NGĂN CHẶN SUY GIẢM KINH TẾ: TỪ LÝ THUYẾT ĐẾN THỰC TIỄN VIỆT NAM

PGS.TS. TRẦN CHÍ THIỆN – Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, Đại học Thái Nguyên

1. Suy giảm kinh tế là gì?

Suy thoái kinh tế là một giai đoạn của Chu kỳ kinh tế, còn gọi là chu kỳ kinh doanh. Đó là sự biến động của GDP thực tế theo trình tự ba pha lần lượt là suy thoái, phục hồi và hưng thịnh (bùng nổ). Vì pha phục hồi là thứ yếu nên chu kỳ kinh doanh cũng có thể chỉ chia thành gồm hai pha chính là suy thoái và hưng thịnh (hay mở rộng) (1)

clip_image001

 

Nguồn: Wikipedia, 2009. Continue reading

GIẤC MƠ NỬA TRIỆU DOANH NGHIỆP VÀ MỘT ĐẠO LUẬT CHUNG: LUẬT DOANH NGHIỆP 2005 TỪ MỘT GÓC NHÌN SO SÁNH VỚI LUẬT CÔNG TY 2005 CỦA CHND TRUNG HOA

PGS.TS. PHẠM DUY NGHĨA – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Cùng với Luật đầu tư, một đạo luật chung cho doanh nghiệp không phân biệt quốc hữu, tư hữu hay tư bản nước ngoài sẽ có hiệu lực từ ngày 01/07/2006. Liệu Luật doanh nghiệp (LDN 2005) có mang tới cho nhà đầu tư khuôn mẫu công ty hiện đại đủ sức ganh đua trong những không gian lạ với đường chân trời ngày càng lùi xa. Bước đầu so sánh với Luật công ty được ban hành cùng năm của nước láng giềng Phương Bắc, bài viết dưới đây bàn về vài diễn tiến đáng ghi nhận trong LDN 2005 cũng như đôi điều cần lưu ý khi thực thi đạo luật này.

Thai nghén và những cuộc vận động chuyên nghiệp

Cùng với làng nghề, phường hội, bàng, cuộc và gia đình nhà buôn truyền thống, theo chân kẻ thực dân, hội người, hội vốn, hội đồng lợi, hội nặc danh, ngân hàng cổ phần… đã bén rễ và nảy mầm trong văn hóa kinh doanh Việt Nam. Pháp luật công ty, vì lẽ ấy, đã có một truyền thống âm thầm từ hơn một thế kỉ nay ở nước ta. Chỉ có điều cái mầm yếu ớt ấy sớm héo hon trước sự chèn ép của mại bản và những cơn biến động chính trị. Nam tiến, tìm lại những nhánh rễ rơi vãi ngày xưa, Luật công ty 1990 đã mở màn tái khám phá ra công ty TNHH và CTCP. Mười năm sau, đạo luật đơn sơ ấy được thay đổi bởi Luật doanh nghiệp 1999 với những tư duy táo bạo; giành lấy quyền tự do cho doanh nhân và từng bước hạn chế công lực, xóa bỏ giấy phép, xóa bỏ vốn pháp định, minh định thủ tục đăng kí kinh doanh. Những người soạn LDN 2005 có thâm ý làm lan rộng thần thái cải cách ấy sang cho khu vực doanh nghiệp quốc hữu và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Khi có hiệu lực, LDN 2005 sẽ thay thể Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, thay thế Luật doanh nghiệp nhà nước 2003, trừ những điều khoản bảo lưu cho quá trình chuyển đổi của DNNN sang mô hình công ty trong một thời hạn chậm nhất là 04 năm [1].

Để làm được việc ấy, những người soạn thảo đã tiến hành vận động đầy cẩn trọng. Bắt đầu bằng một văn bản của Chính phủ xác định tư tưởng chỉ đạo và những nội dung cơ bản cần có, dự thảo LDN 2005 đã được hậu thuẫn bởi không dưới 25 công trình nghiên cứu quy mô quốc tế, hàng trăm cuộc hội thảo lớn nhỏ tham vấn ý kiến của cộng đồng doanh nghiệp, giới chuyên gia với sự đưa tin và tạo dư luận của báo giới [2]. Tìm kiếm lí lẽ, kể cả bởi những phương cách mới như đánh giá tác động quy phạm (RIA), những người soạn LDN 2005 đã tìm thấy sự đồng điệu với trào lưu phi quy chế hóa toàn cầu. Quả là ở đâu quy chế pháp lí càng phức tạp thì dân nước đó càng nghèo [3].

Continue reading

TIẾP NHẬN PHÁP LUẬT NƯỚC NGOÀI: Nhìn từ ví dụ Luật Công ty của Nhật và Luật Doanh nghiệp của Việt Nam

NGUYỄN ĐỨC LAM

Ngược với quan điểm phủ nhận hoàn toàn, bài viết nghiêng về những ý kiến cho rằng, có thể tiếp nhận pháp luật nước ngoài. Để chứng minh, bài viết sẽ phân tích quá trình tiếp nhận pháp luật nước ngoài trong luật công ty của Việt Nam và so sánh với việc tiếp nhận pháp luật nước ngoài trong luật công ty của Nhật Bản.

Tiếp nhận pháp luật nước ngoài là một vấn đề còn gây tranh luận thậm chí gay gắt trên thế giới[1]. Chẳng hạn, Alan Watson cho rằng, việc tiếp nhận pháp luật nước ngoài diễn ra từ thời cổ đại xa xưa cho đến tận ngày nay trên khắp thế giới[2]. Thế nhưng, Pierre Legrand, một trong những tác giả phủ nhận khả năng tiếp nhận pháp luật nước ngoài, đã thẳng thừng bác bỏ: “Nói một cách thẳng thắn, trong trường hợp tốt nhất, điều có thể du nhập từ nước này vào nước khác chỉ là những từ ngữ vô hồn”[3]. Quan sát cuộc tranh luận này, một mặt, có cảm giác những tác giả như Legrand có phần đúng, nếu nhìn vào thực tế nhiều nước. Ví dụ, vào thập niên 1960, Mỹ đã thất bại trong việc “xuất khẩu” các tư tưởng pháp lý vào các nước Nam Mỹ, châu Phi; hoặc các nước XHCN cũ vay mượn các khái niệm, chế định của Liên Xô; hay cũng chính những nước này khi “nhập khẩu” pháp luật phương Tây gần đây. Còn ở Việt Nam, việc sao chép pháp luật Liên Xô thời mệnh lệnh hành chính và pháp luật phương Tây những năm vừa qua, như Luật phá sản cũ, là những ví dụ. Trong những trường hợp này, người ta bê nguyên xi từ ngữ pháp lý xa lạ áp vào bối cảnh nội địa. Kết quả là đạo luật hoặc định chế pháp lý mới được du nhập chết yểu, không điều chỉnh được những quan hệ pháp lý ngoài đời. Mặt khác, nhiều nhà nghiên cứu hay nhắc đến Thổ Nhĩ Kỳ và Nhật Bản, đặc biệt là Nhật Bản như những ví dụ điển hình cho việc tiếp nhận thành công pháp luật nước ngoài.

Continue reading

KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ VIỆT NAM

PGS.TS. NGUYỄN VĂN LUÂN & PGS.TS. NGUYỄN VĂN TRÌNH

Đặt vấn đề

Khủng hoảng kinh tế là một trong những hiện tượng thể hiện sự xáo trộn trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, nó xuất hiện theo chu kỳ mà các nhà kinh tế học tư sản gọi đó là “chu kỳ kinh tế”. Tác động của khủng hoảng kinh tế đến đời sống kinh tế – xã hội rất lớn mà các nhà kinh tế học thường tìm cách giải thích nguyên nhân và đề xuất giải pháp để giải quyết nó. Sức mua sụt giảm, thị trường thu hẹp, sản xuất bị đình đốn, việc làm bị mất, thu nhập giảm sút, nền kinh tế trì trệ, ảm đạm đó là những biểu hiện của khủng hoảng kinh tế.

Trong lịch sử phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩa đã chứng kiến nhiều cơn khủng hoảng, trong đó, sức tàn phá của cuộc đại khủng hoảng kinh tế 1929-1933 được xem là cơn đại hồng thủy trong kinh tế lớn nhất của thế kỷ XX. Theo Alan Greenspan, cựu Thống đốc Quỹ dự trữ Liên bang Mỹ (FED) trong một thế kỷ đại khủng hoảng chỉ xuất hiện một lần, cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu hiện nay, xuất phát từ cuộc khủng hoảng tài chính của Mỹ, được A. Greenspan đánh giá là cuộc đại suy thoái của thế kỷ XXI. Bởi vì hiện nay, xuất phát từ Mỹ, cuộc khủng hoảng tài chính đã lan sang hàng loạt các trung tâm kinh tế lớn trên thế giới như EU, Nhật, Trung Quốc, Nga…và kéo nền kinh tế thế giới đi xuống, khiến Chính phủ các nước có nền kinh tế phát triển và mới nổi (G20) đứng đầu là Mỹ phải tổ chức cuộc họp thượng đỉnh vào ngày 15/11/2008 vừa qua tại Mỹ để tìm giải pháp ngăn chặn cuộc đại suy thoái này. Sức tàn phá của khủng hoảng kinh tế là rất lớn, vậy VN đã chịu tác động như thế nào trước cuộc suy thoái kinh tế thế giới hiện nay? Những giải pháp nào cần thực hiện để đối phó với các tác động tiêu cực của khủng hoảng kinh tế toàn cầu đến nền kinh tế VN?

1. Nguyên nhân của khủng hoảng kinh tế hiện nay

Khủng hoảng kinh tế hiện nay xuất phát từ cuộc khủng hoảng tài chính của Mỹ khi các định chế tài chính lớn trên thị trường tài chính Mỹ lần lượt lâm vào phá sản do các khoản nợ xấu của thị trường cho vay bất động sản dưới chuẩn gây ra. Nguyên nhân vì sao dẫn đến thảm kịch này trên một thị trường luôn được xem là chuẩn mực nhất trên hành tinh? Có thể kể nhiều nguyên nhân dưới góc nhìn của các nhà phân tích khác nhau.

Continue reading

NHỮNG ẢNH HƯỞNG TIÊU CỰC CỦA QUÁ TRÌNH TOÀN CẦU HÓA TỚI SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM

THS. NGUYỄN MINH TUẤN

Ngày nay, cụm từ toàn cầu hóa không còn xa lạ với chúng ta. Nó đã trở nên quen thuộc thông qua nhiều bài báo, tạp chí, sách nghiên cứu, các cuộc hội thảo khoa học. Người ta coi thế giới giờ gần như đã bị làm phẳng, theo xu thế đó, các quốc gia kém phát triển sẽ có những cơ hội phát triển tốt hơn, sẽ bắt kịp với tốc độ phát triển các quốc gia khác. Nhưng sự thực có phải mọi quốc gia mở cửa mạnh mẽ, hội nhập sâu rộng, gắn kết chặt chẽ, đều sẽ hưởng lợi từ quá trình toàn cầu hóa? Toàn cầu hóa liệu có là phép mầu để biến một quốc gia từ đang phát triển trở thành một con rồng vươn mình bay lên? Ở đây, bài viết xin chủ yếu đánh giá những tác động quá của quá trình toàn cầu hóa trên hai lĩnh vực phổ bến là thương mại và đầu tư.

Mới đây khi tổng kết về kinh nghiệm ở 13 quốc gia được coi là tăng trưởng bền vững trong thời gian qua (7% trong vòng 25 năm kể từ năm 1950), Uỷ ban Phát triển và Tăng trưởng của Ngân hàng Thế giới có đưa ra 5 nguyên nhân chung các quốc gia này có được: Bộ máy hành chính tận tụy, hội nhập kinh tế thế giới, đầu tư và tiết kiệm cao, môi trường và sử dụng năng lượng, mối liên hệ nông thôn và thành thị. Như vậy, dường như hội nhập kinh tế thế giới, tham gia quá trình toàn cầu hóa là tất yếu để phát triển bền vững. Chúng ta hãy thử suy nghĩ theo một chiều hướng khác.

Mahathir Mohamad – Nguyên Thủ tướng Malaysia, một người có nhiều nghiên cứu về vấn đề tác động toàn cầu hóa đến các quốc gia thế giới thứ ba, đã từng nhận xét: “… trong tiến trình toàn cầu hoá như đang được quảng bá, thực hiện và thúc ép lên chúng ta, có những kẻ thắng lớn và những người thua to, và khuôn mẫu cơ bản của kẻ thắng, người thua khong hề thay đổi – và không công bằng; vì kẻ thắng luôn là những nước giàu và người thua luôn là những nước nghèo.” [2, 11]

Continue reading

TỪ CẢI CÁCH TIỆM TIẾN ĐẾN XÂY DỰNG CƠ CHẾ CHẤT LƯỢNG CAO: ĐIỀU KIỆN ĐỂ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM

TRẦN VĂN THỌ – Giáo sư  Đại học Waseda và Visiting Scholar Đại học Harvard

Mở đầu

Kinh tế Việt Nam đang đứng truớc một khúc ngoặt. Những khó khăn hiện nay như lạm phát ở mức cao, cán cân thanh tóan quốc tế và ngân sách thâm hụt nặng có thể được giải quyết tạm thời bằng một số biện pháp mạnh, bằng việc thực thi quyết liệt các biện pháp đó trước nguy cơ bất ổn xã hội. Nhưng ở đây tôi muốn bàn về một vấn đề lâu dài hơn, đó là tính chất của giai đọan phát triển sắp tới.

Nếu chúng ta muốn giai đọan sắp tới phải là giai đọan tăng truởng bền vững (sustained growth)[1] thì hiện nay phải xây dựng những tiền đề về cơ chế, chính sách, chiến lược như thế nào? Tăng truởng bền vững được thực hiện cũng có nghĩa là những biến động vĩ mô trầm trọng như hiện nay sẽ không xảy ra, do đó vấn đề sắp bàn cũng có liên quan đến những nguyên nhân sâu xa của cuộc khủng hoảng hiện nay mặc dù đây không phải là tiêu điểm của bài viết.

Bài viết nầy xuất phát từ một số nhận xét, suy nghĩ về hiện thực Việt Nam, về kinh nghiệm các nước và về các gợi ý từ lý thuyết liên quan đến các giai đọan phát triển kinh tế, cụ thể như sau:

Thứ nhất, Việt Nam tăng truởng khá cao trong một thời gian tương đối dài. Thu nhập bình quân đầu người sắp vượt ngưỡng cửa 1000 USD, các chỉ tiêu về đói nghèo đã được cải thiện nhiều. Việt Nam cũng đưa ra mục tiêu đến năm 2020 sẽ trở thành một nước công nghiệp. Thời gian từ khi thực hiện đổi mới thực sự (1989) cho đến nay có thể xem là một giai đọan (trên căn bản thóat khỏi nguy cơ đói nghèo) và từ nay trở đi là một giai đọan khác về chất, giai đọan hướng đến việc phát triển bền vững. Vậy giai đọan khác về chất nầy có nội dung như thế nào?

Continue reading

NGHỊ QUYẾT SỐ 21 – NQ/T.Ư ĐƯỢC THÔNG QUA TẠI HỘI NGHỊ LẦN THỨ 6 BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM KHÓA X VỀ TIẾP TỤC HOÀN THIỆN THỂ CHẾ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG KHÓA X

Sau hơn 20 năm đổi mới, nước ta đã chuyển đổi thành công từ thể chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp sang thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Ðường lối đổi mới của Ðảng đã được thể chế hóa thành Hiến pháp, pháp luật, tạo hành lang pháp lý cho nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hình thành và phát triển.

Chế độ sở hữu và cơ cấu các thành phần kinh tế được đổi mới cơ bản từ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể là chủ yếu  sang nhiều  hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế đan xen hỗn hợp, trong đó kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo, tạo động lực và điều kiện thuận lợi cho khai thác tiềm năng trong và ngoài nước vào phát triển kinh tế – xã hội. Các loại thị trường cơ bản đã ra đời và từng bước phát triển thống nhất trong cả nước, gắn với thị trường khu vực và thế giới. Cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà  nước  đã  đi  vào  cuộc sống, doanh nghiệp và doanh nhân được tự chủ kinh doanh, cạnh tranh lành mạnh để phát triển. Quản lý nhà nước về kinh tế được đổi mới từ can thiệp trực tiếp bằng mệnh lệnh hành chính vào hoạt động sản xuất kinh doanh chuyển sang quản lý bằng luật pháp, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và các công cụ điều tiết vĩ mô khác. Việc gắn phát triển kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội, xóa đói, giảm nghèo đạt nhiều kết quả tích cực.

Tuy nhiên, quá trình xây dựng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa còn chậm, chưa theo kịp yêu cầu của công cuộc đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước. Hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách chưa đầy đủ, đồng bộ và thống nhất. Việc xử lý các vấn đề liên quan đến đất đai còn nhiều vướng mắc. Vấn đề sở hữu, quản lý và phân phối trong các doanh nghiệp nhà nước chưa giải quyết tốt, gây khó khăn cho sự phát triển và làm thất thoát tài sản nhà nước, nhất là khi tiến hành cổ phần hóa. Doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác còn bị phân biệt đối xử. Các yếu tố thị trường và các loại thị trường hình thành, phát triển chậm, thiếu đồng bộ, vận hành chưa thông suốt.

Continue reading

HOÀN THIỆN THỂ CHẾ MÔI TRƯỜNG KINH DOANH PHÙ HỢP VỚI CÁC CAM KẾT HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM (PHẦN 2)

PGS. TS. LÊ DANH VĨNH – Thứ trưởng Bộ Công Thương

Những nỗ lực cải thiện thể chế môi trường kinh doanh được phản ánh qua việc thăng hạng đáng kể thứ bậc môi trường kinh doanh của Việt Nam dựa trên 10 tiêu chí của Công ty tài chính quốc tế (IFC) thuộc Ngân hàng thế giới (WB); Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI theo VCCI và Dự án nâng cao năng lực cạnh tranh Việt Nam (VNCI…

Tuy nhiên, những nỗ lực cải cách thể chế MTKD như vậy là chưa đủ. So với các nước trong khu vực, thứ bậc về mức độ thuận lợi và dễ dàng trong kinh doanh ở Việt Nam thấp hơn nhiều (như Singapore đứng thứ nhất, Thái Lan 15, Malaysia 24, Trung Quốc 83…), đòi hỏi Việt Nam cần phải có những nỗ lực mạnh mẽ trong cải thiện thể chế MTKD để thu hẹp khoảng cách với các nước nhằm nâng cao tăng tính cạnh tranh của nền kinh tế, các doanh nghiệp và sản phẩm Việt Nam, đảm bảo sự thành công trong hội nhập kinh tế quốc tế. (Xin mời các bạn đọc phần 1 bài viết này tại đây – Civillawinfor)

7. Quan điểm, định hướng và giải pháp hoàn thiện thể chế môi trường kinh doanh (MTKD) trong thời gian tới

a/ Quan điểm hoàn thiện thể chế MTKD trong thời gian tới

– Bảo đảm tính thống nhất và đồng bộ của thể chế MTKD.

– Thể chế MTKD phải phù hợp thực tế phát triển kinh tế đất nước.

– Đảm bảo tính khả thi của thể chế MTKD.

– Thể chế MTKD là hệ thống vận động và phát triển không ngừng.

Tóm lại, không có những thể chế cứng nhắc cố định mãi, để có một thể chế có hiệu lực, tác động có hiệu quả phải th­ờng xuyên điều chỉnh, hoàn thiện bảo đảm phát triển không ngừng, tạo ra sức sống mới cho thể chế MTKD.

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ KINH TẾ HÀNG HẢI VIỆT NAM HIỆN NAY

THS. NGUYỄN HỒNG SƠN – Phó Vụ trưởng Vụ Kinh tế, Văn phòng Trung ương Đảng

Với tiềm năng sẵn có, ngành kinh tế hàng hải nước ta có rất nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển. Suốt chiều dài trên 3.260 km đường bờ biển của Tổ quốc, nhiều vị trí phù hợp để xây dựng các nhà máy đóng tàu và sửa chữa tàu biển, tạo điều kiện cho công nghiệp đóng tàu phát triển, hơn 100 địa điểm có thể xây dựng cảng, trong đó một số nơi có thể xây dựng cảng trung chuyển và cảng cửa ngõ quốc tế. Những cảng biển này là tiền đề căn bản để phát triển đội tàu biển quốc gia lớn mạnh trong khu vực và trên thế giới. Đội tàu biển và công nghiệp đóng tàu, lĩnh vực dịch vụ hàng hải cũng có thêm nhiều lợi thế mới. Nhưng hiện tại ngành chưa tận dụng triệt để những lợi thế này.

1 – Thực trạng ngành kinh tế hàng hải Việt Nam

Để biến những tiềm năng đó thành hiện thực, tinh thần và quyết tâm của Đảng và Nhà nước đối với sự phát triển của ngành kinh tế hàng hải đã được thể hiện trong Chiến lược biển Việt Nam. Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 09-02-2007 của Hội nghị Trung ương 4 khóa X về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 đã xác định rõ, ngành kinh tế hàng hải được ưu tiên thứ hai trong thứ tự phát triển kinh tế biển, chỉ đứng sau khai thác, chế biến dầu khí (đứng trên khai thác và chế biến hải sản; du lịch biển và kinh tế hải đảo; xây dựng các khu kinh tế, các khu công nghiệp tập trung và khu chế xuất ven biển gắn với phát triển các khu đô thị ven biển). Vận tải biển được coi là một trong những ngành dịch vụ mũi nhọn và trước mắt cùng với công nghiệp đóng tàu cần được tập trung đầu tư phát triển.

Tại Thông báo số 188-TB/TW ngày 07-10-2008 của Ban Bí thư, ngành kinh tế hàng hải cũng được yêu cầu tập trung đầu tư xây dựng nhanh một số cảng biển hiện đại, đồng thời phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầng sau cảng, xây dựng các nhà máy đóng tàu và sửa chữa tàu biển, phát triển nhanh, mạnh đội tàu biển Việt Nam theo quy hoạch đã được phê duyệt.

Continue reading

4 NGUYÊN TẮC GIẢI CỨU KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH VÀ SUY GIẢM KINH TẾ TOÀN CẦU

NGUYỄN MINH PHONG

Thế giới đang đối diện với ngày càng nhiều cuộc khủng hoảng đủ loại mang tính toàn cầu, liên đới nhiều nước khác nhau, dù là phát triển nhất thế giới hay đang và chậm phát triển. Những nỗ lực giải cứu cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu hiện đang được soạn thảo và bàn cãi trong các nghị trường quốc gia, cũng như trên diễn đàn kinh tế thế giới… Mặc dầu còn chưa rõ ràng và còn cần hoàn thiện thêm, song có thể nhận dạng một số thông điệp và nguyên tắc sau:

Một là, phối hợp hài hoà sử dụng bàn tay Nhà nước và bàn tay thị trường trong một mô hình Nhà nước kiểu mới

Đại suy thoái kinh tế thế giới 1929-1933 đã ghi nhận sự thất bại của học thuyết “tự điều tiết” của trường phái kinh tế học cổ điển cũ và mới với lý thuyết “bàn tay vô hình” của A.Xmit và “cân bằng tổng quát” của L.Uôn-rát (L.Walras); còn cuộc khủng hoảng kinh tế-tài chính thế giới hiện nay đã hạ bệ không thương tiếc “Chủ nghĩa tự do mới” của Ph.A.Hay-éc vốn chủ trương phản đối mọi sự can thiệp của nhà nước đối với sự vận hành tự do của cơ chế thị trường, bởi những rào cản do Nhà nước dựng lên chẳng những ảnh hưởng đến tự do kinh tế mà còn tiềm ẩn những mối đe doạ về chính trị và nó chỉ muốn có một Nhà nước tối thiểu, hay nói đúng hơn, là Nhà nước với quy mô do thị trường định đoạt, vận hành theo yêu cầu của thị trường, các tập đoàn tư bản phải được hoàn toàn tự do; cá nhân phải được coi trọng hơn tập thể; phải kiềm chế các công đoàn…

Tuy nhiên, thực tiễn khủng hoảng kinh tế thế giới những năm 70 và 80 của thế kỷ XX cũng làm rạn vỡ học thuyết của G.M.Kên-xơ, cũng như những luận thuyết thiên tả đã từng chi phối tư duy chính trị và chính sách kinh tế của đa số quốc gia trên toàn cầu trong nhiều thập niên sau Đại chiến Thế giới thứ hai, cho rằng Nhà nước phải can thiệp trực tiếp sâu vào nền kinh tế để có thể tối đa hoá sản lượng tiềm năng và toàn dụng lao động, giải quyết tận gốc nạn thất nghiệp và tạo động lực mạnh, hiệu quả cao cho quá trình phát triển kinh tế-xã hội đất nước…

Continue reading

Một số phân tích về nguyên nhân và hậu quả CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG KINH TẾ THẾ GIỚI HIỆN NAY

Financial-Crisis-41 BÙI THỊ LÝ

Cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính gây nên những tổn thất to lớn trên thế giới hiện nay đang thu hút sự quan tâm không chỉ của chính phủ các nước mà còn của giới nghiên cứu trên toàn thế giới. Cuộc khủng hoảng kinh tế đã được mổ xẻ, phân tích từ nhiều góc độ khác nhau. Trong đó, phân tích về nguyên nhân và hậu quả của cuộc khủng hoảng chẳng những giúp chính phủ các nước có cơ sở khoa học đúng đắn cho những giải pháp ngăn chặn, khắc phục khủng hoảng, ngăn ngừa các cuộc khủng hoảng có thể xảy ra trong tương lai, mà còn dự báo đúng xu hướng vận động, phát triển của kinh tế thế giới để có định hướng đúng cho sự phát triển kinh tế đất nước.

Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng

Cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay được đánh giá là cuộc khủng hoảng kinh tế lớn nhất, nặng nề nhất trên thế giới trong hơn 60 năm qua từ sau Đại khủng hoảng kinh tế Thế giới 1929-1933. Nguyên nhân cuộc khủng hoảng được xác định là bắt đầu từ cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ. Cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ lại được xác định có nguyên nhân từ việc các ngân hàng thương mại (NHTM) cho vay mua nhà “dưới chuẩn” với một quy mô lớn. Việc một số lượng lớn người dân đổ xô vào vay tiền ngân hàng (trả lãi và vốn trong một thời gian dài) là do tình trạng lãi suất và dễ vay mượn ở Mỹ mà Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) thực hiện để khuyến khích sản xuất và tiêu dùng, cứu nền kinh tế Mỹ khỏi suy thoái sau cuộc khủng hoảng năm 2000-2001 (chỉ từ tháng 5/2001 đến tháng 12/2002, FED đã 11 lần giảm lãi suất cho vay từ 6,5% xuống còn 1,75%/năm). Còn các NHTM có thể cho người dân vay mua nhà “dưới chuẩn” đầy rủi ro với một quy mô lớn là do được các công ty tài chính và ngân hàng đầu tư, trong đó đặc biệt là hai công ty Fanie Mae và Freddie Mac được Chính phủ Mỹ bảo trợ, “cấp vốn” bằng cách mua lại các khoản cho vay của các NHTM, biến chúng thành loại chứng từ được bảo đảm bằng các khoản vay thế chấp để bán lại cho các công ty, các ngân hàng đầu tư lớn khác như: Bear Stearms, Merrill Lynch…

Continue reading

TRÍCH “BÁO CÁO KINH TẾ VIỆT NAM NĂM 2008”

 CIEM – Báo cáo Kinh tế Việt Nam của Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung Ương là báo cáo hàng năm nhằm cung cấp thông tin cho bạn đọc toàn cảnh nền kinh tế Việt Nam diễn ra trong năm, những thành tựu đạt được, phân tích những vấn đề tồn tại, những thách thức cần vượt qua và dự báo triển vọng tăng trưởng một số chỉ tiêu kinh tế cho năm tiếp theo. Báo cáo Kinh tế Việt Nam 2008 tập trung vào hai nội dung chính: Kinh tế Việt Nam năm 2008 – một số vấn đề, và triển vọng Kinh tế Việt Nam 2009.

I. Tổng quan Kinh tế Việt Nam năm 2008

Tình hình phát triển kinh tế – xã hội nước ta trong năm 2008 đã chịu tác động tương tác giữa quá trình hội nhập kinh tế quốc tế với nhiều yếu tố khách quan và chủ quan khác. Nền kinh tế toàn cầu biến động phức tạp: giá dầu tăng mạnh và giá lương thực leo thang đến tháng 8/2008; khủng hoảng tài chính toàn cầu bùng nổ vào tháng 9/2008 và nền kinh tế thế giới lún sâu vào suy thoái.

Trước tình hình lạm phát gia tăng từ quí III/2007, từ tháng 4/2008 Chính phủ đã có bước ngoặt chuyển hướng chính sách từ thúc đẩy tăng trưởng sang kiềm chế lạm phát. Từ tháng 10/2008, nền kinh tế lại phải gồng mình chống đỡ tác động hết sức tiêu cực của cơn bão khủng hoảng và suy thoái toàn cầu. Một lần nữa, Chính phủ lại chuyển hướng chính sách, tập trung chống suy giảm kinh tế cùng tiếp tục duy trì ổn định kinh tế vĩ mô và an sinh xã hội. Chính sách tiền tệ được nới lỏng dần và từ tháng 12/2008, một gói 6 tỷ USD kích thích kinh tế được chính thức triển khai nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, phát triển kết cấu hạ tầng, kích thích tiêu dùng và giảm thiểu khó khăn xã hội.

Continue reading

VỀ ĐIỀU BÍ ẨN TRONG “THẾ GIỚI HÀNG HÓA” CỦA MARX

LỮ PHƯƠNG

Bộ Tư bản của Karl Marx[*] mở đầu bằng câu: “Trong những xã hội do phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa chi phối thì của cải biểu hiện ra là một “đống hàng hoá khổng lồ”, còn từng hàng hoá một thì biểu hiện ra là hình thái nguyên tố của của cải ấy. Vì vậy, công cuộc của chúng ta bắt đầu bằng việc phân tích hàng hoá” (TBI/1 tr. 51). Một câu khởi đầu đơn giản, tưởng không có gì quan trọng, nhưng ai đã đọc Marx nhiều lần đều nhận thấy tiềm ẩn ở đây một bản nội dung rút gọn của lý luận mácxít về phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa cùng với số phận lịch sử của nó.

Nhân cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu lần này, khi đọc lại Marx, tôi muốn dừng lại câu dẫn trên đây để tìm hiểu rõ hơn thực chất của cái vật thể được ông gọi là “hình thái nguyên tố của của cải” tạo dựng nên xã hội tư bản, qua đó tập trung làm sáng tỏ vấn nạn cần được nêu ra ngay từ đầu để mọi thảo luận về học thuyết Marx có thể đi xa hơn: trong một thế giới tràn ngập hàng hoá, với mọi người, hàng hóa chỉ là những vật thể hữu dụng “tự nhiên” trong đời sống hàng ngày, nhưng qua phân tích và sự diễn tả của Marx, tại sao cái vật thể tầm thường ấy lại hiện ra với rất nhiều điều “khó hiểu”, “kỳ quái”, đến độ có thể gọi là “bí ẩn”, “siêu hình”?

Câu hỏi này không thể không dẫn đến một câu hỏi khác: trong lý giải của Marx, đâu là nguồn gốc sâu xa gây ra sự “khó hiểu” của vật thể được gọi là “hình thái nguyên tố” làm nên sự giàu có về mặt vật chất cho xã hội tư bản? Khai triển ý nghĩa của vấn nạn ấy người ta phải hiểu như thế nào về cái gọi là tính đặc trưng mácxít của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa với tư cách là một hình thái lịch sử đặc thù? Và qua vấn nạn mácxít về sự bí ẩn của hàng hoá trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đó, chúng ta có thể hiểu thêm được gì về những “bí ẩn” nằm ngay trong chính bản thân sự suy tưởng của Marx về lịch sử, về bản chất xã hội của con người, những điều mà Marx đã gợi ra cách đây hơn cả một thể kỷ rưỡi, nay vẫn còn gây ra tranh cãi?

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ ĐỔI MỚI TƯ DUY ĐỔI VỚI CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI VIỆT NAM THỜI KỲ 2011- 2020

PGS. TS. NGÔ DOÃN VỊNH – PGS.TS. BÙI TẤT THẮNG

Việt Nam đã thực hiện hai chiến lược 10 năm phát triển kinh tế – xã hội. Chiến lược 10 năm phát triển kinh tế – xã hội đầu tiên (1991- 2000) có chủ đề là “ổn định và phát triển kinh tế – xã hội đến năm 2000”. Chiến lược 10 năm phát triển kinh tế – xã hội lần thứ hai (2001-2010) với chủ đề là “Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp”. Chủ đề của hai chiến lược nêu trên đã thể hiện những nhiệm vụ đặc thù của thời kỳ chiến lược, thể hiện tính nhất quán về đường lối của Đảng, khát vọng của nhân dân và phù hợp với xu thế phát triển của thời đại. Kế thừa và tiếp tục dựa trên cách tiếp cận này, nhiều ý kiến cho rằng, chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 10 năm sắp tới (2011- 2020) nên tiếp tục lấy là: “Xây dựng Việt Nam về cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020”.

Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội được xây dựng cho thời kỳ 10 năm thời gian là không dài, nên không thể làm tất thảy mọi việc trong kỳ chiến lược, nhất là trong điều kiện kinh tế còn kém phát triển, nguồn lực bị hạn chế. Vì vậy, trong việc hoạch định đường lối chiến lược, nhất thiết phải lựa chọn các vấn đề lớn, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với phát triển để giải quyết trong phạm vi thời gian 10 năm mà chiến lược bao quát. Những vấn đề lớn đối với Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội Việt Nam thời kỳ 2011-2020 là:

Thứ nhất, tạo những “cú hích” mạnh (big push) làm xoay chuyển tình thế, thúc đẩy xu thế

Những “cú hích” nào có thể giúp nền kinh tế Việt Nam xoay chuyển tình thế lạc hậu, kém phát triển, năng suất thấp, tiến nhanh đến hiện đại hoá. Kinh nghiệm lịch sử của nhiều nước CNH thành công trước đây là hình thành những ngành (lĩnh vực, sản phẩm) chủ lực hay mũi nhọn, gắn với hệ thống doanh nghiệp mạnh và những vùng lãnh thổ động lực. Như vậy, có thể coi việc hình thành những ngành kinh tế chủ lực và lãnh thổ động lực là những “cú hích” mạnh của chiến lược 10 năm phát triển kinh tế – xã hội 2011 – 2020.

Continue reading

ĐỂ LÀM TỐT VAI TRÒ CHỦ ĐẠO CỦA KINH TẾ NHÀ NƯỚC TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

PGS.TSKT. NGUYỄN HUY OÁNH

Trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng ta đã chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần có sự quản lý của Nhà nước. Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân. Và cũng chính nó là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng, điều tiết nền kinh tế, tạo môi trường và điều kiện để thúc đẩy các thành phần kinh tế khác cùng phát triển.

Từ Hội nghị giữa nhiệm kỳ khóa VII (năm 1994) Đảng ta đã xác định thành phần kinh tế nhà nước với nội hàm rộng lớn hơn doanh nghiệp nhà nước trước đây và khẳng định vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam. Từ đó đến nay, khái niệm thành phần kinh tế nhà nước được tiếp tục hoàn thiện dần, cơ bản gồm hai bộ phận: doanh nghiệp nhà nước và bộ phận kinh tế của Nhà nước nằm ngoài doanh nghiệp nhà nước. Khi bàn về vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, chúng ta phải nói đến cả hai bộ phận của thành phần kinh tế này. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng tiếp tục khẳng định: "Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế, tạo môi trường và điều kiện thúc đẩy các thành phần kinh tế cùng phát triển"(1).

Continue reading

NHẬN DIỆN TIÊU DÙNG

HUY NAM

Tiêu dùng là lẽ sống của hoạt động sản xuất kinh doanh, là yếu tố quyết định cho toàn cục kinh tế tại các nước có thị trường phát triển cao. Nhưng ở Việt Nam, tiêu dùng còn ở mức cơ bản, chưa vượt lên được cái ngưỡng lo ăn, lo mặc, lo học hành…

Âu – Mỹ : người dân phải thay đổi tâm lý tiêu dùng

Ở Mỹ và nhiều nước phát triển khác, tiêu dùng co cụm trong giai đoạn khủng hoảng như vừa qua và hiện nay đã gây ảnh hưởng dây chuyền đến hàng loạt hoạt động kinh tế khác, từ ngành bán lẻ đến các lĩnh vực sản xuất, nhập khẩu, vận chuyển, ngân hàng…

Giữa thời buổi ảm đạm, chỉ cần động thái tiêu dùng có dấu hiệu tăng là bối cảnh kinh tế như được hửng sáng. Cụ thể như ngày 27-5-2009, ngay sau khi thông tin lạc quan về tâm lý tiêu dùng của dân Mỹ được loan đi thì chỉ số DJIA đã tăng gần 200 điểm.

Ở phương Tây, tiêu dùng đã ở mức cao và có độ nhạy cũng cao. Cơ cấu nhu cầu cao và tập quán tiêu dùng là những yếu tố dẫn dắt nhiều hoạt động kinh tế. Chẳng hạn, yêu cầu về tiện nghi cao làm cho nhiều mặt hàng có thể được xem là xa xỉ đối với các nước đang phát triển thì đối với họ là cần thiết. Họ không lo nhiều cái ăn cái mặc, mà lo cho chiếc xe riêng, lo nghỉ ngơi, mua sắm…

Continue reading

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN phân định các thành phần kinh tế

PGS.TS. VŨ ANH TUẤN – Trường đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh

Kinh tế nhiều thành phần luôn là nội dung lý luận quan trọng trong chính sách kinh tế của Đảng và Nhà nước ta, nhằm phát huy các nguồn lực xã hội để phát triển đất nước. Tuy nhiên, ở thời kỳ bao cấp chính sách này chỉ dừng lại ở lý thuyết, hình thức; nền kinh tế lúc này chủ yếu là kinh tế công với hai hình thức: kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể. Kinh tế quốc doanh được ưu tiên phát triển, lan rộng nhanh chóng bao trùm toàn bộ nền kinh tế quốc dân, ngược lại các hình thức khác bị xem nhẹ, thậm chí bị cấm đoán như kinh tế tư nhân. Kết cục đó tất yếu dẫn đến hậu quả: xã hội trì trệ, mất động lực phát triển, các nguồn lực bị lãng phí…

Về lý thuyết, ở thời kỳ này vẫn tồn tại nhiều thành phần kinh tế, nhưng trên thực tế không có sự bình đẳng giữa các thành phần, cạnh tranh giữa các thành phần không được thừa nhận, thị trường hình thành bị chi phối bởi cơ chế hai giá, công cụ kế hoạch chủ quan bao trùm toàn bộ hoạt động kinh tế – xã hội. Điều đó vi phạm yêu cầu các quy luật khách quan, nhất là quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.

Trải qua gần hai mươi năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, nền kinh tế nước ta đã và đang vận hành theo cơ chế mới – cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong suốt chặng đường đó, chúng ta đã nhận thức đúng đắn và thực hiện một cơ cấu kinh tế khách quan – cơ cấu kinh tế nhiều thành phần. Trong văn kiện Đại hội IX, Đảng ta tiếp tục khẳng định chính sách kinh tế nhiều thành phần là chiến lược lâu dài, nhất quán trong phát triển kinh tế – xã hội. Quan điểm này thể hiện sự nhận thức và vận dụng đúng đắn lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê-nin.

Continue reading

THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ – MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

GS.TS. HỒ VĂN VĨNH – Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

I. Một số khái niệm về thương mại, dịch vụ

Trong khuôn khổ của GATT/WTO, tại vòng đàm phán Uruguay diễn ra từ năm 1986 đến năm 1994, các nước thành viên của GATT đã thông qua Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ (General Agreement on Trade in Services, viết tắt là GATS). Hiệp định được thiết lập nhằm mở rộng phạm vi điều chỉnh của hệ thống thương mại đa phương sang lĩnh vực dịch vụ chứ không điều chỉnh một mình lĩnh vực thương mại hàng hóa như trước đó. Đối với nước ta, thương mại dịch vụ là một thuật ngữ còn khá mới mẻ. Trong quan niệm hiện đại, cơ cấu kinh tế quốc dân được chia ra ba khu vực chính, đó là nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ. Theo Hệ thống kế toán quốc gia (SNA) thì nền kinh tế nước ta có 20 ngành cấp 1, trong đó nông nghiệp có 2 ngành (nông nghiệp và thủy sản), công nghiệp có 4 ngành (công nghiệp khai thác, công nghiệp chế biến, sản xuất và cung cấp điện và nước và ngành xây dựng), còn dịch vụ có tới 14 ngành, có những ngành khá quen thuộc như thương mại, du lịch, vận tải, ngân hàng, thông tin liên lạc…, nhưng cũng có những ngành mới xếp vào lĩnh vực dịch vụ như giáo dục, y tế, văn hóa, thể dục thể thao, hoặc như hoạt động của các đoàn thể xã hội… Dịch vụ là một khái niệm rất rộng, từ việc đáp ứng nhu cầu cá nhân đến việc phục vụ cho một ngành sản xuất, là một ngành kinh tế độc lập, hiện nay đang chiếm một tỷ trọng lớn trong nền kinh tế quốc dân và không ngừng được tăng cao.

Như vậy, có thể hiểu dịch vụ là toàn bộ các hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con người mà sản phẩm của nó tồn tại dưới hình thái phi vật thể.

Continue reading

KHI NHÀ NƯỚC QUẢN LÝ KINH DOANH

LÊ VĂN TỨ

Nếu nền kinh tế tập trung bao cấp công hữu hóa không chấp nhận thành phần kinh tế tư nhân, thì ngược lại, nền kinh tế thị trường nhiều thành phần lại đòi hỏi phải có thành phần kinh tế nhà nước, đơn giản chỉ vì nếu thiếu, thì đó không còn là kinh tế thị trường nhiều thành phần nữa.

Theo định đề này, có thể thấy cải cách doanh nghiệp nhà nước có hai nội dung chủ yếu:

1. Cổ phần hóa một bộ phận kinh tế nhà nước, trong đó cổ phần hóa được hiểu giống như tư nhân hóa khi toàn bộ một doanh nghiệp được cổ phần hóa và đa phần trường hợp là chỉ cổ phần hóa một phần doanh nghiệp. Cả hai dạng cổ phần hóa nêu trên đều đã diễn ra trong thực tế.

Sau cổ phần hóa, doanh nghiệp nhà nước sẽ có hai loại: (i) Doanh nghiệp nhà nước (không/chưa cổ phần hóa), bao gồm những doanh nghiệp lớn trong những ngành kinh tế – kỹ thuật nòng cốt. Những doanh nghiệp này có thể mang những tên gọi khác nhau, như Tập đoàn A, Tổng công ty B, Công ty cổ phần C, Công ty TNHH một thành viên D…, song có đặc điểm chung: Nhà nước vẫn là chủ sở hữu duy nhất. Nhà nước cần nắm giữ những doanh nghiệp này vì đó chính là sức mạnh và cũng là quyền lực kinh tế mà Nhà nước có thể trực tiếp sử dụng cùng với quyền lực chính trị để quản lý xã hội. Và đó cũng là những lĩnh vực mà Nhà nước phải đảm nhiệm duy trì và phát triển, dù vốn đầu tư có lớn, suất sinh lợi có thấp. (ii) Doanh nghiệp cổ phần hóa một phần, sở hữu hỗn hợp, Nhà nước chỉ là một đồng sở hữu, với tên gọi là Công ty cổ phần N, Công ty cổ phần M… Phân biệt hai loại doanh nghiệp như vậy nhằm tạo thuận tiện cho việc xây dựng cơ chế quản lý kinh doanh của chủ sở hữu – Nhà nước phù hợp với từng loại.

Continue reading