YÊU NƯỚC VÀ NHÀ NƯỚC

HUY ĐỨC

Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” là để “nhằm phát huy mạnh mẽ lòng yêu nước”. Không chỉ “đẩy mạnh công tác tuyên truyền”, thật cần thiết khi Bộ Chính trị nhấn mạnh rằng, phải “rà soát, bổ sung luật pháp và cơ chế…” Lòng yêu nước trong mỗi người dân có thể tồn tại vô điều kiện, nhưng muốn giá trị mà người dân chưa bao giờ toan tính ấy có thể tập hợp thành sức mạnh quốc gia thì ứng xử của nhà nước lại đóng vai trò quyết định.

“Ưu tiên dùng hàng Việt Nam” là một mục tiêu chừng mực. Bởi ngoài lợi ích quốc gia, người dân còn phải cân nhắc cho gia đình mình từng chi phí. Người dân không thể tiếp tục “chi tiêu lòng yêu nước” cho những món hàng kém chất lượng mà lại đắt hơn. Vấn đề là trong khuôn khổ các cam kết ở WTO, Nhà nước phải làm hết trách nhiệm của mình để hàng Việt Nam có thể cạnh tranh với hàng nước ngoài, trên “sân nhà”, với cùng điều kiện.

Mặt hàng trái cây, rau quả, nhập về trong thời gian qua vẫn tăng. Các vựa lớn ở các chợ đầu mối TP.HCM thường nhập mỗi lần hàng chục tấn trái cây Trung Quốc. Theo các chủ vựa: “Các cửa hàng bán lẻ chuộng trái cây Trung Quốc vì chúng có thể để cả chục ngày sau vẫn còn tươi nguyên, thậm chí để gần cả tháng vẫn cứ tươi roi rói”. Trong khi đó, cục An toàn vệ sinh thực phẩm đã từng phát hiện trong mẫu táo, lê của Trung Quốc dư lượng hoá chất bảo quản lên tới 45,8%; chưa kể trong 24 mẫu táo, lê Trung Quốc kiểm nghiệm, có đến 75% số mẫu dư lượng thuốc bảo vệ thực vật.

Thế nhưng, trong khi trái cây Trung Quốc cứ “tươi rói” khắp các chợ Việt Nam thì lúc nào cũng có thể nhìn thấy từng đoàn xe chở trái cây từ Việt Nam bị chặn lại trước từng cửa khẩu. Năm loại trái cây: dưa hấu, nhãn, vải, chuối và thanh long khi xuất sang Trung Quốc buộc phải kê khai nguồn gốc (nơi trồng và đóng gói). Đây là một thoả thuận song phương, và cần thiết, nhưng nếu xếp trong thứ tự ưu tiên thì nó chỉ có giá trị “hàng rào” ngăn phía Việt Nam vì phần lớn trái cây Trung Quốc từ lâu đã được “đóng gói” và “ghi xuất xứ”. Một “hàng rào” kỹ thuật về kiểm nghiệm gắt gao lượng hoá chất sử dụng trong trái cây nhập lẽ ra phải được sớm đặt ra, bởi nó không chỉ “bình đẳng” với trái cây Việt Nam mà còn bảo vệ sức khoẻ cho người dân Việt.

Continue reading

SƠ LƯỢC VỀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA LUẬT CẠNH TRANH CHÂU ÂU

ĐỨC QUẾ

Luật cạnh tranh Châu Âu có lịch sử ra đời và phát triển sớm hơn so với suy nghĩ của nhiều người. Điểm khởi đầu của sự ra đời là vào những năm 1890 của thế kỷ trước tại Vienna, thủ đô của của Áo, nơi mà vào thời đó được coi là một trong những trung tâm của châu Âu có nền giáo dục cao và hệ thống quản lý hành chính tiến bộ. Tại đây các nhà quản lý đã nhận ra giá trị tiềm năng to lớn của một bộ luật nhằm bảo vệ sự cạnh tranh lành mạnh đang bắt đầu phát triển và rất dễ bị bóp méo và do vậy một dự thảo luật đã được soạn nhằm mục đích này.

Mặc dù dự thảo luật này đã không được thông qua nhưng những nguyên tắc cơ bản của nó đã thu hút được sự chú ý của một nhóm các học giả quan trọng tại Đức nơi và vào những năm 1900 đã không thành công trong một nỗ lực ban hành các quy định về luật cạnh tranh.

Đến giai đoạn những năm 1920 thì những văn bản luật cạnh tranh hiện đại đầu tiên đã được ban hành tại vài nước Châu Âu mà trong đó quan trọng nhất phải kể đến luật cạnh tranh do Đức ban hành. Điều này đã tạo ra những giá trị hết sức có ý nghĩa đối với vấn đề cạnh tranh tại Đức cũng như một số quốc gia khác, và đến cuối thập niên đó thì tại Châu Âu đã bước đầu hình thành và phát triển một hệ thống luật cạnh tranh riêng cho mình. Rất khác so với Luật chống độc quyền của Mỹ ra đời vào khoảng thời gian trước đó (luật chống độc quyền của Mỹ ra đời vào năm 1980 với cái tên Sherman Anti-Trust Act), luật cạnh tranh phát triển tại Châu Âu trú trọng vào việc quy định cho một số cơ quan hành chính một quyền năng can thiệp trong những trường hợp mà ở đó các công ty có hành vi lạm dụng sức mạnh thị trường. Nhưng thật không may sự suy thoái kinh tế vào những năm 1930 sảy ra ở các nước Châu Âu, chủ nghĩa Phát xít và sau đó là chiến tranh thế giới lần 2 đã quét sạch những quy định luật cạnh tranh đang bắt đầu hình thành và phát triển này.

Continue reading

PHÂN TÍCH NHỮNG ƯU VIỆT TRONG LUẬT CẠNH TRANH IRELAND VÀ KINH NGHIỆM CHO CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN

MINH LAN (Tổng hợp)

Như chúng ta đã biết để xây dựng được một bộ luật cạnh tranh đầy đủ thì ngoài việc cần đến sự nghiên cứu, đưa ra ý kiến của các thành viên có trình độ chuyên môn cao thì việc học hỏi kinh nghiệm của các nước đi trước cũng là điều vô cùng quan trọng.

Ireland – một trong số ít các nước đã áp dụng phạt hình sự trong Luật cạnh tranh sẽ đưa ra cho các nhà hoạch định, xây dựng luật cạnh tranh nhiều vấn đề cần phải quan tâm.

Ví như, trong Luật cạnh tranh của Ireland ngoài việc áp dụng các mức phạt hành chính đối với các công ty tùy thuộc vào mức độ vi phạm, ở Ireland còn quy định mức phạt đối với các giám đốc, người quản lý hay cán bộ tương đương, cá nhân khác có ý định hành động trên cương vị đó nếu chấp thuận hoặc ra lệnh cho doanh nghiệp thực hiện hành vi vi phạm sẽ bị coi là phạm tội và chịu các hình phạt. Đây được xem là một điểm rất tiến độ trong Luật cạnh tranh bởi việc áp dụng khung hình phạt này sẽ góp phần răn đe ban lãnh đạo của các công ty đã vi phạm, thậm chí đang có ý định phải dè chừng. Bởi trong các trường hợp vi phạm, người quyết định các vi phạm chính là ban lãnh đạo còn nhân viên chỉ là những người chấp hành. Tuy nhiên, khi quyết định chỉ áp dụng phạt đối với riêng công ty thì có khả năng công ty sẽ bị phá sản và người chịu thiệt lại chính là nhân viên; còn khi áp dụng mức phạt đối với ban lãnh đạo – những người trực tiếp đưa ra các quyết định sẽ không chỉ có tác dụng phạt đúng đối tượng mà còn khiến họ phải cân nhắc kỹ trước khi đưa ra quyết định vi phạm.

Điểm đặc biệt là đối với các cá nhân điều hành công ty bị tình nghi vi phạm có thể bị bắt và giữ để thẩm vấn tới 12 giờ; tùy theo mức độ còn có thể bị phạt tù tối đa 5 năm. Quy định này khắc phục điểm yếu của văn bản pháp luật cạnh tranh ở rất nhiều nước khi không quy định quyền hạn khả thi để thẩm vấn các cá nhân và tăng tính răn đe lên cao hẳn so với các quy định chỉ phạt hành chính.

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỎA THUẬN HẠN CHẾ CẠNH TRANH

VÕ DUY THÁI

Độc quyền hoặc khống chế thị trường là mơ ước của hầu hết các nhà doanh nghiệp. Tất cả các doanh nghiệp đều có ước muốn tồn tại và phát triển mà không phải đương đầu với những cuộc cạnh tranh. Vì vậy lịch sử của các hành vi hạn chế cạnh tranh có một bề dày gần tương đương với lịch sử của kinh tế thị trường. Thông thường người ta chia ra 3 loại hành vi hạn chế cạnh tranh khác nhau là: hành vi thoả thuận, hành vi cản trở và hành vi tập trung.

Như vậy, hành vi thoả thuận là một trong 3 loại hành vi có thể dẫn đến nguy cơ hạn chế cạnh tranh trên thị trường. Hành vi thoả thuận hạn chế cạnh tranh là sự thoả thuận phối hợp hành động với nhau (bằng văn bản và không bằng văn bản) giữa các doanh nghiệp độc lập để nâng cao vị thế của mình, cản trở cạnh tranh mà không cần phải có sự nỗ lực trên thị trường. Trên cơ sở mối quan hệ giữa các doanh nghiệp tham gia thoả thuận, người ta chia các hành vi thoả thuận ra 2 nhóm: thoả thuận theo chiều ngang và thoả thuận theo chiều dọc:

Thoả thuận theo chiều ngang: là hình thức cartel để khống chế giá, phân chia thị trường,… hoặc sự thoả thuận phối hợp hành động nào đó trong một thời gian nhất định để cản trở cạnh tranh từ doanh nghiệp khác.

Thoả thuận theo chiều dọc: thoả thuận có thể được thực hiện ở 3 hình thức như định giá, thương lượng giá và các thoả thuận license. Tuỳ theo từng mục tiêu, mức độ, các thoả thuận này có tác động khác nhau, thậm chí một số thoả thuận hoàn toàn có ý nghĩa tích cực cho nền kinh tế và cho xã hội.

Theo Luật Cạnh tranh của Việt nam (ban hành 2004), thoả thuận cạnh tranh được xác định như sau:

Continue reading

KINH NGHIỆM PHÁP LUẬT CỦA PHÁP VÀ EU VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG

TS. NGUYỄN HỮU HUYÊN

Cộng hoà Pháp nói riêng và Liên minh Châu Âu nói chung là một trong những mảnh đất nơi mà vấn đề quyền con người (nói chính xác hơn là quyền cá nhân) được quan tâm nhiều khi đến mức cao hơn cả chủ quyền quốc gia[1] . Đó là một trong những hệ quả của cuộc cách mạng tư sản và gắn với nó là nhu cầu giải phóng con người, tôn trọng các giá trị tự nhiên của con người.

Bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng có thể nói là một khía cạnh tiêu biểu của xu hướng này, được cả xã hội nhìn nhận từ lâu như một trong những nhu cầu tự nhiên của quá trình lập pháp. Pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng ở cộng hoà Pháp nói riêng và EU nói chung đang ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong hệ thống pháp luật và hơn thế, nó đã và đang được "chính trị hoá" ở mức độ khác nhau bởi lẽ rất đơn giản các chính trị gia tồn tại trên lá phiếu của cử tri mà tất cả các cử tri đều là người tiêu dùng. Các thiết chế thực thi pháp luật bảo vệ người tiêu dùng, vì thế, cũng rất được "ưu ái", thể hiện ở sự đa dạng từ các thiết chế quyền lực nhà nước đến các tổ chức xã hội dân sự. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi giới thiệu những nét chính pháp luật của Pháp và EU về bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng, với hy vọng cung cấp thông tin tham khảo phục vụ công tác nghiên cứu khoa học, hoạt động xây dựng và hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực này. Bài viết sẽ tập trung làm sáng tỏ các vấn đề sau:

– Tại sao phải có pháp luật bảo vệ người tiêu dùng?

– Các chế định cơ bản của pháp luật bảo vệ người tiêu dùng

– Sự can thiệp của Nhà nước vào quá trình bảo vệ người tiêu dùng.

I. NHU CẦU PHẢI CÓ PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG Ở PHÁP VÀ EU:

Ngay từ thời La Mã cổ đại, pháp luật dân sự ra đời để điều chỉnh các giao lưu dân sự chủ yếu giữa các cá nhân với nhau. Bộ luật dân sự nổi tiếng Na-pô-lê-ông của Pháp ra đời năm 1804 đánh dấu bước phát triển hết sức quan trọng trong lịch sử lập pháp của Pháp nói riêng và thế giới nói chung, theo đó về cơ bản các giao dịch dân sự đều đã có chế định tương ứng để điều chỉnh. Tuy nhiên, do khoa học kỹ thuật không ngừng phát triển, kéo theo nó là những hàng hoá, sản phẩm ngày càng phong phú, đa dạng với hàm lượng chất xám, tính năng công nghệ cao, pháp luật dân sự đã ngày càng bộc lộ những bất cập, cụ thể là:

Continue reading

Kinh nghiệm của Pháp và EU về BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG

TS. NGUYỄN HỮU HUYÊN – Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Tư pháp

Cộng hoà Pháp nói riêng và Liên minh Châu Âu nói chung là một trong những mảnh đất nơi mà vấn đề quyền con người (nói chính xác hơn là quyền cá nhân) được quan tâm nhiều khi đến mức cao hơn cả chủ quyền quốc gia[1] . Đó là một trong những hệ quả của cuộc cách mạng tư sản và gắn với nó là nhu cầu giải phóng con người, tôn trọng các giá trị tự nhiên của con người.

Bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng có thể nói là một khía cạnh tiêu biểu của xu hướng này, được cả xã hội nhìn nhận từ lâu như một trong những nhu cầu tự nhiên của quá trình lập pháp. Pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng ở cộng hoà Pháp nói riêng và EU nói chung đang ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong hệ thống pháp luật và hơn thế, nó đã và đang được “chính trị hoá” ở mức độ khác nhau bởi lẽ rất đơn giản các chính trị gia tồn tại trên lá phiếu của cử tri mà tất cả các cử tri đều là người tiêu dùng. Các thiết chế thực thi pháp luật bảo vệ người tiêu dùng, vì thế, cũng rất được “ưu ái”, thể hiện ở sự đa dạng từ các thiết chế quyền lực nhà nước đến các tổ chức xã hội dân sự. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi giới thiệu những nét chính pháp luật của Pháp và EU về bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng, với hy vọng cung cấp thông tin tham khảo phục vụ công tác nghiên cứu khoa học, hoạt động xây dựng và hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực này. Bài viết sẽ tập trung làm sáng tỏ các vấn đề sau:

– Tại sao phải có pháp luật bảo vệ người tiêu dùng?

– Các chế định cơ bản của pháp luật bảo vệ người tiêu dùng

– Sự can thiệp của Nhà nước vào quá trình bảo vệ người tiêu dùng.

I. NHU CẦU PHẢI CÓ PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG Ở PHÁP VÀ EU:

Ngay từ thời La Mã cổ đại, pháp luật dân sự ra đời để điều chỉnh các giao lưu dân sự chủ yếu giữa các cá nhân với nhau. Bộ luật dân sự nổi tiếng Na-pô-lê-ông của Pháp ra đời năm 1804 đánh dấu bước phát triển hết sức quan trọng trong lịch sử lập pháp của Pháp nói riêng và thế giới nói chung, theo đó về cơ bản các giao dịch dân sự đều đã có chế định tương ứng để điều chỉnh. Tuy nhiên, do khoa học kỹ thuật không ngừng phát triển, kéo theo nó là những hàng hoá, sản phẩm ngày càng phong phú, đa dạng với hàm lượng chất xám, tính năng công nghệ cao, pháp luật dân sự đã ngày càng bộc lộ những bất cập, cụ thể là:

Continue reading

HÀNH VI ẤN ĐỊNH GIÁ BÁN LẠI TỐI THIỂU GÂY THIỆT HẠI CHO KHÁCH HÀNG

NGUYỄN NGỌC SƠN

Nhằm đảm bảo sự lành mạnh các quan hệ kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, Luật Cạnh tranh năm 2004 (LCT) quy định ngăn cấm đối với một số hành vi liên quan đến giá cả, trong đó có quy định về hành vi ấn định giá bán lại (khoản 2 Điều 13). Tác giả bài viết dưới đây sẽ phân tích bản chất kinh tế, pháp lý của dạng vi phạm về hành vi ấn định giá bán lại tối thiểu gây thiệt hại cho khách hàng. Trên cơ sở đó, tác giả bình luận, đưa ra những yêu cầu cần thiết trong việc việc áp dụng LCT, góp phần hướng dẫn thi hành hiệu quả LCT, đưa LCT đi vào thực tiễn.

1. Đặt vấn đề

Trong đời sống thị trường, nơi mà cung cầu là cốt vật chất, giá cả là diện mạo và cạnh tranh là linh hồn sống của thị trường[1], mọi hành vi làm sai lệch diện mạo bằng bất cứ thủ đoạn nào để bóc lột khách hàng, hoặc để củng cố, duy trì vị trí của doanh nghiệp trên thương trường đều đáng lên án và phải bị loại bỏ. Trong cấu trúc pháp luật của thị trường mà nhà nước ta đang nỗ lực xây dựng và hoàn thiện, luôn có sự hiện diện của một bộ phận cấu thành quan trọng là lĩnh vực pháp luật quản lý giá cả. Pháp lệnh giá năm 2002 quy định nhiều biện pháp kinh tế -hành chính trong việc quản lý trật tự giá trên thị trường, và ngăn cấm những hành vi không lành mạnh trong cạnh tranh về giá.

Song song với việc xây dựng mảng pháp luật quản lý các quan hệ thị trường, các nhà làm luật Việt Nam cũng đang nỗ lực hoàn thiện một lĩnh vực pháp luật đặc thù của thị trường là pháp luật cạnh tranh, với nhiệm vụ đấu tranh chống các tiêu cực, bảo đảm sự lành mạnh trong quan hệ cạnh tranh. Trong các biểu hiện bị cấm đoán, các hành vi liên quan đến giá cả cũng được luật cạnh tranh (LCT) mô tả với nhiều dạng, nhiều mức độ vi phạm khác nhau, như: định giá dưới giá thành toàn bộ để loại bỏ đối thủ; áp đặt giá mua, giá bán hàng hoá, dịch vụ bất hợp lý gây thiệt hại cho khách hàng, định giá bán lại tối thiểu… Phần tiếp theo sau đây sẽ phân tích bản chất kinh tế,pháp lý của một dạng vi phạm cụ thể là hành vi ấn định giá bán lại[2], được quy định tại khoản 2 Điều 13 LCT năm 2004. Từ đó, đặt ra những yêu cầu cần thiết để các văn bản hướng dẫn LCT góp phần đưa LCT đi vào thực tiễn,đồng thời dự liệu một số tình huống có thể xảy ra khi thực thi pháp luật cạnh tranh.

Continue reading

VÀI NHẬN XÉT VÀ SUY NGHĨ VỀ CÔNG BẰNG TRONG MẬU DỊCH (FAIR TRADE)

NGÔ VĨNH LONG

Trong bài về sự bí ẩn trong “thế giới hàng hóa” của Marx,[1] tác giả Lữ Phương có viết những dòng sau đây về trao đổi hàng hóa (trang 1):

Trừ những trường hợp riêng biệt, nguyên tắc của trao đổi là ngang giá, hai bên đều có lợi, mình cần cái mình không có mà không bị thiệt thòi. Muốn như vậy thì phải tìm ra một chuẩn mực chung giữa hai hàng hoá để làm cơ sở cho cuộc trao đổi đó. 

Chuẩn mực chung đó là gì?  Trong trao đổi đơn giản, Marx cho rằng nếu đó là sự chi phí sức lao động tính bằng độ lâu (durée) về thời gian của các loại lao động riêng biệt thì trong xã hội mà sự trao đổi hàng hoá đã trở thành hiện tượng “chi phối”, phổ biến, sự chi phí về sức lao động đó đã biểu hiện như một hình thái đồng nhất, trừu tượng mang ý nghĩa của một bản thể xã hội gọi là giá trị. Không có cái bản thể chung quy định cho hình thái giá trị này làm cơ sở thì việc trao đổi hàng hoá sẽ trở nên tuỳ tiện, không thể bảo đảm được nguyên tắc ngang giá, có lợi cho các đối tác trên phạm vi toàn xã hội.

             Đoạn trích ở trên có hai câu gây cho tôi ít nhiều suy nghĩ: “Trừ những trường hợp riêng biệt, nguyên tắc của trao đổi là ngang giá, hai bên đều có lợi” và “Không có cái bản thể chung quy định cho hình thái giá trị này làm cơ sở thì việc trao đổi hàng hoá sẽ trở nên tuỳ tiện, không thể bảo đảm được nguyên tắc ngang giá, có lợi cho các đối tác trên phạm vi toàn xã hội.” Lữ Phương đã trình bày rất chi tiết phân tích của Marx về “hình thái giá trị” đề cập ở trên; và việc đánh giá nguyên tắc ngang giá của Marx như thế nào là tùy người “đọc.” .

Continue reading

HÀNH VI ĐỊNH GIÁ HỦY DIỆT VÀ ỨNG DỤNG TRONG PHÁP LUẬT CẠNH TRANH CỦA VIỆT NAM

NGUYỄN NGỌC SƠN

Định giá hủy diệt là việc các doanh nghiệp có quyền lực thị trường ấn định giá bán sản phẩm quá thấp…

1. Hành vi định giá hủy diệt

Định giá hủy diệt là việc các doanh nghiệp có quyền lực thị trường ấn định giá bán sản phẩm quá thấp trong một khoảng thời gian đủ dài nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh ra khỏi thị trường hoặc (và) ngăn cản không cho các đối thủ cạnh tranh mới gia nhập thị trường. Sau khi hoàn tất mục đích ngăn cản hoặc loại bỏ, doanh nghiệp sẽ tăng giá một cách đáng kể nhằm bù đắp lại các khoản lỗ và các khoản lợi nhuận đã bỏ qua bởi mức độ cạnh tranh trên thị trường đã bị giảm[1].

Lý thuyết định giá hủy diệt ra đời từ nhận thức về cạnh tranh trong lĩnh vực giá cả giữa các doanh nghiệp. Khi giá của một sản phẩm giảm xuống sẽ làm cho giá của sản phẩm cạnh tranh khác (nếu không thay đổi về giá) trở thành cao tương đối trước nhu cầu của khách hàng. Doanh nghiệp kinh doanh sản phẩm có mức giá thấp có được lợi thế cạnh tranh về giá nên các đối thủ còn lại bị đặt vào tình trạng hoặc phải chạy đua để giảm giá hoặc chấp nhận mất dần khách hàng với mức giá không đổi. Khi giá bán có thể gây lỗ cho đối thủ thì mức giá đó được suy đoán là có khả năng hủy diệt. Mức giá có khả năng hủy diệt đối thủ có thể là kết quả hoặc của quá trình cạnh tranh lành mạnh về giá, hoặc của hành vi định giá hủy diệt. Sẽ là cạnh tranh lành mạnh nếu các doanh nghiệp tối đa hóa lợi nhuận mà vẫn hạ giá bán hàng hóa bằng cách giảm chi phí sản xuất, kinh doanh. Trong trường hợp doanh nghiệp bán hàng hóa với giá thấp để đẩy giá thị trường xuống mức không thể có lãi trong một thời gian nhằm làm suy yếu hoặc loại bỏ đối thủ cạnh tranh[2], chiến lược kinh doanh đó bị coi là định giá hủy diệt. Việc xác định khả năng hủy diệt của hành vi tập trung vào:

Continue reading

MỘT GÓC NHÌN KHÁC VỀ ÁP DỤNG LUẬT CẠNH TRANH

LG. VŨ XUÂN TIỀN

Vụ kiện giữa Jetstar Pacific và Vinapco là vụ kiện đầu tiên được Hội đồng Cạnh tranh quốc gia đưa ra giải quyết về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường theo Luật Cạnh tranh. Trong khi phần lớn ý kiến cho rằng vụ kiện đã mở ra một tiền lệ cho việc giải quyết các tranh chấp về cạnh tranh và chống độc quyền, cũng có ý kiến đánh giá ngược lại. TBKTSG giới thiệu bài viết sau với một góc nhìn mới để bạn đọc tham khảo.

Luật Cạnh tranh đã được Quốc hội thông qua ngày 3-12-2004. Sau một thời gian không được ứng dụng trong thực tế, gần đây đã có một vài vụ việc tranh chấp giữa các doanh nghiệp được chuyển tới Hội đồng quản lý cạnh tranh giải quyết. Dù sao đó cũng là một dấu hiệu tốt, chứng tỏ cạnh tranh lành mạnh trên thương trường đã được các doanh nghiệp quan tâm.

Ở nước ta hiện nay, các doanh nghiệp đang ở vị trí độc quyền còn khá nhiều, điển hình là điện lực, nước sạch, kinh doanh xăng dầu, trong đó có xăng dầu hàng không. Và Công ty Xăng dầu hàng không Việt Nam (Vinapco) đã là doanh nghiệp đầu tiên bị phạt vì vi phạm Luật Cạnh tranh trong khi Vinapco thì cho rằng một số doanh nghiệp khách hàng đã lợi dụng sự thiếu chặt chẽ của các điều khoản liên quan đến quy định về các hành vi lạm dụng vị trí độc quyền bị cấm trong Luật Cạnh tranh để vi phạm thỏa thuận trong hợp đồng kinh tế giữa hai bên.

Chúng ta còn nhớ, cách đây không lâu, theo đơn kiện của hãng hàng không Jetstar Pacific, Vinapco bị Hội đồng Cạnh tranh quốc gia xử phạt hơn 3,3 tỉ đồng vì đã “lợi dụng vị trí độc quyền để đơn phương thay đổi hoặc hủy bỏ hợp đồng đã giao kết mà không có lý do chính đáng” theo khoản 3 điều 14 Luật Cạnh tranh.

Continue reading

HÃY SỬA NGAY LUẬT CẠNH TRANH VÌ LỢI ÍCH NGƯỜI TIÊU DÙNG

GS. TS. NGUYỄN VÂN NAM

Ta có sẵn lòng mua hộp sữa với giá cao ngất trời, trong khi có thể mua hộp sữa khác với chất lượng tốt không kém với giá rẻ hơn không? Tất nhiên là không. Khi người tiêu dùng (NTD) được hoàn toàn tự do lựa chọn, họ sẽ chọn mua loại sữa tốt nhất, giá rẻ nhất. Bảo vệ quyền được tự do quyết định tiêu dùng- TDQĐTD- (mua hay không mua hàng hóa chỉ căn cứ vào chất lượng và giá cả ) là một mục tiêu chính của Luật cạnh tranh (LCT). Cuộc cạnh tranh hiệu quả (CTHQ)- cạnh tranh không ngừng nâng cao chất lượng, đồng thời hạ giá thành sản phẩm- là cuộc cạnh tranh bảo vệ tốt nhất quyền đó và là cuộc cạnh tranh duy nhất được WTO ủng hộ. Nhưng, cuộc CTHQ và quyền TDQĐTD hầu như không được LCT của ta để ý đến. Đó mới là nguyên nhân thực sự của giá sữa cao hiện nay.

Điểm đặc biệt- một nghịch lý mang đặc trưng Việt nam- trong hiện tượng giá sữa cao là NTD vẫn chấp nhận giá cao, không chỉ cao hơn nhiều so với các nước, mà còn vượt xa thu nhập thực tế của họ. Cái gì khiến họ chấp nhận giá cả bất hợp lý như vậy? Điều gì khiến các công ty sữa quốc tế đổ xô vào Việt nam?

Đã là kinh tế thị trường thì Nhà nước (NN) không thể kiểm soát giá cả, trừ một số ngoại lệ. Các tác nhân hoạt động trên thị trường-trong đó có NTD – tự xác định giá cả trong cơ chế hoạt động CTHQ. CTHQ cũng là cạnh tranh lành mạnh nhằm bảo vệ quyền TDQĐTD. Bất kỳ hoạt động CT nào khiến NTD quyết định mua không theo chất lượng và giá cả mặt hàng, đều là cạnh tranh không lành mạnh (CTKLM).

Luật CT của ta chỉ cấm một vài hình thức hoạt động CT gây nhầm lẫn, hoàn toàn không cấm CT gây ngộ nhận (xác tín không đúng với sự thật). Trong khi gây ngộ nhận là một trong số các hoạt động CTKLM phổ biết nhất, thể hiện dưới rất nhiều hình thức. Các công ty kinh doanh sữa thường xuyên quảng cáo sản phẩm của họ có các vi chất tăng trí thông minh, sản xuất theo công thức đặc biệt làm tăng sức đề kháng của trẻ; sử dụng bác sĩ nhi khoa, chuyên gia dinh dưỡng nhận xét về sản phẩm v…v, khiến NTD tin (một cách ngộ nhận) rằng đó là sản phẩm tốt nhất, thích hợp nhất-thậm chí là duy nhất- cho bé yêu của họ. Vì tương lai con trẻ, họ sẵn sàng hạn chế những chi tiêu khác để có tiền mua bằng được sản phẩm tốt nhất ấy. Đó không phải tâm lý sính ngoại, mà là văn hóa tiêu dùng ngộ nhận.

Continue reading

NHẬN DẠNG CARTEL THEO LUẬT CẠNH TRANH CỦA CÁC NƯỚC PHÁT TRIỂN

TS. NGUYỄN HỮU HUYÊN – Bộ Tư pháp

Thuật ngữ "cartel" bắt nguồn gốc từ tiếng Đức ("Kartell"), có nội hàm dùng để chỉ hình thức hợp tác giữa các doanh nghiệp có vị trí độc lập với nhau (hợp tác theo chiều ngang) nhằm nâng cao sức mạnh của các bên trên thị trường. Cartel được sử dụng rộng rãi tại các nước Anh-Mỹ, tuy nhiên tại Pháp nó lại được thể hiện bằng thuật ngữ "entente", nhưng nội hàm hai khái niệm này không hoàn toàn đồng nhất với nhau, theo đó entente thể hiện mọi thoả thuận ý chí (minh thị hoặc mặc thị) và mọi dạng hành vi tập thể giữa các doanh nghiệp có tính chất làm mất đi tính độc lập trong hành vi của mỗi bên tương ứng trên thị trường.

Cartel hay entente bị coi là bất hợp pháp khi nó có mục đích nhằm ngăn cản, hạn chế hoặc làm sai lệch quy luật cạnh tranh bình thường trên thị trường.

Về mặt kinh thế, cartel là một tình trạng độc quyền do các doanh nghiệp đạt được bằng cách liên kết với nhau để kiểm soát thị trường. Loại hình liên kết cổ điển và cũng là phổ biến nhất chính là các bên cùng nhau ấn định giá và các yếu tố hình thành giá với mục đích ngăn cản sự gia nhập thị trường của các doanh nghiệp mới. Hậu quả tiêu cực nhất của liên kết này thể hiện ở chỗ người tiêu dùng không được hưởng lợi từ sự cạnh tranh lành mạnh về giá cả trên thị trường mà đáng lẽ ra họ phải được hưởng nếu có "cuộc chiến tranh" về giá diễn ra.

Không phải cartel nào cũng bị coi là bất hợp pháp. Thậm chí một số cartel còn được thiết chế hoá thành các tổ chức xuyên quốc gia như OPEP (tổ chức các nhà xuất khẩu dầu) hoặc De Beers (tổ chức các nhà xuất khẩu kim cương), theo đó việc thoả thuận ấn định giá được coi là một điều hoàn toàn bình thường và cần thiết. Khẩu hiệu mà các doanh nghiệp tham gia cartel thường sùng bái là "Đối thủ cạnh tranh là bạn của chúng ta; chỉ có khách hàng mới là kẻ thù của chúng ta"[1].

Continue reading

NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI DƯỚI GÓC ĐỘ CỦA PHÁP LUẬT CẠNH TRANH

NGUYỄN THANH TÚ – NCS, Khoa Luật, Đại học Lund, Thụy Điển

1. Giới thiệu chung

1.1. Nhượng quyền thương mại (NQTM) là hoạt động thương mại phát triển với tốc độ cao trên thế giới hiện nay, được sử dụng trong hơn 60 lĩnh vực kinh doanh khác nhau, từ kinh doanh thực phẩm, nhà hàng, khách sạn, dịch vụ thuê xe, giải trí đến các dịch vụ giáo dục, y tế, hỗ trợ doanh nghiệp[1]… NQTM đã xuất hiện ở Việt Nam từ đầu những năm 1990 và lần đầu tiên được đề cập trong hệ thống pháp luật Việt Nam qua khái niệm “cấp phép đặc quyền kinh doanh” tại Thông tư số 1254/1999/TT-BKHCNMT[2] của Bộ Khoa học Công nghệ và môi trường.

Dưới góc độ kinh doanh, NQTM là một hình thức tiếp thị và phân phối hàng hóa, dịch vụ rất hiệu quả, theo đó, bên nhận quyền (BNhQ) được cấp quyền kinh doanh một loại sản phẩm hoặc dịch vụ phù hợp với các tiêu chuẩn, hệ thống, phương thức đã được bên nhượng quyền (BNQ) thiết lập với sự trợ giúp, huấn luyện và kiểm soát của BNQ. Đổi lại, BNhQ phải trả phí nhượng quyền và phí bản quyền cho BNQ[3]. ở Mỹ, NQTM có thể diễn ra dưới 2 hình thức: (i) NQTM trọn gói hay NQTM cả một hình thức kinh doanh và (ii) NQTM sản phẩm. ở Châu Âu, trong án lệ Pronuptia, Tòa án Tư pháp Châu Âu (ECJ) đã phân biệt 3 hình thức NQTM, đó là NQTM dịch vụ, NQTM sản xuất, và NQTM phân phối[4].

1.2. NQTM giúp cho BNQ mở rộng hệ thống kinh doanh, sử dụng khả năng của các đối tác địa phương để phát triển thị trường mới mà không cần phải đầu tư vốn. Đối với BNhQ, NQTM giúp cho BNhQ sử dụng thương hiệu, kinh nghiệm đã được phát triển cũng như sự trợ giúp, huấn luyện từ BNQ, nhưng vẫn đảm bảo cho BNhQ có quyền sở hữu và tính tự chủ tương đối theo quy định của hợp đồng NQTM. Do đó, NQTM được coi là phương tiện hữu hiệu để đi đến thành công của các doanh nghiệp nhỏ (với tư cách là BNhQ).

Continue reading

Pháp luật cạnh tranh trong WTO VÀ KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

NGUYỄN THANH TÚ

Trong xu thế tự do hoá thương mại và toàn cầu hoá, các hàng rào thuế quan và phi thuế quan do chính phủ dựng lên đã và đang bị tháo bỏ. Nhưng các doanh nghiệp, thông qua các hành vi hạn chế cạnh tranh của mình, vẫn có thể thiết lập những hàng rào ngăn cản thương mại quốc tế (hàng rào tư), dù có hay không có sự hỗ trợ của chính phủ. Các hành vi hạn chế cạnh tranh như vậy của doanh nghiệp có thể khiến cho những lợi ích của việc tự do hóa thương mại, mở của thị trường trong khuôn khổ của Tổ chức Thương mại thể giới (WTO) bị ảnh hưởng[1]. Do đó, các quy định về tự do hóa thương mại cần phải đi liền với các quy định về bảo vệ cạnh tranh công bằng.

1. Đặt vấn đề

Trong xu thế tự do hoá thương mại và toàn cầu hoá, các hàng rào thuế quan và phi thuế quan do chính phủ dựng lên đã và đang bị tháo bỏ. Nhưng các doanh nghiệp, thông qua các hành vi hạn chế cạnh tranh của mình, vẫn có thể thiết lập những hàng rào ngăn cản thương mại quốc tế (hàng rào tư), dù có hay không có sự hỗ trợ của chính phủ. Các hành vi hạn chế cạnh tranh như vậy của doanh nghiệp có thể khiến cho những lợi ích của việc tự do hóa thương mại, mở của thị trường trong khuôn khổ của Tổ chức Thương mại thể giới (WTO) bị ảnh hưởng[1]. Do đó, các quy định về tự do hóa thươngmại cần phải đi liền với các quy định về bảo vệ cạnh tranh công bằng.

Các quy định về tự do hóa thương mại của WTO, được xây dựng trên nền tảng các nguyên tắc không phân biệt đối xử, tối huệ quốc, đãi ngộ quốc gia và minh bạch, nhằm giảm bớt và loại trừ các hàng rào của chính phủ đối với thương mại quốc tế. Trong khi đó, các quy định về cạnh tranh công bằng điều chỉnh điều kiện cạnh tranh và hành vi của các doanh nghiệp trong một quốc gia (haytrong một khu vực) nhằm loại trừ những hàng rào tư gây tổn hại đến quá trình tự do hoá thương mại. Hai nhóm quy định này bổ sung cho nhau nhằm đạt đến mục tiêu chung là đem lại lợi ích và thịnh vượng chung cho các chủ thể tham gia quan hệ kinh tế quốc tế.

Continue reading

PHÁP LUẬT CẠNH TRANH TRONG WTO VÀ KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

NGUYỄN THANH TÚ

Trong xu thế tự do hoá thương mại và toàn cầu hoá, các hàng rào thuế quan và phi thuế quan do chính phủ dựng lên đã và đang bị tháo bỏ. Nhưng các doanh nghiệp, thông qua các hành vi hạn chế cạnh tranh của mình, vẫn có thể thiết lập những hàng rào ngăn cản thương mại quốc tế (hàng rào tư), dù có hay không có sự hỗ trợ của chính phủ. Các hành vi hạn chế cạnh tranh như vậy của doanh nghiệp có thể khiến cho những lợi ích của việc tự do hóa thương mại, mở của thị trường trong khuôn khổ của Tổ chức Thương mại thể giới (WTO) bị ảnh hưởng[1]. Do đó, các quy định về tự do hóa thương mại cần phải đi liền với các quy định về bảo vệ cạnh tranh công bằng.

1. Đặt vấn đề

Trong xu thế tự do hoá thương mại và toàn cầu hoá, các hàng rào thuế quan và phi thuế quan do chính phủ dựng lên đã và đang bị tháo bỏ. Nhưng các doanh nghiệp, thông qua các hành vi hạn chế cạnh tranh của mình, vẫn có thể thiết lập những hàng rào ngăn cản thương mại quốc tế (hàng rào tư), dù có hay không có sự hỗ trợ của chính phủ. Các hành vi hạn chế cạnh tranh như vậy của doanh nghiệp có thể khiến cho những lợi ích của việc tự do hóa thương mại, mở của thị trường trong khuôn khổ của Tổ chức Thương mại thể giới (WTO) bị ảnh hưởng[1]. Do đó, các quy định về tự do hóa thươngmại cần phải đi liền với các quy định về bảo vệ cạnh tranh công bằng.

Các quy định về tự do hóa thương mại của WTO, được xây dựng trên nền tảng các nguyên tắc không phân biệt đối xử, tối huệ quốc, đãi ngộ quốc gia và minh bạch, nhằm giảm bớt và loại trừ các hàng rào của chính phủ đối với thương mại quốc tế. Trong khi đó, các quy định về cạnh tranh công bằng điều chỉnh điều kiện cạnh tranh và hành vi của các doanh nghiệp trong một quốc gia (haytrong một khu vực) nhằm loại trừ những hàng rào tư gây tổn hại đến quá trình tự do hoá thương mại. Hai nhóm quy định này bổ sung cho nhau nhằm đạt đến mục tiêu chung là đem lại lợi ích và thịnh vượng chung cho các chủ thể tham gia quan hệ kinh tế quốc tế.

Continue reading

ĐỘC QUYỀN QUỐC DOANH: CẦN MỘT ĐẠO LUẬT

NGUYÊN TẤN (Lược ghi)

“Việc tăng giá trong những lĩnh vực nhà nước độc quyền như xăng, điện… nhằm đảm bảo cho hoạt động kinh doanh không bị thua lỗ, bình thường đã khó chấp nhận, lại càng trái ngược với tính chất, mục tiêu của một công ty độc quyền nhà nước”- GS.TS. Nguyễn Vân Nam(*) đã nói như vậy khi đề xuất nên có một đạo luật quy định rõ ràng về loại hình doanh nghiệp đặc biệt này.

Sau thế chiến thứ hai và cho đến hiện nay, tại nhiều quốc gia phát triển bên cạnh khu vực kinh tế chủ yếu là tư nhân vẫn tồn tại hình thức công ty độc quyền nhà nước. Tuy nhiên, so với những doanh nghiệp bình thường thì việc hình thành và địa vị pháp lý của các công ty này có sự khác nhau rất cơ bản.Mục tiêu của doanh nghiệp bao giờ cũng vậy, là hướng đến lợi nhuận.

Nếu không vì mục tiêu này thì doanh nghiệp không có lý do gì để tồn tại và phát triển. Thế nhưng, với các công ty độc quyền được nhà nước lập nên, mục tiêu cơ bản là nhằm hoàn thành nhiệm vụ công ích thay mặt cho nhà nước.

Nói cụ thể hơn, là bảo đảm cung cấp các dịch vụ, hàng hóa thiết yếu để duy trì mức sống ổn định tối thiểu của người dân và hoạt động bình thường của toàn xã hội. Đây chính là điểm khác biệt cơ bản giữa một công ty độc quyền nhà nước với một doanh nghiệp bình thường. Câu hỏi đặt ra là vậy thì tại sao và cơ sở pháp lý nào cho phép nhà nước độc quyền làm chuyện đó?

Continue reading

THƯƠNG HIỆU HÀNG HÓA VỚI QUYỀN CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG XU THẾ TOÀN CẦU HÓA KINH TẾ

TRẦN THỊ HỒNG HẠNH – Viện Nghiên cứu Quyền con người, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

I. BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG VIỆT NAM TRONG XU THẾ TOÀN CẦU HÓA

1. Nhận thức của người tiêu dùng Việt Nam về nhãn hiệu, nguồn gốc, xuất xứ hàng hoá

Theo Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của Việt Nam năm 1999,"Người tiêu dùng là người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích sinh hoạt của cá nhân, gia đình và tổ chức". Sau 20 năm tiến hành công cuộc đổi mới, chuyển từ nền kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường với nhiều thành phần kinh tế, sản xuất hàng hoá và dịch vụ không ngừng tăng trưởng đã làm thay đổi diện mạo người tiêu dùng Việt Nam. Trình độ hiểu biết của người tiêu dùng về sản phẩm ngày càng được nâng cao hơn, thị hiếu trở nên đa dạng nhưng cũng dễ dàng được đáp ứng hơn.

Tuy nhiên, người tiêu dùng Việt Nam vẫn còn dễ dãi trong việc mua, sử dụng hàng hoá, dịch vụ, có thể là do tâm lý đơn giản trong việc sử dụng, hoặc cũng có thể do sự chênh lệch giá cả sản phẩm và túi tiền của họ. Người ta cho rằng, chỉ những người nhiều tiền mới có thể sử dụng "hàng hiệu", còn với họ chỉ thế đã là đạt yêu cầu. Nhưng thực tế, người tiêu dùng đã phải bỏ ra một số tiền lớn hơn để nhận lấy một sản phẩm có thể là hàng giả, hàng nhái hay hàng kém chất lượng mà lẽ ra họ phải được sử dụng một sản phẩm đúng như họ yêu cầu.

Continue reading

BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG VIỆT NAM HIỆN NAY – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

PHẠM PHƯƠNG ĐÔNG

Trong hai mươi năm đổi mới, mở cửa, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hội, mức sống của người dân cải thiện rõ rệt, theo đó, việc đảm bảo quyền lợi của người tiêu dùng cũng được nâng lên một bước. Trong lĩnh vực này, Nhà nước ta đã có những điều chỉnh kịp thời trong các lĩnh vực lập pháp, hành pháp, tư pháp nhằm thiết lập các cơ chế giám sát xã hội khác nhau từ cấp trung ương xuống địa phương để bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng Việt Nam.

1. Những thành tựu đạt được

– Bổ sung hoàn chỉnh luật pháp bảo vệ người tiêu dùng và quyền lợi người tiêu dùng

Cũng như nhiều nước trên thế giới, luật pháp Việt Nam là một trong những công cụ, phương tiện chủ yếu bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng. Từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (tháng 12-1986) đến nay, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp quy liên quan đến việc bảo vệ người tiêu dùng, đặc biệt “Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng” đã được ban hành (số 13/1999/PL-UBTVQH10, ngày 27-4-1999). Ngoài ra, liên quan đến chất lượng sản phẩm, Nhà nước quản lý bằng “Pháp lệnh chất lượng hàng hoá” (số 18/1999/PL-UBTVQH10). Các cơ quan quản lý nhà nước và bảo vệ pháp luật như Bộ Thương mại, Bộ Công an, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài chính đã phối hợp ra Thông tư liên tịch số 10/2000/TTLT, ngày 27-04-2000 nhằm chống lại các hoạt động làm, buôn bán, vận chuyển, tiêu thụ hàng giả, góp phần quan trọng bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng nước ta. Với sự ra đời của Luật Doanh nghiệp, môi trường cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trở nên bình đẳng hơn.

Continue reading

BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG, NHÌN TỪ GÓC ĐỘ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

TS. ĐINH THỊ MỸ LOAN – Cục trưởng Cục Quản lý cạnh tranh, Bộ Công thương

Vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng gần đây được đề cập khá nhiều và được coi là một trong những vấn đề quan trọng và nóng bỏng trên con đường hội nhập kinh tế quốc tế và phát triển bền vững của đất nước ta.

Tuy nhiên, cũng phải thẳng thắn thừa nhận rằng, cho đến những ngày trước “đổi mới”, hầu như quyền lợi của người tiêu dùng nói chung và bộ máy bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng nói riêng chưa được chú ý một cách thích đáng, kể cả từ góc độ người sản xuất, kinh doanh hàng hoá và cung ứng dịch vụ lẫn nhận thức của toàn xã hội. Điều này có nguyên nhân sâu xa từ những năm tháng chiến tranh khốc liệt, chúng ta phải tập trung cho sự nghiệp giành độc lập và bảo vệ Tổ quốc cũng như giai đoạn phục hồi sau đó, mọi nhu cầu tiêu dùng đều ở mức tối thiểu. Chính vì vậy, vấn đề bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng chưa được chú trọng trong thời kỳ này phần nào do những nguyên nhân khách quan nhất định.

Bước vào thời kỳ đổi mới, nước ta đã chuyển mạnh từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa. Cũng từ đây, quan hệ mua bán, giao dịch giữa một bên là nhà sản xuất, kinh doanh hàng hoá và dịch vụ với một bên là người bỏ tiền ra mua hàng hoá và dịch vụ để phục vụ cho sinh hoạt, tiêu dùng của cá nhân, gia đình và tổ chức (được gọi chung là người tiêu dùng) đã được xác lập với vai trò ngày càng được nâng cao của người tiêu dùng.

Continue reading