5 BÍ QUYẾT TRONG TRANH CHẤP PHÁP LÝ

TRẦN PHƯƠNG MINH (dịch từ Entrepreneur)

Chữ ký đủ thẩm quyền chỉ là một trong nhiều cách thức bảo vệ hoạt động kinh doanh của bạn khi ký kết bản hợp đồng. Hãy đối mặt với một thực tế: Không quan tâm tới bạn nỗ lực hết mức ra sao để tránh xa nó, một ngày nào đó, bạn và công ty của bạn có thể không may mắn kết thúc một tranh chấp hợp đồng tại toà án với những phán quyết bất lợi.

Đặt những lời nói đùa sang một bên, Chris Kelleher, phụ trách chuyên mục “Pháp lý” của tạp chí Entrepreneur và là luật sư tư vấn kiêm chủ tịch hãng luật The Law Firm For Businesses chuyên giúp các chủ doanh nghiệp giải quyết sáng tạo các vấn đề pháp lý kinh doanh của họ, khẳng định rằng rất ít doanh nghiệp sẽ phủ nhận thực tế việc có mặt tại toà án luôn phức tạp và tốn kém chi phí, không chỉ về mặt các chi phí pháp lý liên quan mà còn bao hàm các nội dung phán quyết của toà án dẫn tới các chi phí khác phát sinh.

Hơn thế nữa, không ít trường hợp bạn sẽ phải mất rất nhiều thời gian quý giá, mối quan tâm và suy nghĩ khi phát sinh một tranh chấp pháp lý, trong khi nếu bản hợp đồng được soạn thảo chặt chẽ thì tất cả các khoản tiền bạc, thời gian và công sức này sẽ được dành cho công việc phát triển kinh doanh.

Với kinh nghiệm hơn 20 năm trong nghề pháp lý, Kelleher đưa ra 5 bí quyết giúp các doanh nghiệp tránh xa các tranh chấp tại toà án, hay nâng cao cơ hội chiến thắng khi có mặt ở đó.

1) Đưa thêm điều khoản “Bên thua kiện sẽ chịu toàn bộ các chi phí pháp lý phát sinh” vào các bản hợp đồng, thoả thuận kinh doanh của bạn

Thường là một cú sốc lớn với nhiều chủ doanh nghiệp khi họ thấy rằng pháp luật thường không có quy định rằng họ được bù đắp các chi phí pháp lý thậm chí cả khi thắng kiện. Bên thua kiện chỉ phải trả chi phí tố tụng mà không phải là các chi phí luật sư, chi phí pháp lý khác cho bên thắng kiện.

Continue reading

CẠNH TRANH HÀNG KHÔNG

ANH MINH

Chống độc quyền không còn là vấn đề kiêng kị. Nhưng câu chuyện của ngành hàng không cho thấy việc đi tới một thị trường cạnh tranh đúng nghĩa quả không hề đơn giản. Quá nhiều sóng gió ập đến với các hãng bay mới, khiến yếu tố cạnh tranh trên thị trường hàng không nội địa mới manh nha được vài năm có nguy cơ lại quay về thời kỳ một "đại gia" với "một chợ"?

Người ta nói rằng thị trường hàng không Việt Nam là một bức tranh hai mặt tương phản nhau, trong khi "đại gia" Vietnam Airlines (VNA) đang kiêu hãnh sải rộng cánh trên bầu trời trong nước và quốc tế, thì các hãng khác vẫn cứ trật vật với những pha cất cánh hụt hơi trên đường băng.

Sẽ không có gì để nói nếu gần đây liên tiếp các thông tin không mấy tốt lành từ Indochina Airlines (ICA), Vietjet và cả Jetstar Pacific (JPA)… đến với người tiêu dùng, như báo hiệu bước thụt lùi của ngành hàng không nội địa. Chỉ trong 1 tuần, hành khách của cả JPA và ICA lần lượt chuyển sang các chuyến bay của VNA. VNA sẽ tạm thời hết đối thủ và thị trường hàng không nội địa sẽ quay lại điểm xuất phát, gần như không còn tính cạnh tranh.

Theo lý thuyết thì chỉ cần từ 2 nhà cung cấp và một số điều kiện cơ bản về năng lực là đã có thể tạo nên một thị trường cạnh tranh lành mạnh. Điều này có vẻ không đúng lắm, bởi thị trường hàng không Việt Nam đang có tới 7 hãng hàng không cùng cạnh tranh, nhưng thực tế thì vẫn chưa thể cung cấp được những "món hàng ngon lành". Như vậy, không phải cứ nhiều doanh nghiệp tham gia là thị trường hàng không có khả năng cạnh tranh, bởi ngoại trừ VNA và JPA đang làm chủ thị trường, Vasco thực ra là thành viên trực thuộc VNA, VietAir mới được manh nha, còn lại Indochina Airlines, Vietjet Air và Mekong Air đều như những chú chim non chưa mọc đủ lông cánh.

Các chuyên gia đánh giá, về bản chất, tính độc quyền chưa bao giờ hết chi phối thị trường hàng không, mặc dù liên tục có sự góp mặt của các hãng hàng không mới. Yếu tố cạnh tranh mới manh nha chưa thể đủ mạnh nên dễ dàng bị bóp nghẹn vì các hãng mới thành lập còn bộn bề khó khăn.

Continue reading

QUI CHẾ NỀN KINH TẾ PHI THỊ TRƯỜNG TRONG PHÁP LUẬT CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA EU VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TRONG CÁC VỤ KIỆN ĐỐI VỚI HÀNG HÓA VIỆT NAM

image THS. TRẦN THU HƯỜNG – Bộ Tư pháp

Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới từ năm 2007 và chấp nhận thời hạn 12 năm cho quy chế nền kinh tế phi thị trường kể từ ngày gia nhập và không muộn hơn 31/12/2018. Hệ quả trực tiếp cam kết này đó là việc áp dụng quy chế nền kinh tế phi thị trường trong điều tra chống bán phá giá đối với hàng hóa của Việt Nam trên thị trường thế giới. Tuy nhiên trước đó hàng hóa của Việt Nam đã phải đối mặt với quy chế nền kinh tế phi thị trường trong quá trình điều tra chống bán phá của US và EU.

Bài viết này nghiên cứu các quy định của EU về chống bán phá giá đối với các nước có nền kinh tế thị trường qua việc phân tích các vụ điều tra đã thực hiện đối với hàng hóa của Việt Nam, cụ thể là chốt cải thép không gỉ (2004), xe đạp (2005) và giày mũ da (2006). Từ thực tiễn giải quyết các vụ kiện chống bán phá giá đối với Việt Nam của EU, bài viết được hy vọng là làm rõ các vấn đề pháp lý mà các doanh nghiệp Việt Nam nên lưu tâm khi tham gia các vụ kiện chống bán phá giá cũng như khi đưa ra các phản biện hợp lý và trong một chừng mực nào đó phù hợp với các tiêu chí xem xét của EU.

Quy chế nền kinh tế phi thị trường áp dụng trong điều tra chống bán phá giá được nêu tại Điều 2(7) Quy định của Hội đồng số 384/96 ngày 22/12/1995 về việc bảo vệ chống lại hàng nhập khẩu bán phá giá từ các quốc gia không phải là thành viên của Cộng đồng Châu Âu (sau đây gọi là Quy định số 384/96). Đến Quy định của Hội đồng số 905/98 ngày 27/4/1998 sửa đổi Quy định của Hội đồng số 384/96, các quy chế đối với nền kinh tế thị trường đã được bổ sung thêm với việc mở ra cơ hội cho các doanh nghiệp được áp dụng quy chế điều tra thông thường trong trường hợp đáp ứng các điều kiện nhất định. Và trong Quy định này, Việt Nam có tên trong danh sách các quốc gia có nền kinh tế phi thị trường đang trong quá trình chuyển đổi. Tiếp theo, ngày 5/11/2002, Quy định của Hội đồng số 1972/2002 sửa đổi Quy định số 384/96 quy định về nguyên tắc thuế chống bán phá giá sẽ được áp dụng theo mức phù hợp cho mọi vụ việc, trên cơ sở không phân biệt đối xử đối với hàng hóa nhập khẩu từ các nguồn khác nhau bị kết luận là có bán phá giá và gây thiệt hại. Tuy nhiên nếu như doanh nghiệp thuộc các quốc giá có nền kinh tế phi thị trường đáp ứng được các yêu cầu theo quy định thì sẽ được áp mức thuế riêng cho từng doanh nghiệp (gọi là individual treatment – IT).

Continue reading

LỊCH SỬ RA ĐỜI PHÁP LUẬT CẠNH TRANH CỦA EC

CỔNG THÔNG TIN PHÁP LUẬT BỘ CÔNG THƯƠNG – Hiệp ước Rôme và các quy định cạnh tranh trong đó Hiệp ước có hiệu lực từ năm 1958. Các quy định này được thực thi cho đến khi có Quy chế số 17 được ban hành 4 năm sau đó, tức là 7 thập kỷ sau khi Hoa Kỳ có luật cạnh tranh. Luật của EC có sự liên hệ với Luật của Hoa Kỳ trong mối so sánh hệ thống giữa hai bờ Đại Tây Dương về các ý tưởng, bài học có thể được rút ra từ kinh nghiệm của Hoa Kỳ.

Ảnh hưởng của Hoa Kỳ trong lĩnh vực luật cạnh tranh được nhìn nhận khá cụ thể. Ngày 1/1/1958, Hiệp ước Rôme đồng thời với một hệ thống luật cạnh tranh mới của Đức cùng có hiệu lực. Các quan chức Hoa Kỳ chiếm đóng Tây Đức cho rằng việc nền công nghiệp nước Đức trước chiến tranh bị tập trung hóa và cartel hóa nặng nề đã giúp, hậu thuẫn cho Hitler nổi lên nắm quyền lực, gây ra chiến tranh thế giới; luật cạnh tranh theo kiểu Mỹ sẽ giúp nền dân chủ của nước Đức hậu chiến. Tuy Đạo luật chống cartel hóa đã lần đầu tiên được đưa ra vào năm 1947, nhưng do áp lực từ trong nước và của phíaHoa Kỳ yêu cầu phải có một hệ thống luật mới hoàn toàn, Bộ trưởng kinh tế thời Thủ tướng Adenauer, ông Ludwig Erhard, đã gây áp lực mạnh mẽ cho việc ban hành luật mới năm 1958.

Luật Cạnh tranh mới của Đức đã nhanh chóng có được một vai trò quan trọng trong hệ thống pháp lý và kinh tế của nước Đức. Tổ chức chịu trách nhiệm chính trong việc thực thi luật là Cục Cartel liên bang. Kinh nghiệm và ảnh hưởng của Đức có tác động quan trọng đến luật cạnh tranh của EC bắt đầu phát triển từ giữa những năm 1960 trở đi. Do luật chống độc quyền củaHoa Kỳ ảnh hưởng đến hệ thống luật của Đức, hệ thống luật của Đức lại ảnh hưởng đến luật của EC. Nên theo nguyên lý bắc cầu thì luật của EC liên quan chủ yếu đến luật của Hoa Kỳ.

Trên thực tế, Luật cạnh tranh EC đã được xây dựng bởi người châu Âu, trong đó chủ yếu là người Đức, với những ý tưởng của người Mỹ. Tuy nhiên, đã thành xu hướng là người ta thường thảo luận luật của EC thông qua lăng kính những phát triển của luật Mỹ. Trong một quyển sách xuất bản năm 1998, Daniel Gerber, một luật sư về luật so sánh, luận lập rằng Châu Âu có một truyền thống giàu có về những tư tưởng mà hiện nay được gọi là luật cạnh tranh. Chính điều này đã tạo cho pháp luật cạnh tranh trong nước của các nước Châu Âu cũng như luật cạnh tranh của EC một đặc trưng của riêng nó.

Continue reading

PHÁP NHÂN CÓ ĐƯỢC COI LÀ NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG PHÁP LUẬT CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI?

THÔNG TIN PHÁP LUẬT BỘ CÔNG THƯƠNGKhái niệm người tiêu dùng(NTD) là các khái niệm rất quan trọng, được sử dụng xuyên suốt trong các quy định của Luật bảo vệ NTD. Vì trọng tâm của pháp luật bảo vệ NTD chính là NTD, do vậy nên nội hàm của các khái niệm này sẽ là kim chỉ nam cho các nội dung khác được quy định trong luật bảo vệ NTD.

Có thể thấy các quan hệ giữa NTD và nhà cung cấp hàng hóa dịch vụ , NTD luôn ở thế yếu hơn, thiếu thông tin hơn, ít chuyên nghiệp hơn, nên cần thiết phải có sự can thiệp nhất định của nhà nước vào quan hệ này để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bên yếu thế. Do vậy cần xác định phạm vi các loại quan hệ này sẽ được điều chỉnh bởi pháp luật bảo vệ NTD, cụ thể là pháp luật bảo vệ NTD sẽ can thiệp vào những quan hệ nào, còn những quan hệ nào sẽ được điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật khác. Xuất phát từ yêu cầu nói trên, việc xác định các đối tượng nào sẽ được gọi là NTD là một vấn đề hết sức quan trọng. Nếu việc xác định này làm cho phạm vi hẹp đi thì sẽ có nhiều đối tượng không được bảo vệ.

Khái niệm người tiêu dùng là thể nhân hay pháp nhân ở một số nước trên thế giới?

Ở các nước châu Âu: Khái niệm NTD theo Chỉ thị của Châu Âu bao gồm các đặc điểm sau: Là bất kỳ cá nhân nào mua hàng theo hợp đồng mà mục tiêu của hợp đồng không liên quan đến thương mại, kinh doanh hay nghề nghiệp.

Như vậy theo khái niệm này thì khái niệm NTD không bao gồm pháp nhân và không bao gồm người sử dụng, thụ hưởng hàng hóa dịch vụ mà không trực tiếp giao kết hợp đồng với nhà sản xuất, kinh doanh

Theo pháp luật Đài Loan  thì khái niệm NTD được quy định là những ai tham gia vào các giao dịch, sử dụng hàng hóa hoặc dịch vụ và mục đích là để tiêu dùng. Như vậy chủ thể tham gia vào các giao dịch ở đây có thể được hiểu là bao hàm cả thể nhân và pháp nhân, miễn là mục đích của họ là để tiêu dùng.

Continue reading

THỰC TRẠNG CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG LĨNH VỰC BẢO HIỂM TẠI VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI CÁC BÊN LIÊN QUAN TRÊN THỊ TRƯỜNG

image THANH HƯƠNG (Tổng hợp)

Sự phát triển của hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam là một xu thế tất yếu, nhất là trong bối cảnh hội nhập toàn diện, khi chúng ta đã là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Kinh tế thị trường đã tạo ra một môi trường thuận lợi cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Sự phong phú về hoạt động kinh doanh, tốc độ tăng trưởng cao về kinh tế, mức thu nhập ngày càng cao của nhiều tầng lớp dân cư, tính phức tạp, đa dạng của các loại rủi ro là những yếu tố quan trọng tác động mạnh đến việc hình thành và tăng nhanh các nhu cầu về bảo hiểm trong xã hội.

I. Thực trạng cạnh tranh trên thị trường bảo hiểm hiện nay

Cạnh tranh xuất hiện và tồn tại khách quan trong quá trình hình thành, phát triển của sản xuất hàng hoá và trở thành đặc trưng cơ bản của cơ chế thị trường. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, khi kinh tế phát triển, cạnh tranh sẽ diễn ra trên quy mô rộng hơn với mức độ gay gắt hơn trong mọi lĩnh vực, đặc biệt là trong ngành dịch vụ như bảo hiểm.

Trước hết, đó là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp bảo hiểm về sản phẩm, chất lượng dịch vụ, nguồn nhân lực, phát triển kênh phân phối sản phẩm và trình độ ứng dụng công nghệ thông tin.

Thứ hai đó là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp bảo hiểm đang hoạt động tại Việt Nam với các doanh nghiệp bảo hiểm tại nước ngoài về cung cấp sản phẩm bảo hiểm trong khuôn khổ đã cam kết tại WTO.

Thứ ba là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp bảo hiểm với các dịch vụ tài chính khác như thu hút tiền gửi tiết kiệm, chứng khoán, kinh doanh bất động sản. Bên cạnh những nội dung cạnh tranh chính như đã nói ở trên, thị trường bảo hiểm phi nhân thọ vẫn có nhiều vấn đề nổi cộm như cạnh tranh hạ phí, tăng chi phí khai thác, chưa kiểm soát được trục lợi bảo hiểm, dùng áp lực của các mối quan hệ để chi phối khách hàng, độc quyền kinh doanh bảo hiểm đối với một số ngành đặc thù.

Continue reading

THỰC TRẠNG, NHỮNG MẶT TÍCH CỰC VÀ HẠN CHẾ TRONG PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ LIÊN QUAN ĐẾN CẠNH TRANH Ở VIỆT NAM

THANH MAI (Tổng hợp)

Đối tượng sở hữu công nghiệp (SHCN) là một yếu tố thể hiện lợi thế cạnh tranh trong thương mại, nên đã có không ít đối thủ cạnh tranh thực hiện các hành vi cạnh tranh không lành mạnh xâm hại đến các đối tượng SHCN để thu lợi bất chính trong kinh doanh.

Điều 39 Luật Cạnh tranh xác định các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, mà cụ thể là sở hữu công nghiệp; bao gồm:

– Sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn về chủ thể kinh doanh, hoạt động kinh doanh, nguồn gốc thương mại của hàng hóa, dịch vụ;

– Sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn về xuất xứ, cách sản xuất, tính năng, chất lượng, số lượng hoặc đặc điểm khác của hàng hóa, dịch vụ; về điều kiện cung cấp hàng hóa, dịch vụ

– Sử dụng nhãn hiệu được bảo hộ tại một nước là thành viên của điều ước quốc tế có quy định cấm người đại diện hoặc đại lý của chủ sở hữu nhãn hiệu sử dụng nhãn hiệu đó mà Việt Nam cũng là thành viên, nếu việc sử dụng của người đại diện hoặc đại lý đó không được sự đồng ý của chủ sở hữu nhãn hiệu và không có lý do chính đáng

– Đăng ký, chiếm giữ quyền sử dụng hoặc sử dụng tên miền trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu, tên thương mại được bảo hộ của người khác hoặc chỉ dẫn địa lý mà mình không có quyền sử dụng nhằm mục địch chiếm giữ tên miền, lợi dụng hoặc làm thiệt hại đến uy tín, danh tiếng của nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý tương ứng.

Có thể thấy, khái niệm về hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ đã được mở rộng và làm rõ hơn so với khái niệm “chỉ dẫn gây nhầm lẫn” (một trong các dạng biểu hiện cụ thể của hành vi cạnh tranh không lành liên quan đến sở hữu trí tuệ) mà Luật Cạnh tranh đã đưa ra trước đây. Đồng thời, để bảo vệ chủ thể bị thiệt hại do hành vi cạnh tranh không lành mạnh, Luật Sở hữu trí tuệ cũng đã quy định để cho các chủ thể này có quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền áp dụng các biện pháp dân sự cũng như biện pháp hành chính theo pháp luật về cạnh tranh.

Continue reading

TƯ DUY PHÁT TRIỂN VÀ VẤN ĐỀ THỰC THI LUẬT CẠNH TRANH TẠI VIỆT NAM

NCS. LÊ THÀNH VINH – Đại học Monash, Melbourne, Autralia

… Đến nay, đã có nhiều nghiên cứu cố gắng trả lời câu hỏi về vấn đề thực thi Luật Cạnh tranh tại Việt Nam. Các nguyên nhân thường được đề cập là: các nguồn lực thực thi Luật còn hạn chế; trình độ nhận thức của cộng đồng doanh nghiệp và người dân nói chung về các quy định trong Luật Cạnh tranh chưa cao; bản thân Luật Cạnh tranh và các văn bản hướng dẫn còn nhiều điểm chưa hoàn thiện, gây khó khăn cho việc giải thích và áp dụng trên thực tế…

1. Đặt vấn đề

Luật Cạnh tranh có hiệu lực kể từ ngày 1/7/2005. Sau gần năm năm thực thi, mới có một vụ việc hạn chế cạnh tranh và 40 vụ việc cạnh tranh không lành mạnh được xử lý theo quy định của Luật. Mặc dù không phản ánh hết những công việc cơ quan thực thi Luật đã triển khai, nhưng những con số trên buộc những ai quan tâm đến Luật Cạnh tranh phải đặt câu hỏi về sức sống của đạo luật quan trọng này tại Việt Nam.

Đến nay, đã có nhiều nghiên cứu cố gắng trả lời câu hỏi trên. Các nguyên nhân thường được đề cập là: các nguồn lực thực thi Luật còn hạn chế; trình độ nhận thức của cộng đồng doanh nghiệp và người dân nói chung về các quy định trong Luật Cạnh tranh chưa cao; bản thân Luật Cạnh tranh và các văn bản hướng dẫn còn nhiều điểm chưa hoàn thiện, gây khó khăn cho việc giải thích và áp dụng trên thực tế.

Một lý do khác rất đáng chú ý mà các nghiên cứu đã chỉ ra là văn hoá pháp lý và văn hóa cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam còn nhiều hạn chế. “Người Việt Nam dường như chưa nhận thấy sức mạnh và nguồn lợi to lớn của cạnh tranh, và vì thế chưa yêu mến, chưa chủ động tạo ra và chưa quyết tâm bảo vệ lấy cạnh tranh. Trong một xã hội đóng kín, thì dấu ấn của “chủ nghĩa giáo điều trong trí thức, chủ nghĩa quan liêu trong giới cầm quyền và chủ nghĩa bình quân trong nhân dân lao động” là nặng nề1. Giáo điều, quan liêu hay bình quân chủ nghĩa đều chưa quen với cạnh tranh trong kinh doanh, bởi cạnh tranh làm cho cuộc sống bị thách thức, bị đảo lộn bởi đủ loại đối thủ vào bất cứ lúc nào; một cuộc sống căng thẳng như vậy chẳng dễ chịu chút nào. Thành ra, làm thương nhân ai cũng cố né tránh cạnh tranh, nếu có điều kiện. Chỉ có điều, nếu điều ấy tiếp diễn, thì toàn bộ nền kinh tế quốc gia và người tiêu dùng nước ta không được lợi”2.

Văn hóa là yếu tố ảnh hưởng nhiều đến việc hình thành tư duy và đến lượt nó chi phối hành động của các chủ thể. Thay đổi văn hóa và tư duy là vấn đề lâu dài nhưng lại là vấn đề căn bản có tính quyết định đến những thay đổi khác trong xã hội. Những nhận định về văn hóa của doanh nghiệp Việt Nam nói trên cho thấy, xây dựng văn hóa cạnh tranh cần đặt ra như một nhiệm vụ hàng đầu và lâu dài trong quá trình đưa Luật Cạnh tranh vào cuộc sống.

Continue reading

AI VI PHẠM LUẬT CẠNH TRANH TRONG VỤ K+?

GST.TS. NGUYỄN VÂN NAM

Chiếm vị trí thống lĩnh thị trường (mà độc quyền chỉ là trường hợp đặc biệt khi không còn đối thủ cạnh tranh), vẫn luôn là mục tiêu và động lực của doanh nghiệp (DN) , vì ở vị thế này, họ có thể dễ dàng đạt lợi nhuận tối ưu nhất. Cuộc chạy đua giành vị trí thống lĩnh thị trường (TLTT) cũng góp phần thúc đẩy cạnh tranh hiệu quả. Vì vậy, không ai cấm DN có vị trí TLTT cả. Luật Cạnh tranh (LCT) chỉ cấm hành vi lạm dụng vị trí TLTT và không cho phép hình thành vị trí TLTT nào có nguy cơ lạm dụng cao.

Việt nam chưa có định nghĩa thế nào là „Vị trí TLTT“. Theo cách nhìn của Tòa án Châu Âu-được hầu hết các nước phát triển đồng tình- một cách tổng quát nhất, thì đó là vị trí quyền lực (sức mạnh) trên thị trường của một doanh nghiệp cho phép nó cản trở việc duy trì sự cạnh tranh thực sự trên thị trường liên quan. Luật CT của ta chỉ nêu 02 yếu tố để coi một DN có vị trí TLTT là có thị phần từ 30% trở lên, hoặc có khả năng gây hạn chế CT.

Để tham gia thị trường tiêu thụ, DN- trong tư cách người chào hàng- trước hết luôn tìm cách có được những lợi thế cạnh tranh của người bán hàng sao cho chỉ mình họ là người có nguồn hàng duy nhất. Đó có thể là nhượng quyền thương mại (Franchie), độc quyền phân phối, độc quyền sử dụng, khai thác quyền tác giả, quyền Sở hữu Công Nghiệp,v…v. Như K+ mua độc quyền phát hành tác phẩm là các chương trình quay hình giải ngoại hạng Anh; như Megastar mua độc quyền phân phối, kinh doanh các tác phẩm điện ảnh Mỹ, như một số công ty dược phẩm mua patent sản xuất độc quyền thuốc đặc trị tại Việt nam. Nói chung, những độc quyền như vậy chỉ bảo vệ họ không bị cạnh tranh bởi các đối thủ khác (người bán) cũng muốn được phân phối chính các sản phẩm này và họ được bảo vệ trước hết bởi Luật Sở hữu Trí tuệ. Nhưng trên thị trường tiêu thụ, độc quyền đó không phải là một bảo đảm để người tiêu dùng chỉ mua sản phẩm của họ mà không mua các sản phẩm khác có tính năng tương tự, có thể thay thế, để đáp ứng như cầu của mình.

Continue reading

HOẠT ĐỘNG BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG TẠI SINGAPORE

CẠNH TRANH VÀ TIÊU DÙNG – Cùng với sự phát triển kinh tế và mở rộng hoạt độngkinh doanh buôn bán, các quy định bảo vệ quyền lợi NTD cũng ngày càng được nâng cao và có giá trị thực tế hơn. Cụ thể: bên cạnh các văn bản điều tiết đối với một số lĩnh vực đặc biệt như bán hàng đa cấp (Đạo luật kinh doanh đa cấp và Bán hàng theo mô hình kim tự tháp), các lĩnh vực chuyên ngành như ngân hàng, tài chính, dịch vụ…, năm 2003 Chính phủ Singapore đã thông qua Luật Bảo vệ người tiêu dùng (CFTA).

Văn bản trên có hiệu lực từ 2004, được sửa đổi năm 2009 và được coi là văn bản chính quản lý hoạt động BVNTD, trong đó quy định: Thời hạn hiệu lực của các quyết định của cơ quan thi hành pháp luật được tăng từ 1 năm lên 2 năm. Các cơ quan trên bao gồm: Hiệp hội tiêu dùng Singapore (Consumers Association of Singapore – CASE) và Ủy ban Du lịch Singapore (The Singapore Tourism Board – STB). Cùng với sự gia hạn thời hạn cho các tổ chức có thẩm quyền, thời gian khởi hiện của NTD cũng được tăng từ 1 năm lên 2 năm. Ngoài ra, NTD có thể yêu cầu bồi hoàn khoản thanh toán cho hàng hóa, dịch vụ trong vòng 12 tháng sau khi thanh toán và doanh nghiệp phải thực hiện hoàn lại tiền trong vòng 60 ngày sau khi nhận được các giấy tờ cần thiết do NTD cung cấp.

Các nội dung trên đều nhằm mục đích hỗ trợ hơn nữa cho NTD trong các vụ kiện với các doanh nghiệp, nhà cung cấp. Một số dịch vụ tài chính và dịch vụ khác (tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, giao dịch hàng hóa…) đã được bổ sung quy định trong CFTA. Các quy định này trước đây được điều chỉnh bởi các văn bản chuyên ngành như: Luật Ngân hàng, Luật các tổ chức tài chính, Luật Bảo hiểm… Lần sửa đổi năm 2009, các dịch vụ này được điều chỉnh không chỉ bởi Cơ quan tiền tệ Singapore hoặc Doanh nghiệp quốc tế Singapore mà còn được quy định trong CFTA.

Continue reading

BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG TRƯỚC VIỆC TĂNG GIÁ NHƯ THẾ NÀO?

GS.TS. NGUYỄN VÂN NAM

Khác với Việt nam, Luật Cạnh tranh (gồm Luật chống độc quyền và Luật chống cạnh tranh không lành mạnh) ở các nước phát triển luôn giữ một vai trò đặc biệt quan trọng trong hoạt động kinh doanh, điều tiết kinh tế và gần đây cũng trở thành công cụ sắc bén bảo vệ trực tiếp người tiêu dùng trong tư cách là một thành phần tham gia hoạt động cạnh tranh trên thị trường.

Vì vậy, phán quyết vào ngày 10/12/2008 (KVR 2/08) của Tòa án Tối cao CHLB Đức (BGH) về việc công ty khí đốt của thành phố Uelzen tăng giá bán khí đốt đã ngay lập tức được chính phủ của hàng loạt nước thành viên Liên minh Châu Âu (EU) đặc biệt chú ý. Phán quyết đưa ra những nhận định làm cơ sở cho việc xác định: a) thẩm quyền và trách nhiệm can thiệp của Nhà nước vào việc tăng giá bán lẻ; b) quyền tự chủ về giá cả của doanh nghiệp Nhà nước; c) vị trí thống lĩnh thị trường của một doanh nghiệp dưới góc độ bảo vệ người tiêu dùng và d) khi nào quyền tự do lựa chọn của người tiêu dùng bị vi phạm hay nói một cách khác, khi nào môi trường tự do cạnh tranh bị làm sai lệch?

Công ty cung cấp khí đốt của thành phố Uelzen (công ty U) là một công ty Nhà nước (Ở Đức và tất cả các nước Tây Âu, tuyệt đại đa số các công ty hoạt động trong lĩnh vực cung cấp điện, nước, khí đốt, sửa ấm, bưu điện, giao thông công cộng, là những công ty Nhà nước). Do giá nhập khẩu khí đốt tăng mạnh, công ty U đã nhiều lần tăng giá bán lẻ trong khoảng thời gian từ tháng 11 năm 2005 đến tháng 03 năm 2006. Theo đơn khiếu nại của một người tiêu dùng mua khí đốt để sưởi ấm, cục chống độc quyền (CĐQ) tiểu bang đã tiến hành điều tra và đi đến kết luận công ty U thật sự đã lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để tăng giá một cách quá đáng. Nên đã ra quyết định buộc công ty U trả lại cho mọi người đã mua khí đốt khoản tiền tăng giá quá đáng là từ 0,3 đến 0,5 xu (cent) cho một mét khối.

Công ty U khởi kiện yêu cầu Tòa án tiểu bang hủy quyết định của cục CĐQ. Theo công ty U, một mặt quyền tự do quyết định giá cả của doanh nghiệp là bất khả xâm phạm đã được chính BGH xác nhận bằng phán quyết số VIII ZR 138/07; mặt khác nếu người tiêu dùng không muốn mua khí đốt vì giá cao, họ vẫn có thể lựa chọn chuyển sang sử dụng các nguồn năng lượng khác như điện, dầu diesel, điện mặt trời hay sưởi ấm bằng nước nóng. Cạnh tranh ở đây cần được hiểu là cạnh tranh trong thị trường cung cấp năng lượng chung gồm điện, dầu, khí, năng lượng tái sinh…Như vậy người tiêu dùng vẫn có quyền tự do lựa chọn, họ hoàn toàn không bị ép buộc phải chấp nhận giá của công ty U. Tòa án tiểu bang đồng ý với lập luận của công ty U, đồng thời nhận định công ty U-dù là doanh nghiệp Nhà nước và có thị phần hơn 33% – vẫn không có vị trí thống lĩnh thị trường vì người tiêu dùng có thể lựa chọn sử dụng các dạng năng lượng khác. Môi trường cạnh tranh vẫn không bị làm sai lệch. Do không có vị trí thống lĩnh thị trường nên-trên nguyên tắc- việc tăng giá của công ty U không phải chịu sự kiểm soát của cục CĐQ. Vì thế, Tòa án đã hủy quyết định của cục CĐQ.

Continue reading

MỘT SỐ NHẬN XÉT PHẢN BIỆN VỀ DỰ THẢO LUẬT CẠNH TRANH (DỰ THẢO 09) NĂM 2004

Tác giả viết bài này vào thời điểm Luật Cạnh tranh năm 2004 đang được xây dựng ở Dự thảo 9. Một số thông tin không còn phù hợp với thời điểm hiện tại. Song có rất nhiều thông tin còn hữu ích cho việc học tập và nghiên cứu pháp luật.

GS.TS. NGUYỄN VÂN NAM

Do thời gian rất hạn chế, những nhận xét có tính chất phản biện Dự thảo Luật Cạnh Tranh của tôi dưới đây chủ yếu tập trung vào những vấn đề có tính nguyên tắc có khả năng ảnh hưởng rất tiêu cực đến quá trình đàm phán gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO và sẽ gây ra những trở ngại lớn trong quá trình thực thi Luật Cạnh Tranh dẫn đến những hậu qủa đáng tiếc cho quá trình hội nhập kinh tế thế giới của chúng ta.

Trước mắt, tôi cũng sẽ chỉ tập trung nhận xét về Luật Chống Cạnh Tranh Không Lành Mạnh do tính chất quyết định của nó trong việc bảo đảm quyền tự do hoạt động kinh tế của các chủ thể tham gia thị trường, phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội và truyền thống đạo lý của nước ta.

Những phân tích phản biện sau đây được định hướng theo tiêu chuẩn pháp lý tối thiểu mà Tổ chức Thương mại Thế giới WTO yêu cầu các nước thành viên phải thực hiện.

A. TIÊU CHUẨN PHÁP LÝ TỐI THIỂU CỦA WTO.

I. Những vấn đề có tính nguyên tắc.

Với mục đích thúc đẩy tự do hóa thương mại toàn cầu, WTO qui định khung pháp lý- có tính chất định chế chung- cho các nước thành viên trong hoạt động thương mại giữa họ ( Điều II khoản 1 WTO). Tiêu chuẩn pháp lý tối thiểu này của WTO được xây dựng trên hai trụ cột có tính chất bắt buộc đối với mỗi nước thành viên là:

– Nhà nước pháp quyền.

– Hệ thống luật pháp ổn định, minh bạch, có tính dự đoán và có khả năng thực thi.

1.Nhà nước pháp quyền:

a) Nguyên tắc chung:

Mọi hoạt động của Nhà nước và đời sống xã hội đều phải gắn liền và tuân theo pháp luật, bảo đảm công lý.

Continue reading

VAI TRÒ CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM

GS.TS. NGUYỄN THỊ CÀNH – THS. TRẦN HÙNG SƠN

Bài viết này giới thiệu tổng quan về tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại VN (bao gồm quá trình hoàn thiện khung pháp luật và thu hút đầu tư FDI), vai trò của FDI đối với phát triển kinh tế thông qua các chỉ số như tăng vốn đầu tư xã hội, gia tăng sản lượng sản xuất công nghiệp và kim ngạch xuất khẩu, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng việc làm và nguồn thu ngân sách quốc gia, và đặc biệt đóng góp vào tăng trưởng kinh tế. Phương pháp phân tích gồm mô tả thống kê mối quan hệ giữa nguồn vốn FDI và các kết quả phát triển kinh tế, và sử dụng mô hình kinh tế lượng để đo lường tác động của nguồn vốn FDI đến tăng trưởng kinh tế. Nguồn số liệu sử dụng trong phân tích là số liệu thứ cấp lấy từ các báo cáo, trang Web cuả Tổng cục Thống kê, Bộ Kế hoạch và Đầu tư giai đoạn 1988-2008.

1. Đôi nét về cơ sở pháp lý cho hoạt động đầu tư nước ngoài tại VN

Thực hiện đường lối đổi mới kinh tế của Đại hội VI Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản VN năm 1986, nhiều chính sách kinh tế được thay đổi. Việc hình thành các văn bản pháp lý đã thể chế hoá đường lối đổi mới của Đảng. Luật đầu tư nước ngoài tại VN được ban hành vào năm 1987 là một trong những đạo luật khởi đầu cho thời kỳ đổi mới đã tạo môi trường pháp lý thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào VN. Kể từ khi ban hành năm 1987 đến nay, Luật đầu tư nước ngoài (ĐTNN) đã được sửa đổi, bổ sung 4 lần với các mức độ khác nhau vào các năm 1990, 1992, 1996, 2000. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, VN ngày càng hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới, để tạo ra một môi trường kinh doanh bình đẳng giữa các khu vực kinh tế, năm 2005 Quốc hội đã ban hành Luật đầu tư (có hiệu lực từ ngày 01/7/2006) thay thế Luật đầu tư nước ngoài và Luật khuyến khích đầu tư trong nước. Luật đầu tư ra đời nhằm cải thiện môi trường đầu tư, môi trường kinh doanh, tạo sự thống nhất trong hệ thống pháp luật về đầu tư và tạo "một sân chơi" bình đẳng, không phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư. Luật đầu tư đã cải thiện môi trường đầu tư bằng việc đơn giản hoá thủ tục đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi để thu hút và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn đầu tư, đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế. Luật đầu tư năm 2005 đã thể hiện việc phân cấp mạnh cho các địa phương cụ thể là tăng quyền hạn cho Ủy ban Nhân dân (UBNN) tỉnh và Ban quản lý Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Khu công nghệ cao về cấp giấy chứng nhận đầu tư cũng như quản lý hoạt động đầu tư và giảm bớt những dự án phải trình Thủ tướng Chính phủ. Thủ tướng Chính phủ chỉ chấp thuận về nguyên tắc đối với một số dự án quan trọng chưa có trong quy hoạch, hoặc chưa có quy hoạch, những dự án còn lại sẽ do UBND cấp tỉnh và Ban quản lý tự quyết định và cấp giấy phép đầu tư.

Continue reading

KINH NGHIỆM CỦA HOA KỲ VỀ QUẢN LÝ KIỂM SOÁT HÀNH VI THỎA THUẬN HẠN CHẾ CẠNH TRANH

MINH NGỌC (Tổng hợp)

Mỹ là một nước mà chủ nghĩa tư bản đã có bước phát triển nhanh trong thế kỷ XIX. Sự tích tụ tư bản dưới hình thức Tơrớt đã làm cho một số nghành công nghiệp ở Mỹ như sắt thép, đường,thuốc lá… rơi vào những tập đoàn tư bản lớn.Sự lạm dụng vị thế của những tập đoàn này trên thị trường vào cuố thế kỷ XIX làm cho người dân Mỹ họ đã gây sức ép để cho nhà nước phải ban hành những đạo luật chống Tơrớt với sự mở đầu bằng đạo luật Sherman năm 1890 luật Clayton năm 1914 hai luật cơ bản cho chính sách chống Tơrớt của Mỹ.

Năm 1936 luật Robinson- Patman đã ban hành và nghiêm khắc hơn trong việc xử lý các hành vi phân biệt đối xử . Đến đầu năm 1980 chính sách cạnh tranh của Mỹ được coi là chính sách chặt chẽ và nghiêm khắc nhất của thế giới.

Trên thực tế hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh ở Mỹ theo luật Sherman là nghiêm cấm mọi hành vi ngăn cản thương mại theo chiều ngang và chiều dọc. Theo chiều ngang, các thỏa thuận giữa các đối thủ cạnh tranh về những khía cạnh, cạnh tranh quan trọng như giá cả và sản lượng có thể được coi là phạm pháp và phải chị hình phạt rất nặng về tiền hoặc bỏ tù.Tác động thực tế hoặc sự hợp lý của giá cả hoặc phân chia thị trường được thỏa thuận không được chấp nhận là lý do cho thỏa thuận chiều ngang. Bản thân của các thỏa thuận này là vi phạm pháp luật. Người ta có thể áp dụng hình phạt nhẹ hơn như chấm dứt hoặc dình chỉ thỏa thuận. Các thỏa thuận theo chiều ngang khác cũng coi như là phạm pháp nhưng tính pháp lý của chúng lại phụ thuộc vào kết quả kiểm tra tức là phụ thuộc vào tác động thực tế của cạnh tranh đối với thỏa thuận.

Ngăn cản thỏa thuận chiều ngang thường được sử dụng để bảo đảm rằng các nghành được giải quy chế không tiếp tục thói quen cũ của mình.Sau khi giải quyết quy chế của nghành hàng không hành vi ngoan cố đã bị phát giác. Nghành hàng không đã bị kiện khi họ duy trì các thỏa thuận giá thông qua các tín hiệu truyền trên mạng . Các thỏa thuận về tiền cước xe tải đã bị kết tội ấn định giá theo chiều ngang.Các thỏa thuận cạnh tranh không lành mạnh của các hãng truyền hình cáp bị kết tội phân chia thị trường.

Continue reading

NHẬN DẠNG HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH THEO LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ NĂM 2005

THANH MAI (Tổng hợp)

Luật Sở hữu trí tuệ 2005 quy định các hành vi cạnh tranh không lành mạnh về sở hữu trí tuệ bao gồm:

1. Sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn về chủ thể kinh doanh, hoạt động kinh doanh, nguồn gốc thương mại của hàng hoá, dịch vụ

Theo quy định tại Điều 211 Luật Sở hữu trí tuệ và Điều 16 Nghị định 106/2006/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính về sở hữu công nghiệp, các hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ sẽ được điều chỉnh theo pháp luật cạnh tranh.

Bên cạnh đó, tổ chức, cá nhân bị thiệt hại hoặc có khả năng bị thiệt hại do hành vi cạnh tranh không lành mạnh có quyền yêu cầu Toà án có thẩm quyền áp dụng các biện pháp dân sự quy định tại Điều 202 của Luật Sở hữu trí tuệ, bao gồm :
– Buộc chấm dứt hành vi xâm phạm;

– Buộc xin lỗi, cải chính công khai;

– Buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự;

– Buộc bồi thường thiệt hại;

– Buộc tiêu huỷ hoặc buộc phân phối hoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại đối với hàng hoá, nguyên liệu, vật liệu và phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hoá xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ với điều kiện không làm ảnh hưởng đến khả năng khai thác quyền của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ.

2. Sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn về xuất xứ, cách sản xuất, tính năng, chất lượng, số lượng hoặc đặc điểm khác của hàng hoá, dịch vụ; về điều kiện cung cấp hàng hoá, dịch vụ.

Continue reading

LUẬT CẠNH TRANH KHÔNG BẢO HỘ LỢI NHUẬN

GS.TS. NGUYỄN VÂN NAM

Sự kiện 06 doanh nghiệp chiếu phim (06 DN) gửi đơn khiếu nại tập thể lên Cục quản lý Cạnh tranh (CQLCT) yêu cầu bảo vệ trước hoạt động kinh doanh được cho là vi phạm Luật Cạnh Tranh (LCT) của công ty Megastar là một sự kiện đáng mừng. Nó cho thấy doanh nghiệp ngày càng nhận ra tầm quan trọng có tính chất quyết định của LCT trong hoạt động kinh doanh, sẽ cho thấy năng lực của CQLCT đến đâu, đồng thời cũng làm bộc lộ những thiếu sót „chết người“ trong LCT của chúng ta.

Do có một nhà đầu tư Châu Âu chiếm tới 90% vốn điều lệ của Megastar, tranh chấp này sẽ là cuộc tranh luận nẩy lửa giữa việc phải áp dụng những nguyên tắc, thông lệ và tiêu chuẩn quốc tế (đại diện bởi Megastar) về cạnh tranh-mà Việt nam với tư cách thành viên WTO phải tôn trọng- với việc áp dụng LCT của ta.

Luật CT không bảo hộ các doanh nghiệp do kinh doanh không có hiệu quả mà bị lỗ, thậm chí phá sản trong cuộc cạnh tranh lành mạnh với các doanh nghiệp khác. Không phải hễ cứ có doanh nghiệp thống lĩnh thị trường (TLTT) thì có thể tha hồ đổ lỗi cho nó mỗi khi ta kinh doanh thua lỗ.

Trước hết, việc xác định Megastar có vị trí TLTT hay không, không hề dễ dàng. LCT và các văn bản hướng dẫn cũng chưa nêu đủ, rõ ràng và phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế các tiêu chí xác định thị phần, thị trường và thị trường liên quan.

Vươn tới chiếm lĩnh thị phần ngày càng lớn để kiếm được nhiều lợi nhuật hơn là mơ ước và động lực kinh doanh chính đáng của mọi doanh nghiệp. Bản thân việc có thị phần trên 30% không phải là có tội và cũng chưa phải là đã đủ để có thể thống lĩnh thị trường. Chỉ doanh nghiệp nào với thị phần này và có khả năng hạn chế quyền tự do cạnh tranh của doanh nghiệp khác, mới là có vị trí TLTT. Khác với thông lệ và tiêu chuẩn quốc tế, luật CT của ta (Khoản 1, Điều 11) qui định doanh nghiệp chiếm thị phần từ 30% trở lên đã là có vị trí TLTT (Quốc tế: thị phần 30% trở lên và có khả năng hạn chế cạnh tranh đối với các doanh nghiệp khác). Sự khác nhau này sẽ gây ra tranh luận dữ dội giữa quan điểm quốc tế và quan điểm Việt nam.

Continue reading

BÌNH LUẬN TỪ VIỆC MEGASTAR BỊ KHIẾU NẠI

PHẠM HOÀI HUẤN

Vụ việc

Megastar là một trong những tên tuổi hàng đầu hoạt động trong lĩnh vực giải trí tại thành phố Hồ Chí Minh. Gần đây, theo các thông tin được đưa trên các phương tiện truyền thông, sáu doanh nghiệp ngành điện ảnh đã nộp đơn đến Cục Quản lý cạnh tranh để khiếu nại Megastar với lý do Megastar đã có hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường. Cụ thể, sáu doanh nghiệp trên đã khiếu kiện Megastar với các lý do như sau:

Thứ nhất, theo phân tích của các doanh nghiệp đứng đơn, hiện nay 90% các phim nhựa chiếu rạp là phim nước ngoài, được các doanh nghiệp nhập khẩu từ các hãng sản xuất phim nước ngoài. Với mỗi phim, hãng sản xuất phim nước ngoài ký hợp đồng với một doanh nghiệp để doanh nghiệp này nhập khẩu và phân phối lại phim cho các doanh nghiệp khác trong nước. Các doanh nghiệp này cũng thống kê rằng, Megastar thường chiếm khoảng 50% số phim nhập khẩu mỗi năm. Cụ thể, tổng phim nhập khẩu trong năm 2009 là 106 phim, riêng Megastar nhập 50 phim. Bên khiếu nại cũng cho rằng, doanh thu từ hoạt động phân phối phim nhựa nhập khẩu của Megastar trong thời gian qua dao động từ 34% đến 75% tổng doanh thu trên thị trường phân phối phim nhựa nhập khẩu tại Việt Nam

Thứ hai, bên khiếu nại cho rằng, Megastar đã vi phạm Luật Cạnh tranh khi có hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường. Cụ thể là việc Megastar áp đặt giá bán hàng hóa, dịch vụ bất hợp lý gây thiệt hại cho khách hàng khi áp dụng chính sách định phí thuê phim tối thiểu trên mỗi người xem. Hiểu nôm na, với mỗi phim mà Megastar phân phối cho các doanh nghiệp khác chiếu, Megastar thu 25.000 đồng trên mỗi vé mà các doanh nghiệp này bán ra. Bên khiếu nại cho rằng, cách thu này của Megastar (áp dụng từ đầu tháng 6/2009) đã khiến các doanh nghiệp phải nâng giá vé để tránh lỗ và kết quả là khán giả bị thiệt hại do giá vé tăng.

Thứ ba, ngoài ra, bên khiếu nại cũng cho rằng Megastar đã áp đặt điều kiện trong quan hệ giữa các bên. Cụ thể, Megastar buộc các doanh nghiệp này phải thuê thêm phim khác kèm theo phim muốn thuê. Ví dụ, muốn có phim Transformers (một phim thuộc dạng “bom tấn”, hút khách) thì Công ty Cổ phần phim Thiên Ngân (Galaxy) phải lấy kèm phim Ice Age (là một phim hoạt hình).

Bên khiếu nại còn nêu việc Megastar đã buộc các doanh nghiệp này phải chiếu những phim do Megastar phân phối tại những phòng chiếu do Megastar chỉ định. Hành vi này bị bên khiếu nại cho là Megastar đã áp đặt điều kiện cho các doanh nghiệp.

Continue reading

KINH NGHIỆM CỦA NHẬT BẢN VỀ QUẢN LÝ KIỂM SOÁT HÀNH VI THỎA THUẬN HẠN CHẾ CẠNH TRANH

MINH NGỌC (Tổng hợp)

Luật cạnh tranh cơ bản của Nhật Bản là luật chống độc quyền được ban hành năm 1997. Nhằm ngăn chặn độc quyền tư nhân và tình trạng độc quyền,những hành vi cạnh tranh không lành mạnh và các vụ sáp nhập hạn chế cạnh tranh. Đạo luật này được bổ sung bởi rất nhiều hướng dẫn và quy định cũng như bởi các luật khác liên quan đến các khía cạnh cạnh tranh không lành mạnh làm tổn hại đến các doanh nghiệp khác. Những chính sách cạnh tranh của nhà nước chụi ảnh hưởng rất nhiều bởi các đạo luật chuyên nghành và những miễn trừ. Những miễn trừ này kể cả chính thức và phi chính thức, khuyến khích hoặc chấp nhận các thỏa thuận cấu kết các vụ sáp nhập và kiểm soát đối với hệ thống phân phối.

Tương tự như luật cạnh tranh của nhiều nước, luật chống độc quyền của Nhật Bản cấm các thỏa thuận giữa các đối thủ cạnh tranh cùng phối hợp hoạt động để hạn chế cạnh tranh, bao gồm các loại hợp đồng, thỏa thuận, các hành vi phối hợp hoạt động để chi phối giá cả, hạn chế sản lượng, công nghệ phát triển sản phẩm, phân chia thị trường,khách hàng,thông đồng trong bỏ thầu hoặc tẩy chay các đối tượng khác.

Trong luật chống độc quyền của Nhật bản có điều khỏan quy định về hiệp hội. cũng là quy định phổ biến trong luật của nước khác.Bên cạnh những tác động tích cực các hiệp hội đồng thời tạo điều kiện cho các hoạt động không phù hợp với tư tưởng cạnh tranh trong nội bộ một nghành và các ngành khác với nhau.Quy định này cấm các hiệp hội thương mại hạn chế cạnh tranh một các nghiêm trọng như hạn chế số hãng kinh doanh trong nghành, hạn chế một cách không công bằng cách thức các thành viên tiến hành kinh doanh. Các hội ở Nhật bản có quan hệ chặt chẽ với các bộ liên quan , được bộ sử dụng để đạt được các mục tiêu hành chính nào đó.

Các hướng dẫn hành chính về bảo vệ sức khỏe an toàn và môi trường được coi là không có tác động trực tiếp đến cơ chế thị trường, dẫn đến vi phạm Luật chống độc quyền.Những vấn đề còn đang tranh luận là ổn định giá cả, hàng hóa, đảm bảo sự công bằng và minh bạch trong dao dịch kinh doanh và bảo vệ các doanh nghiệp nhỏ.Những hạn chế khả năng lựa chọn của doanh nghiệp về tham gia thị trường, giá cả, đầu tư và sản lượng có thể tác động tới thị trường và gây tranh cãi.Các hướng dẫn nhằm ngăn ngừa cạnh tranh quá mức, điều chỉnh cung-cầu, điều chỉnh lợi thế và bất lợi giữa các hãng, duy trì trật tự trong nghành.Nội dung và hình thức hướng dẫn kỹ thuật kinh doanh, chất lượng, tiêu chuẩn, quảng cáo không nhất thiết có tác động trực tiếp đối với cơ chế thị trường, mặc dù những vấn đề này là những công cụ quan trọng của cạnh tranh.Trên thực tế, sự thừa nhận rộng rãi vai trò của chính phủ đối với việc hướng dẫn các doanh nghiệp thống nhất hành động trong kinh doanh là một khó khăn trong việc thực hiện chính sách cạnh tranh.

Continue reading

XÁC ĐỊNH HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH VÀ HÀNH VI HẠN CHẾ CẠNH TRANH LIÊN QUAN ĐẾN QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM

THS. NGUYỄN NHƯ QUỲNH – Khoa Luật Dân sự – Trường Đ.H Luật Hà Nội

1. Quy định về hành vi cạnh tranh không lành mạnh và hành vi hạn chế cạnh tranh liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp theo quy định của pháp luật Việt Nam[1]

Nhằm bù đắp cho những nỗ lực sáng tạo của chủ thể đã tạo ra đối tượng sở hữu công nghiệp, chủ thể sáng tạo được trao những độc quyền trong một thời hạn nhất định. Việc thực hiện những độc quyền này, tuy nhiên, có thể gây ra những tác động tiêu cực cho khả năng tiếp cận hàng hoá của người tiêu dùng, cho sự lưu chuyển bình thường của hàng hoá, dịch vụ trên thị trường và cho cạnh tranh lành mạnh. Chủ thể nắm giữ quyền sở hữu công nghiệp được trao độc quyền, bởi vậy, họ dễ dàng lạm dụng quyền để cản trở hoạt động thương mại, gây tổn hại cho người tiêu dùng.[2] Hơn nữa, xuất phát từ giá trị thương mại của đối tượng sở hữu công nghiệp, chủ thể kinh doanh thường nghĩ đến việc sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp của đối thủ cạnh tranh (đây được coi như một trong những thành quả đầu tư của đối thủ cạnh tranh) để kiếm lời và gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh. Bởi vậy, việc xuất hiện các hành vi cạnh tranh liên quan đến sở hữu công nghiệp là tất yếu. Những hành vi này vừa vi phạm pháp luật cạnh tranh vừa vi phạm pháp luật sở hữu trí tuệ và được chia thành hai loại: hành vi hạn chế cạnh tranh và hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp. Khi nền kinh tế càng phát triển thì loại việc này càng nhiều. Thực tế này đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa pháp luật cạnh tranh và pháp luật sở hữu trí tuệ, sự cân bằng giữa bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và chính sách đảm bảo cạnh tranh lành mạnh.[3]

Cạnh tranh liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp trước hết là việc cạnh tranh, bên cạnh đó còn có đặc điểm riêng biệt gắn liền với quyền sở hữu công nghiệp. Đó là, đối với cạnh tranh liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp, việc cạnh tranh liên quan đến sử dụng và chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp. Hành vi cạnh tranh bất hợp pháp liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp vi phạm cả pháp luật cạnh tranh và pháp luật sở hữu trí tuệ.

Continue reading