THÔNG TIN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT CẠNH TRANH

THÔNG TIN VỀ TÁC GIẢ CHƯA CẬP NHẬT

1. Khái quát cạnh tranh và pháp luật cạnh tranh

1.1. Khái quát về cạnh tranh

a) Khái niệm cạnh tranh

Cạnh tranh có thể được xem xét từ nhiều góc độ khác nhau. Từ góc độ kinh tế – pháp lý, cạnh tranh được hiểu là sự chạy đua (ganh đua) giữa các thành viên cùng một thị trường nhằm mục đích lôi kéo khách hàng, gia tăng thị phần của một thị trường hàng hóa, dịch vụ cụ thể.

– Cạnh tranh với tính chất là động lực nội tại thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế chỉ tồn tại trong điều kiện kinh tế thị trường. Cạnh tranh không những là môi trường và động lực thúc đẩy hoạt động kinh doanh phát triển, tăng năng suất lao động, tăng hiệu quả của các doanh nghiệp, mà còn là yếu tố quan trọng làm lành mạnh hoá các quan hệ kinh tế – xã hội.

b) Nhận dạng cạnh tranh

– Căn cứ vào tính chất và mức độ can thiệp của công quyền vào hoạt động kinh doanh, thị trường được chia thành hai hình thái: Cạnh tranh tự do và cạnh tranh có sự điều tiết.

– Căn cứ vào cơ cấu thành viên thị trường và mức độ tập trung trong một lĩnh vực kinh doanh, thị trường được phân chia thành các hình thái: Cạnh tranh hoàn hảo và cạnh tranh không hoàn hảo (mức độ cao nhất là độc quyền).

– Căn cứ vào mục đích, tính chất của các phương thức cạnh tranh, các hành vi cạnh tranh trên các hình thái, thị trường được phân chia thành: Cạnh tranh lành mạnh và cạnh tranh không lành mạnh.

Continue reading

NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

NGUYỄN THANH PHONG

1. Đánh giá năng lực cạnh tranh?

Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện các cam kết quốc tế VN từng bước mở cửa dịch vụ ngân hàng, nhằm hướng đến xây dựng hệ thống ngân hàng cạnh tranh bình đẳng trên bình diện quốc tế theo khuôn khổ pháp lý phù hợp và thống nhất. Hơn bao giờ hết sự cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng ngày càng trở nên gay gắt, thách thức đối với các NHTMVN càng gia tăng khi Chính phủ VN tháo dỡ rào cản đối với các ngân hàng thương mại nước ngoài (NHTMNNg) và tiến đến xóa bỏ những bảo hộ của Nhà nước đối với ngân hàng trong nước. Vì vậy đánh giá chính xác năng lực và vị thế cạnh tranh của NHTMVN trong điều kiện hiện nay là yêu cầu cần thiết. 

  “Năng lực cạnh tranh của NHTM là khả năng mà do chính ngân hàng tạo ra trên cơ sở duy trì và phát triển những lợi thế vốn có, nhằm cũng cố và mở rộng thị phần; gia tăng lợi nhuận và có khả năng chống đỡ và vượt qua những biến động bất lợi của môi trường kinh doanh”. Năng lực cạnh tranh của NHTM được đánh giá qua các yếu tố: năng lực tài chính; năng lực công nghệ; nguồn nhân lực; năng lực quản trị điều hành; mạng lưới hoạt động; mức độ đa dạng hóa sản phẩm kinh doanh; …trong đó, năng lực tài chính và năng lực công nghệ được xem là những yếu tố quan trọng hàng đầu quyết định  năng lực cạnh tranh của NHTM.

2. Thực trạng năng lực cạnh tranh

Với những nỗ lực trong thời gian qua năng lực cạnh tranh của NHTMVN đã có bước cải thiện đáng kể nhưng vẫn chưa đủ mạnh để cạnh tranh bình đẳng với các NHNNg, cụ thể:

– Quy mô vốn chủ sở hữu:

Quy mô vốn chủ sở hữu của NHTMVN hiện nay còn rất thấp. NHTMNN là nhóm ngân hàng có quy mô vốn tương đối cao trong toàn hệ thống nhưng vẫn còn ở mức khiêm tốn gần 80 triệu USD, thể hiện qua bảng số liệu sau:

Continue reading

NHỮNG THAY ĐỔI TRONG PHÁP LUẬT CẠNH TRANH VÀ BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG NHẬT BẢN VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

TS. PHẠM TRÍ HÙNG – Đại học Luật TPHCM

Theo Sắc lệnh ngày 29/5/2009 thông qua việc thành lập Cục Quan hệ Người tiêu dùng (Consumer Affairs Agency – CAA) trực thuộc Văn phòng Nội các (Cabinet Office), ngày 1/9/2009 CAA chính thức đi vào hoạt động với hơn 200 nhân viên để xử lý các vụ việc có liên quan đến người tiêu dùng . Trước đây, tổ chức bảo vệ người tiêu dùng là một trong những chức năng của Ủy ban Thương mại lành mạnh Nhật Bản (JFTC).

Việc tách riêng cơ quan bảo vệ người tiêu dùng cùng khung khổ pháp lý mới liên quan đến chính sách bảo vệ người tiêu dùng cũng gắn với việc thay đổi đáng kể pháp luật về các hành vi thương mại không lành mạnh Nhật Bản với những thay đổi trong Đạo luật số 54 năm 1957 về chống độc quyền tư nhân và duy trì thương mại lành mạnh có hiệu lực từ ngày 4/1/2010. Theo đó, việc xử lý các hành vi thương mại không lành mạnh chủ yếu gây hậu quả đến người tiêu dùng sẽ được chuyển sang thuộc thẩm quyền của CAA .

Nhật Bản là một trong những nước đi đầu trong việc ban hành Luật và Chính sách cạnh tranh ở châu Á, những kinh nghiệm của Nhật Bản trong lĩnh vực này có thể sẽ rất bổ ích cho Việt Nam. Thứ nhất, liên quan tới việc trong năm 2010Việt Nam thông qua Luật Bảo vệ người tiêu dùng, theo hình mẫu Nhật Bản có thể nghĩ đến việc thành lập Cục Bảo vệ Người tiêu dùng như một cơ quan độc lập chứ không phải có một Ban Bảo vệ người tiêu dùng thuộc Cục Quản lý cạnh tranh như hiện nay.

Thứ hai, cần có biện pháp để áp dụng cơ chế đòi bồi thường thiệt hại đối với các hành vi cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam. Các vụ việc cạnh tranh không lành mạnh ở Nhật Bản chủ yếu được xử lý thông qua cơ chế đưa ra Toà án đòi bồi thường thiệt hại. Qua hơn 4 năm chính thức có hiệu lực, Luật Cạnh tranh năm 2004 mới được áp dụng để xử lý hơn 20 vụ việc về hành vi cạnh tranh không lành mạnh và hành vi hạn chế cạnh tranh của doanh nghiệp.

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH

TS. PHẠM VĂN LỢI & THS. NGUYỄN VĂN CƯƠNG

1. Quan niệm khác nhau về hành vi cạnh tranh không lành mạnh

Hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về hành vi cạnh tranh không lành mạnh.

Hiểu theo nghĩa rộng, hành vi cạnh tranh không lành mạnh bao gồm tất cả hành vi xâm hại tới hoạt động cạnh tranh trên thị trường, xâm hại tới quyền tự do cạnh tranh công bằng của các doanh nghiệp. Theo cách quan niệm này, các hành vi hạn chế cạnh tranh (nhất là các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh và lạm dụng vị trí thống lĩnh) cũng thuộc vào phạm trù “cạnh tranh không lành mạnh”[3].

Theo quy định về “cạnh tranh không lành mạnh” của Công ước Paris về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp[4] (Điều 10bis – được bổ sung vào Công ước từ năm 1900) thì bất cứ hành vi nào không trung thực trong hoạt động thương mại và công nghiệp đều bị coi là hành vi cạnh tranh không lành mạnh.

Luật Cạnh tranh của Việt Nam quan niệm hành vi cạnh tranh không lành mạnh bao gồm các “hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng” (Điều 3 Khoản 4). Tiếp theo đó, Điều 39 Luật Cạnh tranh Việt Nam quy định rõ một số loại hành vi được coi là hành vi cạnh tranh không lành mạnh như chỉ dẫn gây nhầm lẫn, xâm phạm bí mật kinh doanh, ép buộc trong kinh doanh, gièm pha doanh nghiệp khác, gây rối hoạt động của doanh nghiệp khác, quảng cáo và khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh, phân biệt đối xử của hiệp hội, bán hàng đa cấp bất chính và các hành vi cạnh tranh không lành mạnh khác do Chính phủ quy định thỏa mãn các tiêu chí quy định tại Khoản 4 Điều 3 Luật Cạnh tranh.

Continue reading

HÀNH VI CHỈ DẪN GÂY NHẦM LẪN: ĐIỀUCHỈNH THEO PHÁP LUẬT CẠNH TRANH HIỆN HÀNH

THS. LÊ ANH TUẤN – Văn phòng Quốc hội

Theo pháp luật Việt Nam, hành vi chỉ dẫn gây nhầm lẫn (CDGNL) về tên thương mại, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, bao bì, chỉ dẫn địa lý… làm sai lệch nhận thức của khách hàng về hàng hoá, dịch vụ lần đầu tiên được điều chỉnh bởi Nghị định 54/2000/NĐ-CP[1] và đã được pháp điển hoá trong Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (Luật SHTT 2005). Hiện nay, điều chỉnh pháp luật đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh (CTKLM) dưới dạng CDGNL được quy định tại Luật Cạnh tranh năm 2004, (Luật CT 2004) và Luật SHTT 2005.

1. Điều chỉnh hành vi CDGNL theo pháp luật hiện hành

1.1. Điều chỉnh theo Luật CT 2004

Theo Điều 40 Luật CT 2004: “Cấm doanh nghiệp sử dụng chỉ dẫn chứa đựng thông tin gây nhầm lẫn về tên thương mại, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, bao bì, chỉ dẫn địa lý và các yếu tố khác theo quy định của Chính phủ để làm sai lệch nhận thức của khách hàng về hàng hoá, dịch vụ nhằm mục đích cạnh tranh; cấm kinh doanh hàng hoá, dịch vụ có sử dụng CDGNL này”. Quy định này có một số đặc điểm sau:

Thứ nhất: Chủ thể thực hiện hành vi phải là "doanh nghiệp". Tuy nhiên, không đồng nghĩa hoàn toàn với khái niệm "doanh nghiệp" được quy định trong Luật Doanh nghiệp năm 2005 (Luật DN 2005), doanh nghiệp, hiểu theo nghĩa của Luật CT 2004, rộng hơn so với Luật DN 2005. Theo đó, doanh nghiệp trong Luật CT 2004 không chỉ bao gồm các tổ chức kinh doanh như quy định của Luật DN 2005, mà còn bao gồm cả cá nhân kinh doanh, trong đó gồm cá nhân có đăng ký kinh doanh và cá nhân không có đăng ký kinh doanh[2].

Thứ hai: Phương thức thực hiện hành vi là xâm hại đến tên thương mại, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, bao bì, chỉ dẫn địa lý… có trên sản phẩm hàng hoá, dịch vụ của đối thủ cạnh tranh.

Continue reading

KIỂM SOÁT TẬP TRUNG KINH TẾ THEO PHÁP LUẬT CẠNH TRANH VÀ VẤN ĐỀ CỦA VIỆT NAM

THS. NGUYỄN NGỌC SƠN – Trường ĐH Luật TP. Hồ Chí Minh

Dưới sức ép của cạnh tranh, nhà kinh doanh luôn tìm cách nâng cao năng lực kinh doanh để có thể tồn tại và phát triển. Với nhu cầu tìm kiếm một năng lực kinh doanh mới, các nhà kinh doanh đã biết tập trung các nguồn lực kinh tế ngay từ thời kỳ phôi thai của thị trường. Ngày nay, hình thức tập trung nguồn lực kinh doanh đã diễn ra khá phổ biến với những mức độ khác nhau và trở thành một phần quan trọng của quyền tự do kinh doanh. Cùng với đó là những luận cứ kiểm soát tập trung kinh tế được xác định nhằm giới hạn việc điều tiết của nhà nước vào hiện tượng kinh tế này.

1. Bản chất của tập trung kinh tế

Trong kinh tế học và trong khoa học pháp lý, khái niệm tập trung kinh tế (TTKT) ở Việt Nam được bình luận ở nhiều góc độ khác nhau. Trong đó, có ba cách tiếp cận cơ bản:

Một là, với tư cách là quá trình gắn liền với việc hình thành và thay đổi của cấu trúc thị trường, TTKT trên thị trường được hiểu là quá trình mà số lượng các doanh nghiệp độc lập cạnh tranh trên thị trường bị giảm đi thông qua các hành vi sáp nhập (theo nghĩa rộng) hoặc thông qua tăng trưởng nội sinh của doanh nghiệp trên cơ sở mở rộng năng lực sản xuất[1]. Cách nhìn nhận này đã làm rõ nguyên nhân và hậu quả của TTKT đối với cấu trúc thị trường cạnh tranh. Tuy nhiên, dường như quan điểm trên đã coi hiện tượng tích tụ tư bản là một phần của khái niệm TTKT. Hai là, với tư cách là hành vi của các doanh nghiệp, TTKT (còn gọi là tập trung tư bản) được hiểu là tăng thêm tư bản do hợp nhất nhiều tư bản[2] lại hoặc một tư bản này thu hút một tư bản khác[3]. Khái niệm này đã không đưa ra các biểu hiện cụ thể của TTKT, nhưng lại cho thấy bản chất và phương thức của hiện tượng. Ba là, dưới góc độ pháp luật, Luật cạnh tranh năm 2004 không quy định thế nào là TTKT mà chỉ liệt kê các hành vi được coi là TTKT. Theo đó, Điều 3 khoản 3 khẳng định TTKT là hành vi hạn chế cạnh tranh; Điều 16 quy định TTKT là hành vi của doanh nghiệp bao gồm: (i) sáp nhập doanh nghiệp; (ii) hợp nhất doanh nghiệp; (iii) mua lại doanh nghiệp; (iv) liên doanh giữa các doanh nghiệp; (v) các hành vi tập trung khác theo quy định của pháp luật. Sự liệt kê này đã làm rõ các hình thức TTKT mà quan điểm thứ hai chưa làm rõ.

Continue reading

MỘT SỐ BÌNH LUẬN TỪ THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC VỀ HÀNH VI HẠN CHẾ CẠNH TRANH

THS. NGUYỄN NGỌC SƠN – Khoa Kinh tế, Đại học quốc gia TP. Hồ Chí Minh

Sau hơn bốn năm có hiệu lực, gần đây Luật Cạnh tranh đã được áp dụng để xử lý vụ việc về hành vi hạn chế cạnh tranh của các doanh nghiệp. Quyết định xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh đầu tiên đã có những tác động đáng kể đến môi trường cạnh tranh tại Việt Nam, đến ý thức pháp luật của các doanh nghiệp và góp phần khẳng định giá trị của pháp luật cạnh tranh đối với quản lý kinh tế. Trong quá trình giải quyết vụ việc đã phát sinh nhiều vấn đề về tình hình cạnh tranh trên thị trường Việt Nam, trong đó có quan niệm của doanh nghiệp Việt Nam (đặc biệt là các doanh nghiệp độc quyền) về vai trò của pháp luật cạnh tranh.

1. Nội dung và một số vấn đề đặt ra cho việc giải quyết vụ việc

Vụ việc xảy ra trong quá trình thực hiện hợp đồng mua bán nhiên liệu hàng không giữa doanh nghiệp độc quyền nhà nước là Công ty Xăng dầu hàng không Việt Nam (Vinapco) và Công ty cổ phần hàng không Pacific Airlines (PA) – nay là JPA. Theo Hợp đồng mua bán nhiên liệu hàng không JET A-1 số 34/PA2008 ngày 31/12/2007 giữa Vinapco và PA, hai bên thỏa thuận mức phí cung ứng nhiên liệu là 593.000 đồng/tấn tại thời điểm ký kết; khi có sự thay đổi về mức phí cung ứng, Vinapco có trách nhiệm thông báo cho PA bằng văn bản qua đường fax; mọi sửa đổi, bổ sung Hợp đồng đều phải được hai bên thỏa thuận bằng văn bản có chữ ký của người có thẩm quyền; khi có tranh chấp, các bên phải giải quyết thông qua thương lượng, trường hợp thương lượng không thành sẽ đưa ra giải quyết tại Tòa Kinh tế thuộc Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội; lý do duy nhất để Vinapco có thể ngừng thực hiện Hợp đồng đã giao kết là khi PA chậm thanh toán quá 3 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được bảng kê của Vinapco.

Đầu tháng 3/2008, do ảnh hưởng bởi biến động giá xăng dầu thế giới nên Vinapco đã có Công văn số 446/XDHK-KDXNK mời đại diện của PA đến họp để xác định lại mức phí cung ứng mới. Việc thương lượng diễn ra bằng các cuộc họp và công văn trao đổi qua lại giữa Vinapco và PA. Tuy nhiên, cả hai bên đều chưa có được sự đồng thuận về mức phí mới. Trong quá trình thương lượng, Vinapco đã có Công văn số 512/XDHK-VPĐN gửi PA ngày 20/3/2008 thông báo: (1) Từ 01/4/2008, mức phí cung ứng nhiên liệu bay sẽ là 750.000 đồng/tấn; (2) Từ 01/7/2008, hai bên sẽ căn cứ vào giá nhiên liệu thế giới để điều chỉnh mức phí cung ứng cho phù hợp. Trong các cuộc họp và các văn bản gửi Vinapco, PA bày tỏ quan điểm thừa nhận việc tăng phí cung ứng khi chi phí thị trường tăng là hợp lý, nhưng yêu cầu phí cung ứng phải bình đẳng giữa các hãng hàng không nội địa, cụ thể là giữa PA và Tổng công ty hàng không Việt Nam (VNA), đồng thời đề nghị Vinapco và PA cùng kiến nghị Chính phủ và các bộ liên quan xem xét, quyết định.

Continue reading

NGUYÊN TẮC TỶ LỆ TRONG LUẬT THƯƠNG MẠI VÀ LUẬT CẠNH TRANH – KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG VÀO VIỆT NAM

TS. NGUYỄN HỮU HUYÊN – Bộ Tư pháp

Cách đây hơn 2000 năm, nhà Triết học Hy Lạp nổi tiếng thế giới Aristote đã có một câu bất hủ "Con người – nếu tách khỏi pháp luật sẽ trở thành loài động vật dã man nhất; nếu gắn với pháp luật sẽ trở thành loại động vật văn minh nhất". Tác giả xin phép bổ sung: mục đích của pháp luật – xét cho cùng, không phải là làm cho con người trở thành dã man mà chính là làm cho con người trở thành văn minh.

Nguyên tắc tỷ lệ được hiểu là việc "đi tìm sự kết hợp giữa phương tiện và mục đích đạt được"[1]. Theo quan điểm đã được thừa nhận rộng rãi tại Hoa Kỳ và các nước EU, trong nhà nước pháp quyền, cơ quan nhà nước chỉ áp dụng các biện pháp thật sự cần thiết để duy trì và tái lập trật tự công cộng. Nhà nước không nên và không cần làm quá những gì cần thiết để đạt được mục đích của mình, đặc biệt là trong quá trình ra quyết định. Ví dụ thực tiễn ở EU: trong chừng mực có thể, về mặt hình thức, Uỷ ban Châu Âu luôn ưu tiên chọn các phương pháp hành động ít mang tính ràng buộc nhất đối với các nước thành viên, ví dụ như ban hành các Chỉ thị (directive) nhiều hơn là Nghị định (règlement), vì Chỉ thị ít mang tính ràng buộc hơn Nghị định (vốn được áp dụng trực tiếp, không cần nội luật hóa). Về mặt nội dung, EU xác định tránh ban hành những quy phạm quá chi tiết, nên dành một khoảng không gian để cho các cơ quan thực thi pháp luật vận dụng sáng tạo pháp luật phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn cụ thể.

Có 3 nguyên tắc chi phối nguyên tắc tỷ lệ.

Một là quy phạm khả năng (rules of capability): hiểu một cách đơn giản thì quy phạm khả năng dùng để chỉ một biện pháp bất kỳ do nhà nước tiến hành phải có khả năng thực tế đạt được mục đích mong muốn. Muốn vậy, trước khi ra quyết định, nhà nước cần có đánh giá mang tính dự báo về những hệ quả có thể phát sinh theo hướng tích cực hay tiêu cực. Ngoài những hệ quả có thể dự báo được, cũng cần phải đánh giá cả những hệ quả khách quan khác không nhìn thấy trước được (đánh giá rủi ro), để từ đó có cơ sở cân nhắc kỹ trước khi ra quyết định.

Continue reading

PHÂN TÍCH CÁC KHÍA CẠNH PHÁP LÝ CỦA LUẬT BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG Ở ẤN ĐỘ

QUYẾT THẮNG (Tổng hợp)

Ở Ấn Độ, Luật bảo vệ người tiêu dùng được thực thi vào năm 1986 nhằm hệ thống hóa các thủ tục pháp lý và luật pháp liên quan đến người tiêu dùng và được xem như là một trong những thành tựu nổi bật trong quá trình hệ thống hóa của Ấn Độ. Mục tiêu của Luật này là bảo vệ tốt hơn các quyền lợi của người tiêu dùng – bảo vệ người tiêu dùng khỏi các hành vi gây thiệt hại như hàng hóa và dịch vụ khuyết tật, các hành vi thương mại không lành mạnh cũng như các dịch vụ lừa dối hoặc không chính đáng.

Luật này cũng tạo cơ sở pháp lý cho các Ủy ban Bảo vệ người tiêu dùng (những cơ quan có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự cần thiết phải bảo vệ người tiêu dùng và đem lại 6 quyền lợi cho người tiêu dùng: quyền được an toàn, quyền được thông báo, quyền được lựa chọn, quyền được lắng nghe, quyền được bồi thường, và quyền được giáo dục về tiêu dùng.

Luật này cung cấp một cơ chế giải quyết tranh chấp 3 cấp. Người tiêu dùng có thể gửi khiếu nại lên các “Tòa án Người tiêu dùng có cơ chế đặc biệt (còn gọi là Tòa án người tiêu dùng). Cơ chế của Tòa án này như sau: Tòa án quận, các hội đồng bang, hội đồng quốc gia giải quyết tranh chấp người tiêu dùng. Những cơ quan này có thẩm quyền tương tự như các tòa án dân sự theo Luật tố tụng dân sự, 1908. Tùy thuộc vào bản chất từng vụ việc, khiếu nại có thể được gửi đến bất kỳ cơ quan nào trong ba cơ quan trên. Các thủ tục trong những vụ kiện này đơn giản hơn rất nhiều so với các thủ tục tòa án thông thường. Tuy nhiên, bên khiếu nại có thể tự mình đưa vụ việc này ra tòa mà không cần phải có luật sư. Luật này cũng cho phép khiếu nại tập thể.

Sau khi phán quyết được đưa ra, nếu có bất kỳ bên nào không thỏa mãn thì sẽ mở phiên phúc thẩm. Phán quyết của Tòa án Quận sẽ do Hội đồng bang xét xử phúc thẩm, còn phán quyết của Hội đồng Bang sẽ do Hội đồng Quốc gia xét xử phúc thẩm.

Continue reading

HỌC GÌ QUA CÂU CHUYÊN CỦA DUTCH LADY VÀ BIG C?

TRẦN THANH TÙNG – Công ty luật Phước & Partners  

Vụ Dutch Lady từ chối giao hàng cho siêu thị Big C để phục vụ chương trình khuyến mãi “Giá rẻ chưa từng thấy” tạo ra một tranh chấp hy hữu giữa siêu thị và nhà cung cấp (Xem thêm bài “Khuyến mãi hay bán phá giá?” trên báo Tuổi Trẻ ngày thứ Bảy, 10-10-2009).

Điều thú vị là cả hai đều cho là mình đúng khi Dutch Lady cho rằng việc Big C giảm giá thấp hơn giá mua là bán phá giá và cạnh tranh không lành mạnh, trong khi Big C thì khẳng định đây là giá trị siêu thị cộng thêm cho người tiêu dùng.

Theo dự định, Big C sẽ khuyến mãi theo dạng “mua 8 được 10” (mua hai lốc sữa Dutch Lady sẽ được tặng một hộp sữa 110 mi li lít và “siêu thị tặng thêm” một hộp 110 mi li lít nữa). Rắc rối ở chỗ cùng là hộp sữa 110 mi li lít nhưng một hộp thì được cho là do Dutch Lady “tặng” còn một hộp lại của siêu thị “thêm”.

Chính việc “tặng” và “thêm” này có thể đã dẫn đến những hiểu lầm và là nguyên nhân dẫn đến tranh chấp. Vậy cần hiểu sự việc này như thế nào dưới góc độ luật pháp?

Về mặt luật, “tặng” hay “thêm” cho khách hàng đều là hành vi khuyến mãi. Theo quy định hiện hành, luật cấm việc bán phá giá (1) hoặc lợi dụng khuyến mãi để bán phá giá (2), nhưng vấn đề không đặt ra nếu việc khuyến mãi đó là phù hợp với luật.

Để có cơ sở xem xét tiếp theo, ta phải xác định ai là người thực hiện khuyến mãi? Dutch Lady hay Big C? Theo những thông tin trên báo chí, chương trình khuyến mãi “Giá rẻ chưa từng thấy” do Big C thực hiện và diễn ra trong hệ thống siêu thị Big C.

Nếu đúng là Big C tiến hành khuyến mãi và đăng ký chương trình khuyến mãi với cơ quan nhà nước thì về mặt luật pháp, Big C là người thực hiện khuyến mãi, chứ không phải Dutch Lady. Vậy Big C khuyến mãi cái gì? Theo cách nhìn của Big C, Big C chỉ khuyến mãi cho khách hàng một hộp sữa 110 mi li lít khi khách hàng mua hai lốc sữa Dutch Lady.

Continue reading

TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG SÁP NHẬP VÀ MUA LẠI TẠI VIỆT NAM THỜI GIAN QUA

CCID – VCAD Một thực tế là có sự chênh lệch rất lớn giữa các doanh nghiệp nước ngoài và các doanh nghiệp trong nước. Hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam có quy mô nhỏ hơn so với các doanh nghiệp nước ngoài; yếu hơn về khả năng tài chính; kinh nghiệm thương trường; thiếu đội ngũ nhân lực có khả năng quản trị doanh nghiệp. Thêm vào đó, các thủ tục liên quan đến giao dịch M&A còn thiếu minh bạch nên tỷ lệ thành công của các giao dịch này rất thấp.

Trước tháng 7/2006, hoạt động mua lại chưa được thừa nhận là một hình thức đầu tư; do vậy chỉ xuất hiện trong khu vực các doanh nghiệp FDI dưới dạng chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ quyền lợi và nghĩa vụ (thường gọi là chuyển nhượng vốn pháp định) của một hay các bên liên doanh cho bên kia hoặc cho một đối tác khác. Sau khi Luật Đầu tư có hiệu lực (01/7/2006) và Nghị định số 108/2006/NĐ-CP (22/9/2006) quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Đầu tư được ban hành; việc chuyển nhượng và mua lại doanh nghiệp mới được chính thức điều chỉnh như một hình thức đầu tư trong hoạt động của nền kinh tế cũng như trong thu hút đầu tư nước ngoài. Việc mua lại dự án FDI ngày càng phát triển về hình thức và số lượng, và hiện gồm các dạng sau: bên nước ngoài trong liên doanh mua toàn bộ hay một phần vốn góp của bên Việt Nam; một đối tác nước ngoài khác mua lại toàn bộ hoặc một phần vốn góp của phía nước ngoài hoặc của bên Việt Nam hoặc của các bên tham gia liên doanh; một đối tác nước ngoài khác mua toàn bộ hoặc một phần vốn góp của một nhà đầu tư trong doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài; Doanh nghiệp Việt Nam mua lại cổ phần của bên nước ngoài trong doanh nghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài; giao dịch mua lại khi thanh lý doanh nghiệp FDI hết hạn hoạt động hoặc giải thể trước thời hạn. Ở Việt Nam tồn tại các giao dịch mua lại các dự án FDI, và thường xảy ra ở các dự án có quy mô tương đối lớn. Theo số liệu thống kê của Bộ Kế hoạch- Đầu tư, đến hết năm 2007, đã có 1.092 dự án, với tổng vốn đầu tư đăng ký gần 16,9 tỷ USD được điều chỉnh Giấy phép đầu tư với nội dung chuyển nhượng vốn giữa các đối tác. Số dự án có hoạt động mua lại chỉ chiếm chưa đến 13% so với tổng số dự án FDI đầu tư vào Việt Nam nhưng tổng vốn đăng ký của các dự án này chiếm tới gần 20% tổng vốn FDI được cấp phép.

Continue reading

NHỮNG YẾU TỐ CƠ BẢN ĐỂ THỰC HIỆN SÁP NHẬP VÀ MUA LẠI THÀNH CÔNG

THANH HƯƠNG (Tổng hợp)

Có nhiều cách thức, các bước công việc để thực hiện M&A, tuy nhiên vấn đề cần quan tâm trước tiên đó là hình thức pháp lý mà pháp luật cho phép để thực hiện giao dịch. Hình thức pháp lý để thực hiện giao dịch M&A cũng rất phong phú và khác nhau. Đó là các trình tự, điều kiện do pháp luật quy định mà các bên tham gia giao dịch phải tuân thủ. Không những thế, hình thức pháp lý của giao dịch M&A sẽ quyết định các công việc cụ thể khác cần có để tiến hành giao dịch M&A cũng như quyết định chúng sẽ được thực hiện như thế nào và tại thời điểm nào.

Thị trường giao dịch M&A tại Việt Nam tuy còn non trẻ, tuy nhiên với mức độ thị trường hiện nay, hình thức pháp lý (khung pháp lý) để các giao dịch này được triển khai về cơ bản đã đầy đủ. Khác với quan điểm của một số người cho rằng hành lang pháp lý cho hoạt động M&A của Việt Nam còn thiếu và rời rạc, chưa hỗ trợ tốt cho hoạt động M&A phát triển, chúng tôi cho rằng M&A có nội dung đa dạng và phức tạp do vậy rất khó cũng như không cần thiết phải hệ thống hóa các quy định của pháp luật điều chỉnh tất cả các nội dung M&A một cách tập trung. Hiện nay các quy định của pháp luật Việt Nam chỉ có một số vấn đề riêng lẻ cần giải quyết để làm rõ ràng hơn nữa môi trường pháp lý cho hoạt động M&A, như quy định về nhà đầu tư nước ngoài góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp Việt Nam, xác định thế nào là nhà đầu tư nước ngoài một cách thống nhất (doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có phải là nhà đầu tư nước ngoài không? Vốn đầu tư nước ngoài là bao nhiêu để coi là công ty có vốn đầu tư nước ngoài?)…

Sau khi đã xác định được các vấn đề như đã nêu trên, tùy vào nội dung và hình thức giao dịch M&A cụ thể (mua bán cổ phần hay sáp nhập hợp nhất…) mà các bên tham gia triển khai các công việc chi tiết. Thông thường, các công việc mà các bên tham gia cần thực hiện là:

Xác định các doanh nghiệp mục tiêu cho giao dịch M&A: Để đảm bảo M&A thành công, các bên cần lựa chọn nhiều hơn một doanh nghiệp mục tiêu nếu có thể được. Doanh nghiệp mục tiêu ở đây có thể được hiểu là bên mua hoặc/và bên bán chứ không phải chỉ là bên bán, điều này xuất phát từ chính nhu cầu thực hiện M&A là của cả hai bên chứ không phải của riêng một bên bán hay bên mua. Hơn nữa khi có nhiều doanh nghiệp mục tiêu, các bên sẽ có nhiều phương án và điều kiện thuận lợi cho việc đàm phán giao dịch M&A.

Continue reading

LUẬT CẠNH TRANH: BỐN NĂM . . . VẪN QUÁ MỚI!

THANH VÂN

Sau một năm có hiệu lực, chỉ có 30% doanh nghiệp biết là có Luật Cạnh tranh, 70% doanh nghiệp không hề biết gì về Luật này .

Luật Cạnh tranh đã có hiệu lực được 4 năm nhưng sự hiểu biết của doanh nghiệp về luật này còn hạn chế. Để giúp doanh nghiệp hiểu biết về Luật Cạnh tranh, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam vừa phối hợp với Dự án Hỗ trợ Thương mại Đa biên tổ chức Chiến dịch truyền thông về các hành vi phản cạnh tranh qua 5 cuộc hội thảo tổ chức tại 5 thành phố: TP. Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Đà Nẵng, Hải Phòng và Hà Nội.

4 năm xử lý… 20 vụ

Luật Cạnh tranh được Quốc hội thông qua ngày 3/12/2004 và chính thức có hiệu lực từ ngày 1/7/2005. Với 6 chương, 123 điều. Luật Cạnh tranh là một trong những văn bản luật đồ sộ và có tầm quan trọng đặc biệt trong việc định hướng cho nền kinh tế thị trường đang hình thành và ngày càng phát triển ở nước ta. Tuy nhiên, qua hơn 4 năm áp dụng, nhiều doanh nghiệp Việt Nam vẫn chẳng biết gì về Luật Cạnh tranh.

Bà Đinh Thị Mỹ Loan, Phó Chủ tịch Hiệp hội Bán lẻ Việt Nam cho biết, 1 năm sau khi Luật Cạnh tranh có hiệu lực, Cục Quản lý Cạnh tranh có làm một cuộc điều tra và kết quả cho thấy, chỉ có 30% doanh nghiệp biết là có Luật Cạnh tranh, 70% doanh nghiệp không hề biết gì về luật này. Hiện nay, con số này đã đảo ngược, tuy nhiên, doanh nghiệp được xếp vào loại có biết về Luật Cạnh tranh thì cũng chưa thực sự hiểu luật nên chưa biết dùng luật để bảo vệ mình.

Theo Luật Cạnh tranh, các hành vi bị coi là cạnh tranh không lành mạnh bao gồm: gây rối; thực hiện các hoạt động quảng cáo, khuyến mãi cạnh tranh không lành mạnh; các hoạt động làm hàng giả, hàng nhái; thỏa thuận ấn định giá hàng hóa; thỏa thuận phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ; thỏa thuận hạn chế hoặc kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất, mua, bán hàng hóa, dịch vụ; thỏa thuận áp đặt cho doanh nghiệp khác điều kiện ký kết hợp đồng mua, bán hàng hóa, dịch vụ…

Continue reading

KHÔNG NÊN ĐẶT GIÁ TRẦN

 GS.TS. NGUYỄN VÂN NAM

Đặt giá trần để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (NTD) là một mục tiêu tốt. Nhưng biện pháp này vừa không thích hợp để đạt mục tiêu, vừa gây nhiều hậu quả tiêu cực, không thể thực hiện được một cách nghiêm túc, vừa là một biện pháp kém hiệu quả nhất.

Doanh thu, lợi nhuận của các công ty sản xuất kinh doanh sữa (cty sữa) không ngừng tăng chứng tỏ NTD có khả năng và sẵn sàng trả giá cao để mua sữa. Bảo vệ quyền lợi NTD ở đây, do đó, không phải là hạ giá sữa để ai cũng có thể mua sữa, mà là sao cho họ mua được sữa có chất lượng tương xứng với đồng tiền bỏ ra. Bản thân việc giá sữa cao không phải là vấn đề , giá cao qúa đáng so với chất lượng sữa mới là vấn nạn cần giải quyết.

Đặt giá trần, trong khi không có cơ chế khuyến khích, biện pháp kiểm soát tương quan chất lượng-giá cả như hiện nay, khiến các cty sữa giảm chất lượng mặt hàng đang có chất lượng cao hơn để bảo đảm mức lợi nhuận. Sữa thực sự có chất lượng tốt sẽ dần biến mất trên thị trường, NTD chỉ còn được lựa chọn giữa các loại sữa chất lượng tầm tầm. Sữa có giá thấp phục vụ NTD có thu nhập thấp, sẽ ăn theo, nâng giá cho sát với giá trần. Sự khác biệt giá cho một loại sữa của một cty nhằm đáp ứng sự khác biệt theo vùng, phù hợp sức mua của từng phân nhóm người mua không còn nữa. Hậu quả là nhóm NTD tại phân khúc thị trường đang được hưởng giá thấp cho cùng một loại sữa sẽ phải trả tiền nhiều hơn. NTD có thu nhập cao, có nhu cầu và khả năng trả tiền nhiều hơn để sử dụng sữa có chất lượng đặc biệt hơn bình thường sẽ không tìm thấy loại sữa đó. Không ai dại dột cạnh tranh bằng chất lượng khi giá bán bị khống chế. Rốt cuộc, dù NTD có thể mua sữa với giá thấp hơn, nhưng với chất lượng thấp hơn và khả năng lựa chọn sữa chất lượng tốt giảm, họ vẫn phải trả giá cao hơn cho nhu cầu sử dụng sữa.

Continue reading

THỰC TRẠNG, NHỮNG MẶT TÍCH CỰC VÀ HẠN CHẾ TRONG PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ LIÊN QUAN ĐẾN CẠNH TRANH Ở VIỆT NAM

THANH MAI (Tổng hợp)

Đối tượng sở hữu công nghiệp (SHCN) là một yếu tố thể hiện lợi thế cạnh tranh trong thương mại, nên đã có không ít đối thủ cạnh tranh thực hiện các hành vi cạnh tranh không lành mạnh xâm hại đến các đối tượng SHCN để thu lợi bất chính trong kinh doanh. 27/08/2009

Điều 39 Luật Cạnh tranh xác định các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, mà cụ thể là sở hữu công nghiệp; bao gồm:

– Sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn về chủ thể kinh doanh, hoạt động kinh doanh, nguồn gốc thương mại của hàng hóa, dịch vụ;

– Sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn về xuất xứ, cách sản xuất, tính năng, chất lượng, số lượng hoặc đặc điểm khác của hàng hóa, dịch vụ; về điều kiện cung cấp hàng hóa, dịch vụ

– Sử dụng nhãn hiệu được bảo hộ tại một nước là thành viên của điều ước quốc tế có quy định cấm người đại diện hoặc đại lý của chủ sở hữu nhãn hiệu sử dụng nhãn hiệu đó mà Việt Nam cũng là thành viên, nếu việc sử dụng của người đại diện hoặc đại lý đó không được sự đồng ý của chủ sở hữu nhãn hiệu và không có lý do chính đáng

– Đăng ký, chiếm giữ quyền sử dụng hoặc sử dụng tên miền trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu, tên thương mại được bảo hộ của người khác hoặc chỉ dẫn địa lý mà mình không có quyền sử dụng nhằm mục địch chiếm giữ tên miền, lợi dụng hoặc làm thiệt hại đến uy tín, danh tiếng của nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý tương ứng.

Có thể thấy, khái niệm về hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ đã được mở rộng và làm rõ hơn so với khái niệm “chỉ dẫn gây nhầm lẫn” (một trong các dạng biểu hiện cụ thể của hành vi cạnh tranh không lành liên quan đến sở hữu trí tuệ) mà Luật Cạnh tranh đã đưa ra trước đây. Đồng thời, để bảo vệ chủ thể bị thiệt hại do hành vi cạnh tranh không lành mạnh, Luật Sở hữu trí tuệ cũng đã quy định để cho các chủ thể này có quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền áp dụng các biện pháp dân sự cũng như biện pháp hành chính theo pháp luật về cạnh tranh.

Continue reading

THỰC THI LUẬT CẠNH TRANH – MỘT NHÂN TỐ QUAN TRỌNG GÓP PHẦN NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH NGÀNH HÀNG KHÔNG VIỆT NAM

VŨ BÁ PHÚ – Cục Quản lý Cạnh tranh, Bộ Công thương

I. TRIỂN VỌNG CỦA NGÀNH HÀNG KHÔNG VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP

Ngay từ những năm 90 của thế kỷ trước, thị trường Hàng không Việt Nam phát triển mạnh với tốc độ tăng trưởng bình quân lên đến trên 30% năm. Kể từ năm 2000 (trừ năm 2001 và 2003) đến nay, thị trường hàng không Việt Nam luôn đạt được mức tăng trưởng từ 10-15%. Theo Quy hoạch phát triển Giao thông Vận tải Hàng không đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 08/01/2009, chỉ tiêu tổng lượng khách luân chuyển trên thị trường Hàng không Việt Nam của các Hãng Hàng không Việt Nam được đặt ra cho năm 2010 là 15,2 triệu khách, năm 2015 là 32,5 triệu khách và đến năm 2020 sẽ là 63 triệu hành khách. Việt Nam hứa hẹn là một thị trường đầy tiềm năng. Tuy nhiên, bên cạnh những tiềm năng nêu trên, hàng không Việt Nam phải đối mặt với nhiều thách thức trong trung hạn và dài hạn như:

Xu thế toàn cầu hoá các hoạt động HKDD đã hình thành và tiến triển mạnh mẽ. Xu thế này chịu sự chi phối của xu thế liên kết kinh tế – chính trị theo khu vực và xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới. Hiện nay xu thế này đang diễn ra mạnh mẽ nhất giữa các quốc gia thuộc liên minh châu Âu (EU) và khu vực Bắc Mỹ.

Tự do hoá và thương mại hoá các hoạt động HKDD là xu thế chủ yếu, cơ bản, xuyên suốt và không thể tránh khỏi của HKDD thế giới. Xu thế này ảnh hưởng không những trên bình diện tổng thể mà còn tác động mạnh mẽ từ chính sách vĩ mô đến chiến lược, sách lược phát triển trong từng thời kỳ, từng lĩnh vực cụ thể.

Xu thế giảm thiểu sự bảo hộ, kiểm soát của Nhà nước đối với các hoạt động kinh doanh dịch vụ HK thông qua việc tư nhân hoá, cổ phần hoá các hãng HK, các CHK và thậm chí là toàn bộ một lĩnh vực (chẳng hạn một số nước đã thực hiện cổ phần hoá lĩnh vực quản lý, điều hành bay như: Ca-na-đa, Niu-di-lân, Thái Lan…).

Continue reading

XU HƯỚNG THỎA THUẬN HẠN CHẾ CẠNH TRANH Ở VIỆT NAM

VÕ DUY THÁI

Trong hệ thống nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, hầu hết các doanh nghiệp đều thuộc quyền quản lý của Nhà nước, việc định giá cũng như phân công cung ứng sản phẩm, dịch vụ đều theo sự chỉ đạo của Nhà nước sự thoả thuận. Có thể nói rằng, sự độc lập của các doanh nghiệp chỉ mang tính tương đối. Hiện tượng thoả thuận không những có tồn tại mà thậm chí tồn tại ở mức cao hơn: thoả thuận dưới sự chỉ đạo tập trung thống nhất của Nhà nước.

Chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, quá trình chuyển đổi khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN) đã diễn ra rất chậmchạp. Bản chất của việc giảm đáng kể số lượng các DNNN chỉ là sắp xếp lại, sáp nhập, hình thành những Tổng công ty. Dù rằng trong Tổng công ty có những doanh nghiệp thành viên được mang tính độc lập, song đương nhiên những công ty này phải chịu sự chỉ đạo của Tổng công ty và được thoả thuận với nhau một cách hợp pháp. Nguy hiểm hơn, sau một thời gian dài, quá trình tách chức năng chủ quản ở các bộ quản lý ngành vẫn chưa được thực hiện. Sự thoả thuận, phối hợp giữa các đơn vị doanh nghiệp trong bộ vẫn được tiến hành công khai hoặc bán công khai dưới sự chỉ đạo trực tiếp hoặc gián tiếp của bộ quản lý ngành. Hiện tượng các đơn vị trong bộ phải có trách nhiệm cung ứng cho nhau, hoặc bộ chỉ đạo cho các công ty chỉ được phép mua sản phẩm của các công ty trong bộ, hiện tượng “khép kín kinh doanh” trong một bộ là những hiện tượng vẫn thường xuyên diễn ra công khai hoặc không công khai trong thực tiễn (mặc dù hiện nay đã giảm bớt). Tuy những hiện tượng liên kết tự nguyện hoặc không tự nguyện này đã có những ảnh hưởng rất tiêu cực đến môi trường cạnh tranh, song về mặt pháp lý, những hành vi này hoàn toàn không trái với pháp luật cho đến khi Luật Cạnh tranh ban hành.

Continue reading

THỰC TIỄN THỰC HIỆN CÁC ĐIỀU KIỆN THƯƠNG MẠI CHUNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỂ BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG

VĂN THÀNH

Lời dẫn:

Để phù hợp với số lượng người tiêu dùng (NTD) ngày càng tăng cũng như tạo thuận lợi trong hoạt động kinh doanh của mình, nhiều doanh nghiệp đặc biệt là các doanh nghiệp có số lượng khách hàng lớn đã lựa chọn giải pháp chung là đưa ra các quy định, hợp đồng mẫu, điều kiện bán hàng (sau đây gọi tắt là “điều kiện thương mại chung”) áp dụng cho tất cả khách hàng của mình.

Sẽ chẳng có gì để nói nếu các điều kiện thương mại này là hợp lý và đảm bảo được các quyền cơ bản của NTD theo quy định của pháp luật, tuy nhiên trên thực tế không phải lúc nào cũng vậy và NTD Việt Nam vẫn có thể bị vi phạm quyền lợi thông qua các điều kiện thương mại chung này. Vậy vấn đề này thể hiện trên thực tế như thế nào? Các quy định của pháp luật hiện hành đã đủ để điều chỉnh các hành vi nói trên hay chưa? Trong phạm vi bài viết này chúng tôi xin đưa ra một số phân tích cũng như kiến nghị đối với quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật tại Việt Nam.

1. Sự hình thành và thực tiễn thực hiện các điều kiện thương mại chung

Trước đây khi nền kinh tế của nước ta chưa phát triển, tình trạng làm ăn manh mún, nhỏ lẻ và mỗi doanh nghiệp chỉ có một lượng khách hàng không đáng kể. Tuy nhiên, kể từ khi Đảng và Nhà nước thực hiện chính sách mở cửa kinh tế cùng với xu thế hội nhập và phát triển đã buộc các doanh nghiệp Việt Nam phải “tư duy lại” và họ đã đạt được những thành công nhất định. Cùng với sự phát triển kinh tế – xã hội một cách nhanh chóng, đời sống của nhân dân cũng không ngừng được cải thiện, người dân từ nhu cầu “ăn no mặc ấm” dần dần chuyển sang nhu cầu “ăn ngon mặc đẹp”, các hàng hoá, dịch vụ xa xỉ cũng được NTD Việt Nam đón nhận một cách sôi động. Đã có những doanh nghiệp có số lượng NTD lên đến hàng nghìn thậm chí là hàng triệu người nhất là những doanh nghiệp kinh doanh các hàng hóa, dịch vụ thiết yếu đối với NTD và các doanh nghiệp lớn khác. Sự thuận tiện của các điều kiện thương mại chung là không phải bàn cãi, tuy nhiên, xung quanh vấn đề này cũng còn nhiều việc đáng quan tâm.

Continue reading

THỰC TRẠNG MÔI TRƯỜNG CẠNH TRANH VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO TÍNH CẠNH TRANH TRONG NGÀNH NGÂN HÀNG VIỆT NAM

THANH HƯƠNG (Tổng hợp)

Bài viết này sử dụng mô hình của Michael Porter (Năm lực lượng của Porter – Porter’s 5 forces) để nhìn vào thị trường ngân hàng Việt Nam và phân tích những lực lượng cạnh tranh, các xu hướng phát triển cũng như cơ hội khai thác để tạo nên lợi thế cạnh tranh phù hợp với nguồn lực của các ngân hàng.

Nguy cơ từ các ngân hàng mới

Nếu các ngân hàng mới dễ dàng gia nhập thị trường thì mức độ cạnh tranh sẽ càng lúc càng gia tăng. Nguy cơ từ các ngân hàng mới sẽ phụ thuộc vào “độ cao” của rào cản gia nhập. Theo các cam kết khi gia nhập WTO, lĩnh vực ngân hàng sẽ được mở cửa dần theo lộ trình bảy năm. Ngành ngân hàng đã có những thay đổi cơ bản khi các tổ chức tài chính nước ngoài có thể nắm giữ cổ phần của các ngân hàng ViệtNam và sự xuất hiện của các ngân hàng 100% vốn nước ngoài.

Ngay từ năm 2006, Việt Nam đã gỡ bỏ dần các hạn chế về tỷ lệ tham gia cổ phần trong ngành ngân hàng của các định chế tài chính nước ngoài theo cam kết trong Hiệp định thương mại với Hoa Kỳ.

Còn theo các cam kết trong khuôn khổ Hiệp định chung về hợp tác thương mại dịch vụ (AFAS) của Hiệp hội các nước ASEAN, Việt Nam phải gỡ bỏ hoàn toàn các quy định về khống chế tỷ lệ tham gia góp vốn, dịch vụ, giá trị giao dịch của các ngân hàng nước ngoài từ năm 2008.

Đã có năm ngân hàng 100% vốn nước ngoài được cấp phép thành lập tại Việt Nam. Tuy nhiên khi nhìn vào con số các ngân hàng nước ngoài có văn phòng đại diện tại Việt Nam và các ngân hàng nước ngoài có vốn cổ phần trong các ngân hàng thương mại nội địa, số ngân hàng 100% vốn nước ngoài nhất định sẽ còn tăng lên trong tương lai.

Continue reading