NGHỊ QUYẾT SỐ 18/NQ-CP NGÀY 6 THÁNG 4 NĂM 2010 CỦA CHÍNH PHỦ VỀ NHỮNG GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ, KHÔNG ĐỂ LẠM PHÁT CAO VÀ ĐẠT TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ KHOẢNG 6,5% TRONG NĂM 2010

CHÍNH PHỦ

Năm 2010 là năm cuối thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2006 – 2010 và Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 10 năm 2001 – 2010 đồng thời cũng là năm diễn ra nhiều sự kiện quan trọng của đất nước, trong đó nổi bật và quan trọng nhất là Đại hội Đảng các cấp tiến đến Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng. Thực hiện thắng lợi kế hoạch năm 2010 không chỉ có ý nghĩa quan trọng để góp phần hoàn thành các mục tiêu và nhiệm vụ của Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2006 – 2010 và Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 10 năm 2001 – 2010 mà còn tạo điều kiện thuận lợi để tiếp tục duy trì ổn định kinh tế, chính trị, xã hội và các tiền đề cho phát triển đất nước trong giai đoạn tới.

Tình hình kinh tế – xã hội 3 tháng đầu năm 2010 đã có những chuyển biến tích cực, đạt mức tăng trưởng khá trên hầu hết các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ; thị trường trong nước phát triển tốt, doanh thu bán lẻ tăng; đầu tư phát triển được đẩy mạnh; du lịch quốc tế tăng; an sinh xã hội được bảo đảm; thu ngân sách đạt khá; giá cả có tăng so với cùng kỳ một số năm nhưng vẫn trong tầm kiểm soát. Tuy nhiên, tình hình kinh tế vĩ mô đã có một số biểu hiện chưa ổn định, đòi hỏi phải có những giải pháp điều chỉnh kịp thời để thực hiện được các mục tiêu kế hoạch đề ra cho năm 2010.

Để thực hiện được mục tiêu kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và ngân sách nhà nước năm 2010 theo Nghị quyết kỳ họp thứ 6, Quốc hội khoá 12 và Nghị quyết số 03/NQ-CP ngày 15 tháng 01 năm 2010, Chính phủ xác định phải tập trung nỗ lực huy động các nguồn lực của toàn xã hội để thực hiện yêu cầu bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, không để lạm phát cao, đạt tốc độ tăng trưởng khoảng 6,5% trong năm 2010.

Nhằm đạt được mục tiêu trên, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước doanh nghiệp nhà nước, Chủ tịch hội, hiệp hội ngành nghề chủ động phối hợp, cùng chịu trách nhiệm để tập trung chỉ đạo và thực hiện ngay các giải pháp chủ yếu sau đây:

Continue reading

KINH TẾ HỘ GIA ĐÌNH TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP HÀNG HÓA

ĐOÀN QUANG THIỆU

Nước ta có trên 13 triệu hộ nông dân, lực lượng này là nền tảng của nền kinh tế, góp phần đảm bảo an ninh lương thực, giữ vững an ninh chính trị – xã hội. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, việc xây dựng mô hình kinh tế hộ sản xuất nông nghiệp hàng hóa là rất cần thiết. Bài viết dưới đây đề cập đến các hình thức, nội dung của một số mô hình kinh tế hộ và giải pháp phát triển trong nền kinh tế hàng hóa.

Kinh tế hộ gia đình đã có đóng góp lớn cho kinh tế nông nghiệp, sản xuất lúa gạo đạt tỷ suất hàng hóa khoảng trên 50%, cà phê 45%, cao su 85%, chè trên 60%, điều trên 90%. Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận không nhỏ hộ gia đình đang loay hoay trong cảnh sản xuất tự cấp, tự túc, thậm chí còn nhiều hộ sản xuất tự nhiên, nhất là ở vùng núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Nền kinh tế hàng hóa phát triển cũng đồng thời dẫn đến sự phân hóa giàu nghèo. Về lương thực, thực phẩm tỷ lệ hộ nghèo cả nước là 28,9%, trong đó nông thôn là 35,7% (thấp nhất là vùng Đông Nam Bộ 22%, cao nhất là vùng Tây Bắc 68,7%). Hiện nay, cả nước vẫn còn trên 1 triệu hộ nghèo. Vì vậy, việc nghiên cứu vận dụng các mô hình kinh tế hộ gia đình sản xuất hàng hóa nhằm nâng cao năng lực sản xuất của các hộ kinh tế nông nghiệp trong giai đoạn hiện nay là rất cấp thiết

Các mô hình kinh tế hộ gia đình

Mô hình sản xuất chuyên canh trong nông nghiệp

Chuyên chăn nuôi: Bò sữa; cá, tôm, cua; hươu, trăn, rắn mô hình này đang phát triển mạnh ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH), ven biển miền Trung

Chuyên trồng trọt: Chè, cà phê, cao su mô hình này chủ yếu ở Trung du miền Núi phía Bắc, Tây Nguyên, Nam Trung Bộ. Đây là mô hình các hộ kinh tế làm vệ tinh nguyên liệu cho các doanh nghiệp chế biến.

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN Ở VIỆT NAM

GS.TSKH. LƯƠNG XUÂN QUỲ & THS NGUYỄN ANH TUẤN – Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

Quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn. Song cũng đặt ra những vấn đề cần được quan tâm giải quyết. Ở bài viết này, các tác giả đề cập đến một số vấn đề mới nảy sinh gần đây cần giải quyết nhằm hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướngXHCN ở Việt Nam.

Quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng và cũng đặt ra một số thách thức cần giải quyết: Chất lượng tăng trưởng chưa cao, cơ cấu kinh tế chưa hợp lý, các nguồn lực chưa được huy động và sử dụng hiệu quả, môi trường tự nhiên còn bị huỷ hoại và tình trạng ô nhiễm xảy ra nhiều nơi, các yếu tố thị trường chưa được hình thành và vận hành thông suốt, khoảng cách chênh lệch giữa thành thị và nông thôn, người giàu và người nghèo có chiều hướng gia tăng… Các vấn đề trên đã được đề cập dưới nhiều giác độ khác nhau cũng như được phân tích khá sâu sắc trong Báo cáo tổng kết 20 năm đổi mới. Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi tập trung phân tích một số vấn đề mới phát sinh trong thời gian gần đây.

Một là, với việc gia nhập WTO, nền kinh tế Việt Nam đã trở thành một chủ thể mới trong luật chơi toàn cầu phức tạp với các tác động đa chiều, do đó, việc xác định cơ sở để ổn định và phát triển trong bối cảnh biến động liên tục của kinh tế toàn cầu có một ý nghĩa hết sức quan trọng. Nền kinh tế Việt Nam có nhiều cơ hội để đạt được tốc độ tăng trưởng cao nhưng cũng dễ bị ảnh hưởng và bị tổn thương trước những biến động của nền kinh tế toàn cầu và nền kinh tế của các nước thành viên. Nước ta gia nhập WTO muộn hơn so với các quốc gia khác và với trình độ phát triển của nền kinh tế thấp hơn. Vì vậy, sự chủ động thâm nhập vào nền kinh tế thế giới cũng như đón nhận các dòng vốn, hàng hóa và tri thức mới từ ngoài vào của nước ta cần dựa trên 2 nền tảng: Cầu nội địa mở rộng đủ lớn và hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội được đảm bảo. Trong đó, cầu nội địa mở rộng được xây dựng dựa trên:

Continue reading

CHUYỂN ĐỘNG CÓ HƯỚNG CỦA TIỀN TỆ TRONG NỀN KINH TẾ

image THU SAN – NGUYỄN THẾ HÙNG

Một loại hoá đơn mới trên cơ sở nghiên cứu môn Ngũ hành cho phép chính phủ thu được một nguồn thuế lớn lao, giúp ổn định giá thị trường, kiềm chế lạm phát, hơn nữa loại hoá đơn ấy còn cho phép tích lũy được một nguồn vốn cực lớn cho công cuộc xây dựng đất nước trong thời kỳ mới. Đó chính là “hoá đơn vé”.

Đồng tiền rất gần gũi với chúng ta trong xã hội hiện đại. Nó như không khí đối với nền kinh tế. Nếu nguồn cung ứng tiền tệ hạn hẹp thì nền kinh tế bị ngạt thở. Nhưng đồng tiền là một đối tượng vận động có hướng rất rõ ràng. Không phải cứ căng ngực hít là tiền chảy ào vào lá phổi của một nền kinh tế. Dưới góc độ Ngũ hành có thể phân tích sự vận động của đồng tiền để từ đó tìm ra cách làm cho nó chảy mạnh mẽ hơn trong nền kinh tế hiện nay của nước ta.

1. Bản chất Ngũ hành của đồng tiền

Theo Ngũ Hành, có thể xếp sự vận động của đồng tiền vào hành Hoả. Một cá nhân rèn luyện tích luỹ kỹ năng lao động để có nghề nghiệp là hành Kim. Khi anh ta mang kỹ năng và sức lao động ra làm việc, thì những vận động ấy thuộc hành Thuỷ. Kết quả lao động được trả lương là hành Mộc. Lúc anh ta tiêu tiền để đổi lấy sản phẩm và dịch vụ nào đó thì sự vận động của đồng tiền lúc ấy thuộc hành Hoả. Sản phẩm và dịch vụ mà người lao động đã đổi lấy được thuộc hành Thổ. Trong Thổ tích Kim để lại bắt đầu một vòng Ngũ hành mới. Những vòng mới này vô cùng phong phú, đa dạng, cả về hình thức, lẫn nhịp độ. Nhưng nước ta, Việt Nam, lại thuộc phương Nam, cơ bản thuộc Hoả, nên tâm lý nhân dân nói chung thuộc Hoả. Tâm lý ấy làm cho các vòng Ngũ hành trao đổi sản phẩm và dịch vụ nói trên có biểu trưng như là những ngọn lửa nhỏ.

Đặc trưng cơ bản của quá trình ngọn lửa nhỏ (vòng Ngũ hành bé) là rất khó khăn trong việc cấp sức nóng để tạo được các vòng vận động sau lớn hơn vòng trước. Thực chất, các vòng Ngũ hành nhỏ chỉ như những đám cháy liu riu, nhiều khi cháy cạn nguồn mà không làm bén một đám cháy mới. Ví dụ, một bác xích lô ở Sài Gòn, ngày đạp dăm cuốc xe, kiếm được trăm ngàn. Trăm ngàn ấy có khi buộc phải tiêu hết, chỉ để tái tạo sức “đạp” cho ngày hôm sau, khó có thể tạo ra tích luỹ lớn sao cho sau mươi năm đủ để mua được một căn hộ giữa Sài Thành hoa lệ.

Continue reading

LUẬT DOANH NGHIỆP VÀ LUẬT ĐẦU TƯ NĂM 2005: HAI PHẢN ỨNG KHÁC NHAU CỦA NHÀ LÀM LUẬT

PGS. TS. PHẠM DUY NGHĨA

“Trong khi Luật Doanh nghiệp 2005 tìm cách hạn chế cấp phép, gia tăng hậu kiểm, buộc doanh nghiệp tuân thủ kỷ luật báo cáo và bị giám sát thường xuyên (ex post control), thì Luật Đầu tư 2005 duy trì tư duy truyền thống, kiểm tra ngay từ khi tổ chức thực hiện dự án (ex ante control), duy trì kiểm soát khi đăng ký đầu tư”.

Bảo vệ quyền lợi của bên Việt Nam, suy cho cùng cũng là bài toán bảo vệ cổ đông, bảo vệ đối xử bình đẳng giữa các cổ đông trong một công ty – một chủ đích mà cả hai đạo luật về doanh nghiệp và đầu tư cùng quan tâm. Tuy nhiên, có thể nhận thấy hai đạo luật này tiếp cận bài toán bằng các công cụ khác nhau. Trong khi Luật Doanh nghiệp 2005 tìm cách hạn chế cấp phép, gia tăng hậu kiểm, buộc doanh nghiệp tuân thủ kỷ luật báo cáo và bị giám sát thường xuyên (ex post control), thì Luật Đầu tư 2005 duy trì tư duy truyền thống, kiểm tra ngay từ khi tổ chức thực hiện dự án (ex ante control), duy trì kiểm soát khi đăng ký đầu tư, dự án đầu tư nước ngoài nhỏ hơn 300 tỷ đồng phải đăng ký, lớn hơn 300 tỷ đồng phải thẩm tra để cấp phép đầu tư.

Người soạn luật đã làm rõ mục đích của việc đăng ký tại điều 62 dự thảo Nghị định hướng dẫn Luật Đầu tư, theo đó cơ quan đăng ký chỉ ghi nhận các hồ sơ được nộp, mà không thẩm định, cũng không có quyền đòi thêm hồ sơ. Ngược lại, với các dự án lớn hơn 300 tỷ đồng, các tiêu chí thẩm tra cũng đã được liệt kê tại các điều 63. Hai quy chế này, theo thiển nghĩ của tôi, đã được thiết kế rõ ràng, thành công, dễ tiên liệu (tuy nhiên, mọi hoạt động tìm kiếm chấp thuận về góp đất và tài sản của DNNN của quan chức các cấp vẫn phải diễn ra trước khi đăng ký dự án như đã mô tả ở trên).

Continue reading

Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp sau đăng ký kinh doanh tại TP.HCM – NHỮNG KHÓ KHĂN VÀ KIẾN NGHỊ

TS. TẦN XUÂN BẢO

1. Đặt vấn đề

Luật Doanh nghiệp (DN) ra đời đã có tác động rất tích cực đến sự phát triển kinh tế – xã hội của nửụực ta, kể từ năm 2000 số lượng doanh nghiệp thuộc khu vưc ngoài Nhà nước mới đăng ký liên tục tăng lên. Tính đến hết tháng 6/2005 đã có gần 140 nghìn doanh nghiệp mới đăng ký (trong 9 năm 1991-1999 có khỏang hơn 40.000 doanh nghiệp đăng ký); đưa tổng số doanh nghiệp đăng ký của khu vực tư nhân ở nước ta lên khoảng 180 nghìn doanh nghiệp. Số doanh nghiệp mới đăng ký trong thời gian 2000-6/2005 cao gấp 3,5 lần so với 9 năm trước đây (1991-1999).

Riêng đối với TP.HCM, chỉ sau 5 năm thực hiện luật DN, số lượng doanh nghiệp thành lập mới của thành phố tăng nhanh chóng. Từ đó đã thu hút được một khối lượng lớn tiền nhàn rỗi trong nhân dân đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh, làm tăng vốn đầu tư cho xã hội, tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu của các thành phần kinh tế, góp phần giải quyết việc làm cho hàng trăm ngàn lao động mỗi năm, đóng góp đáng kể vào tốc độ tăng trưởng kinh tế của Thành phố và các Tỉnh lân cận. Tuy nhiên do Luật Doanh nghiệp mới ban hành, đồng thời Luật Doanh nghiệp lại được thực hiện trong bối cảnh hệ thống luật pháp chung của nước ta còn chưa đầy đủ, đồng bộ nên quá trình tổ chức thực hiện Luật Doanh nghiệp còn gặp phải những vướng mắc, trở ngại là điều không thể tránh khỏi. Bài viết này nhằm mục đích góp phần phân tích, đánh giá, một số khó khăn, vướng mắc phát sinh từ thực tiễn để có cơ sở khoa học và thực tiễn quản lý các DN của Nhà nước ngày càng có hiệu quả hơn.

2. Những khó khăn vướng mắc

Trong quá trình thực hiện quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp sau đăng ký kinh doanh,qua khaỷo saựt thửùc teỏ,noồi leõn moọt soỏ những vấn đề chính sau đây:

Continue reading

ĐẶC TRƯNG MÔ HÌNH KINH TẾ TỰ DO MỚI CỦA MỸ VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

THS. CAO MINH NGHĨA & THS. NGUYỄN THỊ HOÀNG MỸ

Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu hiện nay dẫn đến việc mô hình kinh tế tư bản tự do bị lên án mạnh mẽ tại Mỹ và khắp nơi trên thế giới, kể cả những người từng ủng hộ mạnh mẽ nhất. Chuyên gia kinh tế Francis Fykuyama giảng dạy tại đại học John Hopkins, xem đây là “sự sụp đổ của mô hình kinh tế Mỹ” và “sự cáo chung của các học thuyết Reagan và Thatcher” (theo: Asiaweek, 13/10/2008).

Một số nhà phân tích và dư luận Mỹ đang nói đến việc Mỹ quay trở lại học thuyết Keynes và mô hình kinh tế “tân chính sách” dưới thời Tổng thống F.D.Roosvelt thời kỳ 1933-1939, hoặc theo mô hình dân chủ xã hội giống như các nước Đức, Pháp hoặc tìm mô hình khác với tên gọi mới như “chủ nghĩa tư bản có kiểm soát”, hay “chủ nghĩa tư bản có phòng vệ”, hay “chủ nghĩa tư bản sáng tạo”. Theo George Soros “… đặc điểm nổi bật của cuộc khủng hoảng tài chính hiện nay là nó không xuất phát từ cú sốc bên ngoài nào đó…. Chính hệ thống hiện thời tự thân nó tạo ra cuộc khủng hoảng này”.

Tờ nhật báo Pháp Le Monde, đã trích dẫn quan điểm của nhà trí thức, triết gia người Slovania Slavoj Zizek, một người thường xuyên thuyết trình tại các đại học Mỹ về cuộc khủng hoảng hiện nay “chủ nghĩa tư bản cần được xét lại một cách triệt để” vì “người ta từng lên án sự can thiệp của Nhà nước, xem đó là trở ngại cho sự vận hành của một nền kinh tế thị trường, trừ phi sự can thiệp đó là để phục vụ cho hệ thống tư bản”.

1. Đặc trưng của mô hình:

Chỉ tính từ đầu thế kỷ XX đến nay, trên nền tảng của cùng một phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, thế giới đã trải qua 3 giai đoạn: chủ nghĩa tự do cổ điển trước đại khủng hoảng kinh tế giai đoạn 1929-1933, chiến tranh thế giới thứ nhất và thứ hai; chủ nghĩa tư bản "nhân dân" của học thuyết Keynes từ năm 1950 đến 1975 và chủ nghĩa tự do mới từ cuối những năm 1970 đầu những năm 1980 cho đến nay. Tương ứng với ba hình thái đó là ba hình thức Nhà nước: Nhà nước mạnh; Nhà nước phúc lợi can thiệp và Nhà nước tối thiểu thu hẹp cả chức năng kinh tế lẫn chức năng xã hội.

Continue reading

VĂN HOÁ KINH DOANH VIỆT NAM

DƯƠNG THỊ LIỄU & NGUYỄN VÂN HÀ

Xây dựng văn hóa kinh doanh (VHKD) là mục tiêu nhưng lại là thách thức lớn đối với hầu hết các doanh nghiệp, doanh nhân Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hoá. Hơn lúc nào hết, chúng ta cần nhận thức rõ những hạn chế, bất cập trong VHKD Việt Nam, từ đó tìm ra hướng đi cho doanh nghiệp, doanh nhân để có thể tích cực, chủ động trong hội nhập, đảm bảo xây dựng nền VHKD Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, làm nền tảng cho sự phát triển bền vững nền kinh tế đất nước trong thời gian tới.

NHỮNG BẤT CẬP CỦA VHKD VIỆT NAM TRONG TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP

Thực tế trong bối cảnh hội nhập hiện nay, không ít doanh nghiệp Việt Nam đã trưởng thành, trụ vững và phát triển mạnh mẽ, mà nguyên nhân sâu xa chính là do các doanh nghiệp này đã và đang coi trọng xây dựng VHKD cho mình. Tuy nhiên, hiện còn không ít doanh nhân chưa nhận thức được vai trò, động lực của VHKD trong hội nhập nên trong quá trình kinh doanh đã bộc lộ những bất cập, ảnh hưởng tiêu cực đến năng lực cạnh tranh, làm giảm hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Dưới đây là một số bất cập chính của VHKD Việt Nam trong tiến trình hội nhập.

Cung cách làm ăn nhỏ lẻ, thói quen tùy tiện, thiếu chuyên nghiệp, thiếu sáng tạo

Các doanh nghiệp Việt Nam vốn bị kém thế cạnh tranh trên thương trường quốc tế do cung cách làm ăn manh mún, chạy theo lợi nhuận trước mắt mà ít nghĩ đến cục diện chung. Việc liên kết để đáp ứng những đơn đặt hàng lớn chỉ thuận lợi trong những bước đầu, sau đó, các doanh nghiệp thường tìm cách xé lẻ, giành riêng hợp đồng cho mình để rồi dẫn đến tình trạng luôn nghi kỵ, đối phó lẫn nhau và sẵn sàng giành giật quyền lợi riêng cho công ty mình mà không nghĩ đến cục diện chung. Nhiều doanh nghiệp không có khả năng tổ chức thực thi sản xuất và kinh doanh ở quy mô lớn cho cùng loại sản phẩm để đáp ứng nhu cầu thị trường.

Continue reading

BẢO HỘ ĐỘC QUYỀN SÁNG CHẾ Ở DOANH NGHIỆP: NHÌN TỪ GÓC ĐỘ KINH TẾ HỌC

TẠ DOÃN TRỊNH

Theo Adam B. Jaffe, lợi ích do tri thức tạo ra từ hoạt động nghiên cứu và triển khai (R&D) được các doanh nghiệp nắm giữ thông qua các phương thức sau1: Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ (SHTT); tận dụng thời gian đi trước dẫn đầu và cơ hội tích luỹ kinh nghiệm; nắm giữ những tài sản hay năng lực chuyên dụng. Trong nghiên cứu này, chúng ta sẽ tập trung vào phương thức bảo hộ quyền SHTT, đặc biệt xem xét ý nghĩa kinh tế của việc bảo hộ sáng chế, một sản phẩm đầu ra quan trọng trong hoạt động R&D của doanh nghiệp và cũng là sản phẩm có tác động to lớn đến phát triển kinh tế thông qua hiệu ứng lan toả của mình.

1. Tại sao phải bảo hộ quyền SHTT?

Trước hết, hãy cùng nhau trả lời cho câu hỏi: Điều gì sẽ xảy ra khi doanh nghiệp sở hữu một ý tưởng có tiềm năng khai thác thương mại trên thị trường?

Thông thường, để hiện thực hoá ý tưởng trong thực tiễn và tiếp đó là chuỗi hoạt động sản xuất – tiếp thị – bán sản phẩm trên thị trường, các doanh nghiệp cần một sự đầu tư nhất định. Trong trường hợp thiếu vốn đầu tư, doanh nghiệp phải đối mặt với nhiều thách thức: Đi tìm nhà đầu tư hay tìm người chấp nhận chuyển giao quyền sử dụng hoặc chuyển nhượng (mua đứt) quyền sở hữu sáng chế.

Từ đây sẽ xuất hiện tình thế khó xử cho doanh nghiệp: Bộc lộ sáng chế hay không bộc lộ nếu không tồn tại khả năng bảo hộ độc quyền cho sáng chế này. Tình thế khó xử này xuất phát từ bản chất bên trong của tri thức KH&CN, loại hàng hoá tiêu dùng công ích tạo ra hiệu ứng lan toả. Cụ thể là, trong quá trình thương thảo mua bán, nhà đầu tư hoặc người mua bất kỳ sẽ không sẵn lòng hứng chịu rủi ro nếu không được biết các thông tin đủ chi tiết về sáng chế để ước tính giá trị của sáng chế đó. Do vậy, nếu không bộc lộ, nhà đầu tư hay người mua bất kỳ sẽ khó có thể đánh giá hay nhận biết được đúng giá trị của sáng chế. Còn trong trường hợp bộc lộ hoàn toàn bản chất của sáng chế để thu hút đầu tư, sẽ xảy ra khả năng doanh nghiệp không thể kiểm soát được sáng chế do mình tạo ra.

Continue reading

THỰC TIỄN ÁP DỤNG LUẬT DOANH NGHIỆP: QUI ĐỊNH CHƯA RÕ, TÒA LÚNG TÚNG

NHÓM PHÓNG VIÊN BÁO PLTPHCM

Các tòa kinh tế hiện cũng còn không ít vướng mắc, khó khăn trong quá trình xử lý án, nhất là việc xác định thế nào là thành viên công ty, xử lý tài sản thế chấp… nên đã kiến nghị TAND Tối cao gỡ rối.

Tòa Kinh tế TAND TP.HCM than rằng khái niệm thành viên công ty hiện đang khiến nhiều thẩm phán lúng túng, không biết xác định thế nào cho đúng.

Rối khái niệm thành viên công ty

Có người cho rằng khái niệm này trong Bộ luật Tố tụng dân sự không đồng nghĩa với quy định tại Luật Doanh nghiệp 2005. Nghĩa là khi có tranh chấp giữa các thành viên của công ty với nhau thì tòa không phân biệt đó là công ty TNHH, công ty hợp danh hay công ty cổ phần. Cuối cùng tòa phải theo luật tố tụng dân sự mà giải quyết.

Tuy nhiên, có thẩm phán lắc đầu bảo không phải, khái niệm này được hiểu giống nhau giữa hai luật. Nên khi có tranh chấp giữa các thành viên công ty TNHH và công ty hợp danh thì tòa dựa vào luật doanh nghiệp để giải quyết. Riêng tranh chấp giữa các thành viên của công ty cổ phần về cổ phiếu thì tòa dựa vào luật tố tụng dân sự giải quyết.

Cạnh đó, tranh chấp việc góp vốn giữa các thành viên với nhau cũng có nhiều quan điểm. Khi một thành viên chuyển nhượng vốn của mình cho một người ngoài dù các thành viên khác đều biết nhưng hai người chưa đăng ký thay đổi thành viên công ty thì khi có tranh chấp, người được chuyển nhượng không được coi là thành viên công ty. Lúc này tòa phải giải quyết tranh chấp việc chuyển nhượng phần góp vốn theo hợp đồng chuyển nhượng vốn góp.

Continue reading

CÁC HÌNH THỨC PHÁP LÝ CHỦ YẾU CỦA TRUNG GIAN THƯƠNG MẠI

TS. NGUYỄN THỊ VÂN ANH – Trường Đại học Luật Hà Nội

Trong hoạt động thương mại, bên trung gian thực hiện các dịch vụ nhằm tạo điều kiện để bên có nhu cầu bán hàng, cung ứng dịch vụ… thiết lập quan hệ với bên có nhu cầu mua hàng, sử dụng dịch vụ… hoặc thông qua bên này mà hàng hoá, dịch vụ sẽ đến được với bên thứ ba. Ngay từ thế kỷ 19, luật pháp của nhiều nước trên thế giới (như Pháp, Đức, Ý, Nhật) đã quan tâm điều chỉnh các hoạt động thương mại qua trung gian. Ở nước ta, Luật Thương mại năm 2005 (LTM) đã đưa ra định nghĩa về hoạt động trung gian thương mại (TGTM), đồng thời, các hoạt động này được tập hợp thành một chế định: Các hoạt động TGTM (tại chương V, từ Điều 141 đến Điều 177).

Xin được nêu và so sánh ba hình thức hoạt động TGTM chủ yếu trong nền kinh tế thị trường hiện đại theo pháp luật của các nước trên thế giới là: đại diện thương mại (ĐDTM), môi giới thương mại (MGTM), uỷ thác thương mại (UTTM) với các hình thức tương ứng theo pháp luật Việt Nam[1], đồng thời chỉ ra những nội dung cần lưu ý khi xác định hình thức cũng như hoạt động TGTM trên thế giới.

1. Đại diện thương mại[2]

Hiện nay, ĐDTM là hình thức hoạt động TGTM phổ biến nhất trên thế giới và được pháp luật của hầu hết các nước ghi nhận. Ở Pháp, ĐDTM được quy định từ Điều L134 -1 đến Điều 134 -17 Bộ luật thương mại (BLTM)[3]; ở Đức được quy định từ Điều 84 đến Điều 92 BLTM[4]; ở Nhật được quy định từ Điều 46 đến Điều 51 BLTM ; ở Thái Lan được quy định từ Điều 797 đến Điều 832 Bộ luật Dân sự và thương mại (BLDS và TM)5. Để kết hợp luật của các quốc gia thành viên liên quan đến những bên ĐDTM độc lập, Hội đồng châu Âu đã ban hành chỉ thị số 86/653/EEC ngày 18/12/1986 về những bên ĐDTM[5].

Qua nghiên cứu cho thấy, ĐDTM theo pháp luật của các nước nói trên có bản chất giống với hoạt động đại diện cho thương nhân theo pháp luật Việt Nam (được quy định trong LTM 2005 từ Điều 141 đến Điều 149).

Continue reading

NHÂN CÁCH, NHÂN PHẨM, KINH TẾ, KINH DOANH

TÔN THẤT NGUYỄN THIÊM

Có người tiêu dùng nào muốn liên quan với một thương hiệu không có nhân cách và nhân phẩm khi chính doanh nghiệp mang thương hiệu ấy đã vi phạm những giá trị tối thiểu của cộng đồng nhân sinh (chẳng hạn là đã gây tàn hại cho môi trường hay bóc lột tàn tệ nhân công và gian dối triền miên trong sản xuất)?!

Cách vận hành kinh tế và kinh doanh ở ta có vẻ tụt hậu khá nhiều so với các trào lưu tiên tiến hiện đại trên thế giới lẫn so với chí nguyện ngàn xưa của tổ tiên. Lý do cơ bản là tố chất nhân luân ngày càng mờ nhạt, chỉ còn lại những toan tính lạnh lùng vô cảm, vừa ngắn hạn vừa cục bộ…

Kể từ đầu thập niên 90 của thế kỷ trước, với các tiêu chí “doanh nghiệp nào biết chăm sóc con người và môi sinh thì doanh nghiệp ấy thắng” (trọn ý từ “Who Cares Win”) và “muốn được tiếng hay thì hãy làm điều tốt việc thiện” (đúng ý từ “Do Well By Doing Good”) đề cao trong chiều hướng thuộc “Tư bản tận tâm” (Compassionate Capitalism) và “Tư bản chu đáo” (Caring Capitalism), nhiều trường phái mới trong ngành chiêu thị – tiếp thị – nghiên cứu thị trường đã ra đời: từ “Marketing liên quan đến chính nghĩa” (Cause Related Marketing) đến “Marketing vì chính nghĩa xã hội” (Social Cause Marketing) và “Marketing trên nền tảng sứ mệnh” (Mission-Based Marketing), tất cả đều được triển khai với mục đích mong muốn được thị trường và xã hội nhìn nhận doanh nghiệp như một “thực thể có nhân tính”, nghĩa là không chỉ hoạt động duy nhất vì lợi nhuận mà cơ bản còn vì động lực “thế thái nhân tình” (“Bosom Company/Noble Hearted Company”).

Sự phổ quát các sự kiện trên ở các thị trường Âu Mỹ đã minh chứng rất rõ là “4P cổ điển” (gồm Product-sản phẩm dịch vụ; Price-giá; Place-hệ thống cung ứng, Promotion-xúc tiến thương mại) của ngành “marketing truyền thống” cần phải được bổ sung thêm bởi chí ít là “3P”: People-con người, Public Opinion-công luận và Politics-chính trị; hiểu một cách cô đọng là nếu không quan tâm đến môi trường sống, công luận và các định chế cộng đồng thì doanh nghiệp cùng lắm là chỉ bán được hàng trong những thời điểm nhất định nhưng hoàn toàn không có khả năng phát triển bền vững để trường tồn.

Continue reading

TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CẤP BÁCH

PGS. TS. PHẠM VĂN ĐỨC – Tổng biên tập Tạp trí Triết học

Bài viết tập trung phân tích nội dung trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, vai trò của việc thực hiện trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp và một số vấn đề đặt ra trong việc thực thi trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp ở Việt Nam. Theo tác giả, việc các doanh nghiệp thực hiện tốt trách nhiệm xã hội không chỉ giúp bản thân doanh nghiệp phát triển bền vững, mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của xã hội. Trên cơ sở làm rõ những lợi ích to lớn từ việc thực hiện trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp và đánh giá khái quát tình hình thực thi trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay, tác giả đã đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp.

Cùng với công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, sự thành công trong việc đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế đang đặt ra cho đất nước nhiều vấn đề về môi trường và xã hội bức xúc. Chính những vấn đề đó đang đòi hỏi các chủ thể kinh tế, trong đó có cả các doanh nghiệp, phải có trách nhiệm để góp phần giải quyết, nếu không bản thân sự phát triển kinh tế sẽ không bền vững và sẽ phải trả giả quá đắt về môi trường và những vấn đề xã hội.

Trên thực tế, không phải đến bây giờ, vấn đề trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp mới được đặt ra; mà trái lại, ngay trong thời bao cấp, người ta cũng đã nói nhiều về trách nhiệm xã hội của các xí nghiệp đối với nhà nước và người lao động, cũng như đối với cộng đồng nói chung. Nhưng, trong những năm gần đây, trách nhiệm xã hội được hiểu một cách rộng rãi hơn, không chỉ từ phương diện đạo đức, mà cả từ phương diện pháp lý. Những tác hại về môi trường do một số doanh nghiệp gây ra trong thời gian qua không những bị dư luận lên án về phương diện đạo đức, mà quan trọng hơn là cần phải được xử lý nghiêm khắc về phương diện pháp lý. Do đó, không phải ngẫu nhiên, trong những năm gần đây, trên sách báo và nhiều diễn đàn ở Việt Nam, thuật ngữ trách nhiệm xã hội của doanh nghiệpđã và đang được sử dụng ngày càng phổ biến. Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp vẫn là vấn đề còn khá mới mẻ và được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Trong bài viết này, chúng tôi muốn tập trung làm rõ nội dung trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, vai trò của việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và một số vấn đề thực tiễn đang được đặt ra ở Việt Nam hiện nay.

Continue reading

VAI TRÒ NHÀ NƯỚC TRONG XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM

PHÙNG VĂN HÙNG – Trung tâm TTTV&NCKH- Văn phòng Quốc hội

Nền kinh tế nước ta đi được một chặng đường 16 năm chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị trường (Tác giả viết bài này vào thời điểm năm 2002). Đó là một quãng thời gian khá ngắn ngủi so với sự phát triển của các nền kinh tế thị trường khác trên thế giới với bề dày lịch sử hàng trăm năm. Thế nhưng, chúng ta cũng đã được " nếm đủ vị cay đắng, ngọt bùi " của 16 năm xây dựng nền kinh tế đó. Tuy nhiên có thể nói, người được hưởng lợi nhiều nhất chính là người dân. Người dân đã có cuộc sống dễ chịu hơn với hàng hoá, dịch vụ đa dạng hơn, chất lượng cao hơn, nhưng giá lại rẻ hơn. Nói tóm lại, nền kinh tế thị trường bước đầu đã đem lại sự phát triển cho nền kinh tế của đất nước, góp phần tích luỹ, tái đầu tư cho phát triển.

Vì nền kinh tế thị trường có nhiều ưu thế phải ghi nhận, nên có một số ý kiến cho rằng nó tự điều chỉnh theo quy luật cung cầu, không cần phải có sự can thiệp của Nhà nước và mọi sự can thiệp như vậy chỉ làm giảm hiệu quả của nó. Thậm chí họ cho rằng, " bàn tay vô hình " 1 mà Adam Smith nói tới, có thể giải quyết được tất cả. Thực tế ở các nước tư bản phát triển lại chứng minh rằng, Nhà nước giữ vai trò rất quan trọng trong việc phát huy tối đa thế mạnh của cơ chế thị trường, đồng thời hạn chế tối đa các mặt tiêu cực của nó. Điều này có ý nghĩa đặc biệt đối với đất nước ta, một nước đang hướng tới một nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, lấy " dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh" làm mục tiêu cho giai đoạn cách mạng tới.

Vì vậy, trong khuôn khổ có hạn, bài viết này chỉ phân tích một số vấn đề cụ thể nhằm làm rõ thêm vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường.

Continue reading

QUYỀN TỰ CHỦ QUỐC GIA VÀ CHUẨN QUỐC TẾ TRONG KINH TẾ

ĐỖ TUYẾT KHANH

Trong những lời buộc tội toàn cầu hóa, có một luận điểm thường được đưa ra, đáng ngạc nhiên là xuất phát từ những khuynh hướng chính trị rất khác nhau nếu không muốn nói đối nghịch: từ tả sang hữu, các phong trào đối kháng thường tố cáo rằng toàn cầu hoá xâm phạm chủ quyền của các quốc gia, thậm chí đe dọa sự sống còn của các nhà nước dân tộc (nation states).

Đối với phía tả, toàn cầu hoá đồng nghĩa với chủ nghĩa tự do cực đoan trong kinh tế (ultra-liberalism). Trước sự bành trướng và sức mạnh khổng lồ của các đại công ty đa quốc gia, các nhà nước phải giới hạn lại vai trò và phạm vi hoạt động của mình và càng yếu thế hơn nữa khi phải tuân thủ các quyết định ràng buộc của các tổ chức quốc tế được coi như vừa là công cụ vừa là hiện thân của chủ nghĩa tự do cực đoan này như Quỹ Tiền tệ Quốc tế (International Monetary Fund – IMF), Ngân hàng Thế giới (World Bank) và Tổ chức Thương mại Thế giới (World Trade Organization – WTO).

Theo phái hữu, nhất là ở Mỹ, chủ quyền quốc gia bị xâm phạm khi luật quốc tế không cho phép nhà nước bảo vệ quyền lợi các thành phần dân chúng qua các chính sách hành chính hay pháp chế. Thí dụ mất chủ quyền hay được đơn cử nhất là việc chính quyền Mỹ không được dùng đến các biện pháp đơn phương quen thuộc để o ép các nước khác vì như thế vi phạm các quy định của WTO, hoặc phải chấp hành các quyết định của bộ phận giải quyết tranh chấp của WTO sau các vụ kiện.

Điều rõ ràng là toàn cầu hoá đã đi kèm với sự xuất hiện của nhiều yếu tố mới, như Internet và những công nghệ tiên tiến, thay đổi cục diện và mối tương quan giữa các tác nhân : chính quyền, tổ chức quốc tế, doanh nhân, và xã hội công dân. Trong bối cảnh đó, vai trò của các nhà nước dân tộc đã thay đổi thế nào, chủ quyền quốc gia trong kinh tế có thật sự bị thương tổn không và cho đến mức độ nào? Ở đây cần phân biệt chủ quyền (sovereignty) và quyền tự chủ (autonomy), tuy trong công luận và sách vở chỉ thường dùng chữ chủ quyền để nói đến quyền tự chủ. Sự lẫn lộn dễ hiểu vì thật ra hai cụm từ này chỉ là hai mặt của một vấn đề: chủ quyền là một khái niệm pháp lý, de jure, và qưyền tự chủ là biểu hiện thực tiễn, de facto, của khái niệm ấy. Do đó chữ chủ quyền thường được hiểu theo nghĩa rộng là bao gồm cả hai mặt này. Nếu theo định nghĩa hẹp, như trong công pháp quốc tế, chủ quyền là quyền lực tối cao ban hành và áp dụng các luật lệ và chính sách, cai quản mọi hoạt động xã hội và chính trị trong một nước, thì có thể nói không nơi nào chủ quyền bị sứt mẻ, kể cả trong những nước thành viên của Liên hiệp châu Âu, vì chưa có hệ thống nào thay thế, ở mức quốc gia, các nhà nước trong chức năng ấy. Nhưng các nhà nước có thật sự chủ động tới đâu trong việc chọn lựa chính sách và các luật lệ và biện pháp thi hành lại là chuyện khác. Quyền tự chủ ấy bị giới hạn bởi nhiều ràng buộc và cản trở, ở mức độ quốc gia và quốc tế, do nhiều yếu tố, chủ yếu là tình hình kinh tế và chính trị thế giới, tương quan lực lượng giữa các nước, và hệ thống pháp lý quốc tế.

Continue reading

KINH TẾ VIỆT NAM NĂM 2009 VÀ MỘT VÀI SUY NGHĨ VỀ NHẬN THỨC LUẬN CHUYỂN ĐỔI

TS. VƯƠNG QUÂN HOÀNG – Đại học Tổng hợp Brussels (Bỉ)

Việt Nam đang đứng trước ngưỡng cửa thập niên thứ hai, thế kỷ XXI. Tuy vậy, mốc thời gian không quan trọng bằng những đổi thay chóng mặt của quá trình quốc tế hóa đời sống kinh tế, và những biến đổi sâu sắc nó sẽ mang lại. Quá trình ấy, ngay bây giờ, lại được phóng đại qua lăng kính của những biến động toàn cầu do khủng hoảng kinh tế – tài chính 2007 – 2009, điều có thể dẫn tới những biến đổi lớn về cấu trúc kinh tế nhân loại, cũng như diễn tiến địa – chính trị khắp nơi trên thế giới.

1 – Kinh tế Việt Nam năm 2009

Dân số nước ta hiện nay xấp xỉ 85,9 triệu người, hiển nhiên là một quốc gia có dân số lớn của hành tinh khoảng 7 tỉ. Nếu như phần đông kinh tế gia quen với khái niệm bản chất của lạm phát là do quá nhiều tiền cạnh tranh nhau để giành về một số lượng quá ít hàng hóa, thì ở một nghĩa khác, nói như Min-tơn Frai-men (Milton Friedman), đó cũng có thể là quá nhiều người tìm kiếm một số lượng hàng hóa rất hữu hạn. Như vậy, dân số lớn, bên cạnh ưu điểm nguồn lao động dồi dào, chính là một câu hỏi lớn về khả năng cải thiện kinh tế.

Trong suốt hơn hai thập niên đổi mới, kinh tế Việt Nam liên tục duy trì đà tăng trưởng tương đối. Chất lượng mở rộng kinh tế thể hiện qua thống kê GDP bình quân đầu người từ mức 200 USD/người (năm 1986) đã tăng lên gấp 5 lần, đạt 1.000 USD/người vào năm 2008, và ước tính sẽ vượt 1.200 USD/người sau năm 2010. Sức hấp dẫn của nền kinh tế Việt Nam cũng thể hiện ở quy mô vốn đầu tư nước ngoài không ngừng tăng lên. Dù chịu ảnh hưởng từ các biến động kinh tế quốc tế, trở ngại của môi trường kinh doanh trong nước, sự gia tăng cạnh tranh thu hút nguồn lực từ các nền kinh tế đang phát triển trên thế giới, liên tục trong hai thập niên, tỷ lệ FDI so với GDP chỉ hai lần thấp hơn tăng trưởng GDP thực tế, vào các năm 1991 – 1993 và 2003 – 2007. Lượng vốn FDI năm 2009 vẫn có được tín hiệu tốt, một cách so sánh so với bối cảnh khu vực, với mức cam kết mới 20 tỉ USD, và phần giải ngân lượng cam kết quá khứ để cấu thành nguồn lực thực tế 8 tỉ USD.

Continue reading

KINH TẾ VIỆT NAM – NHỮNG ĐIỂM NHẤN NĂM 2009 VÀ BÀI TOÁN NĂM 2010

TS. NGUYỄN THỊ KIM NHà – TS. NGUYỄN MINH PHONG

Năm 2009, nền kinh tế Việt Nam từng bước được ổn định và tiếp tục phát triển với những điểm nhấn đáng chú ý sau:

I. BỐN ĐIỂM NHẤN TRONG NĂM 2009…

1.Ổn định kinh tế – xã hội chung được giữ vững, thị trường trong nước từng bước được mở rộng

Về tổng thể, năm 2009, Việt Nam đã thực hiện được mục tiêu tổng quát đề ra là ngăn chặn suy giảm kinh tế, giữ được ổn định kinh tế vĩ mô, các cân đối thu chi ngân sách nhà nước, tiền tệ, cán cân thanh toán quốc tế… cơ bản được bảo đảm, vốn đầu tư toàn xã hội đạt cao, tới 42,6% GDP, tổng thu ngân sách nhà nước (NSNN) ước bằng 100,2% dự toán; Việt Nam đã vượt qua thời kỳ lạm phát cao khá tốt, hiện VND đang có độ ổn định và tin cậy khá cao, lượng tín dụng và tổng phương tiện thanh toán tăng trong phạm vi cho phép, nợ xấu và tiền mặt trong thực tế ngày càng giảm, dự trữ ngoại tệ đủ theo tiêu chuẩn quốc tế, mặt bằng giá cả bán lẻ hàng hoá và dịch vụ xã hội về cơ bản là không cao, thậm chí nhiều mặt hàng đang có sự giảm giá đáng kể; lạm phát được kiềm chế với tỷ lệ lạm phát khoảng 7%, tương đương với mức trung bình của nhiều năm trước đây; công tác an sinh xã hội được chú trọng đúng mức. Dư luận thế giới cũng đánh giá cao những nỗ lực vượt qua khủng hoảng kinh tế – tài chính toàn cầu mà chúng ta đã, đang và sẽ còn tiếp tục thu được. Với tốc độ tăng trưởng kinh tế của cả nước ước đạt 5,2%, tuy thấp nhất trong vòng nhiều năm gần đây, Việt Nam là nước đứng đầu Asean về tốc độ tăng trưởng, đồng thời nằm trong nhóm trên 10 nước có tăng trưởng dương năm 2009… Đây là những nỗ lực tổng hợp rất đáng ghi nhận, đặc biệt trong bối cảnh tuyệt đại đa số các nước trên thế giới đang đối diện với những thảm cảnh suy thoái và thất nghiệp tràn lan do khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu.

Continue reading

PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN và vấn đề đảng viên làm kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

PGS.TS. VŨ VĂN GÀU – Khoa Triết học, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG TPHCM

Phân tích quá trình hình thành và phát triển quan điểm của Đảng ta về phát triển kinh tế tư nhân và vấn đề đảng viên làm kinh tế tư nhân theo tiến trình của công cuộc đổi mới đất nước, tác giả bài viết đã đi đến kết luận: 1. Trong quan điểm của Đảng ta, đây là những vấn đề vừa có ý nghĩa lý luận, vừa có ý nghĩa thực tiễn cấp bách; 2. Kinh tế tư nhân là bộ phận hợp thành không thể thiếu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển kinh tế tư nhân là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, là một động lực để phát triển đất nước; 3. Việc Đảng ta cho phép đảng viên của Đảng được làm kinh tế tư nhân, kể cả kinh tế tư bản tư nhân là bước tiến quan trọng trong nhận thức của Đảng sau 20 năm đổi mới, thể hiện bước đột phá trong đổi mới tư duy của Đảng về con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

Phát triển kinh tế tư nhân và vấn đề đảng viên làm kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là vấn đề vừa có ý nghĩa lý luận, vừa có ý nghĩa thực tiễn cấp bách mà trong nhiều năm trực tiếp lãnh đạo công cuộc đổi mới đất nước, Đảng ta luôn quan tâm, trăn trở để tìm hướng đi thích hợp và giải pháp hữu hiệu. Nếu phát triển kinh tế tư nhân, ngay từ những năm đầu thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, Đảng ta đã khẳng định và chính thức thừa nhận là vấn đề mang tính chiến lược trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, đặc biệt là trong Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX – “Về tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích, tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân”, thì vấn đề đảng viên làm kinh tế tư nhân, lần đầu tiên mới được Đảng ta chính thức đưa ra trong “Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X”.

Về vấn đề phát triển kinh tế tư nhân, có thể khẳng định rằng, Đảng ta đã hoàn toàn đúng và sáng suốt khi đưa ra chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà ở đó, mọi thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là bộ phận cấu thành quan trọng, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh, kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc, kinh tế tư nhân là bộ phận hợp thành không thể thiếu, có vị trí quan trọng đặc biệt và ý nghĩa chiến lược. Tuy nhiên, không phải ngay từ đầu Đảng ta đã có được quan điểm như vậy về vị trí và vai trò của kinh tế tư nhân. Sau 5 năm tiến hành công cuộc đổi mới đất nước với đường lối “Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước”, khi kinh tế tư nhân đã có bước phát triển đáng kể và có những đóng góp không nhỏ trong nền kinh tế quốc dân, mặc dù xác định rõ kinh tế tư nhân là thành phần kinh tế bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân, song trong “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội”, Đảng ta mới chỉ coi nó là thành phần kinh tế có thể cần được phát triển. Khi đó, quan điểm của Đảng ta về thành phần kinh tế này là: “Kinh tế cá thể còn có phạm vi tương đối lớn, từng bước đi vào con đường làm ăn hợp tác… Tư bản tư nhân được kinh doanh trong những ngành có lợi cho quốc kế dân sinh do luật pháp quy định… Kinh tế gia đình được khuyến khích phát triển mạnh, nhưng không phải là một thành phần kinh tế độc lập”(1).

Continue reading

VỀ VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ NHIỀU THÀNH PHẦN Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

THS. NGUYỄN ĐỨC LUẬN – Đại học Lâm Nghiệp

Trong bài viết này, tác giả đã luận giải một số vấn đề cơ bản liên quan đến sự phát triển của nền kinh tế nhiều thành phần. Đó là, thứ nhất, nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta hiện nay là kết quả do sự nhận thức và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, thể hiện tư duy mới của Đảng về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, thứ hai, khẳng định có những thành phần kinh tế đã thể hiện tốt vai trò của mình, song cũng có thành phần kinh tế còn nhiều yếu kém, bất cập. Theo tác giả, bên cạnh việc phát triển mạnh mẽ kinh tế nhà nước, chúng ta cần tập trung phát triển thành phần kinh tế tư bản nhà nước.

Tại Đại hội lần thứ VI (năm 1986), Đảng ta đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước, trong đó lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm với nội dung cơ bản là phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Từ đó đến nay, đất nước ta đã có những bước phát triển vượt bậc, thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế – xã hội và luôn đạt mức tăng trưởng cao. Những thành tựu đó khẳng định tính đúng đắn của đường lối đổi mới nói chung và chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần nói riêng. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đó, chúng ta cũng cần phải nhận thức rõ những tiêu cực do nền kinh tế nhiều thành phần gây ra, đặc biệt là nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa.

Trong quan niệm của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác – Lênin, sự tồn tại của nhiều thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một tất yếu lịch sử. Trong Những nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản, Ph.Ăngghen đã chỉ ra rằng, sau khi giai cấp công nhân giành được chính quyền thì không thể thủ tiêu chế độ t ư hữu ngay lập tức đư­ợc mà phải cải tạo nó dần dần. Đến Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C.Mác và Ph.Ăngghen chỉ rõ, sau khi giành được thắng lợi chính trị, giai cấp vô sản sẽ dùng sự thống trị chính trị của mình để từng bước đoạt lấy toàn bộ tư bản trong tay giai cấp tư sản.

Continue reading