện tử, không có chức năng sản xuất, phát hành, kinh doanh băng đĩa nên không liên quan gì. Cali chỉ thừa nhận trong quá trình bán các đầu máy karaoke sáu số mang nhãn hiệu California, có bán kèm đĩa nhạc mua lại từ Đông Hải.

Continue reading

BÀN VỀ THUẬT NGỮ “BẢN QUYỀN CÔNG NGHỆ”

TS. TRẦN VĂN HẢI – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

Theo tác giả, việc định nghĩa thuật ngữ “bản quyền công nghệ” (BQCN) trong các văn bản quy phạm pháp luật là rất cần thiết, đáp ứng nhu cầu và mục đích sử dụng của các nhà công nghệ và những người có liên quan. Bài viết dưới đây, tác giả nêu ra và phân tích một số trường hợp điển hình trong việc áp dụng chưa đúng thuật ngữ này.

Trong các thuật ngữ có liên quan đến khoa học và công nghệ (KH&CN), chúng ta thấy tồn tại thuật ngữ “BQCN”. Chỉ cần vào công cụ tìm kiếm google, gõ mấy chữ “BQCN” sẽ cho ra khoảng 12.600.000 mục từ cho BQCN. Nếu bỏ qua 99,99% số mục từ rời rạc không liên quan gì đến thuật ngữ cần bàn thì chúng ta vẫn thấy còn khá nhiều website đang sử dụng thuật ngữ BQCN. Không những “cư dân mạng” sử dụng thuật ngữ này mà ngay cả trong các văn bản và lời nói hàng ngày, chúng ta vẫn thấy sự hiện diện của thuật ngữ BQCN. Như vậy, thuật ngữ này đã được nhiều người chấp nhận thì có gì cần phải bàn? Không hoàn toàn như vậy, bởi vì nó đang được sử dụng với các nghĩa rất khác nhau, ví dụ:

“Công ty Michael S Sutton Ltd. của New Zealand hôm 30.4 đã gửi đơn khiếu nại lên toà án quận Đông Texas buộc tội Nokia vi phạm BQCN của Công ty này và yêu cầu được bồi thường”[1].

“Vừa đặt chân vào Tổ chức thương mại thế giới (WTO), Trung Quốc đã gặp một số khó khăn trong chuyện BQCN, và nhu cầu phải đẩy nhanh việc đăng ký bản quyền các sáng chế của chính người Trung Quốc đang châm ngòi cho một sự bùng nổ bản quyền”[2].

Continue reading

XÁC ĐỊNH CHỦ SỞ HỮU KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC [1]

TS. TRẦN VĂN HẢI – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

Trong hoạt động nghiên cứu khoa học, việc xác định chủ sở hữu kết quả nghiên cứu không chỉ có ý nghĩa trong việc thương mại hóa kết quả nghiên cứu mà còn có ý nghĩa đối với danh dự và uy tín của tác giả – người sáng tạo ra kết quả nghiên cứu.

Tuy nhiên, trong thực tế việc xác định chủ sở hữu kết quả nghiên cứu lại không đơn giản, nhiều khi nó không có tác dụng kích thích khả năng sáng tạo của tác giả. Điều 26.1. Luật Khoa học và Công nghệ (KH&CN) chỉ quy định đơn giản: Tổ chức, cá nhân đầu tư cho việc thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ là chủ sở hữu kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; tổ chức, cá nhân trực tiếp thực hiện công trình khoa học và công nghệ là tác giả của công trình đó, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác trong hợp đồng khoa học và công nghệ”.

Quy định trên đây chưa giải quyết được các trường hợp cụ thể: kết quả nghiên cứu là sự sáng tạo của nhiều tác giả với các mức độ đóng góp khác nhau; kết quả nghiên cứu do nhiều người đầu tư tài chính để thực hiện; kết quả nghiên cứu vừa được bảo hộ theo pháp luật về quyền tác giả, vừa được bảo hộ theo pháp luật về quyền sở hữu công nghiệp; cũng chưa giải quyết được việc phân định quyền sở hữu đối với kết quả nghiên cứu trong trường hợp “sáng chế công vụ” (Employee Invention)…

Bài viết này góp phần xác định chủ sở hữu kết quả nghiên cứu và bàn về quyền tài sản của chủ sở hữu kết quả nghiên cứu.

1. Phân loại kết quả nghiên cứu theo đối tượng được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ

Điều 2.4. Luật KH&CN quy định: “Nghiên cứu khoa học là hoạt động phát hiện, tìm hiểu các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo các giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn. Nghiên cứu khoa học bao gồm nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng”.

Continue reading

CHƯƠNG TRÌNH MÁY TÍNH NÊN ĐƯỢC BẢO HỘ LÀ ĐỐI TƯỢNG NÀO CỦA QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ?[1]

TS. TRẦN VĂN HẢI – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

Trên Tạp chí Hoạt động khoa học số 596 ra tháng 01.2009, tác giả Hoàng Minh Huệ có bài Một số vấn đề về bảo hộ phần mềm máy tính hiện nay, trong đó đã đưa ra nhận định bảo hộ phần mềm máy tính (PMMT) theo quyền tác giả là một giải pháp chưa hoàn thiện[2]. Tôi đồng ý với nhận định của tác giả khi phân tích những bất cập của việc bảo hộ PMMT theo quyền tác giả, nhưng vẫn đặt câu hỏi: nếu đó là giải pháp chưa hoàn thiện, thì tại sao pháp luật Việt Nam, pháp luật một số quốc gia khác và pháp luật quốc tế về sở hữu trí tuệ (SHTT) đều quy định chương trình máy tính (CTMT) được bảo hộ như tác phẩm văn học, dù được thể hiện dưới dạng mã nguồn hay mã máy.[3]

Trong khi đó, điều 59.2. Luật SHTT, điều 52 Công ước Patent Châu Âu (European Patent Convention) lại loại trừ khả năng CTMT được bảo hộ là sáng chế. Ngay cả bản sửa đổi được ban hành ngày 01.4.2002 của Hiệp ước hợp tác về sáng chế (Patent Coorporation Treaty) cũng không đề cập gì đến việc bảo hộ CTMT.

Trong bài viết này, chúng tôi xin phân tích cơ sở pháp lý và những điểm cần bàn thêm của việc bảo hộ CTMT theo quyền tác giả hoặc theo sáng chế, trên cơ sở đó đề xuất khuyến nghị các nhà quản lý tìm ra một cơ chế thích hợp để bảo hộ CTMT.

1. Thống nhất thuật ngữ

Trong các tài liệu nghiên cứu về SHTT, thuật ngữ “phần mềm máy tính” (software) và “chương trình máy tính” (computer program) được sử dụng không thống nhất, để thống nhất cách sử dụng thuật ngữ, chúng tôi xin trích dẫn các định nghĩa sau đây:

– “Chương trình máy tính là một dãy các lệnh mà máy tính điện tử cần thực hiện theo một thứ tự xác định để giải một bài toán nào đấy” [4].

Continue reading

VỀ THUẬT NGỮ SỞ HỮU TRÍ TUỆ TRONG LUẬT KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ [1]

TS. TRẦN VĂN HẢI – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

Thuật ngữ sở hữu trí tuệ (SHTT) được dùng nhiều lần trong Luật Khoa học và Công nghệ (KH&CN), nhưng có thể có những cách hiểu khác nhau về thuật ngữ này, bởi vậy phải bàn về cách sử dụng thuật ngữ SHTT và các thuật ngữ khác có liên quan đến SHTT trong Luật KH&CN (sau đây gọi tắt là Luật) thiết nghĩ là một việc nên làm.

1. “Công nghệ ngược” có thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật không?

Luật định nghĩa: “Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm”. Từ định nghĩa này, có thể đặt câu hỏi: quá trình từ sản phẩm mà tìm ra các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện… thì có gọi là “công nghệ” không? Trong lĩnh vực SHTT người ta gọi quá trình này là Reverse Engineering[2] (tạm dịch là “công nghệ ngược”), nó có liên quan đến 2 đối tượng được bảo hộ quyền SHTT là sáng chế và bí mật kinh doanh.

Phải bàn đến “công nghệ ngược”, bởi lẽ một giải pháp kỹ thuật được bảo hộ là sáng chế thì hành vi dùng “công nghệ ngược” để tìm ra các kỹ năng, bí quyết… của quy trình hay sản phẩm là hành vi bất hợp pháp. Nhưng mọi thông tin có liên quan đến công nghệ được bảo hộ dưới dạng bí mật kinh doanh thì hành vi dùng “công nghệ ngược” để tìm ra các kỹ năng, bí quyết… của quy trình hay sản phẩm lại là hành vi hợp pháp.

Bởi vậy, “công nghệ ngược” có thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật hay không là một việc nên xem xét, còn gọi cụ thể nó là thì cần một nghiên cứu khác sâu hơn.

2. Xác định các sản phẩm của quá trình nghiên cứu khoa học

Luật định nghĩa: Nghiên cứu khoa học là hoạt động phát hiện, tìm hiểu các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo các giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn. Nghiên cứu khoa học bao gồm nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng”.

Continue reading

MỘT SỐ PHÂN TÍCH VỀ TÌNH TRẠNG XÂM PHẠM VÀ TRANH CHẤP QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ Ở VIỆT NAM [1]

TS. TRẦN VĂN HẢI – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

Từ khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), sở hữu trí tuệ (SHTT) thường được nhắc đến như là một trong 3 trụ cột của WTO bên cạnh thương mại hàng hóa và thương mại dịch vụ. Mặc dù Việt Nam đã cam kết thực hiện đầy đủ các quy định của tổ chức này về SHTT, song trên thực tế, tình trạng xâm phạm quyền SHTT đang ngày càng trở nên đáng báo động. Những vướng mắc trong việc thực thi quyền SHTT chính là do các biện pháp xử lý chưa đủ mạnh của các quy định pháp luật hiện hành.

Trước yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội và xu thế hội nhập, hoạt động phòng, chống xâm phạm quyền sở SHTT đang được các bộ, ngành và các doanh nghiệp đặc biệt quan tâm. Để nâng cao hiệu quả của hoạt động này, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch), Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Tài chính, Bộ Thương mại (nay là Bộ Công Thương), Bộ Công an và Bộ Bưu chính – Viễn thông (nay là Bộ Thông tin và Truyền thông) đã ký kết Chương trình hành động số 168/CTHĐ/VHTT-KHCN-NNPTNT-TC-TM-CA về hợp tác phòng, chống xâm phạm quyền SHTT giai đoạn 2006-2010 (gọi tắt là Chương trình 168).

Bên cạnh đó, Nhà nước cũng đã ban hành hàng loạt văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến lĩnh vực SHTT như: Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005; Nghị định số 103/2006/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp; Nghị định số 105/2006/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền SHTT và quản lý nhà nước về SHTT; Nghị định số 106/2006/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính về sở hữu công nghiệp…

Nhìn chung, hầu hết các quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay về tiêu chuẩn bảo hộ các đối tượng SHTT đều phù hợp với quy định của Hiệp định về Các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền SHTT (TRIPS). Như vậy, khung pháp lý về SHTT của Việt Nam đã tương đồng với các quốc gia thành viên WTO, tuy nhiên, tính hiệu quả trong thực thi thì còn gặp nhiều hạn chế.

Continue reading

PHÂN CẤP QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ SỞ HỮU TRÍ TUỆ VÀ THỰC THI QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ

TS. TRẦN VĂN HẢI – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

Ngày 26/10/2004 Việt Nam đã trở thành thành viên của Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật, trước đó chúng ta đã tham gia Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp, như vậy chúng ta đã rất nỗ lực trong công cuộc hội nhập quốc tế về sở hữu trí tuệ. Từ 01.7.2006, Luật Sở hữu trí tuệ của Việt Nam bắt đầu có hiệu lực, nhưng tình trạng vi phạm quyền sở hữu trí tuệ thì chưa có điểm dừng, mà ngược lại hình như vẫn gia tăng.

Trong hội thảo “Bảo vệ bản quyền ở Việt Nam” diễn ra tại Thành phố Hồ Chí Minh, các chuyên gia cũng đã đề cập đến quyền tác giả trong ngành công nghệ thông tin. Theo đánh giá, đây là một trong hai vấn đề vi phạm bản quyền tác giả phổ biến nhất hiện nay. Việt Nam là một trong ba nước (cùng Trung Quốc và Indonesia) có hành vi xâm phạm bản quyền phần mềm lớn nhất thế giới, theo số liệu thống kê của Liên minh Doanh nghiệp Phần mềm, tỷ lệ xâm phạm bản quyền phần mềm ở Việt Nam là 92%(1).

Ngay trong cuộc Hội thảo khoa học này, Quý vị có chắc chắn rằng máy tính xách tay của mình (mặc dù đã sử dụng phần mềm điều hành có bản quyền) nếu có sử dụng thêm Từ điển mtd thì Quý vị đã trả tiền bản quyền cho Công ty phần mềm Lạc Việt chưa? Theo Lạc Việt ước tính, hiện nay có khoảng 1,5 triệu máy tính dùng từ điển mtd không có bản quyền. Với giá của mỗi bản mtd là 10 USD, Lạc Việt đã bị thiệt hại khoảng 15 triệu USD! Tình trạng đó là nguyên nhân khiến thị trường phần mềm ở Việt Nam không thể phát triển được.(2)

Chúng ta không thể đổ lỗi do thu nhập thấp nên người sử dụng buộc phải vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, hãy nhìn sang các quốc gia khác cùng châu lục, mức sống của người dân Ấn Độ đâu có cao, nhưng Ấn Độ đã trở thành một trong các cường quốc hàng đầu thế giới về công nghiệp phần mềm.

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến việc quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ đạt hiệu quả chưa cao, nhưng bài tham luận này chỉ tập trung phân tích ở góc độ phân cấp quản lý.

Continue reading

ĐÀO TẠO NHÂN LỰC SỞ HỮU TRÍ TUỆ TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC – TỪ KINH NGHIỆM CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN [1]

TS. TRẦN VĂN HẢI – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

Với tư cách là một trong ba trụ cột của thương mại quốc tế hiện đại, Sở hữu trí tuệ (SHTT) đóng vai trò quan trọng trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam, nhất là từ khi Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới WTO. Vấn đề bảo hộ SHTT đang đặt ra ngày càng gay gắt và cấp bách. Nhưng Việt Nam hiện nay vẫn bị đánh giá là quốc gia có tỷ lệ vi phạm quyền SHTT cao, là quốc gia đứng đầu thế giới về tình trạng vi phạm bản quyền phần mềm (tới 92%).

Có thể điểm qua sự vi phạm trong lĩnh vực quyền tác giả, ví dụ cuốn sách “Thế giới phẳng” do Nhà xuất bản Trẻ phát hành vừa ra đời ít lâu, ngay lập tức trên thị trường đã xuất hiện sách lậu. Trước đó, những bộ sách như: “Hạt giống tâm hồn”, “Cẩm nang chăm sóc bà mẹ và em bé”, “Hồi ký về những cô gái điếm buồn của tôi”, “Phong thủy toàn tập”… do First News phát hành; “Cha giàu, cha nghèo”, “Đời thay đổi khi chúng ta thay đổi” … do Nhà xuất bản Trẻ phát hành cũng bị in lậu và đã làm cho các Nhà xuất bản điêu đứng. Việc in lậu sách dường như càng lúc càng khó kiểm soát. Trường hợp sinh viên Nguyễn Trung Kiên đạo bức ảnh “Nụ hôn của gió” của tác giả Trần Thế Long chưa nguôi, đã đến bức “Hà Nội – cái nhìn hôm nay” của Vũ Đức Toàn lấy tới 99% “cảm hứng” từ bức “Domingo de Delf” của danh họa Argentina Torres Aguero.

Tiếp theo là sự vi phạm trong lĩnh vực quyền sở hữu công nghiệp cũng nghiêm trọng không kém, các cơ quan hữu quan nhận định: “Tình trạng hàng giả, hàng nhái nhãn mác vi phạm quyền sở hữu công nghiệp đang trở thành vấn đề bức xúc đối với các cơ quan quản lý nhà nước, các nhà sản xuất kinh doanh. Mỗi năm, Cục quản lý thị trường phát hiện và xử lý khoảng 5.000 vụ sản xuất và tiêu thụ hàng giả, trong đó tình trạng mượn nhãn hiệu có tiếng chiếm phần nhiều”. [2]

Trong lĩnh vực thực thi quyền SHTT, sự non kém của Tòa sơ thẩm Tòa án Nhân dân Thành phố Hà Nội trong khi xét xử vụ án ông Nguyễn Quảng Tuân kiện ông Đào Thái Tôn vi phạm quyền tác giả đã khiến dư luận không khỏi băn khoăn, báo chí đã tốn nhiều giấy mực, nhưng rất may ngày 14.6.2007 Tòa phúc thẩm Tòa án Nhân dân tối cao đã ra phán quyết đúng pháp luật, hợp lòng người.

Một câu hỏi được đặt ra: tại sao pháp luật về Sở hữu trí tuệ của Việt Nam đã có những bước tiến nhất định, đạt yêu cầu của Tổ chức Thương mại thế giới mà tình trạng vi phạm pháp luật về SHTT của công chúng và các doanh nghiệp Việt Nam vẫn ở mức độ cao? Một trong những giả thuyết để trả lời cho câu hỏi trên là: việc đào tạo nhân lực về SHTT của Việt Nam chưa được coi trọng đúng mức, yêu cầu đào tạo nhân lực SHTT của Việt Nam là một đòi hỏi khách quan và cấp bách, nhưng thực tế việc đào tạo bài bản và có hệ thống về SHTT như một chuyên ngành trong các trường đại học, cao đẳng lại chưa được triển khai thực hiện, hoặc thực hiện còn quá chậm. [3] Continue reading

ĐÀO TẠO NHÂN LỰC SỞ HỮU TRÍ TUỆ TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC – Từ kinh nghiệm của trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn [1]

TS. TRẦN VĂN HẢI Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

Với tư cách là một trong ba trụ cột của thương mại quốc tế hiện đại, Sở hữu trí tuệ (SHTT) đóng vai trò quan trọng trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam, nhất là từ khi Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới WTO. Vấn đề bảo hộ SHTT đang đặt ra ngày càng gay gắt và cấp bách. Nhưng Việt Nam hiện nay vẫn bị đánh giá là quốc gia có tỷ lệ vi phạm quyền SHTT cao, là quốc gia đứng đầu thế giới về tình trạng vi phạm bản quyền phần mềm (tới 92%).

Có thể điểm qua sự vi phạm trong lĩnh vực quyền tác giả, ví dụ cuốn sách “Thế giới phẳng” do Nhà xuất bản Trẻ phát hành vừa ra đời ít lâu, ngay lập tức trên thị trường đã xuất hiện sách lậu. Trước đó, những bộ sách như: “Hạt giống tâm hồn”, “Cẩm nang chăm sóc bà mẹ và em bé”, “Hồi ký về những cô gái điếm buồn của tôi”, “Phong thủy toàn tập”… do First News phát hành; “Cha giàu, cha nghèo”, “Đời thay đổi khi chúng ta thay đổi” … do Nhà xuất bản Trẻ phát hành cũng bị in lậu và đã làm cho các Nhà xuất bản điêu đứng. Việc in lậu sách dường như càng lúc càng khó kiểm soát. Trường hợp sinh viên Nguyễn Trung Kiên đạo bức ảnh “Nụ hôn của gió” của tác giả Trần Thế Long chưa nguôi, đã đến bức “Hà Nội – cái nhìn hôm nay” của Vũ Đức Toàn lấy tới 99% “cảm hứng” từ bức “Domingo de Delf” của danh họa Argentina Torres Aguero.

Tiếp theo là sự vi phạm trong lĩnh vực quyền sở hữu công nghiệp cũng nghiêm trọng không kém, các cơ quan hữu quan nhận định: “Tình trạng hàng giả, hàng nhái nhãn mác vi phạm quyền sở hữu công nghiệp đang trở thành vấn đề bức xúc đối với các cơ quan quản lý nhà nước, các nhà sản xuất kinh doanh. Mỗi năm, Cục quản lý thị trường phát hiện và xử lý khoảng 5.000 vụ sản xuất và tiêu thụ hàng giả, trong đó tình trạng mượn nhãn hiệu có tiếng chiếm phần nhiều”. [2]

Trong lĩnh vực thực thi quyền SHTT, sự non kém của Tòa sơ thẩm Tòa án Nhân dân Thành phố Hà Nội trong khi xét xử vụ án ông Nguyễn Quảng Tuân kiện ông Đào Thái Tôn vi phạm quyền tác giả đã khiến dư luận không khỏi băn khoăn, báo chí đã tốn nhiều giấy mực, nhưng rất may ngày 14.6.2007 Tòa phúc thẩm Tòa án Nhân dân tối cao đã ra phán quyết đúng pháp luật, hợp lòng người.

Một câu hỏi được đặt ra: tại sao pháp luật về Sở hữu trí tuệ của Việt Nam đã có những bước tiến nhất định, đạt yêu cầu của Tổ chức Thương mại thế giới mà tình trạng vi phạm pháp luật về SHTT của công chúng và các doanh nghiệp Việt Nam vẫn ở mức độ cao? Một trong những giả thuyết để trả lời cho câu hỏi trên là: việc đào tạo nhân lực về SHTT của Việt Nam chưa được coi trọng đúng mức, yêu cầu đào tạo nhân lực SHTT của Việt Nam là một đòi hỏi khách quan và cấp bách, nhưng thực tế việc đào tạo bài bản và có hệ thống về SHTT như một chuyên ngành trong các trường đại học, cao đẳng lại chưa được triển khai thực hiện, hoặc thực hiện còn quá chậm. [3] Continue reading

BẢO VỆ CA SĨ HAY NHÀ ĐẦU TƯ?

LS. LÊ HOÀI DƯƠNG – Văn phòng Luật sư Lê & Lê

Ở các nước, việc khai thác qua mạng điện thoại di động nhạc chuông/nhạc chờ, hình ảnh ca sĩ… đang mang lại những khoản tiền rất lớn đồng thời những tranh chấp giữa ca sĩ với các công ty sản xuất băng đĩa cũng diễn ra thường xuyên. Ở Việt Nam rồi cũng sẽ như vậy, nhất là khi cả luật pháp lẫn kinh nghiệm thực tế của chúng ta trong lĩnh vực phức tạp này còn nhiều hạn chế.

Theo báo điện tử Pháp luật TPHCM, mới đây, ca sĩ Mỹ Tâm đã yêu cầu nhiều công ty viễn thông và hàng chục mạng nhạc số không được kinh doanh các bản nhạc chuông, nhạc chờ có sử dụng các bài hát do ca sĩ thể hiện hoặc phải trả ca sĩ tiền về quyền liên quan.

Về yêu cầu này, một số công ty cho rằng họ không phải trả tiền cho người biểu diễn mà chỉ trả cho hãng sản xuất băng đĩa và họ đã trả qua Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Việt Nam (RIAV).

Mỹ Tâm khẳng định chưa bao giờ ký hợp đồng chuyển giao quyền của người biểu diễn cho bất cứ hãng băng đĩa nào. Vì vậy, việc một số hãng băng đĩa nói rằng họ có quyền sở hữu các cuộc biểu diễn của ca sĩ là sai pháp luật.

Các hãng băng đĩa liên quan trong vụ việc này và RIAV lại cho rằng, căn cứ vào điều 29.1 Luật Sở hữu trí tuệ (SHTT), toàn bộ các bản ghi âm/ghi hình này thuộc quyền sở hữu của các nhà sản xuất, còn Mỹ Tâm chỉ có các quyền nhân thân, vì các bản ghi âm/ghi hình đều do họ đầu tư, ca sĩ chỉ biểu diễn để ghi âm/ghi hình và đã nhận đủ tiền thù lao.

Ở đây sẽ không bàn đến vấn đề ai đúng ai sai, mà chỉ xin nêu vài ý kiến về một quy định pháp lý quan trọng trong các vụ tranh chấp kiểu này – điều 29.1 Luật SHTT.

Continue reading

ĐÀO TẠO NHÂN LỰC SỞ HỮU TRÍ TUỆ ĐÁP ỨNG YÊU CẦU HỘI NHẬP

TS. TRẦN VĂN HẢI – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Điều đó cũng có nghĩa khung pháp lý về sở hữu trí tuệ (SHTT) của chúng ta đã đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn tối thiểu mà tổ chức này đề ra. Pháp luật về SHTT của Việt Nam đã có những bước tiến khá mạnh như vậy thì việc đào tạo nhân lực về SHTT của Việt Nam cần được coi trọng và có biện pháp thúc đẩy đúng mức.

Tình hình đào tạo nhân lực về SHTT trên thế giới

Ở các nước phát triển, việc đào tạo nhân lực về SHTT được thực hiện với hệ thống đồng bộ, nhiều cấp độ và hình thức đào tạo khác nhau. Theo nhu cầu của từng quốc gia, phụ thuộc vào từng cơ sở, việc đào tạo nhân lực về SHTT có thể chỉ dừng ở mức độ là một môn học, hoặc có thể ở các mức độ cao hơn như đào tạo chuyên ngành đại học và sau đại học. Hầu hết các trường đại học của các nước phát triển đều có môn học SHTT trong chương trình một cách độc lập hoặc lồng ghép với các môn học chuyên ngành khác.

Trên thế giới, những cơ sở đào tạo về SHTT có uy tín và được biết đến rộng rãi là: Viện SHTT của Nga, Viện Max Planck của Đức, Đại học Zurich của Thụy Sỹ, Viện SHTT thuộc Đại học Queen Mary London của Anh, Đại học George Washington của Hoa Kỳ, Khoa SHTT thuộc Đại học Công nghệ Osaka của Nhật Bản… Chỉ tính riêng trong chương trình đào tạo cử nhân Luật của Đại học Comenius (Slovakia) đã có tới 3 môn học bắt buộc liên quan đến SHTT, đó là Quyền tác giả (với 2 tín chỉ), Luật sáng chế (với 2 tín chỉ) và Sở hữu công nghiệp (với 3 tín chỉ); cao hơn, Trường còn đào tạo thạc sỹ và tiến sỹ về SHTT. Một số trường đại học thuộc các nước trong khu vực như Thái Lan, Singapo, Malaixia… cũng đưa SHTT vào trong chương trình đào tạo đại học nói chung và đã đào tạo SHTT như một chuyên ngành độc lập.

Continue reading

Đào tạo nhân lực sở hữu trí tuệ ĐÁP ỨNG YÊU CẦU HỘI NHẬP

TS. TRẦN VĂN HẢI – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Điều đó cũng có nghĩa khung pháp lý về sở hữu trí tuệ (SHTT) của chúng ta đã đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn tối thiểu mà tổ chức này đề ra. Pháp luật về SHTT của Việt Nam đã có những bước tiến khá mạnh như vậy thì việc đào tạo nhân lực về SHTT của Việt Nam cần được coi trọng và có biện pháp thúc đẩy đúng mức.

Tình hình đào tạo nhân lực về SHTT trên thế giới

Ở các nước phát triển, việc đào tạo nhân lực về SHTT được thực hiện với hệ thống đồng bộ, nhiều cấp độ và hình thức đào tạo khác nhau. Theo nhu cầu của từng quốc gia, phụ thuộc vào từng cơ sở, việc đào tạo nhân lực về SHTT có thể chỉ dừng ở mức độ là một môn học, hoặc có thể ở các mức độ cao hơn như đào tạo chuyên ngành đại học và sau đại học. Hầu hết các trường đại học của các nước phát triển đều có môn học SHTT trong chương trình một cách độc lập hoặc lồng ghép với các môn học chuyên ngành khác.

Trên thế giới, những cơ sở đào tạo về SHTT có uy tín và được biết đến rộng rãi là: Viện SHTT của Nga, Viện Max Planck của Đức, Đại học Zurich của Thụy Sỹ, Viện SHTT thuộc Đại học Queen Mary London của Anh, Đại học George Washington của Hoa Kỳ, Khoa SHTT thuộc Đại học Công nghệ Osaka của Nhật Bản… Chỉ tính riêng trong chương trình đào tạo cử nhân Luật của Đại học Comenius (Slovakia) đã có tới 3 môn học bắt buộc liên quan đến SHTT, đó là Quyền tác giả (với 2 tín chỉ), Luật sáng chế (với 2 tín chỉ) và Sở hữu công nghiệp (với 3 tín chỉ); cao hơn, Trường còn đào tạo thạc sỹ và tiến sỹ về SHTT. Một số trường đại học thuộc các nước trong khu vực như Thái Lan, Singapo, Malaixia… cũng đưa SHTT vào trong chương trình đào tạo đại học nói chung và đã đào tạo SHTT như một chuyên ngành độc lập.

Continue reading