TRANH CHẤP SỞ HỮU TRÍ TUỆ: TRANH CHẤP NHÃN HIỆU BÁNH TRÁNG

ÁI MINH

Vụ việc gây nhiều tranh cãi khiến tòa phải hoãn xử nhiều lần. Phía Công ty TG đã xuất trình được hợp đồng để chứng minh mình sản xuất, xuất khẩu bánh tráng mang nhãn hiệu K’ theo đúng yêu cầu của bên mua hàng.

Tòa Phúc thẩm TAND Tối cao tại TP.HCM đang chuẩn bị đưa ra xét xử vụ án tranh chấp về nhãn hiệu một mặt hàng bánh tráng ở Tiền Giang.

Gia công theo kiểu dáng của công ty khác

Năm 2007, Cục Sở hữu trí tuệ cấp bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp với sản phẩm bánh tráng hiệu K. kèm ảnh cho Công ty TP. Một năm sau, Công ty TP được Cục cấp giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hóa trên. Để bảo vệ nhãn hiệu hàng hóa trên thị trường Mỹ, công ty này tiếp tục đăng ký bảo hộ tại Mỹ sản phẩm bánh K. và được bảo hộ nhãn hiệu cùng kiểu dáng công nghiệp.

Tháng 11-2009, Công ty TP phát hiện trong một số siêu thị ở Mỹ có bày bán mặt hàng bánh tráng hiệu K’ có màu sắc tương tự, khó phân biệt và gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của công ty. Tìm hiểu, Công ty TP biết Công ty TG đã sản xuất số bánh hiệu K’ trên. Qua đối chất, Công ty TG thừa nhận khoảng tháng 9-2009 có xuất sang Mỹ gần 39.000 tấn bánh tráng K’. Nhãn hiệu này do khách hàng bên Mỹ đặt gắn lên bao bì sản phẩm.

Đầu tháng 12-2009, Công ty TP đã nhờ luật sư ở Mỹ gửi công văn khuyến cáo Công ty TG về hành vi xâm phạm nhãn hiệu. Tháng 2-1010, Công ty TP đã kiện Công ty TG ra TAND tỉnh Tiền Giang để yêu cầu chấm dứt hành vi sản xuất, xuất khẩu loại bánh tráng K’, thu hồi toàn bộ lượng bánh đã xuất khẩu, bán trên thị trường Mỹ.

Công ty TP còn yêu cầu Công ty TG phải xin lỗi công khai ba kỳ liên tiếp trên ba tờ báo. Đồng thời, Công ty TG phải thanh toán các khoản chi phí cho dịch vụ luật sư, gồm 5.000 USD thuê luật sư ở Mỹ và 60 triệu đồng phí thuê luật sư tại Việt Nam, tổng cộng hơn 153 triệu đồng.

Continue reading

BẢO HỘ CHỈ DẪN ĐỊA LÝ DƯỚI HÌNH THỨC NHÃN HIỆU CHỨNG NHẬN CỦA HOA KỲ

TS. LÊ THỊ THU HÀ – Đại học Ngoại thương

Là một trong những đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ nhưng khái niệm chỉ dẫn địa lý mới chính thức lần đầu tiên được đưa ra trong Hiệp định về các khía cạnh thương mại liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ (Hiệp định TRIPs). Hiệp định TRIPs không áp đặt một hình thức bảo hộ chung nào cho các quốc gia thành viên mà để cho các quốc gia tự quyết định hình thức bảo hộ đối với chỉ dẫn địa lý1. Trong khuôn khổ thực thi nghĩa vụ pháp lý quốc tế theo Hiệp định TRIPs, Hoa Kỳ đã lựa chọn mô hình bảo hộ chỉ dẫn địa lý thông qua hệ thống pháp luật hiện hành về nhãn hiệu với các sửa đổi và bổ sung cho phù hợp với các quy định tối thiểu của Hiệp định này.

Các sản phẩm đặc sản của Việt Nam có nhiều đặc điểm khá tương đồng với các sản phẩm của Hoa Kỳ: ngoại trừ một số sản phẩm đặc thù như nước mắm, các chỉ dẫn địa lý còn lại của Việt Nam không quá đặc biệt tới mức không thể tìm thấy ở khu vực địa lý khác. Trên thực tế, các sản phẩm mang chỉ dẫn của Hoa Kỳ mặc dù không quá đặc thù nhưng lại khá thành công trong thương mại. Vì vậy, nghiên cứu kinh nghiệm bảo hộ chỉ dẫn địa lý theo hệ thống bảo hộ nhãn hiệu, đặc biệt là nhãn hiệu chứng nhận sẽ rất hữu ích đối với Việt Nam.

1. Khái niệm nhãn hiệu chứng nhận theo pháp luật Hoa Kỳ

Hệ thống pháp luật về nhãn hiệu của Hoa Kỳ có lịch sử lâu đời với những quy định tương đối đầy đủ, đã được thực thi trong thời gian dài, trong đó Lanham Act và Luật nhãn hiệu Trademark Act 1905 là các đạo luật có vai trò quan trọng nhất. Bên cạnh đó, quy định của Văn phòng quốc gia Hoa Kỳ về rượu, thuốc lá và súng (BATF) có một số điều khoản liên quan đến các chỉ dẫn địa lý cho rượu vang và rượu mạnh. Theo đó, chỉ dẫn địa lý có thể được bảo hộ theo ba cách: bảo hộ dưới dạng nhãn hiêu thông thường, nhãn hiệu chứng nhận và nhãn hiệu tập thể, trong đó nhãn hiệu chứng nhận là hình thức pháp lý được xem là phù hợp nhất với chỉ dẫn địa lý2. “Nhãn hiệu chứng nhận là bất kỳ chữ, tên gọi, biểu tượng, hình vẽ hoặc sự kết hợp các yếu tố đó đã được sử dụng hoặc có ý định sử dụng trong hoạt động thương mại bởi một người không phải là chủ sở hữu nhãn hiệu, được chủ sở hữu đăng ký nhằm mục đích cho phép người khác sử dụng và nộp đơn đăng ký bảo hộ nhằm chứng nhận rằng hàng hoá và dịch vụ mang nhãn có nguồn gốc khu vực hoặc nguồn gốc khác, có nguyên liệu, cách thức sản xuất, chất lượng, sự chính xác hoặc đặc tính khác của hàng hóa hay dịch vụ của người nào đó hoặc chứng nhận quy trình và cách thức sản xuất hàng hoá và dịch vụ được thực hiện bởi các thành viên của hiệp hội hoặc tổ chức khác” (Lanham Act, chương 15, điều 1127).

Continue reading

BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ ÁN “NGHIÊN CỨU CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ĐỂ ĐƯA SHTT VÀO GIẢNG DẠY VÀ ĐÀO TẠO TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC”

CHƯƠNG 1
THỰC TRẠNG GIẢNG DẠY VÀ ĐÀO TẠO VỀ SỞ HỮU TRÍ TUỆ TRONG
CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC

1.1.  Nhận thức chung đối với giảng dạy và đào tạo về SHTT

Nghiên cứu trong Đề án tuy chú trọng đến tính thực tiễn của vấn đề nhiều hơn, song không vì thế bỏ qua các nội dung mang tính lý luận làm nền tảng cho các nghiên cứu thực tiễn. Vấn đề cần được nghiên cứu là hai nội dung “giảng dạy về SHTT” và “đào tạo về SHTT”. Một số tác giả cho rằng bản thân thuật ngữ đào tạo có nội hàm rộng, bao trùm nhiều nội dung khác, trong đó có giảng dạy. Hay nói một cách khác, giảng dạy là một phần của đào tạo. Nhìn chung, ý kiến này có nhiều điểm hợp lý. Tuy nhiên, việc đặt mục tiêu nghiên cứu của Đề án không chỉ dừng lại ở việc đào tạo cán bộ chuyên môn về SHTT. Đề án đặt một trọng tâm nghiên cứu vào hoạt động phổ biến kiến thức về SHTT trong các trường ĐH. Chính vì vậy,  Đề án sử dụng cả hai thuật ngữ “giảng dạy” và “đào tạo” tương ứng với hai hoạt động được tập trung nghiên cứu. Thực vậy, “giảng dạy” được hiểu là “Truyền thụ tri thức”. Quá trình truyềnthụ tri thức về SHTT cho sinh viên là một trong những mục tiêu cơ bản mà Đề án hướng tới. Việc truyền thụ kiến thức ở đây mang tính phổ cập. Những kiến thức SHTT khá mới mẻ với các nhà khoa học – giảng viên trong các trường ĐH của Việt Nam vốn quen với việc nghiên cứu theo kế hoạch và nhiệm vụ của Nhà nước, và càng mới so với sinh viên. Hàng loạt vấn đề liên quan đến quyền SHTT trong các trường ĐH, và tiếp đó là các công việc mà sinh viên sau khi tốt nghiệp chưa được giới thiệu tính đến đặc thù của quyền SHTT. Điều này có nghĩa là mối quan hệ giữa quyền SHTT với các hoạt động kinh tế, văn hóa và xã hội chưa được coi trọng. Đây là thực tiễn đáng báo động do vai trò của quyền SHTT ngày càng lớn đối với phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội trong bối cảnh hội nhập quốc tế. 

Nhu cầu phổ cập kiến thức SHTT rất lớn. Thực khó tưởng tượng, một nhà  kinh tế lại chưa hiểu biết về một loại tài sản cơ bản trong nền kinh tế thị trường  thời kỳ toàn cầu hóa là tài sản trí tuệ. Chỉ một tài sản trí tuệ đã có thể so sánh được  với tổng thu nhập quốc dân của một nước như thương hiệu “coca-cola” với giá trị 67 tỷ US$2 . Cũng như vậy, sẽ không hợp lý khi một nhà khoa học nghiên cứu về  một giải pháp kỹ thuật lại không biết rằng kết quả nghiên cứu của mình sẽ không được bảo hộ độc quyền để khai thác thương mại nếu nó bị bộc lộ công khai, hoặc  đơn giản hơn là xác định xem mình có những quyền gì đối với các kết quả nghiên cứu được tạo ra. Chính cái không  hợp lý” này tồn tại ở Việt Nam là một trong những nguyên nhân dẫn đến thực trạng “đau lòng” là trong năm 2005 Việt Nam chỉ có một bằng sáng chế đăng ký quốc tế theo Tổ chức SHTT thế giới (WIPO).

Continue reading

BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ ÁN “Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để đưa sở hữu trí tuệ vào giảng dạy và đào tạo trong các trường đại học”

CHƯƠNG 1
THỰC TRẠNG GIẢNG DẠY VÀ ĐÀO TẠO VỀ SỞ HỮU TRÍ TUỆ TRONG
CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC

1.1.  Nhận thức chung đối với giảng dạy và đào tạo về SHTT

Nghiên cứu trong Đề án tuy chú trọng đến tính thực tiễn của vấn đề nhiều hơn, song không vì thế bỏ qua các nội dung mang tính lý luận làm nền tảng cho các nghiên cứu thực tiễn. Vấn đề cần được nghiên cứu là hai nội dung “giảng dạy về SHTT” và “đào tạo về SHTT”. Một số tác giả cho rằng bản thân thuật ngữ đào tạo có nội hàm rộng, bao trùm nhiều nội dung khác, trong đó có giảng dạy. Hay nói một cách khác, giảng dạy là một phần của đào tạo. Nhìn chung, ý kiến này có nhiều điểm hợp lý. Tuy nhiên, việc đặt mục tiêu nghiên cứu của Đề án không chỉ dừng lại ở việc đào tạo cán bộ chuyên môn về SHTT. Đề án đặt một trọng tâm nghiên cứu vào hoạt động phổ biến kiến thức về SHTT trong các trường ĐH. Chính vì vậy,  Đề án sử dụng cả hai thuật ngữ “giảng dạy” và “đào tạo” tương ứng với hai hoạt động được tập trung nghiên cứu. Thực vậy, “giảng dạy” được hiểu là “Truyền thụ tri thức”. Quá trình truyềnthụ tri thức về SHTT cho sinh viên là một trong những mục tiêu cơ bản mà Đề án hướng tới. Việc truyền thụ kiến thức ở đây mang tính phổ cập. Những kiến thức SHTT khá mới mẻ với các nhà khoa học – giảng viên trong các trường ĐH của Việt Nam vốn quen với việc nghiên cứu theo kế hoạch và nhiệm vụ của Nhà nước, và càng mới so với sinh viên. Hàng loạt vấn đề liên quan đến quyền SHTT trong các trường ĐH, và tiếp đó là các công việc mà sinh viên sau khi tốt nghiệp chưa được giới thiệu tính đến đặc thù của quyền SHTT. Điều này có nghĩa là mối quan hệ giữa quyền SHTT với các hoạt động kinh tế, văn hóa và xã hội chưa được coi trọng. Đây là thực tiễn đáng báo động do vai trò của quyền SHTT ngày càng lớn đối với phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

Nhu cầu phổ cập kiến thức SHTT rất lớn. Thực khó tưởng tượng, một nhà  kinh tế lại chưa hiểu biết về một loại tài sản cơ bản trong nền kinh tế thị trường  thời kỳ toàn cầu hóa là tài sản trí tuệ. Chỉ một tài sản trí tuệ đã có thể so sánh được  với tổng thu nhập quốc dân của một nước như thương hiệu “coca-cola” với giá trị 67 tỷ US$2 . Cũng như vậy, sẽ không hợp lý khi một nhà khoa học nghiên cứu về  một giải pháp kỹ thuật lại không biết rằng kết quả nghiên cứu của mình sẽ không được bảo hộ độc quyền để khai thác thương mại nếu nó bị bộc lộ công khai, hoặc  đơn giản hơn là xác định xem mình có những quyền gì đối với các kết quả nghiên cứu được tạo ra. Chính cái không  hợp lý” này tồn tại ở Việt Nam là một trong những nguyên nhân dẫn đến thực trạng “đau lòng” là trong năm 2005 Việt Nam chỉ có một bằng sáng chế đăng ký quốc tế theo Tổ chức SHTT thế giới (WIPO).

Continue reading

CÁC YẾU TỐ SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP TÁC ĐỘNG ĐẾN HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA HỢP ĐỒNG CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ

TS. TRẦN VĂN HẢI – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn

1. Dẫn nhập

Do yêu cầu công tác, tác giả cùng với các học viên sau đại học chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ đã nghiên cứu nhiều bản hợp đồng chuyển giao công nghệ (CGCN) đã và đang được thực hiện, điều đáng nói là trong số đó có khá nhiều hợp đồng CGCN từ nước ngoài vào Việt Nam mang lại hiệu quả kinh tế không cao đối với bên nhận chuyển giao – là các doanh nghiệp Việt Nam, có nhiều nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này, nhưng một trong những nguyên nhân đó là các bên tham gia hợp đồng CGCN không tính đến hoặc không thể lường trước được hợp đồng CGCN đã bị các yếu tố của quyền sở hữu công nghiệp (SHCN) tác động như thế nào.

Đã có một số nhà nghiên cứu đề cập đến các yếu tố của quyền SHCN trong lĩnh vực CGCN, ví dụ cuốn Cẩm nang chuyển giao công nghệ của Bộ KH&CN phối hợp với Trung tâm CGCN Châu Á – Thái Bình Dương do Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật phát hành năm 2005, cuốn Các phương pháp thẩm định giá quyền sở hữu trí tuệ của Đoàn Văn Trường do Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật phát hành năm 2007, cuốn Valuation and Princing of Technology – Based Intellectual Property của Richard Razgaitis do John Wiley & Sons, Inc. xuất bản năm 2003 (cuốn này chưa được dịch sang tiếng Việt)… Để đảm bảo tính mới của nghiên cứu, trong bài viết này chúng tôi chỉ trình bày những vấn đề mà các tác giả trên chưa đề cập.

Giới hạn của thuật ngữ CGCN trong bài viết này không bao hàm chuyển nhượng quyền sở hữu công nghệ, mà chỉ đề cập đến chuyển giao quyền sử dụng công nghệ. Mặt khác, bài viết này chỉ giới hạn xem xét công nghệ được chuyển giao có gắn với yếu tố SHCN, bao gồm công nghệ được bảo hộ dưới dạng cấp Bằng độc quyền sáng chế và công nghệ được bảo hộ dưới dạng bí mật kinh doanh, trong đó chỉ đề cập đến “phần mềm” của công nghệ phần vô hình mà không đề cập đến “phần cứng” trang thiết bị đi kèm công nghệ như là phần hữu hình của công nghệ.

Để tiện theo dõi, chúng tôi xin quy ước: bên CGCN là A; bên nhận CGCN từ A là B, B1, B2… bên nhận CGCN từ B là C, C1, C2… (trong trường hợp này bên CGCN lại là B). Thuật ngữ “License” dùng để chỉ hợp đồng CGCN.

Continue reading

THẤY GÌ QUA VIỆC NHÃN HIỆU DO CÁC DOANH NGHIỆP NGHỆ AN ĐỀ NGHỊ ĐƯỢC BẢO HỘ HOẶC BỊ TỪ CHỐI BẢO HỘ?

TS. TRẦN VĂN HẢI – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

Dẫn nhập

Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, khi mà Việt Nam đã trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới WTO thì các doanh nghiệp không những chỉ phải quan tâm đến công tác tổ chức sản xuất, kinh doanh mà còn phải quan tâm đến việc xây dựng và phát triển nhãn hiệu (trước đây gọi là nhãn hiệu hàng hóa). Nhãn hiệu là một trong những yếu tố làm nên giá trị của một doanh nghiệp, trong nhiều trường hợp người tiêu dùng không quan tâm đến tên doanh nghiệp mà chỉ biết đến sản phẩm hoặc dịch vụ của doanh nghiệp thông qua nhãn hiệu, ví dụ người tiêu dùng chỉ biết đến nhãn hiệu Clear, OMO, Lipton… chứ không cần biết đến tên doanh nghiệp Unilever, nhưng trách nhiệm của doanh nghiệp với tư cách là chủ sở hữu nhãn hiệu là phải tổ chức sản xuất, kinh doanh để làm nên giá trị của hàng hóa/dịch vụ mang nhãn hiệu, mặt khác doanh nghiệp còn có quyền chống lại mọi sự xâm phạm đến nhãn hiệu của mình do các chủ thể khác thực hiện.

Vậy trên thực tế, các doanh nghiệp Nghệ An (cụm từ “doanh nghiệp Nghệ An” dùng để chỉ doanh nghiệp có trụ sở trên địa bàn tỉnh Nghệ An) đã làm như thế nào để xây dựng và phát triển nhãn hiệu của mình? Bài nghiên cứu này sẽ phân tích một số trường hợp các doanh nghiệp Nghệ An nộp đơn đề nghị bảo hộ nhãn hiệu đã được Cục Sở hữu trí tuệ (SHTT) chấp nhận bảo hộ hoặc đã bị từ chối bảo hộ, trên cơ sở đó đưa ra một số khuyến nghị để các doanh nghiệp có thể tự xây dựng và phát triển nhãn hiệu của mình.

1. Tổng quan về việc bảo hộ nhãn hiệu cho các doanh nghiệp Nghệ An

Theo số liệu do Cục SHTT quản lý cập nhật đến 19.3.2010 thì các doanh nghiệp Nghệ An đã có 330 đơn đề nghị được bảo hộ nhãn hiệu, trong đó đã có 158 Giấy Chứng nhận đăng ký nhãn hiệu được cấp, tỷ lệ thành công là 47,8% (tỷ lệ này ở Hà Tĩnh là 47,4%). So sánh số Giấy Chứng nhận đăng ký nhãn hiệu do Cục SHTT đã cấp cho doanh nghiệp các tỉnh khác (không kể các doanh nghiệp thuộc địa bàn Thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh) thì số lượng nhãn hiệu được bảo hộ cho các doanh nghiệp Nghệ An thuộc tốp trên, nhưng tỷ lệ thành công của nhãn hiệu được bảo hộ/số đơn đề nghị thì thuộc tốp trung bình. Bảng số liệu sau đây minh họa cho nhận định này, chúng tôi chọn Hà Tĩnh làm đối chứng vì Hà Tĩnh và Nghệ An đều tách ra từ tỉnh Nghệ Tĩnh cũ (lưu ý: trong năm 2009 số Giấy Chứng nhận đăng ký nhãn hiệu được cấp cho Hà Tĩnh nhiều hơn số đơn là do đơn được nộp từ các năm trước).

Continue reading

NHẬN DẠNG HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH THEO LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ NĂM 2005

THANH MAI (Tổng hợp)

Luật Sở hữu trí tuệ 2005 quy định các hành vi cạnh tranh không lành mạnh về sở hữu trí tuệ bao gồm:

1. Sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn về chủ thể kinh doanh, hoạt động kinh doanh, nguồn gốc thương mại của hàng hoá, dịch vụ

Theo quy định tại Điều 211 Luật Sở hữu trí tuệ và Điều 16 Nghị định 106/2006/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính về sở hữu công nghiệp, các hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ sẽ được điều chỉnh theo pháp luật cạnh tranh.

Bên cạnh đó, tổ chức, cá nhân bị thiệt hại hoặc có khả năng bị thiệt hại do hành vi cạnh tranh không lành mạnh có quyền yêu cầu Toà án có thẩm quyền áp dụng các biện pháp dân sự quy định tại Điều 202 của Luật Sở hữu trí tuệ, bao gồm :
– Buộc chấm dứt hành vi xâm phạm;

– Buộc xin lỗi, cải chính công khai;

– Buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự;

– Buộc bồi thường thiệt hại;

– Buộc tiêu huỷ hoặc buộc phân phối hoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại đối với hàng hoá, nguyên liệu, vật liệu và phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hoá xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ với điều kiện không làm ảnh hưởng đến khả năng khai thác quyền của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ.

2. Sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn về xuất xứ, cách sản xuất, tính năng, chất lượng, số lượng hoặc đặc điểm khác của hàng hoá, dịch vụ; về điều kiện cung cấp hàng hoá, dịch vụ.

Continue reading

XÂM PHẠM SỞ HỮU TRÍ TUỆ: THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP

THS. LÊ VIỆT LONG – Thanh tra, Bộ Công Thương

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế và cạnh tranh toàn cầu, vấn đề bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trở nên đặc biệt quan trọng và trở thành mối quan tâm hàng đầu trong quan hệ kinh tế quốc tế. Từ khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), vấn đề bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, chống sản xuất, buôn bán hàng giả ngày càng được quan tâm hơn. Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy, tình trạng xâm phạm sở hữu trí tuệ ở nước ta hiện nay vẫn khá phổ biến và ngày càng phức tạp, đòi hỏi phải tiếp tục có những giải pháp mạnh mẽ và có hiệu quả hơn.

1. Thực trạng xâm phạm sở hữu trí tuệ

Theo báo cáo sơ kết công tác phòng ngừa, đấu tranh chống sản xuất, buôn bán hàng giả và xâm phạm sở hữu trí tuệ của Bộ Công an, trong 5 năm (2002-2007), lực lượng cảnh sát điều tra tội phạm kinh tế của 43 địa phương đã phát hiện 1092 vụ sản xuất, buôn bán hàng giả. Ngoài ra mỗi năm, các cơ quan chức năng đã phát hiện hàng ngàn vụ sản xuất, buôn bán hàng giả và xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Trong năm 2006, thanh tra chuyên ngành văn hoá – thông tin tiến hành kiểm tra 20.414 cơ sở kinh doanh dịch vụ văn hoá, phát hiện 5.647 cơ sở vi phạm; đã cảnh cáo 519 cơ sở; đình chỉ hoạt động của 289 cơ sở; tạm giữ giấy phép kinh doanh của 160 cơ sở; chuyển xử lý hình sự 09 trường hợp; xử phạt hành chính 10.891.780.000 đồng. Thanh tra chuyên ngành khoa học và công nghệ tiến hành thanh tra, kiểm tra 1.536 cơ sở về chấp hành các quy định sở hữu công nghiệp, xâm phạm quyền sáng chế, kiểu dáng công nghiệp và cạnh tranh không lành mạnh đã phát hiện 107 cơ sở sai phạm, buộc tiêu huỷ và loại bỏ các yếu tố vi phạm khỏi sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ và phạt tiền 224.900.000 đồng. Thanh tra Bộ Văn hoá – Thông tin tiến hành kiểm tra và phát hiện nhiều cơ sở kinh doanh máy tính lắp đặt, xây dựng các trang Web, cung cấp cho khách hàng các phần mềm Windows, Micrrosoft office, Vietkey… vi phạm pháp luật về bản quyền[1].

Xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong giai đoạn hiện nay được thực hiện bằng nhiều phương thức, thủ đoạn mới như áp dụng công nghệ cao, sử dụng các thiết bị hiện đại để sản xuất hàng hoá làm cho người tiêu dùng và cơ quan quản lý thị trường khó phát hiện thật /giả. Các hành vi vi phạm này ngày càng nguy hiểm hơn ở tính chất vi phạm, có tổ chức chặt chẽ không những trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam mà còn mở rộng đối với tổ chức và cá nhân nước ngoài. Ví dụ như, hàng năm sản lượng nước mắm Phú Quốc chỉ đạt tối đa 15 triệu lít, nhưng có tới hàng trăm triệu lít nước mắm mang tên Phú Quốc tung ra thị trường[2]. Hoặc Công ty Unilever Việt Nam có thời điểm bị thiệt hại do hàng nhái, hàng giả và buôn lậu lên tới hàng chục triệu USD, trong đó đã xác định được 90% hàng giả theo các nhãn hàng của Unilever là có xuất xứ từ nước ngoài[3].

TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ TẬP THỂ QUYỀN TÁC GIẢ, QUYỀN LIÊN QUAN – Một số đối chiếu với quản lý tập thể quyền tác giả, quyền liên quan ở các nước phát triển

THS. VŨ THỊ THANH TÚ – Khoa Luật, Đại học Tự Do Brussels, Bỉ (Trong chương trình nghiên cứu do Wallonie – Bruxelles International tài trợ)

Phương thức thực hiện quyền tác giả, quyền liên quan thông qua một tổ chức đại diện tập thể các tác giả, các chủ thể quyền là phương pháp mang tính thời đại và ngày càng chứng minh sự hiệu quả. Hình thức này xuất hiện từ thế kỉ 18 ở Pháp, sau đó phát triển sang các nước vào cuối thế kỉ 19 đầu thế kỉ 20[1]. Nhiều tổ chức với quy mô quốc tế cũng đã xuất hiện như : IFPI – Liên đoàn công nghiệp ghi âm quốc tế, CISAC – Liên đoàn quốc tế các công ty đại diện quyền của các tác giả và soạn giả, AGICOA – Hiệp hội quốc tế về đại diện tập thể các tác phẩm nghe nhìn, IFRRO – Liên đoàn quốc tế các tổ chức đại diện quyền sao chép…

Hiện nay, ở Việt Nam cũng có ba tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả và quyền liên quan (ĐDTT QTG): VLCC – Trung tâm Quyền tác giả Văn học Việt Nam, RIAV – Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Việt Nam ; VCPMC – Trung tâm bảo vệ Quyền tác giả Âm nhạc Việt Nam. Các tổ chức này bắt đầu thu hút sự quan tâm, tham gia của tác giả và những người hoạt động trong lĩnh vực liên quan.

Tổ chức ĐDTT QTG là trung gian giữa chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan với người sử dụng tác phẩm nên bài viết tập trung vào mối quan hệ giữa tổ chức với từng chủ thể này, trên cơ sở các quy định về quyền tác giả, quyền liên quan và về cạnh tranh. Bài viết sử dụng kiến thức Pháp luật và thực tế về ĐDTT QTG của Việt Nam và một số nước phát triển như Pháp, Mỹ, Anh… Cụ thể, bài viết lần lượt đi theo các nội dung sau :

1. Nguyên nhân ra đời tổ chức ĐDTT QTG

2. Phân loại tổ chức ĐDTT QTG

3. Giám sát việc thành lập và hoạt động của các tổ chức ĐDTT QTG

4. Mối quan hệ giữa tổ chức ĐDTT QTG và tác giả

5. Mối quan hệ giữa tổ chức ĐDTT QTG và người sử dụng tác phẩm

  1. Nguyên nhân ra đời của ĐDTT QTG

Tổ chức được thành lập nhằm hợp lý hóa việc quản lý QTG, đem lại quyền lợi cho cả tác giả và người sử dụng tác phẩm.

Continue reading

BẢO HỘ SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP, ĐẶC BIỆT LÀ BẢO HỘ NHÃN HIỆU HÀNG HOÁ (THƯƠNG HIỆU) TRONG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

TRẦN VIỆT HÙNG – Cục Sở hữu công nghiệp

I. Một số vấn đề chung về bảo hộ sở hữu công nghiệp

1. Định nghĩa về sở hữu trí tuệ

Sở hữu trí tuệ là một loại tài sản vô hình được tạo nên bởi trí tuệ của con người và được pháp luật bảo hộ.

Sở hữu trí tuệ có hai phần:

– Quyền tác giả (bản quyền): bao gồm quyền đối với các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, xã hội… (trong luật Việt Nam và nhiều nước khác, bao gồm cả phần mềm máy tính).

– Sở hữu công nghiệp: bao gồm:

+ Sáng chế: là giải pháp kỹ thuật mới so với trình độ kỹ thuật trên thế giới, có trình độ sáng tạo, có khả năng áp dụng trong lĩnh vực kinh tế, xã hội.

+ Giải pháp hữu ích: là giải pháp kỹ thuật mới so với trình độ kỹ thuật trên thế giới, có khả năng áp dụng trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội.

+ Kiểu dáng công nghiệp: là hình dáng bên ngoài của sản phẩm được thể hiện bằng đường nét, hình khối, màu sắc hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, có tính mới đối với thế giới và có thể dùng làm mẫu để chế tạo sản phẩm công nghiệp hoặc thủ công nghiệp.

+ Nhãn hiệu hàng hoá (thương hiệu): là những dấu hiệu bằng từ, ngữ, hình ảnh hoặc kết hợp các yếu tố đó dùng để phân biệt hàng hoá hay dịch vụ cùng loại của các cơ sở sản xuất, kinh doanh khác nhau.

+ Tên gọi xuất xứ hàng hoá: là tên địa lý của nước, vùng, địa phương dùng để chỉ xuất xứ của mặt hàng từ nước, địa phương đó với điều kiện những hàng hoá này phải có tính chất, chất lượng đặc thù dựa trên các điều kiện địa lý độc đáo và ưu việt, bao gồm yếu tố tự nhiên, con người hoặc kết hợp cả hai yếu tố trên.

Continue reading

Bảo hộ sở hữu công nghiệp, đặc biệt là bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá (thương hiệu) TRONG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

TRẦN VIỆT HÙNG – Cục Sở hữu công nghiệp

I. Một số vấn đề chung về bảo hộ sở hữu công nghiệp

1. Định nghĩa về sở hữu trí tuệ

Sở hữu trí tuệ là một loại tài sản vô hình được tạo nên bởi trí tuệ của con người và được pháp luật bảo hộ.

Sở hữu trí tuệ có hai phần:

– Quyền tác giả (bản quyền): bao gồm quyền đối với các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, xã hội… (trong luật Việt Nam và nhiều nước khác, bao gồm cả phần mềm máy tính).

– Sở hữu công nghiệp: bao gồm:

+ Sáng chế: là giải pháp kỹ thuật mới so với trình độ kỹ thuật trên thế giới, có trình độ sáng tạo, có khả năng áp dụng trong lĩnh vực kinh tế, xã hội.

+ Giải pháp hữu ích: là giải pháp kỹ thuật mới so với trình độ kỹ thuật trên thế giới, có khả năng áp dụng trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội.

+ Kiểu dáng công nghiệp: là hình dáng bên ngoài của sản phẩm được thể hiện bằng đường nét, hình khối, màu sắc hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, có tính mới đối với thế giới và có thể dùng làm mẫu để chế tạo sản phẩm công nghiệp hoặc thủ công nghiệp.

+ Nhãn hiệu hàng hoá (thương hiệu): là những dấu hiệu bằng từ, ngữ, hình ảnh hoặc kết hợp các yếu tố đó dùng để phân biệt hàng hoá hay dịch vụ cùng loại của các cơ sở sản xuất, kinh doanh khác nhau.

+ Tên gọi xuất xứ hàng hoá: là tên địa lý của nước, vùng, địa phương dùng để chỉ xuất xứ của mặt hàng từ nước, địa phương đó với điều kiện những hàng hoá này phải có tính chất, chất lượng đặc thù dựa trên các điều kiện địa lý độc đáo và ưu việt, bao gồm yếu tố tự nhiên, con người hoặc kết hợp cả hai yếu tố trên.

Continue reading

BẢO HỘ NHÃN HIỆU HÀNG HOÁ VIỆT NAM TẠI THỊ TRƯỜNG NƯỚC NGOÀI

THS. NGUYỄN THANH BÌNH – Trường Đại học Ngoại thương

Trong thời kỳ hội nhập, nhãn hiệu hàng hoá (NHHH) được coi là tài sản quí giá của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp Việt Nam trong thời gian qua cũng đã nhận thức được rằng, NHHH là công cụ cạnh tranh cực kỳ quan trọng. Gần đây, hàng loạt các vụ tranh chấp về NHHH giữa các doanh nghiệp Việt Nam với các doanh nghiệp Việt Nam và giữa các doanh nghiệp Việt Nam với các doanh nghiệp nước ngoài là những hồi chuông cảnh báo nguy hiểm cận kề nếu doanh nghiệp Việt Nam không chú trọng đến việc xây dựng và bảo hộ NHHH của mình trên thị trường trong và ngoài nước.

Trong phạm vi bài viết này, tác giả muốn đề cập đến 3 vấn đề: thứ nhất, hiểu thế nào cho đúng về NHHH; Thứ hai, hoạt động bảo hộ NHHH của các doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường trong và ngoài nước; Thứ ba, thủ tục đăng ký bảo hộ NHHH theo thoả ước Madrid.

1. Nhãn hiệu hàng hoá là gì?

Điều 785 Bộ luật Dân sự Việt Nam quy định: “NHHH là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ cùng loại của các cơ sở sản xuất kinh doanh khác nhau. NHHH có thể là từ ngữ, hình ảnh hoặc sự kết hợp các yếu tố đó được thể hiện bằng một hoặc nhiều mầu sắc”.

Theo Tổ chức sở hữu trí tuệ Thế giới WIPO thì “NHHH là bất kỳ dấu hiệu nào giúp chỉ rõ hàng hoá của một doanh nghiệp và phân biệt hàng hoá của doanh nghiệp với hàng hoá của doanh nghiệp khác”.

Như vậy, NHHH nói chung là dấu hiệu nhằm phân biệt sản phẩm của doanh nghiệp này với sản phẩm của doanh nghiệp khác.

Các đối tượng bảo hộ sở hữu trí tuệ còn đề cập đến các khái niệm khác bao gồm:

Continue reading

XÁC ĐỊNH HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH VÀ HÀNH VI HẠN CHẾ CẠNH TRANH LIÊN QUAN ĐẾN QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM

THS. NGUYỄN NHƯ QUỲNH – Khoa Luật Dân sự – Trường Đ.H Luật Hà Nội

1. Quy định về hành vi cạnh tranh không lành mạnh và hành vi hạn chế cạnh tranh liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp theo quy định của pháp luật Việt Nam[1]

Nhằm bù đắp cho những nỗ lực sáng tạo của chủ thể đã tạo ra đối tượng sở hữu công nghiệp, chủ thể sáng tạo được trao những độc quyền trong một thời hạn nhất định. Việc thực hiện những độc quyền này, tuy nhiên, có thể gây ra những tác động tiêu cực cho khả năng tiếp cận hàng hoá của người tiêu dùng, cho sự lưu chuyển bình thường của hàng hoá, dịch vụ trên thị trường và cho cạnh tranh lành mạnh. Chủ thể nắm giữ quyền sở hữu công nghiệp được trao độc quyền, bởi vậy, họ dễ dàng lạm dụng quyền để cản trở hoạt động thương mại, gây tổn hại cho người tiêu dùng.[2] Hơn nữa, xuất phát từ giá trị thương mại của đối tượng sở hữu công nghiệp, chủ thể kinh doanh thường nghĩ đến việc sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp của đối thủ cạnh tranh (đây được coi như một trong những thành quả đầu tư của đối thủ cạnh tranh) để kiếm lời và gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh. Bởi vậy, việc xuất hiện các hành vi cạnh tranh liên quan đến sở hữu công nghiệp là tất yếu. Những hành vi này vừa vi phạm pháp luật cạnh tranh vừa vi phạm pháp luật sở hữu trí tuệ và được chia thành hai loại: hành vi hạn chế cạnh tranh và hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp. Khi nền kinh tế càng phát triển thì loại việc này càng nhiều. Thực tế này đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa pháp luật cạnh tranh và pháp luật sở hữu trí tuệ, sự cân bằng giữa bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và chính sách đảm bảo cạnh tranh lành mạnh.[3]

Cạnh tranh liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp trước hết là việc cạnh tranh, bên cạnh đó còn có đặc điểm riêng biệt gắn liền với quyền sở hữu công nghiệp. Đó là, đối với cạnh tranh liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp, việc cạnh tranh liên quan đến sử dụng và chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp. Hành vi cạnh tranh bất hợp pháp liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp vi phạm cả pháp luật cạnh tranh và pháp luật sở hữu trí tuệ.

Continue reading

PHÁP LUẬT VỀ HẾT QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ VÀ NHẬP KHẨU SONG SONG Ở MỘT SỐ NƯỚC THUỘC HIỆP HỘI CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á

THS. NGUYỄN NHƯ QUỲNH – Khoa Luật Dân sự – Trường ĐH Luật Hà Nội

1. Khái quát chung về hết quyền SHTT và nhập khẩu song song

Hết quyền SHTT (SHTT) là khái niệm bắt nguồn từ thuyết hết quyền.[1] Thuyết này xác định giới hạn cho quyền SHTT mang tính độc quyền và cân bằng giữa bảo hộ quyền SHTT với đảm bảo sự lưu thông của thị trường cũng như duy trì cạnh tranh lành mạnh; cân bằng giữa bảo vệ lợi ích của chủ thể nắm giữ quyền SHTT với lợi ích của người tiêu dùng. Theo thuyết hết quyền, khi sản phẩm mang đối tượng SHTT được đưa ra thị trường bởi chính chủ thể nắm giữ quyền SHTT hoặc với sự đồng ý của chủ thể này, chủ thể nắm giữ quyền SHTT không còn quyền kiểm soát đối với việc phân phối và khai thác thương mại sản phẩm. Ví dụ: Sau khi bán một chai nước có ga mang nhãn hiệu Coca-Cola, quyền sở hữu trí tuệ của hãng Coca-Cola đối với chai nước này không còn nữa. Có nghĩa là: Công ty không có quyền ngăn cản khách hàng uống nước, tặng hay bán sản phẩm này cho người khác. Tuy nhiên, người mua đồ uống Coca-Cola không thể sử dụng nhãn hiệu nổi tiếng Coca-Cola cho đồ uống mà họ sản xuất hay chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu này cho người khác.

Nhập khẩu song song[2] là việc nhập khẩu những hàng hóa chính hiệu (genuine goods) đã được chính chủ sở hữu quyền SHTT hoặc chủ thể khác đưa ra thị trường nước ngoài với sự đồng ý của chủ sở hữu. Việc kinh doanh này diễn ra song song với các kênh phân phối được uỷ quyền. Thương mại song song có những đặc điểm sau đây: (i) đây là một hiện tượng kinh tế; (ii) hiện tượng này xảy ra đối với tất cả các loại hàng hoá; (iii) hàng hoá chính hiệu được đưa ra thị trường nước ngoài bởi chính chủ sở hữu quyền SHTT hoặc chủ thể khác được chủ sở hữu cho phép; (iv) chủ thể nắm giữ quyền SHTT ở nước xuất khẩu và ở nước nhập khẩu là một hoặc là những chủ thể khác nhau nhưng có mối quan hệ pháp lý và/hoặc kinh tế với nhau; (v) trong hoạt động này có hai nhà kinh doanh, đó là nhà kinh doanh được uỷ quyền và nhà kinh doanh không được uỷ quyền; (vi) hoạt động này có thể xảy ra giữa hai nước trở lên. Nguyên nhân kinh tế của thương mại song song là sự khác biệt về giá giữa nước xuất khẩu và nước nhập khẩu hàng hoá. Hàng hóa trong thương mại song song bao giờ cũng được chuyển từ nước có giá bán sản phẩm thấp đến nước có giá bán sản phẩm cao. Nhà kinh doanh trong trường hợp này có thể thu được lợi nhuận bằng cách xuất khẩu hoặc nhập khẩu hàng hoá song song với các kênh chính thức.

Continue reading

XÂY DỰNG KHÁI NIỆM NHÃN HIỆU TRONG LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ

ĐÀO THỊ DIỄM HẠNH – Trường Đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát – Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Không phải là hàng hoá nhưng nhãn hiệu lại có ý nghĩa rất lớn trong thương mại. Nhãn hiệu là một trong những đối tượng cơ bản của quyền sở hữu trí tuệ (SHTT). Vì vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia luôn coi trọng việc bảo hộ nhãn hiệu. Tuy nhiên, khái niệm nhãn hiệu vẫn chưa được hiểu thống nhất ở các quốc gia. Bài viết đề cập đến khái niệm nhãn hiệu theo quy định của pháp luật quốc tế, pháp luật của Việt Nam trong sự so sánh với pháp luật của Liên minh Châu Âu và Hoa Kỳ – hai vùng lãnh thổ có truyền thống pháp luật lâu đời về nhãn hiệu, từ đó đề xuất đưa ra khái niệm nhãn hiệu cho Luật SHTT Việt Nam.

Cho đến nay đã có khá nhiều các điều ước quốc tế song phương và đa phương điều chỉnh các vấn đề liên quan đến nhãn hiệu1. Trong số này, có thể kể một số điều ước quốc tế có nhiều thành viên tham gia như Công ước Paris 1883, Hệ thống Madrid, Hiệp định TRIPs. Tuy Công ước Paris, Hệ thống Madrid chưa đưa ra khái niệm nhãn hiệu nhưng đã quy định các điều khoản liên quan đến việc bảo hộ các đối tượng sỡ hữu công nghiệp (Công ước Paris) hoặc thiết lập hệ thống quốc tế về đăng ký bảo hộ nhãn hiệu (Hệ thống Madrid). Riêng TRIPs đã có quy định về khái niệm nhãn hiệu. Điều 15 Hiệp định TRIPs quy định như sau:

Bất kỳ một dấu hiệu hoặc tổ hợp các dấu hiệu nào, có khả năng phân biệt hàng hoá hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp với hàng hoá hoặc dịch vụ của các doanh nghiệp khác đều có thể làm nhãn hiệu. Các dấu hiệu đó, đặc biệt là các từ, kể cả tên riêng, các chữ cái, chữ số, các yếu tố hình học và tổ hợp các mầu sắc cũng như tổ hợp bất kỳ của các dấu hiệu đó phải có khả năng được đăng ký làm nhãn hiệu.

Khái niệm này chỉ ra một số đặc điểm của nhãn hiệu. Thứ nhất, đó phải là một dấu hiệu hoặc tổ hợp các dấu hiệu. Các dấu hiệu đó có thể là các từ, kể cả tên riêng, các chữ cái, chữ số, các yếu tố hình học và tổ hợp các mầu sắc cũng như tổ hợp bất kỳ của các dấu hiệu đó. Thứ hai, các dấu hiệu đó có thể là dấu hiệu nhìn thấy được, cũng có thể là bất kỳ dấu hiệu nào có khả năng được đăng ký là nhãn hiệu. Thứ ba, các dấu hiệu đó phải có khả năng phân biệt hàng hoá hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp này với hàng hoá hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp khác.

Continue reading

THỰC THI QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ THEO QUY ĐỊNH CỦA WTO: LỢI ÍCH QUỐC GIA HAY UY TÍN QUỐC TẾ?

TS. TRẦN VĂN HẢI – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn

Bài viết đề cập đến nội dung thực thi quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) theo quy định “mở” của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) đối với các quốc gia thành viên. Việc chọn “ngưỡng” nào trong phạm vi “mở” đó là tùy thuộc vào mỗi quốc gia nhưng phải tuân theo nguyên tắc có thể “vượt trần” nhưng không được “dưới sàn”. Trong quá trình hoạch định chính sách, tùy từng thời điểm, quốc gia thành viên có thể chọn việc đặt uy tín quốc tế (khi quy định “trên sàn” hoặc “vượt trần”) lên trên lợi ích quốc gia (nếu quy định “ngang sàn”) và ngược lại. Một câu hỏi được đặt ra là: Trong chính sách về SHTT, ViệtNam đã đặt uy tín quốc tế lên trên lợi ích quốc gia hay ngược lại? Khó có thể trả lời câu hỏi này khi đứng trước các thông tin tích cực và tiêu cực đối với nền kinh tế nước nhà sau hơn 2 năm gia nhập WTO.

Nhắc đến hoạt động của WTO, người ta thường đề cập đến hoạt động của các Hội đồng thương mại dưới quyền của Đại hội đồng. Có ba Hội đồng thương mại (có tài liệu còn coi đó là ba “trụ cột” của WTO) là: Hội đồng thương mại hàng hóa, Hội đồng thương mại dịch vụ và Hội đồng các khía cạnh của quyền SHTT liên quan đến thương mại. Trong đó, Hội đồng các khía cạnh của quyền SHTT liên quan đến thương mại chịu trách nhiệm đối với các hoạt động thuộc phạm vi của Hiệp định về các khía cạnh của quyền SHTT liên quan đến thương mại (Hiệp định TRIPS), cũng như việc phối hợp với các tổ chức quốc tế khác trong lĩnh vực quyền SHTT.

Tại Hội thảo khoa học “Việt Nam sau 2 năm gia nhập WTO – Những thành tựu và thách thức” do Viện Khoa học pháp lý và kinh doanh quốc tế tổ chức vào tháng 10.2009, TS Võ Trí Thành, Trưởng ban Hội nhập kinh tế quốc tế thuộc Viện Quản lý kinh tế Trung ương đã phát biểu: “Cái đáng tiếc nhất rút ra sau 2 năm gia nhập WTO là ta đã quá hứng khởi. Hứng khởi quá mức để rồi lúng túng về chính sách… Vì vậy mới nảy sinh những biện pháp cứng rắn đến mức không cần thiết, ở mức độ nào đó có gây ra hiệu ứng bất lợi”1. Có thể TS Võ Trí Thành đã đề cập chung đến cả ba lĩnh vực là thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ và SHTT.

Continue reading

THỰC TIỄN ÁP DỤNG LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ: CÔNG TY VÀ NHÀ HÀNG, AI LÀ “PHỐ HỘI”?

LÊ VĂN KIỀU – Nguyên Chánh Thanh tra Bộ Khoa học và công nghệ

Ngày 7.11.1995, Khách sạn mini Phố Hội do ông H.N.T làm chủ, được Cục SHCN (nay là Cục SHTT) cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu với tên gọi Mini Hotel Phố Hội, có hiệu lực đến ngày 17.1.2005. Tháng 11.2000, ông T làm thủ tục đăng ký thành lập Công ty TNHH Dịch vụ – Du lịch sinh thái Phố Hội (Công ty Phố Hội), Hội An và được Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Quảng Nam cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Đầu năm 2005, Công ty Phố Hội tiếp tục làm thủ tục xin phép gia hạn và sửa đổi nhãn hiệu. Trên cơ sở này, ngày 4.3.2005, Cục SHTT chấp thuận nội dung sửa đổi với nhãn hiệu mới là “Công ty TNHH Dịch vụ – Du lịch sinh thái Phố Hội”, đồng thời gia hạn đến ngày 17.1.2015.

Từ năm 1993, tại số 69 Phan Châu Trinh, Hội An, bà L.T.V đã mở quán cơm bình dân với tên gọi Quán ăn Phố Hội. Đến năm 1999, bà V làm thủ tục đăng ký và được cấp giấy phép thành lập doanh nghiệp tư nhân (DNTN). Theo quy định thì bà V phải treo bảng hiệu là DNTN “Phố Hội” tại các cơ sở kinh doanh đã được cấp phép, nhưng bà lại treo bảng hiệu “NHà HàNG PHố HộI II” tại số 38 Nhị Trưng B và “PHố HộI RESTAURANT” tại số 69 Phan Châu Trinh, cùng ở Hội An.

Mọi rắc rối về nhãn hiệu bắt đầu nảy sinh từ đây. Trong đó, đáng chú ý là ở cả hai bảng hiệu nêu trên, chữ “Phố Hội” đều có cách trình bày giống như chữ “PHố HộI” của Công ty Phố Hội – đã được bảo hộ độc quyền nhãn hiệu. Từ việc sử dụng trùng về dấu hiệu “Phố Hội”, nên ông T cho rằng, bà V đã vi phạm nhãn hiệu được Nhà nước bảo hộ của mình.

Continue reading

BẢO HỘ SỞ HỮU TRÍ TUỆ VIỆT NAM TRÊN BƯỚC ĐƯỜNG HỘI NHẬP – TỪ LỀ ĐƯỜNG BƯỚC VÀO XA LỘ

image PGS.TS. PHẠM DUY NGHĨA

Năm 1474 Viện dân biểu của thành phố tự trị Venedig ban hành một đạo luật đầu tiên về quyền sáng chế, cho phép người phát minh độc quyền sử dụng sáng chế đó trong vòng 10 năm kể từ ngày được cấp bản quyền. Kể từ đó các đạo luật bảo hộ sáng chế nối tiếp nhau ra đời và lan rộng ra nhiều lĩnh vực, ngày nay mọi tri thức có giá trị thương mại đều dễ dàng được bảo hộ, chúng dễ dàng biến thành tư bản sinh lời. Bộ luật Dân sự 1995, Luật Thương mại 1997, Bộ luật Hình sự 1999 và vô số Nghị định, Thông tư đã hướng dẫn thi hành đủ loại quyền tài sản trí tuệ, từ tác quyền của giới văn nghệ, cho tới độc quyền sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, thậm chí bí mật thương mại cũng được bảo hộ đầy đủ ở Việt Nam.

Văn bản luật thì thật nhiều, vậy mà buồn thay, trong khi Hàn Quốc,Singapore, Dài Loan.. đều đã nối đuôi Nhật Bản để biến thành những cường quốc công nghệ, người Việt Nam vẫn chỉ đứng bên lề đường mà nhìn công nghệ vụt đi nhanh. Học hàm, học vị được cấp phát ngày càng nhiều, song công trình công bố trên các ấn phẩm quốc tế, sáng chế và sở hữu trí tuệ của người trong nước trên trường quốc tế thật hiếm hoi. Đôi khi luật sở hữu trí tuệ của nước ta trên thực tế bảo hộ cho tài sản cho ngoại bang là chính, cứ khoảng 1200 văn bằng cấp sáng chế cấp cho người nước ngoài thì mới có 30 văn bằng cấp cho người trong nước. Việt tộc, một dân tộc ưu việt theo cách chiết tự chữ Bách Việt của Kim Định, không thể còn vô cảm trước những nguy cơ ngày càng lộ rõ khi bước vào ngôi làng toàn cầu. Nếu chỉ trông cậy vào dầu thô, hàng dệt, đánh bắt thủy sản, và nhặt nhạnh từng đồng bạc nhọc nhằn từ nông sản, xuất khẩu lao động giản đơn, cho đến bao giờ người nước ta mới có thể làm chủ cuộc chơi toàn cầu và biến đồng bào của thời thế thành sức ép canh tân. Đuổi theo và vượt là kế sách mà các nước đồng văn đã bắt đầu làm từ thời Nguyễn Trường Tộ soạn Tế cấp bát điều sau nhiều năm tìm những con đường mới, có lẽ nước ta nên nhìn láng giềng mà học cách phát triển kỹ nghệ.

Để pháp luật góp phần khuyến khích và bảo hộ sở hữu trí tuệ một cách tốt hơn trong thời mở cửa, theo thiền ý của tôi, ba vấn đề sau đây cần được quan tâm:

Continue reading

CÁC QUAN NGẠI THƯƠNG MẠI LIÊN QUAN ĐẾN TBT VÀ ĐỘNG THÁI CỦA VIỆT NAM

LÊ QUỐC BẢO

Theo thống kê của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) trong khoảng 10 năm (từ năm 1995 đến 2005) đã có 133 quan ngại thương mại liên quan đến TBT (Đề án triển khai thực hiện Hiệp định hàng rào kỹ thuật trong thương mại) và số lượng các quan ngại mới mỗi năm một tăng. Vậy các quan ngại thương mại liên quan đến TBT là gì? Ảnh hưởng của nó đến các nước thành viên ra sao, và chúng ta phải làm gì trước những quan ngại này?

Các quan ngại thương mại liên quan đến TBT

Các quan ngại thương mại (Trade concern) liên quan đến TBT là sự quan tâm của một hoặc nhiều nước thành viên WTO đối với các quy định nêu trong quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn hoặc quy trình đánh giá sự phù hợp của một nước thành viên khác và cho rằng, các quy định này có hoặc có thể sẽ tác động tiêu cực đến thương mại của họ.

Theo thống kê của WTO, từ năm 1995 đến năm 2005 có khoảng 133 quan ngại đã được đưa ra, và số lượng quan ngại mới mi năm đều tăng theo thời gian. Nếu xét theo nhóm nước, thì nhóm các nước phát triển có số quan ngại nhiều hơn so với các nước đang phát triển. Các quan ngại tập trung vào 9 nguyên nhân chủ yếu sau: Các quy định đưa ra thiếu cơ sở khoa học; nhằm vào các mục tiêu không hợp pháp/không hợp lý; tác động tiêu cực đến thương mại; mang tính phân biệt đối xử; không sử dụng tiêu chuẩn quốc tế khi đưa ra quy định; các quy định phức tạp, thiếu sự thông hiểu; là rào cản không cần thiết đối với thương mại; không đảm bảo tính công khai, minh bạch khi đưa ra quy định; các nguyên nhân khác. Trong đó, các nguyên nhân phổ biến và chiếm tỷ lệ cao là: Các quy định phức tạp, thiếu sự thông hiểu (chiếm 50%), là rào cản không cần thiết đối với thương mại (chiếm 62%) và không đảm bảo tính công khai, minh bạch (chiếm 80%).

Các quan ngại đề cập đến các sản phẩm/lĩnh vực nào?

Có 5 nhóm sản phẩm/lĩnh vực mà các quan ngại đề cập là: Các sản phẩm thực phẩm, đồ uống giải khát và rượu; sản phẩm hoá chất; dệt may; máy móc, cơ khí và thiết bị điện; phương tiện giao thông (đường bộ/thuỷ/hàng không) và trang thiết bị giao thông có liên quan. Dưới đây là một số quan ngại tiêu biểu:

Continue reading