LUẬT PHÁ SẢN NHIỀU BẤT CẬP

THÁI NGUYÊN TOÀN

Luật Phá sản được Quốc hội thông qua ngày 15.6.2004, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15.10.2004 và thay thế Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993. Đây là cơ sở pháp lý để giải quyết hậu quả khi doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản. Tuy nhiên, khi áp dụng vào thực tiễn, Luật Phá sản đã bộc lộ nhiều vướng mắc, bất cập, làm cho việc giải quyết phá sản gặp nhiều khó khăn, gây thiệt hại tài sản của doanh nghiệp.

Doanh nghiệp bị can thiệp quá sâu

Công ty Vật tư nông nghiệp (Cty VTNN) Quảng Nam là doanh nghiệp nhà nước, kinh doanh phân bón, thuốc trừ sâu phục vụ các địa phương trong tỉnh. Đến năm 2005, việc kinh doanh của doanh nghiệp bị thua lỗ, mất khả năng thanh toán nợ đến hạn trên 25 tỷ đồng và 258.000 USD. Do đó, TAND tỉnh Quảng Nam mở thủ tục phá sản và kiểm kê, định giá tài sản chỉ còn trên 2,8 tỷ đồng. Vụ việc đang tiến hành giải quyết thì UBND tỉnh Quảng Nam thu hồi 648m2 đất cho Cty VTNN thuê xây dựng trụ sở làm việc, đồng thời ấn định giá khởi điểm nhà làm việc, vật kiến trúc trên đất là 875 triệu đồng và quy định tổ chức, cá nhân trúng đấu giá tài sản hình thành trên đất được mua hoặc thuê đất hàng năm theo quy định của pháp luật.

Trên văn bản là vậy, nhưng thực tế UBND tỉnh Quảng Nam thu hồi đất của Cty VTNN để giao cho Trung tâm Quan trắc và phân tích môi trường thuộc Sở TNMT sử dụng làm trụ sở làm việc. Do đó, giá khởi điểm tài sản của Công ty VTNN cũng là giá mua của Trung tâm Quan trắc và phân tích môi trường từ nguồn ngân sách địa phương. Trong khi đó, Chi nhánh Ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương Quảng Ngãi là chủ nợ chính đã nhiều lần xin mua tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất của Công ty VTNN để trừ nợ vay 1.138.931.374 đồng và trên 258.000 USD (tương đương 5,272 tỷ đồng tại thời điểm 2008), nhưng vẫn không được UBND tỉnh Quảng Nam chấp nhận. Hoặc, Cty VTNN Quảng Nam thuê của UBND thành phố Đà Nẵng đất xây dựng nhà kho; Văn phòng đại diện. Năm 2007 UBND thành phố Đà Nẵng thu hồi 13.294m2 đất cho thuê để khai thác quỹ đất và phê duyệt giá đền bù, hỗ trợ thiệt hại cho Cty VTNN Quảng Nam gần 1,5 tỷ đồng và giao cho Công ty Cổ phần Trường Xuân và Công ty Quản lý – Khai thác đất Đà Nẵng có nhiệm vụ thanh toán khoản tiền trên cho Cty VTNN Quảng Nam, nhưng đến nay 2 Công ty này vẫn im hơi lặng tiếng.

Continue reading

TỔNG QUAN KINH TẾ VIỆT NAM NĂM 2010 VÀ TRIỂN VỌNG NĂM 2011

TS. NGUYỄN HỒNG NGA – Đại học Quốc gia TP.Hồ Chí Minh & NHẬT TRUNG – Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Trong năm 2010, kinh tế Việt Nam, cho dù vẫn còn bị ảnh hưởng bởi sự hồi phục chậm chạp của kinh tế thế giới, vẫn có được những chỉ số kinh tế vĩ mô khả quan. Vậy bức tranh kinh tế Việt Nam sẽ có những gam màu sáng và màu ít sáng ra sao và trên nền của bức tranh 2010, liệu bức tranh năm 2011 có những triển vọng nào có thể đạt được để làm nền tảng cho bức tranh tổng thể của kế hoạch 5 năm 2011 – 2015?

1. Bối cảnh kinh tế toàn cầu và khu vực

Nền kinh tế toàn cầu tiếp tục hồi phục mạnh trong nửa đầu năm 2010, nhưng sự ổn định tài chính sụt giảm mạnh do cuộc khủng hoảng nợ công vào quý II năm 2010. Quy mô hồi phục kinh tế có sự khác biệt giữa các quốc gia, khu vực với sự dẫn đầu thuộc khu vực châu Á. Mỹ và Nhật Bản suy giảm đáng kể vào quý II, trong khi tăng trưởng được đẩy mạnh ở châu Âu và duy trì vững chắc ở các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển. Các điều kiện tài chính toàn cầu đã bắt đầu đi vào ổn định, nhưng các định chế và thị trường vẫn còn yếu ớt. Theo Báo cáo triển vọng kinh tế thế giới (World Economic Outlook) của IMF, công bố tháng 10/2010, tính cả năm, tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới ước đạt 4,8%, trong đó, các nước phát triển tăng 2,7%, các nước đang phát triển tăng 7,1%. Thương mại thế giới tăng 11,4%, lượng vốn tư nhân ròng (trong đó, FDI chiếm trên 40%) đổ vào các nền kinh tế mới nổi ước trên 800 tỉ USD, cao hơn 30% so với năm 2009, mặc dù vẫn thấp hơn mức đỉnh trước khủng hoảng đạt được vào năm 2007 khoảng 400 tỉ USD. Theo các chuyên gia, sự phục hồi chậm chạp của nền kinh tế thế giới xuất phát từ 5 nguyên nhân chủ yếu: (1) Tính chất hai mặt của chính sách kích cầu, sự khó khăn về liều lượng và thời gian cắt giảm gói kích thích kinh tế; (2) Gánh nặng tài chính của các nền kinh tế chủ chốt không ngừng tăng lên tạo áp lực cho nền tài chính các quốc gia; (3) Khôi phục toàn diện cần phải có thời gian, không thể nôn nóng chủ quan; (4) Lạm phát gia tăng, xói mòn lòng tin vào chính sách vĩ mô của các chính phủ; (5) Chủ nghĩa bảo hộ có nguy cơ quay trở lại, do một số nước và khu vực muốn mở rộng xuất khẩu, thông qua phá giá đồng bản tệ… để nâng cao sức cạnh tranh và chiếm lĩnh thị trường thế giới.

Biểu đồ 1: Tăng trưởng kinh tế thế giới, Mỹ, khu vực đồng Euro, Nhật Bản, các nước châu Á đang phát triển và Việt Nam

clip_image002

Nguồn: World Economic Outlook, IMF, 10/2010

Continue reading

TỔNG QUAN KINH TẾ VIỆT NAM NĂM 2010 VÀ KHUYẾN NGHỊ CHO NĂM 2011

TS. LÊ QUỐC HỘI

Năm 2010, mặc dù tình hình kinh tế thế giới và trong nước có những diễn biến phức tạp, kinh tế Việt Nam đã đạt được những kết quả tích cực trên nhiều lĩnh vực. Tuy nhiên, bên cạnh những điểm sáng thể hiện thành tựu đạt được nền kinh tế vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế và thách thức. Việc đánh giá, nhìn nhận lại kinh tế Việt Nam năm 2010 để rút ra những bài học, chỉ rõ những thách thức và giải pháp cho năm 2011 có ý nghĩa quan trọng đối với các nhà hoạch định chính sách ở Việt Nam. Có thể tiếp cận và đánh giá một nền kinh tế từ nhiều phương diện. Trong bài viết này, bức tranh kinh tế Việt Nam được nhìn nhận từ góc độ vĩ mô dựa trên diễn biến tình hình kinh tế trong năm và các chỉ số kinh tế vĩ mô cơ bản.

1. Tổng quan kinh tế Việt Nam năm 2010
Tăng trưởng kinh tế
Năm 2010, kinh tế của Việt Nam tiếp tục có sự phục hồi nhanh chóng sau tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Hình 1 cho thấy có cải thiện tốc độ tăng GDP theo các quý trong năm 2010. Tốc độ tăng GDP quý I đạt 5,83%, quý II là 6,4%, quý III tăng lên 7,14% và dự đoán quý IV sẽ đạt 7,41%. Uớc tính GDP cả năm 2010 có thể tăng 6,7%, cao hơn nhiệm vụ kế hoạch (6,5%). Trong bối cảnh kinh tế thế giới vẫn phục hồi chậm chạp và trong nước gặp phải nhiều khó khăn, kinh tế Việt Nam đạt được tốc độ tăng trưởng tương đối cao như trên là một thành công. Với kết quả này tốc độ tăng trưởng GDP cả giai đoạn 2006-2010 đạt bình quân 7%/năm và thu nhập quốc dân bình quân đầu người năm  2010 ước đạt 1.160 USD.

Continue reading

BÁO CÁO TÌNH HÌNH ĐÀO TẠO THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TẠI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC VÀ CAO ĐẲNG NĂM 2010

CỤC THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ VÀ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN, BỘ CÔNG THƯƠNG – Ngày 12 tháng 7 năm 2010, Quyết định số 1073/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch tổng thể phát triển thương mại điện tử giai đoạn 2011 – 2015 (sau đây gọi tắt là Quyết định 1073) đã được ban hành. Kế hoạch tổng thể đặt ra mục tiêu tổng quát: “Thương mại điện tử được sử dụng phổ biến và đạt mức tiên tiến trong các nước thuộc Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh quốc gia, thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”. Kế hoạch tổng thể đã ưu tiên việc phát triển nguồn nhân lực về TMĐT, coi đây là một trong những giải pháp quan trọng nhất để đạt được mục tiêu trên.

Kế thừa những thành tựu đã đạt được từ việc thực hiện Kế hoạch tổng thể phát triển thương mại điện tử giai đoạn 2006 – 2010, nội dung phát triển nguồn nhân lực trong giai đoạn 05 năm sắp tới tập trung vào hai nội dung chủ yếu là phổ biến, tuyên truyền nâng cao nhận thức về lợi ích của TMĐT và đẩy mạnh đào tạo chính quy về TMĐT.

Ngày 01 tháng 6 năm 2009, Quyết định số 698/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch tổng thể phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020 đã được ban hành, trong đó nhiều giải pháp để nâng cao về chất lượng và số lượng nguồn nhân lực CNTT Việt Nam. Theo Quyết định của Thủ tướng, mục tiêu đến năm 2015 có khoảng 30% số lượng sinh viên CNTT, điện tử, viễn thông sau khi tốt nghiệp ở các trường đại học có đủ khả năng chuyên môn và ngoại ngữ để có thể tham gia thị trường lao động quốc tế; ở các trường đại học, cao đẳng bảo đảm đạt tỷ lệ trung bình 15 – 20 sinh viên/giảng viên trong đào tạo CNTT; 70% số giảng viên CNTT ở đại học và trên 50% giảng viên CNTT ở cao đẳng có trình độ thạc sĩ trở lên; tăng nhanh số giảng viên có trình độ tiến sĩ; đến năm 2015, cung cấp cho các doanh nghiệp 250.000 lao động chuyên môn về CNTT, điện tử, viễn thông có trình độ từ trung cấp chuyên nghiệp và sơ cấp nghề (đào tạo 1 năm) trở lên, trong đó có 50% lao động có trình độ cao đẳng, đại học và 5% có trình độ thạc sĩ trở lên.v.v..

Một trong những nhân tố quan trọng để đạt được mục tiêu phát triển nguồn nhân lực TMĐT trên cơ sở huy động nguồn lực của toàn xã hội là xây dựng một xã hội học tập được đào tạo liên tục, tự học, thường xuyên trau dồi kỹ năng, kiến thức, phát triển trí tuệ và sự sáng tạo. Với sự phát triển nhanh chóng của CNTT và truyền thông, đào tạo trực tuyến đã ra đời mở ra một kỷ nguyên mới cho lĩnh vực giáo dục đào tạo và đem lại những lợi ích to lớn cho các chủ thể tham gia. Do đó, ứng dụng đào tạo trực tuyến trong hoạt động đào tạo TMĐT theo hướng khuyến khích các tổ chức đầu tư, phát triển công nghệ đào tạo trực tuyến, hỗ trợ các trường đại học và doanh nghiệp liên kết trong việc thiết kế nội dung, giáo trình đào tạo trực tuyến, hỗ trợ về vốn và các ưu đãi về thuế.v.v.. là những phương hướng mới được đề ra trong Kế hoạch tổng thể phát triển thương mại điện tử trong giai đoạn 2011 – 2015.

Continue reading

PHÁP NHÂN CÓ ĐƯỢC COI LÀ NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG PHÁP LUẬT CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI?

THÔNG TIN PHÁP LUẬT BỘ CÔNG THƯƠNGKhái niệm người tiêu dùng(NTD) là các khái niệm rất quan trọng, được sử dụng xuyên suốt trong các quy định của Luật bảo vệ NTD. Vì trọng tâm của pháp luật bảo vệ NTD chính là NTD, do vậy nên nội hàm của các khái niệm này sẽ là kim chỉ nam cho các nội dung khác được quy định trong luật bảo vệ NTD.

Có thể thấy các quan hệ giữa NTD và nhà cung cấp hàng hóa dịch vụ , NTD luôn ở thế yếu hơn, thiếu thông tin hơn, ít chuyên nghiệp hơn, nên cần thiết phải có sự can thiệp nhất định của nhà nước vào quan hệ này để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bên yếu thế. Do vậy cần xác định phạm vi các loại quan hệ này sẽ được điều chỉnh bởi pháp luật bảo vệ NTD, cụ thể là pháp luật bảo vệ NTD sẽ can thiệp vào những quan hệ nào, còn những quan hệ nào sẽ được điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật khác. Xuất phát từ yêu cầu nói trên, việc xác định các đối tượng nào sẽ được gọi là NTD là một vấn đề hết sức quan trọng. Nếu việc xác định này làm cho phạm vi hẹp đi thì sẽ có nhiều đối tượng không được bảo vệ.

Khái niệm người tiêu dùng là thể nhân hay pháp nhân ở một số nước trên thế giới?

Ở các nước châu Âu: Khái niệm NTD theo Chỉ thị của Châu Âu bao gồm các đặc điểm sau: Là bất kỳ cá nhân nào mua hàng theo hợp đồng mà mục tiêu của hợp đồng không liên quan đến thương mại, kinh doanh hay nghề nghiệp.

Như vậy theo khái niệm này thì khái niệm NTD không bao gồm pháp nhân và không bao gồm người sử dụng, thụ hưởng hàng hóa dịch vụ mà không trực tiếp giao kết hợp đồng với nhà sản xuất, kinh doanh

Theo pháp luật Đài Loan  thì khái niệm NTD được quy định là những ai tham gia vào các giao dịch, sử dụng hàng hóa hoặc dịch vụ và mục đích là để tiêu dùng. Như vậy chủ thể tham gia vào các giao dịch ở đây có thể được hiểu là bao hàm cả thể nhân và pháp nhân, miễn là mục đích của họ là để tiêu dùng.

Continue reading

BẤT NGỜ VỚI VAI TRÒ CHỦ ĐẠO CỦA KINH TẾ NGOÀI QUỐC DOANH

MẠNH QUÂN

Riêng về thuế, theo tính toán của ông Nguyễn Quang A, số thu thuế thu nhập doanh nghiệp của khối DNNN hiện chỉ chiếm khoảng 7% tổng thu ngân sách, là con số quá thấp so với những đặc quyền của khu vực kinh tế này được hưởng. Hơn nữa, những DNNN hiện có đóng góp thuế thu nhập doanh nghiệp lớn như tập đoàn Dầu khí, tập đoàn Than – khoáng sản Việt Nam… thì thực chất, thu nhập của các tập đoàn này chủ yếu dựa trên việc moi tài nguyên của đất nước lên bán. Đó không thể coi như một thành tích của doanh nghiệp. Cũng giống như các khoản thuế VAT mà Sabeco, Habeco thu tiền khi bán bia, thực chất là doanh nghiệp đi thu hộ, nộp vào ngân sách.

Theo bảng xếp hạng 1.000 doanh nghiệp nộp thuế nhiều nhất Việt Nam (V-1000), số lượng doanh nghiệp tư nhân đã chiếm tỷ lệ ngang với doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn nước ngoài.

Bảng xếp hạng 1.000 doanh nghiệp nộp thuế nhiều nhất Việt Nam (V-1000) do công ty cổ phần Báo cáo đánh giá Việt Nam thực hiện, được công bố hôm qua (23.9) đã gợi lên rất nhiều suy nghĩ về vai trò của khu vực kinh tế tư nhân trong giai đoạn mới. Bởi vì, bất ngờ trong bảng xếp hạng này là số lượng doanh nghiệp tư nhân đã vươn lên chiếm tỷ lệ (khoảng 33%) ngang bằng với các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) về đóng góp thuế thu nhập doanh nghiệp (tính cho ba năm: 2007 – 2009)…

10 doanh nghiệp đứng đầu trong V-1000:

1. Công ty Thông tin di động (MobiFone)
2. Tập đoàn Viễn thông quân đội (Viettel)
3. Tổng công ty khí Việt Nam – Công ty TNHH MTV
4. Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank)
5. Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PetroVietnam)
6. Tập đoàn công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam
7. Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank)
8. Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam (Vietinbank)
9. Công ty TNHH bảo hiểm nhân thọ Prudential Việt Nam
10. Công ty TNHH liên doanh Phú Mỹ Hưng

Continue reading

CHỦ TRƯƠNG TỰ DO, THỰC TẾ NGĂN CẤM

LS. TRƯƠNG THANH ĐỨC – Công ty Luật BASICO

Điều quan trọng nhất là phải xem xét toàn diện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, theo hướng nới lỏng thay vì ngày càng xiết chặt các điều kiện kinh doanh. Cần xem xét bỏ bớt các điều kiện hạn chế, đặc biệt là các lĩnh vực cấm kinh doanh.

Số lượng ngành, nghề, hàng hoá, dịch vụ bị ngăn cấm trong kinh doanh đã được gia tăng một cách nhanh chóng trong một thập kỷ qua. Nếu như năm 1999 mới chỉ có 29 loại hàng hoá, dịch vụ bị đặt vào vòng cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện, thì đến nay con số đó đã “tăng trưởng” vượt bậc trên 500%, đều tiến 23,5% mỗi năm.

Bảng tổng hợp Danh mục hàng hoá, dịch vụ bị cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện:

Ghi chú:  Năm 1999: Theo Nghị định số 11/1999/NĐ-CP ngày 03-3-1999.
                 Năm 2002: Theo Nghị định số 11/1999/NĐ-CP và được bổ sung
                                       theo Nghị định số 73/2002/NĐ-CP ngày 20-8-2002.
                 Năm 2006: Theo Nghị định số 59/2006/NĐ-CP ngày 12-6-2006.
                  Đến 8-2010: Theo Nghị định số 59/2006/NĐ-CP, 43/2009/NĐ-CP và
                                       được bổ sung theo các văn bản hiện hành liên quan.
                 Cuối 2010: Theo Nghị định số 59/2006/NĐ-CP và dự kiến bổ sung theo Dự thảo Nghị định 8-2010.

Continue reading

BÁO CÁO TÓM TẮT CỦA BỘ CÔNG THƯƠNG về kinh nghiệm quốc tế trong xây dựng pháp luật bảo vệ người tiêu dùng và đề xuất cho Việt Nam (Hồ sơ dự án Luật Bảo vệ người tiêu dùng)

A. PHÁP LUẬT BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI

I. Luật bảo vệ người tiêu dùng của một số quốc gia

1. Tổng quan

Qua nghiên cứu pháp luật bảo vệ người tiêu dùng của một số quôc gia trên thế giới, Bộ Công Thương nhận thấy có thể phân thành 2 nhóm:

– Nhóm nước không ban hành luật bảo vệ người tiêu dùng mà các quy định về bảo vệ người tiêu dùng nằm rải rác tại các văn bản pháp luật chuyên ngành khác.

– Nhóm quốc gia và vùng lãnh thổ ban hành đạo luật riêng về bảo vệ người tiêu dùng như Thái Lan, Singapore, Nhật Bản, Hàn Quốc, EU, Hoa Kỳ, Canada, Pháp, Hồng Kông, Ấn Độ, Nga, Nauy, Trung Quốc, Đài Loan, Malaysia, Anh.

Nhìn lại lịch sử quá trình phát triển của pháp luật bảo vệ người tiêu dùng (BVNTD) ở các nước phát triển, có thể thấy rằng, các đạo luật về BVNTD được ban hành đầu tiên chủ yếu vào thập niên 1950-1970. Đây là thời kỳ mà phong trào BVNTD trở thành một trong những chủ điểm kinh tế, chính trị quan trọng.

Ví dụ, tại Hoa Kỳ, trong thập niên 1960-1970 hàng loạt đạo luật về BVNTD sau đây được ban hành: Luật Liên bang về các chất nguy hại năm 1960 (the Federal Hazardous Substances Act of 1960), Luật về đóng gói và ghi nhãn công bằng năm 1966 (The Fair Packaging and Labeling Act of 1966), Luật về tính trung thực trong hoạt động cho vay năm 1968 (The Truth in Lending Act of 1968), Luật về tiết lộ thông tin đầy đủ trong các giao dịch bất động sản liên bang năm 1968 (The Interstate Land Sales Full Disclosure Act of 1968), Luật đảm bảo an toàn đồ chơi cho trẻ em năm 1969 (The Child Protection and Toy Safety Act of 1969), Luật về báo cáo tín dụng công bằng năm 1970 (The Fair Credit Reporting Act of 1970), Luật về san toàn sản phẩm tiêu dùng năm 1972 (The Consumer Product Safety Act of 1972), Luật về cơ hội tín dụng bình đẳng năm 1974 (The Equal Credit Opportunity Act of 1974), Luật bảo hành Magnuson Moss năm 1975 (Magnuson Moss Warranty Act of 1975), Luật về hành vi đòi nợ công bằng năm 1977 (The Fair Debt Collection Practices Act of 1977) v.v.

Cũng trong giai đoạn đó, Nhật Bản ban hành Luật cơ bản về BVNTD (năm 1968) còn Úc ban hành Luật về các hành vi thương mại năm 1974 (the Trade Practices Act of 1974) với nhiều quy định về BVNTD. Tại Anh Quốc, hàng loạt đạo luật về BVNTD sau đây được ban hành: Luật thuê mua năm 1964 (Hire-purchase Act of 1964), Luật về thông tin sai lạc trong thương mại năm 1967 (Misrepresentation Act of 1967), Luật về các mô tả thương mại năm 1968 (Trade Descriptions Acts of 1968), Luật về cung ứng hàng hoá, dịch vụ ngoài ý muốn của NTD năm 1971 (Unsolicited Goods and Services Act of 1971), Luật thương mại công bằng năm 1973 (Fair Trading Act of 1973), Luật về các điều khoản mặc nhiên trong hợp đồng cung ứng hàng hoá năm 1973 (Supply of Goods (Implied Terms) Act of 1973), Luật về tín dụng tiêu dùng năm 1974 (Consumer Credit Act of 1974), Luật về các điều khoản hợp đồng không công bằng năm 1977 (Unfair Contract Terms Act of 1977), Luật về an toàn tiêu dùng năm 1978 (Consumer Safety Act of 1978).

Continue reading

HẬU CHUYỂN ĐỔI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC THÀNH CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN

LG. CAO BÁ KHOÁT

Ngày 01 tháng 7 năm 2010 đã qua và câu chuyện về chuyển đổi doanh nghiệp Nhà nước thành công ty TNHH một thành viên cũng không còn được bàn tán quá nhiều. Tuy nhiên, như vậy không có nghĩa là chúng ta đã thành công, đã làm được những điều tưởng chừng như không thể. Bởi đây mới chỉ là một điểm dừng của con tàu doanh nghiệp Nhà nước trên con đường “hội nhập” vào sân chơi chung cùng các loại hình doanh nghiệp khác.

Liệu đã đúng với cam kết WTO?

Theo cam kết gia nhập WTO của Việt Nam thì Nhà nước sẽ không can thiệp trực tiếp hay gián tiếp vào hoạt động của doanh nghiệp Nhà nước mà can thiệp bình đẳng giống như các cổ đông, thành viên khác. Vậy, khi các doanh nghiệp Nhà nước chuyển đổi thành công ty TNHH một thành viên thì có thể coi là thực hiện đúng cam kết hay không? Thật khó có câu trả lời!

Thứ nhất, các công ty TNHH một thành viên sau chuyển đổi chỉ có chủ sở hữu (thành viên) duy nhất là Nhà nước nên câu chuyện bình đẳng giữa các thành viên, cổ đông trong công ty tất nhiên không cần bàn đến.

Thứ hai, về sự can thiệp của Nhà nước. Ta có thể lý luận rằng Nhà nước cũng chỉ đóng vai trò là chủ sở hữu của các công ty sau chuyển đổi, có quyền và nghĩa vụ giống như chủ sở hữu của những công ty TNHH một thành viên khác (theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2005) có chăng chỉ khác nhau ở năng lực chịu trách nhiệm giữa tư nhân và Nhà nước. Tư nhân là hữu hạn còn Nhà nước là hữu hạn hay vô hạn xưa nay chưa ai định được vì công ty lỗ thì Nhà nước lại cấp vốn. Cứ thế tạo thành vòng luẩn quẩn và công ty Nhà nước theo đó chẳng thể nào phá sản.

Khung pháp lý nào cho các doanh nghiệp chưa chuyển đổi?

Tuy hiện nay chưa có con số thống kê chính thức còn bao nhiêu doanh nghiệp Nhà nước chưa kịp chuyển đổi sau ngày 1 tháng 7 năm 2010. Nhưng có không ít câu hỏi lớn đã đặt ra. Các doanh nghiệp này sẽ hoạt động theo luật nào? Phải giải thể, phá sản, chuyển đổi hay tiếp tục hoạt động với tư cách cũ?

Continue reading

VỀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN thể chế kinh doanh hiện nay ở Việt Nam

TS. NGUYỄN THỊ NHIỄU – Bộ Công Thương

Thể chế kinh doanh có tác động rất lớn tới sức cạnh tranh và sự phát triển của nền kinh tế, tới các quyết định đầu tư, tổ chức sản xuất kinh doanh. Ngoài ra, thể chế kinh doanh còn giữ vai trò trung tâm trong chính sách, chiến lược phân phối lợi ích và chia sẻ chi phí xã hội. Do đó, nghiên cứu và hoàn thiện thể chế kinh doanh trong thời gian tới là điều quan trọng trong bối cảnh hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế thị trường nước ta.

1 – Khái quát chung về thể chế kinh doanh của Việt Nam

Thể chế có thể được hiểu là cái tạo thành khung khổ trật tự cho các quan hệ của con người, định vị cơ chế thực thi và giới hạn của các quan hệ giữa các bên tham gia tương tác; là ý chí chung của cộng đồng xã hội trong việc xác lập trật tự, những quy tắc, những ràng buộc và các chuẩn mực, giá trị chung được mọi người chia sẻ…

Môi trường thể chế được xác định là khung khổ hành chính và pháp lý điều chỉnh hành vi và các mối quan hệ giữa chính phủ, doanh nghiệp và cá nhân nhằm tạo ra thu nhập và của cải vật chất của một nền kinh tế (Diễn đàn Kinh tế thế giới WEF- Báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu năm 2009/2010).

Như vậy, có thể thấy được 3 yếu tố chính trong nội hàm của khái niệm thể chế kinh doanh gồm: (1) Hệ thống pháp luật về kinh doanh, các quy tắc xã hội điều chỉnh các mối quan hệ kinh doanh và các hành vi kinh doanh được pháp luật thừa nhận của một quốc gia; (2) Các chủ thể thực hiện và quản lý hệ thống kinh doanh (bao gồm nhà nước, cộng đồng doanh nghiệp, các tổ chức xã hội dân sự); (3) Các cơ chế, phương pháp, thủ tục thực hiện hoạt động kinh doanh, quản lý và điều hành hệ thống kinh doanh.

Vai trò của thể chế phụ thuộc lớn vào chất lượng của khung khổ pháp luật; sự can thiệp của chính phủ vào thị trường, mức độ tự do hóa và hiệu quả hoạt động của thị trường. Tình trạng quan liêu hay can thiệp quá mức, tham nhũng, tình trạng thiếu trung thực trong thực hiện các hợp đồng mua sắm công, hoặc thiếu minh bạch, công khai, sự phụ thuộc lớn của hệ thống tư pháp có thể khiến chi phí kinh doanh trở nên đắt đỏ và cản trở phát triển kinh tế.

Continue reading

THẾ NÀO LÀ GIÁ THỊ TRƯỜNG?

Căn cứ theo “giá thị trường” là một qui định rất phổ biến hiện nay trong xác định giá trị tài sản là đối tượng của giao dịch hoặc tranh chấp – Civillawinfor

HẢI DƯƠNG

Một trong những nguyên nhân khiến tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước (DNNN) thời gian qua bị chậm là do quy định về: “Xác định giá trị quyền sử dụng đất và giá trị lợi thế vị trí địa lý vào giá trị doanh nghiệp” tại Nghị định số 109/2007/NĐ-CP còn bất cập. Dư luận đặc biệt quan tâm đến vấn đề này khi Bộ Tài chính chuẩn bị trình Thủ tướng bản Dự thảo sửa đổi Nghị định 109.

Nghị định số 109/2007/NĐ-CP nêu rõ: Xác định giá trị doanh nghiệp khi cổ phần hóa phải tính tiền thuê đất, xác định giá trị quyền sử đụng đất, xác định lợi thế vị trí đất vào giá trị doanh nghiệp. Theo đó, việc xác định giá đất phải theo sát giá thị trường tại thời điểm định giá được UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định và công bố. Tuy nhiên, điều khó khăn đã được chỉ ra lâu nay là: Căn cứ nào để đưa ra giá thị trường khi mà thị trường bất động sản luôn luôn biến động?

Theo Điều 31 Dự thảo sửa đổi Nghị định 109, trường hợp doanh nghiệp cổ phần hóa lựa chọn hình thức giao đất (kể cả diện tích đất Nhà nước đã giao cho doanh nghiệp xây dựng nhà để bán hoặc cho thuê kinh doanh khách sạn, kinh doanh thương mại dịch vụ; xây dựng kết cấu hạ tầng để chuyển nhượng hoặc cho thuê) thì phải tính giá trị quyền sử dụng đất vào giá trị doanh nghiệp theo giá đất được UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (nơi doanh nghiệp có diện tích đất được giao) quy định  sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường theo quy định của pháp luật về đất đai. Trường hợp diện tích đất doanh nghiệp được giao có bao gồm cả diện tích đất sử dụng cho các hoạt động sản xuất cung ứng các dịch vụ, sản phẩm công ích, phúc lợi công cộng như công viên cây xanh, môi trường đô thị, bến bãi xe khách, đất làm công trình thủy lợi…, thì được loại trừ những diện tích này khi xác định giá trị quyền sử dụng đất theo giá thị trường để tính vào giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa.

Continue reading

KINH NGHIỆM QUẢN LÝ VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM CỦA LIÊN MINH CHÂU ÂU VÀ BÀI HỌC ĐỐI VỚI VIỆT NAM

ĐỖ MAI THÀNH

Vệ sinh an toàn thực phẩm là một trong những vấn đề được quan tâm ngày càng sâu sắc trên phạm vi mỗi quốc gia và quốc tế bởi sự liên quan trực tiếp của nó đến sức khỏe và tính mạng con người, sự duy trì và phát triển nòi giống, cũng như quá trình phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế. Những vụ vi phạm nghiêm trọng gần đây ở trong nước và trên thế giới càng hối thúc các nhà hoạch định chính sách phải mạnh tay hơn nữa. Kinh nghiệm của Liên minh châu Âu (EU) là bài học có giá trị đối với Việt Nam.

1- Kinh nghiệm quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP) của EU

Hệ thống quy định và tiêu chuẩn đối với sản phẩm của EU rất phức tạp và nghiêm ngặt, đặc biệt đối với thực phẩm như thịt, cá, hoa quả. Có thể nói hiện nay hệ thống tiêu chuẩn và quy định của EU so với nhiều nước trên thế giới là hoàn chỉnh hơn cả, điều này thể hiện trong thực tế là nhu cầu của người tiêu dùng ở EU về những sản phẩm sạch và an toàn rất cao. Một số tiêu chuẩn bảo đảm VSATTP của EU bao gồm:

Hệ thống quy định HACCP (viết tắt của chữ Hazard Analysis and Critical Control Point System), nghĩa là “Hệ thống phân tích mối nguy và kiểm soát điểm tới hạn” hay “ Hệ thống phân tích, xác định và tổ chức kiểm soát các mối nguy trọng yếu trong quá trình sản xuất và chế biến thực phẩm”. HACCP là sự tiếp cận có tính khoa học, hợp lý và hệ thống để nhận biết, xác định và kiểm soát mối nguy trong chế tạo, gia công, sản xuất, chuẩn bị và sử dụng thực phẩm nhằm bảo đảm thực phẩm là an toàn khi tiêu dùng. Ví dụ, việc áp dụng hệ thống HACCP trong dây chuyền thực phẩm sẽ bắt đầu từ nông trường và kết thúc bằng việc chuẩn bị thực phẩm riêng biệt hoặc ở khách sạn hoặc ở nhà.

Quy định HACCP được đặc biệt coi trọng đối với các nhà xuất khẩu ở các nước đang phát triển khi xuất khẩu vào thị trường EU, bởi nếu không thực hiện quy định HACCP sẽ không thể xuất được hàng của mình sang thị trường này. Chẳng hạn, trong ngành thủy sản các nhà sản xuất buộc phải tuân thủ chỉ thị 91/492/EEC (ngụ ý họ phải thực hiện hệ thống HACCP) để được phép xuất khẩu thủy sản vào EU. Một viện kiểm tra được điều hành bởi Ủy ban châu Âu sẽ tiến hành thanh tra các công ty chế biến cá, chỉ khi qua được khâu kiểm tra này thì các công ty mới chính thức được công nhận và có tên trong “danh sách giới hạn” để được phép nhập khẩu.

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH 87/2009/NĐ-CP – “SÁNG TẠO” TRONG LÀM LUẬT?

QUỐC DŨNG

Đó là băn khoăn của giới doanh nghiệp đối với Nghị định 87/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009 về vận tải đa phương thức. Hàm ý chỉ cách “định nghĩa” lạ đời của Nghị định.

Không có trong hiệp định

Năm 2003, Chính phủ đã ban hành Nghị định 125/2003/NĐ – CP về vận tải đa phương thức quốc tế. Điều 2 của nghị định này định nghĩa: “Vận tải đa phương thức quốc tế” (sau đây gọi tắt là vận tải đa phương thức) là việc vận chuyển hàng hóa bằng ít nhất hai phương thức vận tải khác nhau trên cơ sở một hợp đồng vận tải đa phương thức từ nơi người kinh doanh vận tải đa phương thức tiếp nhận hàng hóa ở một nước đến một địa điểm được chỉ định giao trả hàng ở nước khác. Đây là định nghĩa có tham khảo Công ước Quốc tế về vận tải đa phương thức và ý kiến của các doanh nghiệp tại Việt Nam

Tháng 11/2005, Việt Nam ký Hiệp định khung ASEAN về vận tải đa phương thức. Dĩ nhiên, mục đích tham gia Hiệp định phải là nhằm tạo điều kiện thuận lợi, khuyến khích phát triển loại hình vận tải đa phương thức trong khu vực nói chung và Việt Nam nói riêng. Tới ngày 19/10/2009, Chính phủ ban hành Nghị định 87/2009/NĐ – CP về vận tải đa phương thức, và bãi bỏ Nghị định 125. Nghị định 87/2009/NĐ – CP đã đưa ra định nghĩa mới về vận tải đa phương thức. Theo đó, vận tải đa phương thức “là việc vận chuyển hàng hóa bằng ít nhất hai phương thức vận tải khác nhau trên cơ sở hợp đồng vận tải đa phương thức”.

Từ định nghĩa này, Nghị định 87/2009/NĐ – CP tiếp tục chia thành hai loại hình vận tải đa phương thức. Trong đó, một là vận tải đa phương thức quốc tế với định nghĩa “là vận tải đa phương thức từ nơi người kinh doanh vận tải đa phương thức tiếp nhận hàng hóa ở Việt Nam đến một địa điểm được chỉ định giao trả hàng ở nước khác và ngược lại”. Và hai là: vận tải đa phương thức nội địa với định nghĩa “là vận tải đa phương thức được thực hiện trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam”. Kèm theo là các quy định quản lý với từng loại hình vận tải ấy. Vấn đề là ở chỗ, theo Công ước vận tải đa phương thức quốc tế do Liên hiệp quốc ban hành, và Hiệp định khung ASEAN về vận tải đa phương thức mà Việt Nam đã tham gia, thì không có loại hình vận tải đa phương thức nội địa. Theo khẳng định của Hiệp hội Giao nhận Kho vận Việt Nam (VIFFAS), hiện cũng chưa quốc gia nào trên thế giới có quy định về “vận tải đa phương thức nội địa”. Hay nói cách khác là các nhà làm luật Việt Nam đã “sáng tạo” ra loại hình vận tải này.

Continue reading

TRÁCH NHIỆM NGHIÊM NGẶT VÀ MIỄN, GIẢM TRÁCH NHIỆM TRONG PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM SẢN PHẨM

THS. PHẠM THỊ PHƯƠNG ANH – Trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh

Dự thảo Luật Bảo vệ người tiêu dùng (Dự thảo Luật BVNTD) đang được xây dựng. Một trong những điểm mới và quan trọng của Dự thảo là các quy định về trách nhiệm sản phẩm (TNSP), trong đó có trách nhiệm nghiêm ngặt (TNNN). Bài viết bàn về trách nhiệm dựa trên yếu tố lỗi và TNNN, phân tích lý do Việt Nam nên áp dụng TNNN. Đồng thời, tác giả cũng bàn về các trường hợp miễn, giảm TNSP trong Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hoá (Luật CLSPHH) và Dự thảo Luật BVNTD. Từ đó đưa ra kiến nghị nhằm hoàn thiện Dự thảo trên cơ sở so sánh với Chỉ thị 85/374/EEC ngày 25/7/1985 của Cộng đồng châu Âu (Chỉ thị) về sự tương đồng trong luật, điều lệ, và những quy định hành chính của các quốc gia thành viên liên quan đến trách nhiệm đối với sản phẩm có khuyết tật và Luật BVNTD năm 1987 của Anh1.

1. Trách nhiệm dựa trên lỗi và trách nhiệm nghiêm ngặt

1.1. Trách nhiệm dựa trên lỗi

Thông thường, lỗi được xem là cơ sở thứ tư và cũng là cơ sở cuối cùng để yêu cầu bồi thường thiệt hại (BTTH) ngoài hợp đồng. Yếu tố lỗi được xem là tình trạng nhận thức có thể là cố ý, vô ý, hay ác ý2.

Yếu tố lỗi yêu cầu phải được chứng minh nhằm giảm tải cho Tòa án và kích thích chính sách “laissez faire policy”; tức là “mỗi cá nhân nên chịu trách nhiệm đối với hành vi của mình, với sự tác động chút ít từ phía Nhà nước nếu có thể”3. Ngoài ra, nó còn nhằm thúc đẩy việc ngăn ngừa hành vi vi phạm pháp luật, chuyển gánh nặng chịu thiệt hại từ người phải chịu thiệt hại sang người phải BTTH, làm cho tiền BTTH dễ tính toán hơn. Yếu tố lỗi còn cho phép người gây ra thiệt hại yêu cầu được miễn hay giảm trách nhiệm do người bị thiệt hại có lỗi4. Những quan điểm trên đây dường như là có lý, nhưng liệu rằng, chỉ có thông qua yếu tố lỗi người ta mới đạt được những mục đích nói trên?

Trên thực tế có nhiều ý kiến không ủng hộ yêu cầu về lỗi5. Người ta cho rằng lỗi có thể dẫn đến những phân biệt không công bằng; đó là những người cùng gánh chịu thiệt hại về sức khỏe như nhau, nhưng lại được bồi thường khác nhau khi lỗi của người bị thiệt hại được chứng minh. Theo chúng tôi, ý kiến cho rằng lỗi có thể dẫn đến những phân biệt không công bằng là không chính xác. Việc xác định lỗi của người bị thiệt hại tức là xác định mức độ đóng góp của các bên trong việc gây ra thiệt hại. Thông qua việc xác định mức độ lỗi, Tòa án cũng dễ dàng hơn trong việc ấn định mức BTTH. Vì vậy, việc xác định mức độ lỗi của các bên sẽ bảo đảm sự công bằng cho cả người bị thiệt hại và người gây ra thiệt hại.

Continue reading

MỘT VÀI NÉT VỀ SỞ HỮU VỚI PHÂN ĐỊNH CÁC THÀNH PHẦN KINH TẾ VÀ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN CÁC LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP, KHÁC KHU VỰC KINH TẾ

NGUYỄN THỊ BÍCH HỒNG

1. Việc phân định các thành phần kinh tế, khu vực kinh tế, loại hình doanh nghiệp và những vấn đề đặt ra.

Từ việc hình thành những hình thức sở hữu khác nhau và theo nó là những hình thức thực hiện lợi ích kinh tế khác nhau qua việc phân định theo thành phần kinh tế, khu vực kinh tế và loại hình doanh nghiệp (DN) như sau:

Bảng 1: Thành phần kinh tế. Loại hình doanh nghiệp. Khu vực kinh tế

Presentation1

Continue reading

MARKETING TRỰC TIẾP: KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ VIỆC ỨNG DỤNG Ở VIỆT NAM

PHẠM THỊ HUYỀN

Marketing và quản trị marketing là một trong những phương tiện quan trọng giúp doanh nghiệp thành công. Sự thay đổi của môi trường kinh doanh và hành vi khách hàng, cùng với sự phát triển của các hình thức kinh doanh mới trên một phạm vi rộng lớn và đa dạng hơn, đã tạo ra xu hướng mới trong ứng dụng marketing, trong đó có marketing trực tiếp. Vậy, marketing trực tiếp là gì và triển vọng của nó ở nước ta ra sao?

Tầm quan trọng của marketing trực tiếp trong bối cảnh hội nhập

Khái niệm marketing trực tiếp ra đời vào thập kỷ 90 của thế kỷ trước, được giới doanh nhân sử dụng phổ biến trong hoạt động kinh doanh nhằm thiết lập, duy trì và phát triển mối quan hệ với khách hàng thông qua hàng loạt các phương tiện như thư gửi kèm tờ rơi hoặc catalog, điện thoại, fax; giới thiệu và bán hàng trực tiếp qua các phương tiện truyền thông (tivi, đài và Internet).

Theo Hiệp hội marketing trực tiếp, marketing trực tiếp là một hệ thống truyền thông marketing hoạt động thường xuyên, có sự tương tác của một số phương tiện truyền thông nhằm tạo ra các phản ứng trao đổi hoặc giao dịch (có thể đo lường) tích cực từ phía khách hàng mà ít bị giới hạn bởi không gian và thời gian. Khác biệt cơ bản nhất giữa marketing trực tiếp với các phương pháp marketing truyền thống khác chính là sự tương tác, trao đổi thông tin qua lại giữa người mua và người bán, giữa chủ thể truyền thông và khách thể – đối tượng nhận tin. Qua đó, doanh nghiệp dễ dàng đánh giá được hiệu quả truyền thông của mình. Marketing trực tiếp được biểu hiện qua rất nhiều hoạt động truyền thông cụ thể hướng trực tiếp nỗ lực tới khách hàng như: Thư trực tiếp giới thiệu sản phẩm và doanh nghiệp, thư đặt hàng gửi kèm danh mục các sản phẩm có thể đặt mua để khách hàng lựa chọn. Mục tiêu mà mỗi chương trình marketing trực tiếphướng tới là hành vi phản ứng trực tiếp và tích cực của khách hàng với các chương trình đó.

Continue reading

TƯ VẤN – NHÂN TỐ QUAN TRỌNG TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH

Luật gia VŨ XUÂN TIỀN – Tổng Giám đốc Công ty cổ phần tư vấn quản lý và đào tạo VFAM Việt Nam

TƯ VẤN LÀ GÌ?

Theo từ điển tiếng Việt phổ thông, "tư vấn là việc góp ý kiến về những vấn đề được hỏi, nhưng không có quyền quyết định". Từ khái niệm đó, chúng ta có Hội đồng tư vấn, Cơ quan tư vấn, Nhà tư vấn, Công ty tư vấn, chức năng tư vấn…

Khái niệm nêu trên là khái niệm đơn giản nhất, phổ thông nhất. Xã hội càng phát triển, "việc góp ý" – nội dung cơ bản của tư vấn – đã mở rộng hơn rất nhiều. Các nhà tư vấn, các công ty tư vấn chuyên nghiệp không chỉ dừng lại ở việc "góp ý" mà đã và đang thực hiện nhiều nội dung khác quan trọng hơn như: nghiên cứu và cảnh báo rủi ro; nghiên cứu và đưa ra các ý kiến về việc chấp hành các quy định của pháp luật; nghiên cứu đưa ra các phương án đầu tư và lựa chọn phương án tối ưu trong kinh doanh, đầu tư… Theo đà phát triển của nền kinh tế, tư vấn đã trở thành một lĩnh vực hoạt động độc lập và ngày càng phát triển.

TƯ VẤN – NHÂN TỐ QUAN TRỌNG TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH

Cũng theo Từ điển Tiếng Việt phổ thông, kinh doanh là việc tổ chức sản xuất, buôn bán, dịch vụ nhằm mục đích sinh lợi. Theo Luật Doanh nghiệp 2005, Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi.

Lịch sử kinh tế của các nước phát triển đã chứng minh rằng, trong kinh tế thị trường, tư vấn đã, đang và sẽ trở thành nhân tố vô cùng quan trọng trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp và doanh nhân. Vị trí đặc biệt quan trọng đó của hoạt động tư vấn do những lý do sau đây quyết định:

Thứ nhất, hoạt động kinh doanh, dù là do cá nhân hay pháp nhân thực hiện, cũng do một chủ thể quyết định – đó là chủ sở hữu (hoặc người đại diện của chủ sở hữu) – còn gọi là chủ doanh nghiệp. Trong khi đó, dù ở quy mô kinh doanh nhỏ hay lớn, hoạt động kinh doanh cũng bao trùm rất nhiều lĩnh vực khác nhau. Không một chủ doanh nghiệp nào có thể có đủ kiến thức cần thiết ở tất cả các lĩnh vực để phục vụ tốt cho hoạt động kinh doanh. Việc tuyển dụng người lao động vào làm việc trong doanh nghiệp để "lấp đầy khoảng trống" về kiến thức cần thiết ở tất cả các lĩnh vực phục vụ kinh doanh không phải lúc nào cũng thực hiện được và không phải trường hợp nào cũng là tối ưu. Do đó, các chủ doanh nghiệp phải tìm đến, nhờ sự hỗ trợ của các nhà tư vấn, các công ty tư vấn.

Continue reading

VĂN HOÁ KINH DOANH VIỆT NAM TRÊN ĐƯỜNG PHÁT TRIỂN VÀ HỘI NHẬP

NGUYỄN HOÀNG ÁNH

Nếu văn hoá là nền tảng tinh thần đảm bảo sự phát triển bền vững của xã hội, thì văn hoá kinh doanh (VHKD) chính là nền tảng tinh thần, là linh hồn cho hoạt động kinh doanh của một quốc gia. Trong xu thế toàn cầu hoá kinh tế như hiện nay, muốn đảm bảo sự phát triển bền vững cho hoạt động kinh doanh của quốc gia, hơn lúc nào hết, chúng ta cần có sự tìm hiểu và nghiên cứu thấu đáo về lĩnh vực này, để có thể góp phần định hướng đúng đắn cho kinh tế Việt Nam trong thời gian tới.

Từ thập kỷ 60 của thế kỷ XX, các nhà nghiên cứu đã bắt đầu quan tâm đến vai trò của văn hoá trong kinh doanh. Có nhiều cách hiểu khác nhau về VHKD, chủ yếu tập trung hai xu hướng: xu hướng thứ nhất, coi chủ thể của VHKD chính là các doanh nghiệp, do đó VHKD là văn hoá doanh nghiệp (corporate culture) hay còn gọi là văn hoá tổ chức (organizational culture). Xu hướng thứ hai, đang ngày càng phổ biến hơn khi coi kinh doanh là hoạt động có liên quan đến mọi thành viên trong xã hội, nên VHKD là một phạm trù ở tầm cỡ quốc gia, còn văn hoá doanh nghiệp chỉ là một thành phần trong VHKD. Qua xem xét, nghiên cứu các định nghĩa về VHKD của một số nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, trong khuôn khổ bài viết này, xin đưa ra định nghĩa: "VHKD là sự thể hiện phong cách kinh doanh của một dân tộc. Nó bao gồm các nhân tố rút ra từ văn hoá dân tộc, được các thành viên trong xã hội vận dụng vào hoạt động kinh doanh của mình và cả những giá trị, triết lý… mà các thành viên này tạo ra trong quá trình kinh doanh". Định nghĩa này tương đối bao quát và rõ ràng, theo đó, văn hoá tổ chức hay văn hoá doanh nghiệp sẽ chỉ được nghiên cứu với tư cách là một thành phần trong VHKD của một quốc gia.

Nhận diện VHKD cổ truyền Việt Nam

Trong suốt lịch sử phát triển của nước ta, hoạt động kinh tế phổ biến là sản xuất nông nghiệp tự cung, tự cấp. Trong thời kỳ phong kiến, tư tưởng "trọng nông ức thương" rất phổ biến, chính vì vậy mà rất ít người giỏi về kinh doanh. Lương Văn Can, một nhà cách mạng, đồng thời là một người thầy lỗi lạc trong giới doanh thương Việt Nam hồi đầu thế kỷ XX, khi phân tích nguyên nhân không phát triển của thương mại nói riêng và của kinh tế Việt Nam nói chung, đã đưa ra 10 điểm. Đó là:

Continue reading

NHỮNG QUI ĐỊNH “BẤT KHẢ THI”

PHẠM NGỌC HỮU – Chuyên gia Hải quan

Xét về nguyên tắc, các văn bản quản lý về hoạt động xuất nhập khẩu phải phù hợp với tình hình thực tế khách quan và không gây ách tắc cho sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, trên thực tế đã phát sinh không ít trường hợp ngược lại. Bài viết này dẫn ra vài trường hợp để giúp bạn đọc hiểu rõ hơn tình trạng bất cập nói trên.

1.Thông tư 116/2008/TT-BTC ngày 4-12-2008 của Bộ Tài chính quy định: doanh nghiệp gia công phải đăng ký số lượng nguyên phụ liệu và định mức nguyên phụ liệu tại thời điểm đăng ký hợp đồng gia công (điểm I và II).

Cũng không quá khó để có thể nhận ra rằng khi đã xác định được số lượng chủng loại nguyên phụ liệu của hợp đồng gia công thì quá trình theo dõi nguyên liệu gia công nhập khẩu chỉ là một phép tính trừ lùi đơn giản. Cùng với việc xác định nguyên liệu gia công nhập khẩu, việc xác định được định mức sử dụng nguyên phụ liệu ngay từ đầu sẽ giúp người quản lý xác định ngay được số lượng sản phẩm gia công xuất khẩu. Quy định này rõ ràng rất thuận lợi cho công việc của cơ quan quản lý, đặc biệt là các cơ quan tài chính, hải quan.

Tuy nhiên với các doanh nghiệp, tình hình lại hoàn toàn khác. Hợp đồng gia công chỉ ghi nhận các nội dung có tính nguyên tắc chẳng hạn như: số lượng sản phẩm gia công, điều kiện giao hàng, phương thức thanh toán, thời gian hiệu lực của hợp đồng…

Trên thực tế hợp đồng chỉ được sử dụng trong các trường hợp có phát sinh tranh chấp, khiếu kiện… Phụ lục hợp đồng (Annex) mới chính là văn bản ghi nhận số lượng mặt hàng cụ thể và được coi là cơ sở trực tiếp để xác định số lượng chủng loại nguyên phụ liệu và định mức.

Phụ lục hợp đồng do người thuê gia công, căn cứ vào diễn biến thực tế của thị trường, để phát hành. Một hợp đồng gia công có thể có tới vài chục phụ lục và trong quá trình thực hiện mỗi phụ lục lại có thể được điều chỉnh nhiều lần về số lượng, kiểu dáng, màu sắc… Nếu thay đổi kiểu dáng, màu sắc sẽ dẫn đến thay đổi định mức, chủng loại nguyên liệu và tổng số lượng nguyên phụ liệu của hợp đồng.

Continue reading