TỪ QUAN NIỆM CỦA C.MÁC VỀ “XÓA BỎ CHẾ ĐỘ TƯ HỮU” suy nghĩ về vấn đề sở hữu tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay

THS. VŨ THỊ KIỀU PHƯƠNG – Viện Triết học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam

Tiếp cận quan niệm của C.Mác về “xóa bỏ chế độ tư hữu” từ hai vấn đề: một là, chế độ tư hữu đã gây ra tội lỗi gì khiến cho nó cần phải bị xóa bỏ; hai là, nếu “xóa bỏ chế độ tư hữu” là cần thiết, là tất yếu thì thời điểm lịch sử của sự kiện đó là khi nào, bài viết chỉ ra rằng, sự “xóa bỏ chế độ tư hữu”chỉ có thể xảy ra một cách nội tại và tuân theo các quy luật khách quan của sự vận động và phát triển của xã hội. Cuối cùng, bài viết chỉ ra mối liên hệ giữa quan niệm của C.Mác về “xóa bỏ chế độ tư hữu” với quan điểm của Đảng ta về vấn đề sở hữu tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay, nhất là vấn đề đảng viên làm kinh tế tư nhân.

1. Chúng ta đều biết rằng, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là điều kiện tất yếu để nước ta đi lên chủ nghĩa xã hội. Song, trong thực tế, xây dựng thành công nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa không phải là một việc dễ dàng, bởi kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa “là vấn đề rất mới, chưa có tiền lệ”. Ngay nền kinh tế thị trường hiện nay ở nước ta “cũng chưa phải là nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa đã hoàn chỉnh ngay từ đầu, mà còn phải trải qua một quá trình xây dựng rất lâu dài”(1); do vậy, đã nảy sinh nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn đòi hỏi phải được nghiên cứu và giải đáp thỏa đáng hơn nữa, trong đó có vấn đề sở hữu nói chung, sở hữu tư nhân nói riêng. Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Đảng ta cũng chỉ rõ, sở hữu và thành phần kinh tế là một trong những vấn đề chưa được làm rõ “ở tầm quan điểm và chủ trương lớn”, nên chúng ta “chưa đạt được sự thống nhất cao về nhận thức và thiếu dứt khoát trong hoạch định chính sách, chỉ đạo điều hành”(2). Sự chưa thống nhất và chưa rõ ràng đó còn có nguyên nhân do nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta vẫn đang trong quá trình hình thành, nên mối quan hệ giữa thể chế xã hội chủ nghĩa và nhiều yếu tố của nền kinh tế thị trường chưa được làm rõ.

Continue reading

QUAN HỆ GIỮA KHỦNG HOẢNG KINH TẾ VÀ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH: SỰ TIẾP CẬN TỪ GÓC ĐỘ TỰ DO HÓA

TS. NGUYỄN MINH PHONG

I. Quan hệ giữa khủng hoảng kinh tế chu kỳ và khủng hoảng tài chính

1. Nhìn suốt quá trình lịch sử triển kinh tế dễ nhận thấy xu hướng rút ngắn lại khoảng cách giữa các cuộc khủng hoảng kinh tế chu kỳ TBCN thế giới. Từ trung bình 10 năm ở thế kỷ XIX, 8 năm cho nửa đầu thế kỷ XX (1900 – 1901; 1907 – 1908; 1920 – 1921; 1929 – 1933; 1937 – 1937), khoảng cách từ 6 – 5 năm cho thời kỳ chiến tranh lạnh (1948 – 1949; 1953 – 1954; 1957 – 1958; 1960 – 1961; 1967 – 1968; 1974 – 1975; 1979 – 1982), và chỉ còn 3 năm kể từ khi kết thúc chiến tranh lạnh đến nay (1991 – 1993; 1997 – 1999 và 2008 – 2009). Ngoài ra, trong sự vận động của chu kỳ, ranh giới và khoảng cách giữa các giai đoạn cũng mờ dần, khó xác định hơn không chỉ giữa giai đoạn tiêu điều và giai đoạn phục hồi trong một chu kỳ, mà còn ngay cả giữa giai đoạn hưng thịnh của chu kỳ sau so với giai đoạn trì trệ của chu kỳ trước. Đây là một đặc trưng nổi bật của chu kỳ TBCN hiện đại khá phổ biến ở các quốc gia và được lý giải bởi những nguyên do sau:

– Sự phát triển nhanh chóng của cách mạng KH – KT đã rút ngắn thời gian ra đời các phát minh cải tiến công nghệ mới và cả thời gian ứng dụng chúng vào thực tiễn sản xuất – kinh doanh. Nếu trước thế chiến hai, thời gian đưa một phát minh hay ý tưởng khoa học – công nghệ vào sản xuất đòi hỏi 30 – 40 năm, những năm sau thế chiến thứ hai là 20 – 15 năm, thập kỷ 70 – 80 là 7 – 10 năm, thì ở thập kỷ 90 chỉ còn một vài năm, thậm chí một vài tháng.

– Nền kinh tế tri thức và toàn cầu hoá cho phép kinh doanh ngày càng đa dạng hơn về các sản phẩm (gắn liền với dịch vụ và tiêu dùng tri thức, tinh thần…), chúng có nhu cầu lớn, phạm vi rộng và biến đổi nhanh hơn những nhu cầu hàng hoá tiêu dùng vật chất cổ điển vừa kém đa dạng, vừa bị giới hạn cả bởi đặc điểm của nhu cầu tiêu dùng vật chất cá nhân và bởi thị trường chưa được toàn cầu hoá trước đây.

Continue reading

NHỮNG THỜI KỲ BIẾN ĐỘNG CỦA NỀN KINH TẾ VIỆT NAM: BẢN CHẤT CỦA VẤN ĐỀ VÀ GIẢI PHÁP CHO TƯƠNG LAI

PHẠM MINH CHÍNH (Bộ Công an) – TS. VƯƠNG QUAN HOÀNG (Đại học Tổng hợp Bruxelles) – THS. TRẦN TRÍ DŨNG (Chuyên gia Hệ thống dữ liệu và phân tích tài chính)

Cuộc khủng hoảng kinh tế – xã hội những năm 80 của thế kỷ XX đã góp thêm động lực cho công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, được khởi xướng từ mốc thời gian 1986 bằng Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng. Từ đó đến nay, nhìn chung nền kinh tế đã có tốc độ tăng trưởng khá cao, nhưng cũng có những đợt suy giảm gợi lên tính chất chu kỳ kinh tế (xem sơ đồ 1).

Sơ đồ 1: Tốc độ tăng trưởng GDP của kinh tế Việt Nam từ 1984 đến 2008

Chính những đợt suy giảm đó đã làm xuất hiện nhiều lo ngại, thậm chí có ý kiến cực đoan đã liên tưởng tới khả năng một kịch bản tương tự như cuộc khủng hoảng tài chính-tiền tệ châu Á năm 1997 sẽ lặp lại với Việt Nam trong tương lai gần. Đồng thời, đã xuất hiện một số quan ngại về kết cục tương đồng của các biến động kinh tế, đặc biệt là giữa hai thời kỳ suy giảm tốc độ tăng trưởng 1997 – 1998 và 2007 – 2008.

Để tìm câu trả lời, chúng tôi sẽ đi sâu phân tích cụ thể, như sau: Một số khía cạnh so sánh cơ bản, và Luận điểm cốt lõi và mấy vấn đề cần tiếp tục làm rõ.

1.1. Bối cảnh của những biến động kinh tế

Những năm 90 của thế kỷ XX, vấn đề vĩ mô hàng đầu của Việt Nam là xóa đói giảm nghèo và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiếp cận với dòng chảy của khu vực và quốc tế. Các biến động kinh tế tại Việt Nam thời kỳ 1997 – 1998 chịu ảnh hưởng lan truyền từ khủng hoảng tài chính-tiền tệ của khu vực Đông Á, với tư cách là một thành viên của kinh tế khu vực.

Continue reading

KINH TẾ THỊ TRƯỜNG NHỮNG THÁCH THỨC XÃ HỘI TOÀN CẦU MỘT CÁCH NHÌN TỪ NƯỚC ĐỨC

GS. TS. GERHARD KRUIP – Đại học Mainz, Đức ( Người dịch: ThS.CAO THU HẰNG; Người hiệu đính: ThS.TRẦN TUẤN PHONG  – Viện Triết học, Viện Khoa học xã hội Việt Nam)

Trong bài viết này, tác giả, dưới góc nhìn từ nước Đức, đã phân tích một cách khái quát những lợi ích và thách thức xã hội toàn cầu của kinh tế thị trường tự do. Từ đó, trình bày ý tưởng của Giáo hội Thiên Chúa giáo và Tin Lành ở Đức về “nền kinh tế thị trường xã hội”, cái được coi là con đường tốt nhất để thực hiện tự do và công bằng trong xã hội hiện đại; phân tích những nhân tố cơ bản của nền kinh tế thị trường xã hội cũng như những vấn đề đặt ra hiện nay của kinh tế thị trường xã hội ở nước Đức. Đặc biệt, từ những kinh nghiệm vận dụng kinh tế thị trường xã hội ở Đức, tác giả đã có một số ý kiến đóng góp nhằm giải quyết những vấn đề liên quan đến sự chuyển đổi mô hình kinh tế ở Việt Nam.

Nhận xét sơ bộ

Khái quát sự phát triển của các nước khác nhau trên thế giới cho thấy, những quốc gia có nền kinh tế mở với thị trường thế giới và có những cải cách nhằm tạo ra nhiều tự do hơn cho các cơ chế thị trường tự do đã thu được nhiều thành công về kinh tế hơn so với những nước vẫn duy trì mô hình kế hoạch hoá tập trung và tự cung tự cấp. Vấn đề ở đây dường như không phải là sự phụ thuộc vào những cấu trúc của kinh tế thế giới, mà (đúng hơn) là sự cô lập với tính năng động của nền kinh tế thế giới và toàn cầu hoá(1). Ví dụ điển hình cho nhận xét này là Trung Quốc, Ấn Độ và Việt Nam – một nước có đường lối phát triển rất đặc biệt và ấn tượng. Kể từ khi tuyên bố đổi mới năm 1986 và bắt đầu chuyển từ nền kinh tế kế hoạch tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Việt Nam đã có sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng. Trong những năm qua, Việt Nam đã trở thành nước có nền kinh tế phát triển nhanh thứ hai trên thế giới. Điều này giúp cải thiện mức sống của người dân và chống đói nghèo(2). Tuy nhiên, cuộc khng hoảng tài chính hiện nay cho thấy, một sự phụ thuộc lẫn nhau như vậy cũng là nguyên nhân của nhiều vấn đề. Mặc dù vậy, việc thực hiện những mục đích phát triển sẽ trở nên dễ dàng hơn trong một thế giới phụ thuộc lẫn nhau, cùng nhau giải quyết những vấn đề thông qua sự hợp tác quốc tế thay vì quay lại thời kỳ của chủ nghĩa bảo hộ và chủ nghĩa biệt lập.

I. Những lợi ích của nền kinh tế thị trường tự do 

Tại sao thị trường tự do lại dẫn đến tăng trưởng kinh tế nhiều hơn? Những lợi thế của thị trường tự do là gì? So với nền kinh tế kế hoạch tập trung, theo tôi, nền kinh tế thị trường tự do có ít nhất 6 lợi thế, mà lúc này, tôi xem như một “mô hình lý tưởng” (Ideal model) – theo cách nói của Max Weber(3).

Continue reading

QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG TA về phát triển kinh tế tư bản nhà nước và kinh tế tập thể

PGS.TS. LÊ THANH SINH – Đại học Kinh tế TPHCM

Trong bài viết này, tác giả đã đưa ra và phân tích quan điểm của Đảng ta về vị trí và vai trò của kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế tập thể mà nòng cốt là kinh tế hợp tác xã trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Từ đó, khẳng định tính đúng đắn, sáng tạo trong chủ trương tiếp tục đổi mới và phát triển các thành phần kinh tế này mà Đảng ta đã đưa ra tại Đại hội X vừa qua.

1. Kinh tế tư bản nhà nước với tư cách một thành phần kinh tế “bao gồm các hình thức hợp tác liên doanh giữa kinh tế nhà nước với tư bản tư nhân trong nước và hợp tác liên doanh giữa kinh tế nhà nước với tư bản nước ngoài”, “có vai trò quan trọng trong việc động viên tiềm năng to lớn về vốn, công nghệ, khả năng tổ chức quản lý… của các nhà tư bản vì lợi ích của bản thân họ, cũng như của công cuộc xây dựng và phát triển đất nước”(1). Để kinh tế tư bản nhà nước thực hiện được vai trò quan trọng đó, Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương áp dụng nhiều phương thức góp vốn kinh doanh giữa Nhà nước với các nhà kinh doanh tư nhân trong và ngoài nước nhằm “tạo thế, tạo lực” cho các doanh nghiệp Việt Nam phát triển, tăng sức hợp tác và cạnh tranh với bên ngoài, đồng thời cải thiện môi trường đầu tư và nâng cao năng lực quản lý để thu hút có hiệu quả vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài.

Cụ thể hoá đường lối đó, tại Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khoá VIII, một lần nữa, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định, trong nền kinh tế nhiều thành phần, kinh tế tư bản nhà nước là thành phần kinh tế được “khuyến khích phát triển” trong những ngành nghề sản xuất mà pháp luật không cấm và đề ra những biện pháp cụ thể để khuyến khích sự phát triển của nó trong khuôn khổ của luật pháp, với sự điều tiết của Nhà nước nhằm tạo ra những điều kiện thuận lợi để đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Continue reading

BÁO CÁO NGÀY 4 THÁNG 11 NĂM 2009 TÓM TẮT KẾT QUẢ GIÁM SÁT “VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ, SỬ DỤNG VỐN, TÀI SẢN NHÀ NƯỚC TẠI CÁC TẬP ĐOÀN, TỔNG CÔNG TY NHÀ NƯỚC”

Kính thưa các vị đại biểu Quốc hội,

Thực hiện Chương trình giám sát của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã thành lập Đoàn giám sát “Việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước tại các tập đoàn, tổng công ty nhà nước” (tính từ năm 2006 đến 31/12/2008).

Mục đích chính của cuộc giám sát là đánh giá tình hình ban hành và thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước tại các tập đoàn, tổng công ty nhà nước; qua đó, thấy được những kết quả đã đạt được trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước; những vướng mắc trong hệ thống văn bản pháp luật và những khó khăn, hạn chế, yếu kém trong tổ chức thực hiện; làm rõ nguyên nhân, trách nhiệm của các cấp, các Bộ/ngành và của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước; từ đó đưa ra các đề xuất, kiến nghị để hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật, thực hiện nghiêm và có hiệu quả hơn chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước, củng cố và nâng cao hiệu quả hoạt động của các tập đoàn, tổng công ty.

Ủy ban thường vụ Quốc hội xin báo cáo những nội dung chủ yếu như sau:

PHẦN I

VIỆC BAN HÀNH CÁC VĂN BẢN PHÁP LUẬT, CƠ CHẾ CHÍNH SÁCH LIÊN QUAN ĐẾN QUẢN LÝ VỐN, TÀI SẢN TẠI TẬP ĐOÀN, TỔNG CÔNG TY NHÀ NƯỚC

1. Những kết quả đạt được trong việc ban hành văn bản pháp luật, cơ chế, chính sách quản lý vốn, tài sản nhà nước tại các tập đoàn, tổng công ty nhà nước

– Việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý vốn, tài sản nhà nước tại tập đoàn, tổng công ty đã được Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan hữu quan chú trọng, bám sát các chủ trương, chính sách và Nghị quyết của Đảng, hình thành khuôn khổ pháp lý để các tập đoàn, tổng công ty hoạt động và quản lý vốn, tài sản nhà nước.

Continue reading

VAI TRÒ CỦA BẢO HIỂM TIỀN GỬI MỸ TRONG QUẢN LÝ KHỦNG HOẢNG

THS. NGUYỄN THỊ HỒNG NGỌC – Chi nhánh BHTGVN khu vực Hà Nội

Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu xuất phát từ Mỹ đã nhanh chóng lan ra khắp các châu lục và trở thành mối quan tâm hàng đầu của Chính phủ các nước, đặc biệt là Mỹ, nơi đang phải gánh chịu cuộc suy thoái tồi tệ nhất kể từ Đại suy thoái năm 1930. Sát cánh cùng Bộ Tài chính và Cục Dự trữ liên bang, Bảo hiểm tiền gửi Mỹ đã thực hiện hàng loạt các biện pháp để củng cố thị trường và bảo vệ người gửi tiền nhằm đem lại sự ổn định cho thị trường tài chính nước này.

Bảo hiểm tiền gửi Mỹ

Bảo hiểm tiền gửi Mỹ (FDIC) là cơ quan độc lập với Chính phủ liên bang, được thành lập vào năm 1933 để đối phó với hàng ngàn cuộc đổ vỡ ngân hàng xảy ra vào những năm 1920 và đầu thập kỷ 1930. Kể từ khi FDIC được thành lập đến nay, FDIC đã chi trả toàn bộ tiền gửi được bảo hiểm mỗi khi có đổ vỡ ngân hàng.

Nhiệm vụ chính của FDIC là bảo vệ và củng cố niềm tin của công chúng vào hệ thống tài chính Mỹ thông qua: i) bảo hiểm tiền gửi tại các ngân hàng và tổ chức tiết kiệm; ii) xác định, giám sát và quản lý rủi ro cho các quỹ bảo hiểm tiền gửi; và iii) hạn chế ảnh hưởng của đổ vỡ ngân hàng hoặc tổ chức tiết kiệm đối với nền kinh tế và hệ thống tài chính.

Nguồn vốn của FDIC bao gồm các khoản phí bảo hiểm tiền gửi mà các ngân hàng và tổ chức tiết kiệm đóng góp và các khoản thu nhập từ đầu tư trái phiếu Chính phủ Mỹ. Với tổng quỹ bảo hiểm hơn 45 tỷ USD, FDIC bảo hiểm hơn 5.000 tỷ USD tiền gửi tại các tổ chức tham gia bảo hiểm. Hiện nay, FDIC cũng trực tiếp kiểm tra và giám sát khoảng 5.160 ngân hàng và ngân hàng tiết kiệm (1), chiếm hơn một nửa các tổ chức trong hệ thống ngân hàng.

Continue reading

CHIẾN LƯỢC TỔNG THỂ VÀ CHÍNH SÁCH BẢO HỘ SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP TRONG NƯỚC PHÙ HỢP CÁC CAM KẾT QUỐC TẾ, QUI ĐỊNH CỦA WTO GIAI ĐOẠN ĐẾN NĂM 2020

(Trích dẫn nội dung Quyết định số 160/2008/QQD-TTg ngày 04 tháng 12 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ)

I. QUAN ĐIỂM

1. Các biện pháp bảo hộ sản xuất phải hợp lý, có điều kiện và có lộ trình cắt giảm phù hợp với các cam kết của Việt Nam khi gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và các cam kết khác của Việt Nam.

2. Các biện pháp bảo hộ của Nhà nước phải hướng tới thúc đẩy và tạo lập lợi thế cạnh tranh cho các ngành công nghiệp ưu tiên, công nghiệp mũi nhọn nói riêng và cho ngành công nghiệp Việt Nam nói chung trên thị trường trong nước và quốc tế.

3. Các biện pháp bảo hộ phải được thực hiện thống nhất bình đẳng đối với mọi doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế.

4. Gắn bảo hộ sản xuất trong nước với việc tiếp tục điều chỉnh chức năng quản lý của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

II. MỤC TIÊU

1. Tạo điều kiện trợ giúp các nhà sản xuất trong nước từng bước nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường nội địa và từng bước mở rộng thị trường ngoài nước.

2. Tạo điều kiện huy động các nguồn lực trong và ngoài nước vào việc khai thác tiềm năng và lợi thế nhằm đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

3. Góp phần ổn định kinh tế – xã hội đất nước trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế trên cơ sở tạo thêm việc làm, nâng cao đời sống người lao động, đáp ứng nhu cầu hàng hoá của nền kinh tế.

Continue reading

TÁI CƠ CẤU KINH TẾ NHÌN TỪ THỦ TỤC HÀNH CHÍNH

QUỐC KHÁNH

“Chúng tôi phải mất 24 tháng một ngày mới được cấp phép đầu tư. Vậy làm sao đơn giản thủ tục đầu tư hơn nữa?”, chủ đầu tư một dự án bất động sản du lịch rộng 300ha vào Cát Bà hỏi tại diễn đàn thảo luận về cơ hội đầu tư bất động sản ngày 21.10 tại TP.HCM.

Không có câu trả lời cụ thể cho nhà đầu tư trong nước này. Chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh hy vọng trong tương lai sẽ có lời giải khi thực hiện đề án của Chính phủ nhằm giảm 30% thủ tục hành chính.

Trước lời giải đáp mang tính nguyên tắc của nguyên viện trưởng viện Nghiên cứu và quản lý kinh tế trung ương, ông Trần Xuân Giá thổ lộ, có lúc ông cũng bi quan về khả năng cải cách thủ tục hành chính trong tám năm có chân trong ban chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ. Hiện có chân trong hội đồng quản trị của một ngân hàng thương mại cổ phần, ông Giá chia sẻ với các nhà đầu tư trong và ngoài nước: “Vô số cái trong thủ tục hành chính hiện nay cũng hành tôi không kém gì anh”. Cựu bộ trưởng Kế hoạch và đầu tư xác nhận, một loạt cơ chế tưởng chừng dễ làm, làm nhanh được, mang lại hiệu quả thiết thực, thí dụ bắt đầu từ cải cách thủ tục hành chính, thế mà 15 năm rồi vẫn dẫm chân tại chỗ, cắt bớt thủ tục này mọc ra thủ tục khác.

Thủ tục hành chính rườm rà chỉ là một phần khiến cho môi trường kinh doanh chưa thật sự bình đẳng, thông thoáng, theo đánh giá của ông Giá. Trong suy nghĩ của ông, ba vấn đề trở thành các điểm tắc nghẽn lớn đối với phát triển là thể chế kinh tế thị trường chưa hoàn thiện, nguồn nhân lực và kết cấu hạ tầng yếu kém. Vì vậy, trong báo cáo dự báo kinh tế Việt Nam 2010 trình bày tại diễn đàn về bất động sản, ông Trần Xuân Giá nhấn mạnh đến việc khắc phục những mặt yếu cơ bản của nền kinh tế để có dư địa cho tăng trưởng và phát triển. Trong đó, cơ bản nhất là chất lượng tăng trưởng.

“Chúng ta không thể tiếp tục tư duy tăng trưởng theo lượng, khuếch đại, sùng bái con số và che đậy khuyết điểm của nền kinh tế được nữa”.

TS Trần Xuân Giá

 

Continue reading

DOANH NHÂN VÀ VAI TRÒ CỦA DOANH NHÂN

TRẦN ĐỨC NGUYÊN

1. AI LÀ DOANH NHÂN?

Nhân ngày Doanh nhân Việt Nam (13.10), một câu hỏi được đặt ra, tưởng là đơn giản nhưng không dễ trả lời: Ai là doanh nhân? Doanh nhân là người kinh doanh. Vì vậy, để xác định ai là doanh nhân, cần làm rõ khái niệm kinh doanh.

Theo định nghĩa thông dụng, kinh doanh là hoạt động mưu cầu lợi nhuận (nói “mưu cầu” bao quát hơn “làm ra” vì có khi kinh doanh bị lỗ). Nội hàm này thể hiện trong định nghĩa của Từ điển tiếng Việt 1997 do Hoàng Phê chủ biên: “Kinh doanh là tổ chức việc sản xuất, buôn bán sao cho sinh lợi”.

Luật Doanh nghiệp định nghĩa dài dòng hơn:

“Kinh doanh là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”.

Từ điển Thuật ngữ kinh doanh (Dictionary of business terms – tiếng Anh) năm 1987 do Jack P. Friedman chủ biên, định nghĩa “Kinh doanh (business) là nghề nghiệp hoặc hoạt động thương mại mưu cầu lợi nhuận bằng việc cung cấp sản phẩm hoặc dịch vụ. Kinh doanh do các doanh nhân (entrepreneur) bỏ vốn cho một hoạt động chịu rủi ro để kiếm lợi nhuận. Cơ sở kinh doanh được gọi là doanh nghiệp. Quy mô của nó từ hộ kinh doanh của chủ sở hữu cá thể đến công ty, tập đoàn quốc tế có vốn hàng tỉ USD và sử dụng hàng nghìn lao động” (trong tiếng Anh entrepreneur nhấn mạnh khía cạnh người bỏ vốn đầu tư, còn từ này trong tiếng Pháp lại chú trọng khía cạnh quản lý, như định nghĩa của Từ điển Larousse 2002: “Entrepreneur là người đứng đầu một doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp xây nhà hoặc xây dựng công trình công cộng. Về luật pháp, entrepreneur là người trong một hợp đồng kinh doanh cam kết thực hiện một công việc cho người chủ công trình (tiếng Việt gọi là thầu khoán hoặc nhà thầu)”.

Continue reading

LUẬT DOANH NGHIỆP: BA VẤN ĐỀ LỚN TIẾP THEO

TIẾN TÀI

Luật Doanh nghiệp được Quốc hội thông qua vào ngày 12-6-1999 và có hiệu lực từ 1-1-2000. Bằng những quy định cởi mở, thông thoáng, Luật Doanh nghiệp 1999 đã tạo ra bước đột phá mạnh mẽ trong việc giải phóng năng lực sản xuất. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, để phát huy hơn nữa thành quả mà đạo luật này mang lại có ba vấn đề lớn tiếp theo cần phải giải quyết.

Quyết tâm cải cách

Các chuyên gia cho rằng thành quả ấn tượng nhất của Luật Doanh nghiệp 1999 là đã tạo ra bước đột phá về tư duy, từ tư duy chỉ được kinh doanh trong phạm vi Nhà nước cho phép sang tư duy người dân được quyền tự do kinh doanh tất cả những lĩnh vực mà Nhà nước không cấm.

Thế nhưng, theo bà Phạm Chi Lan, nguyên thành viên Ban chỉ đạo xây dựng Luật Doanh nghiệp và thành viên Tổ công tác thi hành Luật Doanh nghiệp 1999, quyền tự do kinh doanh hiện đang bị chi phối bởi rất nhiều luật lệ liên quan.

“Luật Doanh nghiệp có quy định là nếu trong trường hợp có quy định khác với luật chuyên ngành thì áp dụng theo luật chuyên ngành. Trong khi đó, không ít luật chuyên ngành vẫn được thiết kế không thuận theo tinh thần của Luật Doanh nghiệp mà theo hướng hạn chế quyền tự do kinh doanh dưới nhiều hình thức”.

Giải thích điều mình nói, bà Lan dẫn chứng: liên tục trong vài năm gần đây thủ tục gia nhập thị trường của doanh nghiệp vẫn bị Ngân hàng Thế giới đánh giá là phức tạp, tốn kém chi phí và kéo dài tới 50 ngày. Việc đăng ký kinh doanh theo quy định của Luật Doanh nghiệp chỉ mất bảy ngày nhưng để có thể đi vào hoạt động doanh nghiệp phải tiến hành hàng loạt thủ tục nhiêu khê theo những luật chuyên ngành khác nhau sau đó như khắc dấu, đăng ký mã số thuế…

Continue reading

NỀN KINH TẾ TẾ BÀO – QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN MỚI

STAN STALNAKER * (Như Nguyệt dịch)

Trong kinh doanh, khi một dạng thức đã trở nên lỗi thời, ngay lập tức, quy trình tái tạo sẽ hoạt động để hình thành nên một dạng thức mới thay thế. Các nhà kinh tế đã mô tả mô hình mới này bằng nhiều cách khác nhau, một trong số đó là sử dụng cấu trúc tế bào với nguồn nhân lực như một động lực phát triển kinh tế. Người ta gọi đó là học thuyết kinh tế tế bào.

Cuộc cách mạng về cách tư duy này đã diễn ra. Ở đâu đó, chúng ta đã nhìn thấy người ta chuyển từ phương thức kinh doanh chỉ dựa trên các giao dịch lỗi thời theo chiều dọc sang phương thức mới có tính luân chuyển. Ở phương thức mới, việc chia sẻ mọi nguồn lực chính là cách phát triển nền kinh tế theo chiều sâu.

Các nhà kinh tế đã mô tả mô hình mới này bằng nhiều cách khác nhau, một trong số đó là sử dụng cấu trúc tế bào với nguồn nhân lực như một động lực phát triển kinh tế. Người ta gọi đó là học thuyết kinh tế tế bào.

Cấu trúc tế bào và công việc kinh doanh có mối liên hệ nào với nhau? Coi việc các tế bào cứ phát triển không ngừng nghỉ theo cấp số nhân là một dạng thức ung thư. Chúng ta đều hiểu rằng sự phát triển không ngừng của các tế bào ung thư trong cơ thể hoàn toàn không tốt cho việc duy trì sự sống. Trong kinh doanh cũng vậy, sự phát triển quá đỗi chưa chắc bảo đảm sự bền vững như mong muốn.

Tuy nhiên, nền kinh tế hiện giờ dường như đang phát triển không có điểm dừng. Với mô hình hiện tại, chúng ta không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc đón nhận sự đình trệ để đi đến lụi tàn của nền kinh tế. Ở mọi cấp độ của nền kinh tế: từ kinh tế vĩ mô, vi mô cho tới kinh tế công ty và công cộng, tất cả đều theo đuổi đà phát triển bằng mọi giá.

Continue reading

LÝ THUYẾT “CẦU HIỆU QUẢ” CỦA JOHN MAYNARD KEYNES VỚI CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH VÀ SUY THOÁI KINH TẾ TOÀN CẦU HIỆN NAY

PGS.TS. NGUYỄN XUÂN THẮNG – Phó Chủ tịch Viện Khoa học xã hội Việt Nam

Cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ bắt đầu xảy ra từ tháng 8-2007 sau đó đã lan khắp các thị trường tài chính lớn trên thế giới. Chỉ trong vòng 12 tháng của 2008 đã làm bốc hơi trên 30 ngàn tỉ USD trong tổng số 62 ngàn tỉ USD vốn hóa toàn cầu. Sau cuộc khủng hoảng tài chính, thế giới bước vào một cuộc suy thoái kinh tế được ví là nghiêm trọng nhất trong vòng gần 100 năm qua. Chính phủ các nước không thể khoanh tay đứng nhìn. Hàng loạt các gói giải cứu lên đến cả ngàn tỉ USD ở hầu khắp các nước trên thế giới đổ ra khiến cho người ta nhớ đến một nhà kinh tế vĩ đại của những năm 30 của thế kỷ trước: Giôn May-na Kên (John Maynard Keynes).

Mặc dù thời đại ngày nay rất khác với thời đại của ông, nền kinh tế thế giới đã toàn cầu hóa và hội nhập sâu sắc, tuy nhiên, các nguyên tắc tạo “cầu hiệu quả” – “cầu có khả năng thanh toán” bằng các gói cứu trợ, kích thích kinh tế bằng tăng chi ngân sách, mở rộng thị trường nhà nước và thực hành tín dụng rẻ để kích thích đầu tư và tiêu dùng… mà Kên đề xuất hồi ấy thì vẫn còn nguyên giá trị. Nhiều nhà kinh tế và hoạch định chính sách trên thế giới, trong khi chưa tìm ra các lý thuyết mới làm căn cứ để đưa nền kinh tế của mình ra khỏi suy thoái, đã rất kỳ vọng vào việc vận dụng và phát triển các nguyên tắc của Kên trong điều kiện hiện nay. Vậy lý thuyết của Kên có những nội dung chủ yếu gì? Nguyên lý nào vẫn còn giá trị và những cảnh báo thực tế khi vận dụng Kên sẽ gợi mở cho chúng ta bài học gì khi vận dụng trong bối cảnh mới?

1 – Các quan điểm điều chỉnh kinh tế chủ yếu của Kên

Quan điểm bao trùm nhất của lý thuyết Kên là quan điểm cho rằng những mất cân đối kinh tế vĩ mô có nguồn gốc chính ở sự giảm sút “cầu có hiệu quả”(1) tức là cầu có khả năng thanh toán. “Cầu có hiệu quả”, theo Kên, bao gồm cả cầu về tiêu dùng cá nhân và cầu đầu tư. Như vậy “cầu có hiệu quả” là khái niệm có mối tương quan với thu nhập quốc dân. Nếu khuynh hướng tiêu thụ và đầu tư với tư cách là 2 bộ phận trong thu nhập quốc dân không có sự kết hợp để tạo ra một lượng cầu có hiệu quả đầy đủ, nạn thất nghiệp sẽ xuất hiện. Bởi vì “cầu có hiệu quả” kết hợp với tình trạng việc làm đầy đủ chỉ trong một trường hợp đặc biệt khi khuynh hướng tiêu thụ và kích thích đầu tư có mối liên hệ đặc biệt với nhau. Những liên hệ này chỉ có thể có được nếu do tình cờ hay cố ý, mức đầu tư hiện ra một số cầu vừa bằng số thặng dư của số cung tổng hợp của sản xuất trong tình trạng việc làm đầy đủ so với mức tiêu dùng theo ý nguyện của quần chúng ở tình trạng việc làm đầy đủ đó(2)… Giải thích cụ thể hơn cơ chế của sự kết hợp này, Kên viết tiếp: “Khuynh hướng tiêu thụ và mức đầu tư mới kết hợp với nhau để quy định việc làm và khối lượng việc làm liên hệ mật thiết với mức tiền công thực tế, chứ không phải ngược lại. Nếu khối lượng tiêu thụ về mức đầu tư mới đưa đến một số cầu thực tế không đầy đủ, thì mức việc làm thực tế sẽ thấp hơn số cung lao động sẵn có, tức gây thất nghiệp”(3).

Continue reading

MỘT SỐ LÝ THUYẾT KINH TẾ và cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu

GS.TS. ĐỖ HOÀI NAM – Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương

Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về thực chất, nguyên nhân và hệ quả của cuộc khủng hoảng. Các kết quả đạt được là rất đáng kể. Tuy nhiên, không phải tất cả đều đã đi tới nhất trí và đồng thuận, kể cả trên những nét lớn. Cho dù vậy, trên quan điểm mác-xít chúng ta cũng vẫn có cơ sở để khẳng định những lý luận của C.Mác về tư bản và chủ nghĩa tư bản, của Lê-nin về chủ nghĩa đế quốc vẫn giữ nguyên giá trị và là cơ sở để xác định nguyên nhân sâu xa, mang tính bản chất của cuộc khủng hoảng kinh tế ở các nước tư bản phát triển nhất hiện nay. Ngoài ra, xin được nhấn mạnh thêm một số điểm sau đây:

Trước hết, về quy mô của cuộc khủng hoảng

Đây là cuộc khủng hoảng toàn cầu, với sức tàn phá và quy mô tác động mà chỉ có cuộc Đại Suy thoái 1929 – 1933 mới có thể so sánh. Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng lần này lại có những đặc trưng nổi bật trên nhiều phương diện – cơ chế lan truyền, sức lan tỏa, những đặc điểm cấu trúc, hệ quả và phương thức khắc phục.

Thực tế cho thấy, cuộc khủng hoảng kinh tế lần này không đơn thuần là cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu như nhiều cuộc khủng hoảng trước. Phải chăng sự khác biệt là ở chỗ cuộc khủng hoảng toàn cầu lần này là sản phẩm của chính quá trình toàn cầu hóa? Nếu đúng là như vậy thì điều đó có nghĩa rằng cuộc khủng hoảng lần này có những đặc trưng rất mới. Tức là nó có những nét mới trong tính chất, trong cơ chế vận hành, trong nguyên nhân và hậu quả. Phải có những cách tiếp cận mới đến những vấn đề lý luận mới làm cơ sở cho việc thiết kế hệ giải pháp thoát khỏi khủng hoảng trong những điều kiện thế giới đã có những thay đổi sâu sắc dưới tác động của toàn cầu hóa. Nói khác đi, không thể chỉ dừng lại ở luận điểm cho rằng về thực chất, cuộc khủng hoảng kinh tế lần này cơ bản cũng giống như những cuộc khủng hoảng trước đây, vẫn chỉ là do những mâu thuẫn có tính bản chất của chủ nghĩa tư bản nói chung, do mất cân đối tiền – hàng nghiêm trọng, do thị trường tự do “lộng hành” quá mức hay do nhà nước quá chủ quan, buông lỏng quản lý v.v.., để rồi chỉ cần dựa vào những lý thuyết đã có để có các giải pháp “giải cứu”, “kích cầu” như hiện nay nhiều nước đang áp dụng là đủ.

Continue reading

ĐI TÌM TRIẾT LÝ CỦA LUẬT PHÁ SẢN

PGS.TS. PHẠM DUY NGHĨA – Khoa Luật ĐHQG Hà Nội

Đạt mục đích bằng nhiều công cụ khác nhau:

Sau hơn mười năm thực hiện không thành công, Luật PSDN 1993 đang được xem xét sửa đổi. Vượt ra khỏi những hạn chế mang tính kỹ thuật lập pháp, tính chưa đồng bộ của các đạo luật tố tụng và cách triển khai thực hiện đạo luật này, cần xem xét nguyên nhân của sự bất thành này trong khung cảnh của nhiều công cụ tái tổ chức doanh nghiệp thua lỗ. Những bình luận tổng quan ở trên cho phép dự báo vai trò của pháp luật phá sản trong tương lai sẽ không thay đổi đáng kể. Đối với doanh nghiệp nhà nước, Luật phá sản sẽ vẫn chỉ là một công cụ tái tổ chức yếu ớt; tòa án sẽ không thể mau chóng thay thế các cơ quan hành chính chủ quản trong việc phục hồi doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp dân doanh, chững nào khái niệm trách nhiệm hữu hạn chưa trở thành phổ biến và cá nhân chủ nợ không được tuyên bố miễn trách, chừng đó các thiết chế đòi nợ tập thể có sẵn trong xã hội Việt Nam sẽ thay thế Luật phá sản.

Xác định tình trạng mất khả năng thanh toán:

Mất khả năng thanh toán là dấu hiệu đầu tiên cần được làm rõ bởi pháp luật phá sản. Chỉ khi lâm vào tình trạng này, các thiết chế của tái tổ chức hoặc thanh lý tư pháp mới được áp dụng. Cần làm rõ và lựa chọn một trong hai khái niệm: (i) mất khả năng thanh toán và (ii) lâm vào tình trạng phá sản. Tình trạng thua lỗ trầm trọng, kéo dài, không mang tính chất kẹt tiền tức thời này đã phần nào được nhận diện qua các dấu hiệu quy định tại điều 6, Nghị định số 189/CP [1994]. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh các dấu hiệu này chỉ để suy đoán doanh nghiệp đang mất khả năng thanh toán, chứ không có ý nghĩa doanh nghiệp đã phá sản, cần phải thu hồi, phát mại và thanh lý sản nghiệp. Vì lý do đó, nhiều nước đã đổi tên luật phá-sản thành luật mất khả năng thanh toán. Thêm nữa, mất khả năng thanh toán thường dựa trên tiêu chí không thanh toán nợ đến hạn (dòng tiền)hoặc tổng nợ vượt quá tài sản có (cân đối tài sản). Muốn áp dụng rộng rãi luật mất khả năng thanh toán như là một biện pháp tái cơ cấu, phải mở rộng và đơn giản hoá đối tượng áp dụng, tránh dùng các tiêu chí khó định lượng. Cách quy định của điều 3 Dự thảo, theo thiển ý của tôi, đã đi đúng xu hướng này.

Continue reading

MỐI QUAN HỆ GIỮA TỰ DO KINH TẾ, HÀNH VI DOANH NHÂN VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ; TRƯỜNG HỢP VIỆT NAM

HOÀNG XUÂN TRUNG

Giới thiệu

Tăng trưởng kinh tế là rất quan trọng đối với các nước đang phát triển. Một vài nghiên cứu thực tế đã xem xét các ảnh hưởng của hành vi doanh nhân đến tăng trưởng kinh tế, nhưng rất ít các nghiên cứu thực hiện nhằm để xem xét ảnh hưởng của tự do kinh tế đến doanh nhân. Đồng thời việc nghiên cứu tự do kinh tế cũng quan trọng bởi vì nó có mối quan hệ với hành vi doanh nhân. Một số nghiên cứu thực tế khẳng định mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa tự do kinh tế và tăng trưởng kinh tế.

Ví dụ, James D. Gwartney và Robert A. Lawson và Erik Gartzke (2005), Báo cáo Hàng năm 2005 của Thế giới về Tự do Kinh tế, Johnson, B. và Sheehy, T. (1998) Phát triển Kinh tế và Tự do Kinh tế, Cách mạng Trong Kinh tế Phát triển; Anisha Madan (2002), Mối quan hệ giữa Tự do Kinh tế và Phát triển Kinh tế Xã hội. Và có một số nghiên cứu thực tế về mối quan hệ giữa hành vi doanh nhân và tăng trưởng kinh tế, ví dụ: Charlie Karlsson, Christian, Christian Friis và Thomas Paulsson (Tháng 9/2004), Mối Quan hệ Hành vi Doanh nhân với Tăng trưởng Kinh tế; Daniel Berkowitz và David N.Dejong (Tháng 5/2004), Hành vi Doanh nhân và Tăng trưởng Sau Thời Chủ nghĩa Xã hội; M.A. Carree và A.R. Thurik, Ảnh hưởng của Hành vi Doanh nhân đến Tăng trưởng Kinh tế. Tất cả nghiên cứu này khẳng định mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa hành vi doanh nhân và tăng trưởng kinh tế. Mục đích của bài viết này là xem xét mối quan hệ giữa tự do kinh tế và hành vi doanh nhân, và mối quan hệ giữa hành vi doanh nhân và tăng trưởng kinh tế. và sau đó xem xét trường hợp thực tế ở Việt nam.

I. Tự Do Kinh Tế và Hành Vi Doanh Nhân

1. Khái niệm về Tự do Kinh tế

Khái niệm về tự do kinh tế không phải là một khái niệm mới trong lý thuyết kinh tế. Kể từ thời Adam Smith, nếu không phải trước đây, các nhà kinh tế học đã tin rằng tự do lựa chọn nguồn cung và cầu, cạnh tranh trong kinh doanh, thương mại với các nước khác, và đảm bảo quyền tài sản là thành phần thiết yếu của tiến bộ kinh tế (North and Thomas, 1973). Smith (1776-1937) nhấn mạnh bàn tay vô hình của thị trường trong việc làm gia tăng sự giàu có của các quốc gia. David Ricardo (1821-1912) ủng hộ tự do thương mại như là phương tiện của việc tạo ra tăng trưởng kinh tế. Milton Friedman khẳng định "Tôi tin rằng các xã hội tự do xuất hiện và tồn tại chỉ bởi vì tự do kinh tế là hiệu quả về mặt kinh tế nhiều hơn nhiều so với các phương pháp khác trong việc kiểm soát hoạt động kinh tế" (Foreword in Gwartney et al., 1996).

Continue reading

10 NĂM THAY ĐỔI CẤU TRÚC KINH TẾ

BÙI BÁ CƯỜNG – BÙI TRINH

Bài viết này không chỉ phân tích sự thay đổi về cơ cấu của giá trị sản xuất hay giá trị gia tăng theo ngành (tổng cung của nền kinh tế), hoặc cơ cấu các nhân tố của cầu cuối cùng trong tổng cầu cuối cùng mà nhấn mạnh đến sự thay đổi trong nội bộ mỗi ngành và mức độ lan toả cùng độ nhạy của các ngành trong quá trình sản xuất; nghiên cứu và xem xét sự thay đổi mức độ ảnh hưởng đối với các yếu tố của cầu đến cung trong nền kinh tế, thông qua cả giá trị sản xuất và thu nhập (GDP).

Bảng 1: Sự thay đổi về độ lan toả và độ nhạy của các ngành kinh tế hiện nay so với giai đoạn tr

Tác giả dựa vào một số tính toán sơ bộ từ bảng cân đối liên ngành mới nhất của Việt Nam (sắp tới sẽ công bố). Số ngành được khảo sát được gộp thành 22 ngành. (xem bảng 1).

Continue reading

KHÁI NIỆM CƠ BẢN về giá trị, giá trị sử dụng, giá trị trao đổi và giá cả của hàng hóa

DINHGIA Bốn khái niệm (giá trị, giá trị sử dụng, giá trị trao đổi và giá cả) đã có một quá trình lịch sử lâu dài trong kinh tế học và triết học, nghĩa của các khái niệm này cũng được phát triển mở rộng ra. Bất kỳ hàng hoá nào đều có giá trị và giá trị sử dụng. Nếu hàng hóa này được trao đổi ở thị trường thì nó được thêm vào giá trị trao đổi và thường được biểu hiện bằng một lượng tiền nhất định gọi là giá hay giá cả của hàng hóa đó.

1. Giá trị của hàng hoá là một thuộc tính của hàng hoá, đó chính là lao động hao phí của người sản xuất để sản xuất ra nó đã được kết tinh vào trong hàng hoá.

Giá trị của hàng hoágiá trị lượng lao động tiêu hao để sản xuất ra hàng hoá đó và tính bằng thời gian lao động XH cần thiết.

– Thời gian lao động XH cần thiếtthời gian lao động XH trung bình để sản xuất ra hàng hoá. Thời gian lao động XH cần thiết có thể thay đổi.

– Có ba nhân tố cơ bản ảnh hưởng tới lượng giá trị của hàng hoá:

+ Thứ nhất, đó là năng suất lao động.

+ Thứ hai, đó là cường độ lao động.

+ Thứ ba là mức độ phức tạp của lao động.

2. Giá trị sử dụng của một vật phẩm là tính chất có ích, công dụng của vật thể đó có thể thoả mãn một nhu cầu nào đó cho việc sản xuất hoặc cho sự tiêu dùng cá nhân. Giá trị sử dụng được quyết định bởi những thuộc tính tự nhiên và những thuộc tính mà con người hoạt động tạo ra cho nó.

Continue reading

PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN – Xu thế tất yếu trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay

THS. ĐẶNG MINH TIẾN – Đại học Thương mại Hà Nội

Phát triển kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một xu hướng tất yếu, một chủ trương đúng đắn và nhất quán của Đảng ta…

Phát triển kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một xu hướng tất yếu, một chủ trương đúng đắn và nhất quán của Đảng ta. Điều này thể hiện ở chỗ, thứ nhất, với trình độ phát triển như hiện nay của lực lượng sản xuất ở nước ta, sự tồn tại của kinh tế tư nhân vẫn là nhu cầu khách quan, thứ hai, kinh tế tư nhân đã và đang tiếp tục chứng tỏ vai trò động lực của nó đối với sự phát triển kinh tế – xã hợi của đất nước, thứ ba, sự phát triển của kinh tế tư nhân trong hơn 20 năm đổi mới vừa qua đã đóng góp không nhỏ vào việc giải quyết các vấn đề kinh tế và xã hội của đất nước. Tất nhiên, kinh tế tư nhân chỉ phát triển đúng hướng khi Đảng và Nhà nước có chính sách và biện pháp quản lý phù hợp, không làm mất động lực phát triển của nó, nhưng cũng không để nó vận động một cách tự phát.

Trong thời đại ngày nay, bất cứ một nền sản xuất xã hội nào muốn đạt hiệu quả tăng trưởng cao đều phải thực hiện nền kinh tế thị trường. Công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã đạt được nhiều thành tựu to lớn. Một trong những nguyên nhân cơ bản tạo nên sự phát triển của nền kinh tế nước ta là đã khơi dậy được tiềm năng của các thành phần kinh tế thông qua chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần, trong đó kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng và tiếp tục được khuyến khích phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Continue reading