TIẾP TỤC THỰC THI LUẬT CẠNH TRANH TRONG ĐIỀU KIỆN ĐẤT NƯỚC CHUYỂN MẠNH SANG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG VÀ HỘI NHẠP KINH TẾ QUỐC TẾ

PGS.TS. LÊ DANH VĨNH – Thứ trưởng Bộ Công thương, Chủ tịch Hội đồng Cạnh tranh

1. Bối cảnh ra đời của Luật cạnh tranh

Trước năm 1986, nền kinh tế VN là nền kinh tế kế hoạch tập trung, bao cấp hoàn toàn xa lạ với khái niệm môi trường cạnh tranh và các hành vi cạnh tranh. Kể từ khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng hơn vào nền kinh tế,  thương mại toàn cầu thì cạnh tranh được thừa nhận là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế, tiến bộ khoa học công nghệ và xã hội, cạnh tranh công bằng và bình đẳng đóng một vai trò nền tảng trong việc đảm bảo một nền kinh tế thị trường hiệu quả.

Trong bối cảnh đó, ngay từ những năm 2000, Luật cạnh tranh đã được Quốc hội và Chính phủ VN đưa vào chương trình xây dựng pháp luật, đã được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 3 tháng 12 năm 2004, bắt đầu có hiệu lực vào ngày 1 tháng 7 năm 2005. Có thể nói Luật cạnh tranh được nhiều nước coi là Hiến pháp của nền kinh tế thị trường, cũng là một bước tiến hết sức quan trọng trên lộ trình tìm kiếm cơ chế quản lý kinh tế thích hợp, hoàn thiện và xây dựng một môi trường cạnh tranh lành mạnh, không phân biệt đối xử cũng như đẩy nhanh hội nhập kinh tế quốc tế.

Continue reading

TIẾP TỤC THỰC THI LUẬT CẠNH TRANH trong điều kiện đất nước chuyển mạnh sang nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế

PGS.TS. LÊ DANH VĨNH – Thứ trưởng Bộ Công thương, Chủ tịch Hội đồng Cạnh tranh

1. Bối cảnh ra đời của Luật cạnh tranh

Trước năm 1986, nền kinh tế VN là nền kinh tế kế hoạch tập trung, bao cấp hoàn toàn xa lạ với khái niệm môi trường cạnh tranh và các hành vi cạnh tranh. Kể từ khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng hơn vào nền kinh tế,  thương mại toàn cầu thì cạnh tranh được thừa nhận là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế, tiến bộ khoa học công nghệ và xã hội, cạnh tranh công bằng và bình đẳng đóng một vai trò nền tảng trong việc đảm bảo một nền kinh tế thị trường hiệu quả.

Trong bối cảnh đó, ngay từ những năm 2000, Luật cạnh tranh đã được Quốc hội và Chính phủ VN đưa vào chương trình xây dựng pháp luật, đã được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 3 tháng 12 năm 2004, bắt đầu có hiệu lực vào ngày 1 tháng 7 năm 2005. Có thể nói Luật cạnh tranh được nhiều nước coi là Hiến pháp của nền kinh tế thị trường, cũng là một bước tiến hết sức quan trọng trên lộ trình tìm kiếm cơ chế quản lý kinh tế thích hợp, hoàn thiện và xây dựng một môi trường cạnh tranh lành mạnh, không phân biệt đối xử cũng như đẩy nhanh hội nhập kinh tế quốc tế.

Continue reading

CẠNH TRANH: PHƯƠNG THUỐC CHỐNG LẠM PHÁT

NGUYÊN TẤN

Cạnh tranh tự do, công bằng sẽ thúc đẩy sản xuất, kích thích doanh nghiệp hạ giá thành sản phẩm. Theo TS. Nguyễn Vân Nam, Giám đốc Công ty Luật Nam Hùng, đây là phương thuốc căn bản nhất để chống lạm phát.

Lạm phát thấp, cao tùy “độ mở”

TS. Nguyễn Vân Nam cho rằng muốn có cạnh tranh tự do, công bằng thì trước hết đặc quyền, đặc lợi của một số doanh nghiệp phải bị xóa bỏ và thị trường phải được đảm bảo tự do cho nhiều đối tượng tham gia cạnh tranh. Thực tế đã chứng minh rất rõ thị trường ở lĩnh vực nào có độ mở càng cao thì ở đó giá cả càng có xu hướng rẻ. Mặt hàng điện tử là một ví dụ thú vị. Bất chấp lạm phát đang diễn ra, giá các mặt hàng này hầu như không tăng, thậm chí còn giảm.

Vì sao vậy? Vì điện tử là lĩnh vực mà mức độ cạnh tranh hiện nay hết sức khốc liệt, hầu hết các doanh nghiệp hàng đầu trên thế giới như LG, Philips, Sony, Sumsung, Toshiba… đều đã hiện diện tại Việt Nam. Chưa nói, chính sách thuế nhập khẩu đối với các mặt hàng điện tử khá thông thoáng khi thuế nhập khẩu được giảm sớm hơn so với lộ trình cam kết với WTO.

Continue reading

NHÌN TỪ NGÀNH LÚA GẠO: ĐỂ TƯ DOANH BÌNH ĐẲNG VỚI QUỐC DOANH TRONG CẠNH TRANH

NGUYỄN VĂN SƠN

Mặc dù có một vài điểm chưa đồng ý về quan niệm “thị trường tự do… là tự do thuận mua vừa bán”, nhưng tôi đồng tình với ông Lê Văn Triết về vai trò của các công ty, các tổng công ty, các tập đoàn quốc doanh (Các bạn tham khảo bài phát biểu của ông Lê Văn Triết ở cuối bài này – Civillawinfor).

Ngày nay, khái niệm kinh tế tự do luôn luôn được đi kèm với vai trò của Chính phủ trong việc bảo vệ nhà sản xuất và người tiêu dùng trong nước thông qua các công cụ thuế, lãi suất, tỷ giá hối đoái… cùng các quy định, luật lệ về tiêu chuẩn hàng hoá, dịch vụ, giá cả. Nếu Chính phủ có “đẻ” ra các công ty, các tổng công ty hay tập đoàn quốc doanh thì cũng – nói cho cùng – là chỉ để làm các nhiệm vụ bảo vệ người tiêu dùng trong nước mà thôi. Các đơn vị quốc doanh nêu trên có nhiệm vụ sản xuất (và kinh doanh) các mặt hàng mang tính chiến lược mà tư doanh chưa muốn làm (vì lợi nhuận thấp, thiếu vốn, chưa nắm vững thị trường, chưa có điều kiện kỹ thuật), không thể làm (vốn quá lớn, có ảnh hưởng đến an ninh quốc gia mà Nhà nước giành độc quyền). Và sau khi sản xuất kinh doanh thành công, các đơn vị quốc doanh nêu trên thường được giải tư (cổ phần hoá) cho tư doanh, nếu không ảnh hưởng đến an ninh quốc gia. Continue reading

CẦN CÓ CÁC QUY ĐỊNH CHO DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRONG VIỆC THỰC HIỆN LUẬT CẠNH TRANH

THS. LÊ VĂN HƯNG – Trưởng Khoa Luật, Đại học kinh tế TPHCM

Cạnh tranh là một hiện tượng gắn liền với kinh tế thị trường. Thực tiễn nhiều nước đã chứng minh, nếu được kiểm soát tốt, cạnh tranh mang lại nhiều lợi ích cho nền kinh tế, cho công chúng tiêu dùng, vì họ có thể hưởng những dịch vụ với giá rẻ hơn và chất lượng tốt hơn. Có nhiều cách hiểu khác nhau về cạnh tranh, song tựu trung lại, có thể quan niệm : Cạnh tranh là việc các nhà kinh doanh sử dụng những phương thức khác nhau để giành ưu thế thương trường về mình so với các đối thủ khác.

Cạnh tranh là quá trình nhà kinh doanh “giành” lấy khách hàng cho mình bằng cách cung cấp những điều kiện tốt hơn so với đối thủ về giá cả, chất lượng hoặc các dịch vụ hỗ trợ khác. Pháp luật về cạnh tranh xuất hiện từ khá lâu. Công ước Pa-ri (1883) được ghi nhận là văn bản pháp lý đầu tiên đề cập đến khái niệm cạnh tranh thông qua việc quy định những hành vi cạnh tranh bất chính và biện pháp xử lý chúng. Hiện nay, ở hầu khắp các nước có nền kinh tế thị trường đều đã có Luật Cạnh tranh. Các nước có nền kinh tế chuyển đổi như Cộng hòa Liên bang Nga, Trung Quốc,… cũng đã lần lượt ban hành Luật Cạnh tranh. Continue reading

SỐNG CHUNG VỚI HÀNG TRUNG QUỐC?

KIM HẠNH

Trung Quốc là nhà máy của toàn thế giới và hàng Trung Quốc có mặt khắp các châu lục. Chúng ta chắc chắn sẽ còn sống chung với hàng Trung Quốc và việc hợp tác kinh tế với họ, qua lại với họ về sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ là điều không thể tránh khỏi. Song đó là một chiến lược lớn cần đề cập căn cơ, quan niệm tỉnh táo và có tầm nhìn, định hướng lâu dài, hai bên cùng có lợi trên cơ sở tôn trọng nhau chứ không được áp đặt, lấn lướt giành phần khôn, phần lợi về mình.

Một chiến lược giao thương và hợp tác kinh tế với Trung Quốc trong tình hình mới hiện nay cần được bàn luận trong toàn dân để Nhà nước trên cơ sở đó mà có quyết sách hợp lòng dân. Khi có quyết sách hợp lòng dân thì Nhà nước ta mới đủ sức mạnh đàm phán và làm ăn với anh bạn lớn, đủ sức đương đầu vượt qua những lá lay, lấn lướt thường thấy lâu nay.

Riêng về vấn đề “nhà nhà đánh hàng, bán hàng Trung Quốc” hiện đang xảy ra thì theo tôi có hai biện pháp cần quan tâm sớm:

1. Doanh nghiệp Việt Nam, người tiêu dùng Việt Nam cần có đầy đủ thông tin về đối sách Trung Quốc đang sử dụng cho thị trường Việt Nam, về chiến lược lâu dài cũng như các sách lược, các chiêu thức, kỹ xảo của Trung Quốc đang áp dụng cho Việt Nam.

Họ có đội ngũ nghiên cứu giỏi, được trang cấp mọi phương tiện và có nhiều kênh thông tin cấp thời, hiệu quả cho doanh nghiệp. Một công ty dệt may vừa đi mua nguyên phụ liệu ở Trung Quốc kể rằng đã bị nhiều nhà bán lẻ Trung Quốc chặn hỏi, phải chăng Nhà nước Việt Nam đang có chiến dịch đưa hàng dệt may Việt Nam về tranh chỗ của hàng dệt may Trung Quốc ở nông thôn Việt?

Continue reading

NHỮNG MÂU THUẪN NGÀY CÀNG NGHIÊM TRỌNG GIỮA LUẬT PHÁP MỸ VÀ CÁC NGUYÊN TẮC CỦA WTO

LEWIS E. LEIBWITZ – Đối tác của hãng luật Hogan & Hartson ở Washington D.C đồng thời là Luật sư của Liên minh hành động thương mại công nghiệp tiêu dùng.

Tóm tắt

Luật pháp của Mỹ về các biện pháp đảm bảo cạnh tranh thương mại bình đẳng nói chung, thuế chống bán phá giá và thuế đối kháng nói riêng cũng như điều khoản 201 về biện pháp tự vệ thường vẫn luôn được coi là những hỗ trợ chính trị trong nước cho nền kinh tế trong quá trình tự do hoá thương mại. Do đó, có quan điểm cho rằng những biện pháp nói trên đã thực sự củng cố thêm các cam kết của Mỹ đối với Tổ chức Thương mại thế giới (WTO).

Tuy nhiên, luận điểm đó đã bỏ qua một điều gây tranh cãi rằng luật thương mại Mỹ đang gây xung đột rất lớn với các đối tác thương mại nước ngoài. Mỹ là nước đang phải đối mặt với nhiều cáo buộc nhất về việc không tuân thủ các quy tắc đa phương liên quan đến vấn đề chống bán phá giá, thuế đối kháng và tự vệ. Trên cơ sở hàng loạt đơn kiện luật pháp và thông lệ mà Mỹ đang áp dụng, Uỷ ban giải quyết các tranh chấp của WTO đã đưa ra nhiều quyết định quan trọng trong đó khẳng định Chính phủ Mỹ đã vi phạm các nghĩa vụ quốc tế của mình.

Sau khi xem xét lại các tranh chấp trên và các quy định có liên quan của WTO, có thể thấy rõ ràng rằng Luật pháp về các biện pháp đảm bảo cạnh tranh thương mại bình đẳng của Mỹ đã trở thành một vấn đề mấu chốt trong căng thẳng của hệ thống thương mại quốc tế. Hệ thống luật này của Mỹ hiện nay cũng như những hành động hỗ trợ cho việc tự do hoá thương mại của nước này không những không phù hợp mà còn đi ngược lại các nguyên tắc của WTO. Những nhà lập pháp Mỹ hiện đang phải đối mặt với một sự lựa chọn rất khó khăn giữa việc duy trì tình trạng luật pháp như hiện nay hay thực thi đầy đủ cam kết với WTO.

Lời mở đầu:

Luật pháp về các biện pháp đảm bảo cạnh tranh thương mại bình đẳng của Mỹ nói chung, luật thuế chống bán phá giá và thuế đối kháng nói riêng cũng như Điều khoản 201 về biện pháp tự vệ thường được áp dụng như một “van an toàn” chính trị nhằm giảm thiểu áp lực của việc bảo hộ. Ngay cả những nhà thương mại tự do hiểu rất rõ rằng bản thân những biện pháp này có tính chất bảo hộ nhưng vẫn ủng hộ vì dù sao những biện pháp này cũng giúp ngăn chặn việc xa rời hơn nữa thị trường tự do. Như Richard và Robert Litan lí giải như sau:

Thực tế, việc không đạt được các lợi ích trong nước đã dẫn đến nhu cầu áp dụng các biện pháp đảm bảo cạnh tranh thương mại bình đẳng để bù đắp lại những hành vi không công bằng trong thương mại của các nước khác; cũng giống như một van an toàn về pháp lí để tránh những lời chỉ trích mạnh mẽ nhất về bảo hộ và tìm đến những hình thức bảo hộ minh bạch hơn. Do vậy, nỗ lực để thực thi thương mại công bằng có thể được xem là phù hợp cho tới khi các biện pháp này thành công trong việc ngăn ngừa nhiều hơn những hành động bảo hộ phi lí.

Continue reading

XỬ LÝ PHÁ SẢN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

CIVILLAWINFOR – Bài viết này được tác giả viết năm 2003 để đóng góp vào Dự thảo Luật phá sản sửa đổi và Luật phá sản sửa đổi đã được ban hành năm 2004. Civillawinfor đăng lại để có thêm thông tin cho quí vị nghiên cứu.

PHẠM HẢI ĐĂNG – Vụ Tài chính đối ngoại Bộ Tài chính

Có thể nói rằng về cơ bản đến dự thảo 6 Luật Phá sản sửa đổi, Ban soạn thảo đã thực hiện được một sự cải cách khá toàn diện Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993, trong đó có nhiều qui định rất mới và hết sức thiết thực cho việc vận dụng khi xử lý các trường hợp phá sản trong tình hình quan hệ kinh tế hết sức phong phú, phức tạp do môi trường kinh doanh của chúng ta đã thay đổi rất sâu sắc trong 10 năm qua.

Tuy nhiên, cũng còn một số nội dung của Dự thảo cần được tranh luận để làm rõ và giải quyết triệt để hơn, cụ thể như sau:

1/ Về nguyên tắc của Luật: ở phần lời nói đầu Dự thảo Luật đã thể hiện một số nguyên tắc xây dựng Luật Phá sản lần này. Tuy nhiên, theo quan điểm của tôi, cần qui định rõ trong một điều khoản các nguyên tắc chung để không những quá trình xây dựng Luật phải tuân theo mà cả các văn bản hướng dẫn sau này như Nghị định, thông tư ( Do các ban soạn thảo khác biện soạn) tuân thủ. Thí dụ: Nguyên tắc đối xử ngang bằng giữa các chủ nợ ( giữa chủ nợ trong nước và chủ nợ nước ngoài, giữa chủ nợ không có bảo đảm với nhau, giữa các chủ nợ có bảo đảm…v.v).

2/ Về đối tượng áp dụng và tên gọi của Luật Phá sản sửa đổi: Tôi cho rằng, tên gọi do Ban soạn thảo đưa ra là Luật Phá sản là một sự đổi mới thể hiện quan điểm giải quyết triệt để hơn và phạm vi áp dung của Luật rộng hơn là hợp lý. Luật Phá sản mới sẽ không chỉ giải quyết các trường hợp phá sản của pháp nhân hay doanh nghiệp mà còn mở rông ra các đối tượng tham gia hoạt động kinh doanh khác không thành lập pháp nhân hoặc chưa được coi là doanh nghiệp. Về nguyên tắc những đối tượng tham gia vào hoạt động kinh doanh theo qui định của các luật hiện hành như Luật Thương mại (thương nhân) Luật doanh nghiệp, Luật hợp tác xã…là hết sức rộng rãi và những đối tượng này đều có thể lầm vào "tình trạng phá sản". Khi đã tham gia hoạt động kinh doanh mà lâm vào tình trạng phá sản thì đối tượng kinh doanh đó rất có thể mắc nhiều khoản nợ với nhiều chủ nợ. Nếu nhìn từ quan điểm bảo vệ các chủ nợ đòi nợ một cách trật tự và công bằng thì đương nhiên phải áp dụng luật phá sản đối với những đối tượng này cho dù là pháp nhân hay thể nhân, cho dù được coi là doanh nghiệp hay thương nhân. Mặt khác, Luật phá sản ra đời là để bảo đảm sự phân bố lại tài sản một cách có trật tự giữa các chủ thể tham gia hoạt động "kinh doanh" vì vậy nên chăng cần có quan điểm là Luật phá sản áp dụng như một thủ tục đòi nợ tập thể liên quan đến kinh doanh, có nghĩa là, xét theo chủ thể, liên quan đến đối tượng tham gia kinh doanh (mắc nợ). Xác định đối tượng đầy đủ hơn như vậy, theo quan điểm của tôi sẽ thuận tiện hơn trong việc sử lý phá sản dây truyền (như tại các nước Châu á trong khủng hoảng năm 1997. Những đối tượng, như doanh nghiệp tư nhân, thành viên công ty hợp danh, hộ kinh doanh cá thể, do trách nhiệm là vô hạn cũng cần thiết phải tuyên bố miễn trách nhiệm cho họ sau khi đã thực hiện thủ tục thanh toán xong và Toà án Tuyên bố phá sản. Lý do là: Quan điểm trách nhiệm vô hạn nên được hiểu về mặt tài sản tại thời điểm giải quyết phá sản, là toàn bộ tài sản của nhứng đối tượng này, không phân biệt tài sản đưa vào kinh doanh với tài sản không đưa vào kinh doanh phải được đem ra xử lý ( cần xác định rõ là mọi tài sản thuộc sở hữu của họ tại thời điểm giải quyết phá sản) chứ không nên hiểu là vô hạn về mặt thời gian, nghĩa là theo suốt cuộc đời họ. Với quan điểm như vậy, nhiều năm sau đối tượng đó còn có cơ hội quay lại gây dựng sự nghiệp và tham gia môi trường kinh doanh. Đạo lý Luật Phá sản còn bảo vệ cả con nợ là ở chỗ này.

Continue reading

HỦY QUYẾT ĐỊNH TRỌNG TÀI: CHẾ ĐỊNH CÒN NHIỀU ĐIỀU BẤT CẬP TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM

ĐẶNG HOÀNG OANH – Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Tư pháp 

Tiếp theo một số bài viết đã đăng phân tích một số tồn tại của Pháp lệnh trọng tài thương mại Việt Nam (về hình thức và nội dung của Quyết định trọng tài, về tuyên quyết định trọng tài theo nguyên tắc đa số, về công nhận và thi hành quyết định trọng tài…), chúng tôi xin giới thiệu bài viết về huỷ quyết định trọng tài – một chế định đang tồn tại trong pháp luật Việt Nam với rất nhiều điều bất cập. Ngoài việc mổ xẻ, phân tích, lập luận để thấy rõ những quy định vô lý của pháp luật hiện hành về trọng tài, tác giả còn vận dụng và dẫn chiếu kinh nghiệm nước ngoài để đưa ra các đề xuất cụ thể cho việc xây dựng Luật trọng tài thương mại hiện nay.

Sự thành công của trọng tài quốc tế phụ thuộc rất nhiều vào việc quyết định trọng tài có được thi hành hay không. Rõ ràng không có gì làm thất vọng các bên kinh doanh bằng việc bỏ ra những tốn kém khổng lồ về công sức và tiền của để rồi chỉ có được một quyết định trọng tài không được thi hành. Điều mà các bên mong muốn trong giải quyết tranh chấp thương mại, đương nhiên là sự đền bù về tiền bạc, chứ không phải là một tờ giấy ghi phán quyết. Các bên kinh doanh sẽ không bao giờ lựa chọn trọng tài một khi họ không tin tưởng vào tính thi hành của quyết định trọng tài. Ngược lại, giao lưu thương mại sẽ trở nên trôi chảy nếu các thương gia biết rõ rằng tranh chấp của họ có thể được giải quyết một cách hiệu quả. Việc xác định được tính thi hành của quyết định trọng tài sẽ ảnh hưởng đến quyết định của nhà đầu tư trong sự lựa chọn có nên giải quyết tranh chấp hay không, bằng trọng tài hay Toà án, chọn trọng tài ở đâu và trong một số trường hợp có thể dẫn cả tới quyết định quan trọng của họ là có nên kinh doanh nữa hay không.

Một trong những yếu tố đảm bảo cho tính có thể thi hành của phán quyết trọng tài là các quy định về huỷ quyết định trọng tài phải rất hợp lý và chặt chẽ, tránh trường hợp quyết định trọng tài có thể bị bên thua kiện yêu cầu huỷ một cách tuỳ tiện.

So với quy tắc tố tụng của các thiết chế trọng tài quốc tế, cũng như pháp luật về trọng tài của các nước, thì Pháp lệnh trọng tài thương mại của Việt Nam dành một số lượng điều khoản nhiều hơn cả[i] để quy định về vấn đề huỷ quyết định trọng tài, từ các nguyên tắc huỷ quyết định trọng tài, cho đến thủ tục, trình tự huỷ quyết định trọng tài.

Cần phải nhấn mạnh một điều rằng, trong Chương về huỷ quyết định trọng tài, Pháp lệnh không làm rõ quyết định trọng tài thuộc đối tượng được các bên yêu cầu huỷ là quyết định gì. Theo Điều 37 và một số điều khác của Pháp lệnh, thì có rất nhiều loại quyết định trọng tài.[ii] Tuy nhiên, để làm rõ vấn đề này, điểm 5 Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao ngày 31 tháng 7 năm 2003 hướng dẫn thi hành một số quyết định của Pháp lệnh trọng tài thương mại (Nghị quyết) đã xác định rõ quyết định trọng tài thuộc đối tượng bị các bên yêu cầu huỷ là quyết định trọng tài nêu tại Điều 44.[iii]

Continue reading

THỦ TỤC GIA NHẬP (UNIDROIT) VÀ QUYỀN LỢI CỦA VIỆT NAM KHI GIA NHẬP TỔ CHỨC NÀY

ĐẶNG HOÀNG OANH – Vụ Hợp tác quốc tế, bộ Tư pháp

Tiếp theo 02 bài đã đăng về cơ cấu tổ chức, chức năng nhiệm vụ của Viện quốc tế về nhất thể hoá pháp luật tư (UNIDROIT) cũng như chính sách và thành tựu lập pháp của Viện, chúng tôi xin giới thiệu bài thứ 3, trình bày thủ tục gia nhập UNIDROIT và phân tích quyền lợi của Việt Nam khi trở thành thành viên tổ chức này. Hy vọng những ý kiến của tác giả sẽ phần nào được các cơ quan có liên quan của Việt Nam cân nhắc, tham khảo trong quá trình nghiên cứu gia nhập các tổ chức quốc tế về pháp luật và tư pháp, trong đó có Viện quốc tế về nhất thể hoá pháp luật tư.

1. Thủ tục gia nhập UNIDROIT:

Thủ tục gia nhập UNIDROIT được quy định tại Điều 20 của Điều lệ của tổ chức này, cụ thể là:

– Quốc gia muốn gia nhập UNIDROIT phải gửi một thông báo bằng văn bản tới Chính phủ Italia về việc gia nhập của mình;

– Việc gia nhập có hiệu lực 06 năm và đương nhiên được kéo dài thêm một thời hạn là 6 năm nữa, nếu không có tuyên bố bãi ước bằng văn bản ít nhất một năm trước ngày gia hạn thời hạn mới.

– Thông báo gia nhập và thông báo bãi ước phải được Chính phủ Italia thông báo tới Chính phủ các nước thành viên.

2. Quyền lợi của nước thành viên UNIDROIT:

Được tham gia vào việc bàn và quyết định Chương trình làm việc của UNIDROIT;

– Được tham gia ngay từ đầu vào quá trình soạn thảo các Công ước quốc tế.

– Các nước thành viên được chỉ định một thư viện trong nước và thư viện này được nhận mọi ấn phẩm của UNDROIT.

3. Quyền lợi của Việt Nam khi trở thành thành viên UNIDROIT

Việc gia nhập UNIDROIT sẽ mang lại thuận lợi cho nước ta ở 3 phương diện sau:

– Với tư cách là một nước thành viên, chúng ta được quyền tham gia vào việc bàn và quyết định Chương trình, Kế hoạch làm việc lâu dài và hàng năm của UNIDROIT. Cụ thể, chúng ta có thể chủ động đưa những nhu cầu nghiên cứu, nhu cầu về thống nhất và hài hoà hoá pháp luật tư vào Chương trình làm việc của UNIDROIT. Bên cạnh đó, với quyền được tham gia ngay từ đầu vào quá trình soạn thảo các Công ước quốc tế, chúng ta có thể chủ động thể hiện các quan điểm của Việt Nam vào Dự thảo các Công ước quốc tế do UNIDROIT chuẩn bị.

Continue reading

NHỮNG HÀNH VI HẠN CHẾ CẠNH TRANH, CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG LĨNH VỰC BẢO HIỂM Ở VIỆT NAM

TS. NGUYỄN ĐÌNH QUANG – NGUYỄN BÁ LINH – Tổng công ty Bảo hiểm Bảo Việt

Bối cảnh cạnh tranh trong ngành bảo hiểm

Sự phát triển của hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam là một xu thế tất yếu, nhất là trong bối cảnh hội nhập toàn diện, khi chúng ta đã là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Kinh tế thị trường đã tạo ra một môi trường thuận lợi cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Sự phong phú về hoạt động kinh doanh, tốc độ tăng trưởng cao về kinh tế, mức thu nhập ngày càng cao của nhiều tầng lớp dân cư, tính phức tạp, đa dạng của các loại rủi ro là những yếu tố quan trọng tác động mạnh đến việc hình thành và tăng nhanh các nhu cầu về bảo hiểm trong xã hội.

Trong quá trình phát triển ngành bảo hiểm Việt Nam, thời gian đầu, Tổng Công ty Bảo hiểm Việt Nam thực sự là doanh nghiệp đóng vai trò trụ cột trên thị trường. Trong bối cảnh lúc bấy giờ có thể hiểu là hầu hết không có sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp. Ngày 18/12/1993, với việc ban hành Nghị định 100/CP về kinh doanh bảo hiểm của Chính phủ đã đánh dấu một bước ngoặt trong quá trình phát triển ngành bảo hiểm nước ta. Trải qua quá trình hoạt động và phát triển, cùng với việc mở cửa thị trường trong bối cảnh hội nhập, đã có rất nhiều doanh nghiệp bảo hiểm ra đời. Đến nay, trên thị trường đã có 37 doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm (nếu tính cả 2 Công ty mới ra đời là Công ty Bảo hiểm Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Bảo Nông) và Công ty Bảo hiểm Quân đội (MIC) thì tổng số lên tới 39 công ty), trong đó có 1 công ty nhà nước, 18 công ty cổ phần, 4 doanh nghiệp liên doanh… Điều đáng chú ý là thị trường bảo hiểm Việt Nam còn có sự góp mặt của 37 văn phòng đại diện của các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài.

Nền kinh tế Việt Nam năm 2007 cho thấy những dấu hiệu phát triển khả quan đã tiếp tục tạo ra nhiều yếu tố tích cực cho sự phát triển của thị trường bảo hiểm. Ngành bảo hiểm Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng trên 20%, mức tăng cao nhất trong vòng 5 năm trở lại đây. Tuy nhiên, cạnh tranh trên thị trường bảo hiểm phi nhân thọ tiếp tục gia tăng mạnh mẽ. Sự cạnh tranh này được dự báo sẽ còn diễn ra khốc liệt hơn vào những năm tiếp theo khi các công ty bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài được phép cung cấp dịch vụ bảo hiểm bắt buộc trên thị trường bảo hiểm Việt Nam theo cam kết WTO.

Continue reading

THUYẾT MINH CHI TIẾT DỰ THẢO LUẬT TRỌNG TÀI

1. Giới thiệu tổng quan về dự thảo Luật Trọng tài

1.1. Kế thừa sự phát triển từ Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003, Nghị định số 25/2004/NĐ-CP, dựa trên thực tiễn hoạt động của các trung tâm trọng tài thương mại ở Việt Nam trong nhiều thập kỷ qua, nhất là trong hai thập kỷ từ khi thực thi Nghị định số 116/CP năm 1996 về trung tâm trọng tài kinh tế, thực hiện các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế mà Việt Nam đã gia nhập trong quá trình chủ động và tích cực hội nhập, dự thảo Luật trọng tài quy định về tổ chức và tố tụng trọng tài như một phương thức nhằm giải quyết một cách hiệu quả, nhanh chóng các tranh chấp trong đời sống kinh doanh, thương mại và dân sự. Dự thảo luật Luật trọng tài gồm XIV chương với 74 điều.

1.2. Tôn trọng và bảo vệ thoả thuận của các bên dân sự giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, dự thảo Luật trọng tài nhằm vào các mục đích: (i) quy định một thủ tục tố tụng trọng tài nhanh chóng, công bằng, hiệu quả và thuận lợi, (ii) đảm bảo sự hỗ trợ hiệu quả của toà án để các hội đồng trọng tài tuân thủ đúng tố tụng, các quyết định và phán quyết của trọng tài có hiệu lực và được thi hành, (iii) tạo điều kiện cho trọng tài viên và tổ chức trọng tài phát triển trong bối cảnh Việt Nam thực thi các cam kết về thương mại dịch vụ khi hội nhập kinh tế quốc tế.

1.3. Luật trọng tài về cơ bản là một luật tố tụng riêng so với các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2005. Dựa vào quy định của Luật trọng tài này các tổ chức trọng tài hoặc hội đồng trọng tài vụ việc có thể xây dựng quy tắc tố tụng cụ thể. Về từng nội dung chi tiết của dự luật, bản thuyết minh dưới đây làm rõ mục đích của quy phạm, các phương án lựa chọn và giải pháp mà Ban soạn thảo ưu tiên.

2. Phạm vi điều chỉnh và tên gọi của đạo luật

2.1. Trong quá trình soạn thảo Luật trọng tài có hai loại ý kiến về phạm vi điều chỉnh của dự luật. Nhóm ý kiến thứ nhất đề xuất giới hạn phạm vi điều chỉnh của pháp luật trọng tài trong các giao dịch thương mại của thương nhân, có xem xét mở rộng khái niệm thương mại cho phù hợp với Luật thương mại năm 2005 và các cam kết mà Việt Nam đã tham gia về thương mại quốc tế. Quan điểm này dựa trên các lập luận: thứ nhất, số lượng các vụ việc được giải quyết tại 08 trung tâm trọng tài thương mại hiện nay chưa nhiều (Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam VIAC với 140 trọng tài viên thụ lý 48 vụ trong năm 2008), khả năng và uy tín chuyên môn của các trọng tài viên của một số trung tâm cần được nâng cao hơn nữa; thứ hai, Luật mẫu của Uỷ ban Luật thương mại quốc tế của Liên hợp quốc (Uncitral Model Law 2006) cũng nhấn mạnh thẩm quyền của trọng tài vào các tranh chấp thương mại. Vì vậy nhóm ý kiến thứ nhất này cho rằng chưa nên mở rộng phạm vi điều chỉnh của Luật trọng tài và xác định tên gọi của đạo luật là Luật trọng tài thương mại.

Continue reading

MỘT SỐ VỤ VIỆC CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH DO CỤC QUẢN LÝ CẠNH TRANH XỬ LÝ

Công ty Glaxo Group Limited khiếu nại về chỉ dẫn gây nhầm lẫn của Công ty Vidipha

Thời gian: Tháng 01-03/2006

Nội dung: Chỉ dẫn gây nhầm lẫn làm sai lệch nhận thức của khách hàng giữa sản phẩm

Zinnat của Glaxo và Zaniat của Vidipha.

Hành vi: Chỉ dẫn gây nhầm lẫn

Xử lý: Điều tra sơ bộ

Kết quả: Đình chỉ điều tra sơ bộ theo Quyết định số 19/QĐ-QLCT ngày 29/03/2007

 

Vụ việc khiếu nại về khẩu hiệu kinh doanh của Công ty Syngenta

Thời gian: Tháng 8-9/2007

Nội dung: Văn phòng Luật sư Investconsult đại diện Công ty Syngenta khiếu nại Công

ty An Nông sử dụng trái phép khẩu hiệu kinh doanh “Be bồ chứa lúa”

Hành vi: Quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh

Xử lý: Trả lại hồ sơ

Kết quả: Trả lại hồ sơ khiếu nại do Bên khiếu nại không bổ sung hồ sơ trong thời hạn quy định

 

Vụ việc Công ty CP Liên kết tri thức in tờ rơi có nội dung sai lệch về sản phẩm bán hàng đa cấp

Thời gian: Tháng 8-11/2007

Nội dung: Chi cục QLTT Hà Nội chuyển hồ sơ và biên bản ghi nhận Công ty CP Liên

kết tri thức in tờ rơi có nội dung sai lệch về sản phẩm bán hàng đa cấp

Hành vi: Bán hàng đa cấp bất chính

Xử lý: Điều tra theo thủ tục tố tụng cạnh tranh

Kết quả: Quyết định phạt tiền 85 triệu đồng

 

Continue reading

MỘT SỐ SỰ KIỆN LIÊN QUAN ĐẾN HÀNH VI HẠN CHẾ CẠNH TRANH TRONG NĂM 2008

THU TRANG

m 2008 là m c doanh nghiệp đã phải trải qua giai đoạn khó khăn nhất trong suốt một thập kỷ phát triển tương đối ổn định kể từ cuộc khủng hoảng khu vực năm 1997. Trong bối cảnh kinh tế khó khăn đó, nhiều chiến lược kinh doanh có dấu hiệu hạn chế cạnh tranh đã xuất hiện và có nguy cơ trở thành một xu hướng nếu không kịp thời chấn chỉnh. Trong khuôn khổ bài viết này, “Cạnh tranh và Người tiêu dùng” xin đưa ra 2 sự kiện điển hình về một số chiến lược kinh doanh nói trên nhằm giúp các doanh nghiệp, hiệp hội ngành hàng nhận diện một số hành vi phản cạnh tranh và định hình chiến lược kinh doanh phù hợp với quy định của pháp luật.

Vinapco đơn phương ngừng cung cấp nhiên liệu cho JPA

Ngày 01/4/2008, các hành khách của Hãng hàng không Jetsrar Pacific Airlines (JPA) không khỏi ngạc nhiên và bức xúc khi nhận được thông báo tất cả các chuyến bay nội địa của Hãng đều không thể cất cánh được

theo lịch bay do Công ty xăng dầu hàng không Việt Nam (Vinapco), nhà cung cấp nhiên liệu hàng không cho JPA, đã đơn phương ngừng cung cấp nhiên liệu cho các chuyến bay của JPA từ 0 giờ ngày 01/4/2008. Các chuyến bay của JPA được cất cánh trở lại chỉ sau khi Bộ trưởng Bộ Giao thông – Vận tải chỉ đạo yêu cầu Vinapco cung cấp lại nhiên liệu cho JPA.

Nguyên nhân của sự việc này là do JPA và Vinapco đã không đạt được sự thống nhất về việc tăng mức phí dịch vụ cung cấp nhiên liệu hàng không mới do phía Vinapco đưa ra. Trước thời điểm diễn ra sự việc nêu trên, Vinapco và JPA đang thực hiện hợp đồng mua bán xăng dầu và cung

cấp dịch vụ tra nạp nhiên liệu hàng không năm 2008 ký giữa hai bên, theo đó mức phí tra nạp nhiên liệu hàng không là 593.000 đồng/tấn (năm 2007 là 565.000 đồng/tấn). Sau một thời gian thực hiện hợp đồng, đến giữa tháng 3/2008, Vinapco gửi công văn cho JPA đề nghị tăng mức phí nạp xăng dầu lên 750.000 đồng/tấn kể từ ngày 01/4/2008. Trong các thương lượng về mức phí mới với Vinapco, JPA yêu cầu Vinapco phải đối xử công bằng giữa JPA và Tổng công ty Hàng không Việt Nam (VNA) và JPA chỉ có thể chấp nhận mức giá mới nếu mức giá đó cũng áp dụng đối với VNA. Trong khi hai bên chưa đạt được sự thống nhất, ngày 01/4/2008, Vinapco đã đột ngột ngừng cung cấp nhiên liệu cho JPA.

Continue reading

VỀ KHÁI NIỆM CÔNG NHẬN VÀ THI HÀNH QUYẾT ĐỊNH CỦA TRỌNG TÀI KINH TẾ

NGUYỄN TRUNG TÍN – Viện nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật

Trong số các văn bản pháp luật về công nhận và thi hành quyết định của trọng tài kinh tế ở Việt Nam hiện nay chúng ta mới có Pháp lệnh Công nhận và thi hành tại Việt Nam quyết định của trọng tài nước ngoài năm 1995 mà chưa có các quy định về việc công nhận và cho thi hành quyết định của trọng tài kinh tế trong nước. Trong các bản Dự thảo Pháp lệnh về trọng tài hiện nay ở nước ta, vấn đề này đã được đề cập.

Bài viết này nhằm mục đích làm sáng tỏ khái niệm công nhận và thi hành quyết định của trọng tài kinh tế với mong muốn góp phần vào việc soạn thảo Pháp lệnh về trọng tài hiện nay ở nước ta.

Quyết định của trọng tài kinh tế được đề cập ở đây là quyết định cuối cùng (quyết định về thực chất vụ việc)(1 ). Để làm sáng tỏ khái niệm công nhận và thi hành quyết định của trọng tài kinh tế, cần phải xác định rõ các vấn đề sau:

– Thế nào là công nhận quyết định của trọng tài kinh tế?

– Thế nào là thi hành quyết định của trọng tài kinh tế?

– Thế nào là công nhận và thi hành quyết định của trọng tài kinh tế?

– Có quyết định trọng tài kinh tế chỉ cần công nhận mà không cần thi hành hay không?

– Có quyết định trọng tài kinh tế vừa cần công nhận và vừa cần thi hành không?

– Mục đích công nhận và thi hành quyết định của trọng tài kinh tế là gì?

– Khái niệm công nhận và thi hành quyết định của trọng tài kinh tế khác với khái niệm công nhận và thi hành quyết định của tòa án kinh tế như thế nào?

– Việc công nhận và thi hành quyết định của trọng tài kinh tế được tiến hành ở đâu?

1. Định nghĩa về công nhận và thi hành quyết định của trọng tài kinh tế

“Công nhận” theo Từ điển Tiếng Việt là sự thừa nhận trước mọi người một điều gì đó là phù hợp với sự thật, với lẽ phải hoặc với thể lệ, luật pháp. Trong khi đó, “Thi hành” là việc làm cho điều gì đó trở thành hiệu lực (được thực hiện trên thực tế) điều đã được chính thức quyết định(2 ). Quyết định của trọng tài trên thực tế chỉ liên quan tới các bên tranh chấp, trong đó bên bất lợi trong việc công nhận và thi hành quyết định ấy phải thực hiện những hành vi nhất định mà anh ta không mong muốn trước khi đưa tranh chấp ra trọng tài. Thế nhưng vấn đề đặt ra là bên bị bất lợi đó (nguyên đơn hoặc bị đơn) có phải là người công nhận và thi hành quyết định đó hay không? Nếu có, thì sự công nhận như vậy được thể hiện như thế nào? Về mặt pháp lý và thực tiễn hoạt động của trọng tài, quyết định của trọng tài có thể được thực thi theo một trong hai cách sau đây:

Continue reading

LUẬT CẠNH TRANH: 4 NĂM MỚI XỬ MỘT VỤ VI PHẠM

VIETNAMNET – Theo Luật Cạnh tranh, một doanh nghiệp chiếm thị phần từ 30% trở lên được coi là vị trí thống lĩnh trên thị trường và vi phạm Luật Cạnh tranh. Nếu chiếu theo đó thì nhiều tập đoàn kinh tế hiện nay có đang phạm luật không? Làm sao đảm bảo môi trường kinh doanh lành mạnh cho các doanh nghiệp?

Đó là những câu hỏi của cộng đồng doanh nghiệp đặt ra tại hội thảo “Thúc đẩy môi trường cạnh tranh lành mạnh”, do Cục Quản lý Cạnh tranh (Bộ Công Thương) vừa tổ chức, tại Hà Nội.

Các tập đoàn đang… phạm luật?

Ở bất cứ nền kinh tế nào, một doanh nghiệp chiếm trên 30% thị phần trở lên đồng nghĩa với việc có khả năng bóp méo sự phát triển lành mạnh của thị trường, do có thể áp đặt các điều kiện thương mại hay gây cản trở sự phát triển kỹ thuật, công nghệ cũng như các doanh nghiệp khác và gây thiệt hại cho khách hàng. Đây là điều vi phạm pháp luật về cạnh tranh.

Như vậy, chiểu theo Luật Cạnh tranh thì hầu hết những tập đoàn kinh tế hiện nay như Điện lực Việt Nam EVN, Petrolimex, Than -Khoáng sản… đều đang phạm luật. Bởi thực tế, thị phần mà các tập đoàn này nắm đã bỏ xa giới hạn 30%. Thậm chí có những tập đoàn gần như “một mình một chợ” mà EVN là điển hình.

“Vậy phải xử lý các trường hợp này thế nào?”, ông Đinh Quang Huy, Chủ tịch Hiệp hội gốm sứ đặt câu hỏi. Đây cũng là thắc mắc chung của nhiều doanh nghiệp khác.

Trả lời câu hỏi này, ông Vũ Bá Phú, Cục phó Cục Quản lý Cạnh tranh, cho biết, đúng là nhiều tập đoàn kinh tế đang nắm thị phần chi phối nhưng có phạm luật hay không còn phụ thuộc vào việc có xác định được “hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh” hay không. Ngoài ra, thông thường, câu hỏi này cũng chỉ được đặt ra khi có ai đó khiếu kiện các tập đoàn này lên Cục Quản lý Cạnh tranh.

Nhưng tại Việt Nam, đây là vấn đề quá mới mẻ nên theo ông Phú “nhiều doanh nghiệp thậm chí còn không biết ai được quyền khiếu kiện, quy trình kiện ra sao… mà  một trong những điều kiện để xử lý các vụ việc vi phạm Luật Cạnh tranh là phải có đơn khởi kiện của các doanh nghiệp hoặc cá nhân”.

Continue reading

TRỌNG TÀI KINH TẾ: “NGƯỜI THỨ 3” CÔNG BẰNG

HẢI NGỌC

Giải quyết tranh chấp thương mại thông qua Trọng tài kinh tế đã, đang và sẽ trở thành cách giải quyết hiệu quả, tích cực nhất mà DN lựa chọn. Các DN VN cũng nên "chơi" theo cách này để tránh các vụ kiện kinh tế không cần thiết trước tòa mà vẫn bảo toàn mối quan hệ hợp tác với bên tranh chấp – Đó là nhận định của nhiều chuyên gia kinh tế và luật pháp.

Theo Chủ tịch Nguyễn Minh Chí – Trung tâm Trọng tài quốc tế VN (VIAC): Năm 2008, số lượng vụ kiện do VIAC tiếp nhận và xử lý lên con số 58 vụ, tại các nước phát triển, phương thức giải quyết tranh chấp kinh tế thông qua trọng tài thương mại rất phổ biến, nhất là ở những nước có nền kinh tế phát triển, cộng đồng DN VN chủ yếu bao gồm các DNNVV, DN quy mô gia đình nên việc đưa tranh chấp ra giải quyết bằng một thiết chế chính thức, trọng tài hay toà án, với các căn cứ pháp lý cụ thể là chưa nhiều.

DN vẫn thích dùng… “giải pháp tại chỗ”

Theo thống kê của Trung tâm Trọng tài quốc tế VN, trong khoảng 2 năm trở lại đây, có gần 60% số vụ tranh chấp thương mại ở VN là xảy ra giữa các DN trong nước với các đối tác nước ngoài. Và DN VN hầu như vẫn thường thua thiệt trước các DN nước ngoài trong các cuộc chơi kinh tế do thiếu nhiều kinh nghiệm thương trường. Khi bất đồng quan điểm trong kinh doanh các bên đối tác lập tức xảy ra tranh chấp nhưng cách mà các DN VN thường làm là đưa sự việc ra tòa án địa phương để giải quyết.

Tiến sĩ Micheal Moser – Chủ tịch Trung tâm Trọng tài kinh tế quốc tế HongKong (HKIAC) gọi đó là "giải pháp tại chỗ" và ông cho rằng giải pháp này không phải là cách hiệu quả để lấy được công bằng trong các vụ tranh chấp thương mại. Vì nếu DN VN muốn được giải quyết tranh chấp thương mại tại nước mình để hưởng các "ưu thế sân nhà" thì DN nước ngoài cũng vậy. Như vậy, các bên tranh chấp dù đã nhận được phán xét cuối cùng của tòa án cũng không thỏa mãn hoàn toàn, từ đó có thể dẫn đến việc cưỡng chế thi hành các quyết định của tòa án như bồi thường thiệt hại cũng khó thực hiện. Hơn nữa, chi phí cho các vụ kiện từ khi bắt đầu đến khi kết thúc có thể lớn gấp nhiều lần so với số tiền có thể bên thắng kiện được nhận. Do đó, để giải quyết dễ dàng và đảm bảo khách quan cho tất cả các bên trong tranh chấp, Tiến sĩ Moser khuyên các DN VN nên tìm công bằng tại một "người thứ ba" đó là các trọng tài kinh tế quốc tế.

Continue reading

PHƯƠNG THỨC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HIỆU QUẢ

THS. VŨ ÁNH DƯƠNG  – VIAC

Trọng tài được sử dụng rộng rãi trong thương mại quốc tế bởi có nhiều tính ưu việt, đáp ứng được nhu cầu của các doanh nghiệp (DN).

Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp khá phổ biến trên thế giới, nhất là tại những nước có nền kinh tế thị trường phát triển. Thống kê cho thấy, kể từ năm 2001 đến nay, trung bình Toà án Trọng tài quốc tế của Phòng Thương mại quốc tế (ICC) đã thụ lý hơn 500 vụ việc mỗi năm. Các tổ chức trọng tài quốc tế khác cũng tiếp nhận và giải quyết một số lượng vụ việc tương đối lớn.

Tại Việt Nam, tuy mới được hình thành, nhưng trọng tài cũng được khuyến khích sử dụng trong một loạt các luật như Luật Thương mại, Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp, Bộ luật Hàng hải… Hiện nay, Việt Nam đã có Pháp lệnh Trọng tài thương mại (ban hành năm 2003) là văn bản quy định khá chi tiết về trọng tài, trình tự giải quyết tranh chấp bằng trọng tài.

Trọng tài vốn phổ biến và được sử dụng rộng rãi trong thương mại quốc tế bởi có nhiều tính ưu việt, đáp ứng được nhu cầu của các DN. Lợi thế đầu tiên khi DN lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp này là thủ tục tố tụng linh hoạt. Đây là một trong những tiêu chí mà các DN thường quan tâm khi lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp. Luật trọng tài các nước quy định thủ tục tố tụng trọng tài rất đơn giản, chủ yếu dựa trên thỏa thuận của các bên.

Các bên được tự do thỏa thuận về toàn bộ quá trình tố tụng và các hội đồng trọng tài có nghĩa vụ phải thực hiện theo đúng thỏa thuận của các bên. Ví dụ, các bên có thể quyết định số lượng trọng tài viên của hội đồng trọng tài, cách thức chỉ định trọng tài viên, tiêu chuẩn trọng tài viên, thời gian giải quyết vụ tranh chấp, luật áp dụng, ngôn ngữ, địa điểm giải quyết vụ tranh chấp…

Bên cạnh đó, tính trung lập, vô tư khách quan và chuyên nghiệp của hội đồng trọng tài cũng là yếu tố quan trọng để DN có thể tin cẩn lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp này. Với đặc thù là cơ chế giải quyết tranh chấp tư, thẩm quyền được hình thành dựa trên thỏa thuận của các bên, trọng tài luôn nhấn mạnh các tiêu chí vô tư, khách quan và trình độ của các trọng tài viên. Theo Điều 13 Pháp lệnh Trọng tài thương mại, các trọng tài viên có nghĩa vụ “vô tư, khách quan trong việc giải quyết vụ tranh chấp”.
Để đảm bảo tính trung lập và khách quan, một số trung tâm trọng tài đã đưa ra một số giới hạn về tiêu chí quốc tịch trọng tài viên. Theo Quy tắc tố tụng của ICC, trọng tài viên duy nhất hoặc Chủ tịch hội đồng trọng tài phải là người có quốc tịch khác với quốc tịch của các bên tranh chấp (Điều 9 khoản 5).

Continue reading

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI TẠI NHẬT BẢN: NÉT ĐẶC THÙ CỦA PHÁP LÝ NHÂN LOẠI HỌC Á ĐÔNG

ĐẶNG HOÀNG OANH – Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Tư pháp

I. TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI TẠI NHẬT BẢN 

1. Những đặc thù của xã hội Nhật bản và phương thức giải quyết tranh chấp thương mại truyền thống.

Nhật bản có ảnh hưởng từ nền pháp luật đương đại và hệ thống tư pháp  của Châu Âu hàng thế kỷ trước. Đất nước này cũng đã tiến hành tự do hoá hệ thống tư pháp nhằm tăng cường nhà nước pháp quyền trong quá trình dân chủ hoá hàng nửa thế kỷ trước đây. Tuy nhiên, người dân thường tại Nhật bản coi  pháp luật không hẳn là công cụ để giải quyết tranh chấp, mà là công cụ của Chính phủ, hoặc thậm chí là công cụ của nhà cầm quyền sử dụng để trừng phạt, như pháp luật của Trung quốc trước đây mà Nhật bản đã du nhập từ hồi cổ xưa. Nhật bản là đất nước thuần nhất về văn hoá, chủng tộc và chịu ảnh hưởng của đạo Khổng từ hơn một nghìn năm trước đây. Người dân Nhật bản chia sẻ cho nhau nhiều giá trị và hiểu nhau dễ dàng hơn người Mỹ – một đất nước được mô tả như một cái hũ chứa đựng mọi chủng tộc khác nhau.  Giá trị đạo đức được đặc biệt chú trọng tại Nhật bản hơn bất kỳ quốc gia  nào. Một lời xin lỗi cá nhân,  hay sự thể hiện lòng thông cảm,  thay bằng sự khẳng định độc đoán rằng vấn đề này là đúng, có thể ngăn được một tranh chấp thực sự, hoặc có thể làm đơn giản hoá việc giải quyết tranh chấp.   Pháp luật, vì thế  chỉ là hình thức[1], được coi là  “tatemae” (ý tưởng không thực tế, không tưởng) trong việc thiết lập những chuẩn mực và nguyên tắc pháp lý.[2]Đặc trưng của việc giải quyết tranh chấp thương mại một cách hoàn toàn không hình thức tại Nhật bản là ở chỗ, người dân nước này thường cố tránh  hình thức giải quyết tranh chấp tại Toà án và thay vào đó là giải quyết bằng hoà giải, hay bằng một phương thức không có sự can thiệp của bên thứ ba. [3]Điều này thể hiện ở tỉ lệ rất thấp các vụ kiện tụng, đặc biệt là trong các vụ tranh chấp hành chính mà Chính phủ là bị đơn,[4]và một mặt, theo đó, là quan điểm tự kiềm chế của Toà án, đối với các vụ kiện hành chính. Nói một cách khác,  quan niệm về pháp quyền của các cơ quan tư pháp còn hạn chế cả về số lượng cũng như chất lượng, và Toà án thông thường là rất hạn chế trong việc can thiệp vào các nhánh hành pháp và lập pháp. Ví dụ, năm 1997, tỉ lệ các vụ giải quyết tranh chấp tại Toà án của Nhật bản chỉ bằng 1/6 của nước Anh hoặc xứ Wales.Còn trước đó, năm 1990, tỉ lệ này còn thấp hơn, chỉ bằng 1/10 tại nước Anh và 1/15 của nước Đức.

Continue reading