HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG PHẦN VỐN GÓP

NGUYỄN HỒNG ANH

Phần vốn góp, cổ phần trong công ty có tư cách pháp nhân (“Phần Vốn Góp”) là các tài sản vô hình có thể chuyển giao trong giao lưu dân sự thông qua hợp đồng chuyển nhượng. Hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng làm phát sinh không những quyền và nghĩa vụ của các bên đối với nhau mà còn liên quan tới công ty phát hành Phần Vốn Góp (“Công Ty”). Ta thử lần lượt tìm hiểu các vấn đề pháp lý liên quan đến hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng Phần Vốn Góp đối với các bên giao kết và đối với Công Ty cũng như đối với người thứ ba.

1. Đối với các bên giao kết hợp đồng

Phần Vốn Góp là một tài sản vô hình. Tài sản này không chiếm hữu được. Đó chỉ là quyền định giá được bằng tiền và không gắn liền với bất kỳ vật cụ thể, xác định nào. Luật pháp Việt Nam gọi chung những tài sản vô hình đó là quyền tài sản. Việc mua bán quyền tài sản được điều chỉnh bởi Điều 442 Bộ luật dân sự và một số các quy định riêng tại luật chuyên ngành như Luật Doanh Nghiệp, Luật Đầu Tư…

Giống như hợp đồng mua bán có đối tượng là một vật, hợp đồng chuyển nhượng quyền tài sản (Phần Vốn Góp) được đặc trưng bởi việc bên chuyển nhượng có nghĩa vụ chuyển quyền sở hữu Phần Vốn Góp cho bên nhận chuyển nhượng. Đổi lại, bên nhận chuyển nhượng phải trả tiền cho bên chuyển nhượng (Điều 442 khoản 1 Bộ luật dân sự).

Ta thừa nhận rằng, nghĩa vụ chuyển quyền sở hữu tài sản là nghĩa vụ quan trọng nhất của bên chuyển nhượng trong hợp đồng chuyển nhượng. Thế nhưng chỉ có chừng đó nghĩa vụ liệu có đủ để đảm bảo cho quyền lợi của bên giao kết còn lại của hợp đồng? Ở các hợp đồng mua bán có đối tượng là một vật, người bán có nghĩa vụ cung cấp các thông tin cần thiết về tài sản, bảo đảm chất lượng vật mua bán và bảo hành đối với vật mua bán cho người mua.

Continue reading

TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC GIA NHẬP WTO ĐẾN THU HÚT VÀ SỬ DỤNG NGUỒN VỐN HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC Ở VIỆT NAM

NGUYỄN ANH ĐỨC

Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) thời gian qua đã hỗ trợ Việt Nam thực hiện thắng lợi nhiều nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội quan trọng. Tuy nhiên, việc thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA của ta vừa qua cũng còn những tồn tại bất cập. Chính vì vậy, mục tiêu thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn vốn ODA trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta những năm sắp tới được đặt ra là rất cấp bách và quan trọng, đặc biệt là trong điều kiện Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên WTO. Trong phạm vi bài viết này, tác giả xin được trình bày một số tác động của việc gia nhập WTO đến việc thu hút và sử dụng ODA.

Vai trò của nguồn vốn ODA đối với phát triển kinh tế – xã hội

Nguồn vốn chi cho đầu tư phát triển của mỗi quốc gia được phân định thành nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngoài. Đối với nguồn vốn nước ngoài có các hình thức thu hút và sử dụng chủ yếu là: Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI); Đầu tư gián tiếp nước ngoài (FII); Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA); Vay thương mại từ các ngân hàng nước ngoài hoặc từ thị trường tài chính quốc tế…; Viện trợ cho không của các tổ chức phi chính phủ (NGO);… Mỗi hình thức thu hút và sử dụng vốn nước ngoài đều có bản chất, đặc điểm riêng và có quan hệ chặt chẽ với nhau. Do những đặc điểm của mình, nguồn vốn ODA hỗ trợ cho quá trình phát triển kinh tế của các nước kém phát triển (LDCs) rất nhiều, đặc biệt là tác động lan toả của nguồn vốn này khi được đầu tư vào các kết cấu hạ tầng. Nguồn vốn này cũng đóng vai trò giúp các nước LDCs thoát ra khỏi khủng hoảng, thúc đẩy cải cách, đóng vai trò quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội.

Continue reading

HOÀN THIỆN KHUNG PHÁP LÝ VỀ NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI

TS. BÙI NGỌC CƯỜNG

Hoạt động nhượng quyền thương mại (NQTM) “cho phép người khác thành công giống như chúng ta đã thành công”; “là sự lặp lại của thành công”. Đó là ý tưởng chủ đạo, định hướng tất cả những người hoạt động trong lĩnh vực NQTM.

Hoạt động nhượng quyền thương mại (NQTM) “cho phép người khác thành công giống như chúng ta đã thành công”; “là sự lặp lại của thành công”. Đó là ý tưởng chủ đạo, định hướng tất cả những người hoạt động trong lĩnh vực NQTM.

NQTM là loại hoạt động thương mại theo mô hình kinh doanh thống nhất, gắn liền với quyền sở hữu trí tuệ và nhấn mạnh quyền kiểm soát hệ thống NQTM của bên nhượng quyền. Về bản chất, NQTM là:

– Loại thoả thuận mà theo đó, bên nhượng quyền cho phép bên nhận quyền sử dụng các đối tượng sở hữu trí tuệ và dấu hiệu thương mại của mình (như: nhãn hiệu, tên thương mại, bí quyết, biển hiệu) trong hoạt động bán hàng hoá và dịch vụ;

– Bên nhận quyền phải tuân thủ phương pháp kinh doanh của bên nhượng quyền;

– Trong suốt thời hạn hợp đồng NQTM, bên nhượng quyền có trách nhiệm trợ giúp kỹ thuật, kinh doanh và tiếp thị cho bên nhận quyền.

1. Đặc thù của NQTM

1.1. Trong các yếu tố cơ bản của hợp đồng NQTM

a. Hợp đồng NQTM phải quy định về sự góp vốn của bên nhượng quyền cho bên nhận quyền

Continue reading

MỘT SAI SÓT GÂY RẮC RỐI

NGUYÊN TẤN

Phụ lục kèm theo Nghị quyết của Quốc hội phê chuẩn Nghị định gia nhập WTO của Việt Nam viện dẫn sai một số đoạn trong Báo cáo của Ban công tác đang gây không ít lúng túng cho việc thực thi các cam kết với WTO.

Lịch sử

Thẩm quyền của hội đồng thành viên (hay hội đồng quản trị), thủ tục bỏ phiếu và tỷ lệ số phiếu cần thiết để thông qua các quyết định cơ bản là những vấn đề tối quan trọng đối với bộ máy hoạt động của công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần. Vấn đề này đặc biệt càng được quan tâm bởi tính lịch sử của nó.

Trước đây, pháp luật về đầu tư nước ngoài của Việt Nam yêu cầu áp dụng nguyên tắc nhất trí trong các doanh nghiệp liên doanh có vốn đầu tư nước ngoài. Tức là những quyết định quan trọng nhất của doanh nghiệp liên doanh phải được tất cả các thành viên của hội đồng quản trị nhất trí thông qua mới có giá trị pháp lý.

Đến năm 2005, quy định về việc áp dụng nguyên tắc nhất trí bị bãi bỏ bởi Luật Doanh nghiệp. Tuy nhiên, để ngăn ngừa khả năng cổ đông đa số chèn ép cổ đông thiểu số, ngoài quy định về thẩm quyền của hội đồng thành viên (hoặc hội đồng quản trị) và thể thức bỏ phiếu, luật này vẫn yêu cầu phải đảm bảo một tỷ lệ cần thiết về số phiếu, cụ thể là phải đạt tỷ lệ số phiếu đại diện ít nhất từ 65-75% tổng số vốn góp (hoặc vốn điều lệ) của các thành viên dự họp chấp thuận (tùy trường hợp) khi thông qua các quyết định quan trọng, cơ bản trong công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần.

Các quyết định quan trọng ở đây được quy định như: sửa đổi, bổ sung điều lệ công ty; quyết định phương hướng phát triển công ty; bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm chủ tịch hội đồng thành viên; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức giám đốc hoặc tổng giám đốc; thông qua báo cáo tài chính hàng năm; tổ chức lại hoặc giải thể công ty…

Continue reading

ĐỊNH HƯỚNG, GIẢI PHÁP THU HÚT QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TRONG THỜI GIAN TỚI

KINH TẾ VÀ DỰ BÁO – Trước các khó khăn của tình hình suy thoái kinh tế thế giới hiện nay, nhiệm vụ giữ vững tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, đảm bảo cuộc sống của nhân dân được đặt ra hết sức nặng nề. Chính phủ, các Bộ, ngành và địa phương cần thống nhất thực hiện linh hoạt, kịp thời và hiệu quả các giải pháp điều hành đã được Chính phủ thống nhất thông qua và ban hành. Huy động tối đa mọi nguồn lực của mọi thành phần kinh tế, trong đó có sự đóng góp quan trọng của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (ĐTNN) vào đầu tư, kích cầu nền kinh tế, tạo thu nhập, việc làm cho người lao động, tăng thu cho ngân sách nhà nước. Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 13/NQ-CP ngày 07/4/09 về định hướng, giải pháp thu hút và quản lý vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong thời gian tới.

Định hướng, yêu cầu thu hút và quản lý ĐTNN

Nâng cao nhận thức đối với chủ trương tăng cường thu hút và quản lý vốn ĐTNN đã được khẳng định tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X là: “Tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài, phấn đấu đạt trên 1/3 tổng nguồn vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trong 5 năm (2006 – 2010). Mở rộng lĩnh vực, địa bàn và hình thức thu hút ĐTNN, hướng vào những thị trường giàu tiềm năng và các tập đoàn kinh tế hàng đầu thế giới, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về số lượng và chất lượng, hiệu quả nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài”.

Continue reading

BẢO VỆ NHÀ ĐẦU TƯ: GÓC NHÌN TỪ ĐẠO LUẬT SARBANES – OXLEY

DUY CƯỜNG

Sau sự sụp đổ gây chấn động nước Mỹ của nhiều tập đoàn lớn như: Enron, WorldCom, Peregrine Systems…, nước Mỹ mới ban hành một đạo luật nhằm ngăn chặn những gian dối tài chính và bảo vệ nhà đầu tư tốt hơn.

Đạo luật Sarbanes-Oxley (hay còn gọi là Sarbox, SOX) có thể là sự tham khảo hữu ích cho những nhà quản lý thị trường chứng khoán Việt Nam, nhất là trong bối cảnh hiện nay khi mà liên tục xảy ra những scandal không đáng có.

Được Quốc hội Mỹ thông qua ngày 30/7/2002, đạo luật được bảo trợ bởi nguyên Thượng nghị sỹ bang Maryland, Paul Sarbanes và Nghị sỹ Michael Oxley, và là một trong những luật căn bản của nghề kế toán, kiểm toán.

Dài 66 trang, đạo được cho là một sự bổ sung quan trọng nhất trong Luật Chứng khoán Mỹ, nhằm mang lại tính minh bạch cho thị trường chứng khoán.

Mục tiêu chính của đạo luật này nhằm bảo vệ lợi ích của các nhà đầu tư bằng cách buộc các công ty đại chúng phải đảm bảo sự minh bạch hơn của các báo cáo, các thông tin tài chính khi công bố.

Continue reading

QUẢN LÝ THU HÚT VÀ QUẢN LÝ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI GIAI ĐOẠN 2009 – 1010

MINH QUANG

Năm 2009, 2010 được dự báo là năm khó khăn đối với thu hút đầu tư nước ngoài của Việt Nam do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Do đó, ngay từ đầu năm 2009 Chính phủ đã tăng cường chỉ đạo các cơ quan, ban ngành, địa phương tập trung tháo gỡ các khó khăn vướng mắc, hỗ trợ các dự án đầu tư nước ngoài trong việc thực hiện triển khai dự án trong năm 2009-2010.

Giai đoạn 2006-2008: ĐTNN tăng trưởng mạnh mẽ

Trong 3 năm vừa qua, vốn FDI đăng ký đã có những bước chuyển biến mạnh mẽ mang tính đột biến. Vốn đăng ký liên tục đạt mức cao kỷ lục kể từ khi ban hành Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987. Năm 2006 cả nước đã thu hút được 12 tỷ USD vốn đăng ký, tăng 83% so với năm 2005. Năm 2007, vốn đăng ký tiếp tục lập kỷ lục mới với 21,3 tỷ USD, tăng 71% so với năm 2006. Riêng năm 2008, vốn đăng ký đã đạt trên 64 tỷ USD, tăng 3 lần so với năm 2007. Như vậy, chỉ tính từ 2006 đến hết năm 2008, vốn đăng ký đã đạt 97,6 tỷ USD, vượt 77,4% so với mục tiêu đề ra cho cả giai đoạn 5 năm 2006 – 2010.

Cùng với sự gia tăng mạnh mẽ về quy mô vốn đăng ký, cơ cấu FDI theo ngành, lĩnh vực, theo đối tác đầu tư và theo vùng lãnh thổ tiếp tục có những chuyển biến tích cực. Trong 3 năm 2006-2008, vốn FDI đăng ký tập trung vào lĩnh vực công nghiệp và xây dựng, chiếm 56,7%; tiếp đến là lĩnh vực dịch vụ, chiếm 41,8%; lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp vẫn chiếm tỷ lệ thấp trong cơ cấu đầu tư, chỉ đạt 1,2% tổng vốn đăng ký.

Continue reading

Quản lý thu hút và quản lý đầu tư trực tiếp nước ngoài GIAI ĐOẠN 2009 – 1010

MINH QUANG

Năm 2009, 2010 được dự báo là năm khó khăn đối với thu hút đầu tư nước ngoài của Việt Nam do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Do đó, ngay từ đầu năm 2009 Chính phủ đã tăng cường chỉ đạo các cơ quan, ban ngành, địa phương tập trung tháo gỡ các khó khăn vướng mắc, hỗ trợ các dự án đầu tư nước ngoài trong việc thực hiện triển khai dự án trong năm 2009-2010.

Giai đoạn 2006-2008: ĐTNN tăng trưởng mạnh mẽ

Trong 3 năm vừa qua, vốn FDI đăng ký đã có những bước chuyển biến mạnh mẽ mang tính đột biến. Vốn đăng ký liên tục đạt mức cao kỷ lục kể từ khi ban hành Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987. Năm 2006 cả nước đã thu hút được 12 tỷ USD vốn đăng ký, tăng 83% so với năm 2005. Năm 2007, vốn đăng ký tiếp tục lập kỷ lục mới với 21,3 tỷ USD, tăng 71% so với năm 2006. Riêng năm 2008, vốn đăng ký đã đạt trên 64 tỷ USD, tăng 3 lần so với năm 2007. Như vậy, chỉ tính từ 2006 đến hết năm 2008, vốn đăng ký đã đạt 97,6 tỷ USD, vượt 77,4% so với mục tiêu đề ra cho cả giai đoạn 5 năm 2006 – 2010.

Cùng với sự gia tăng mạnh mẽ về quy mô vốn đăng ký, cơ cấu FDI theo ngành, lĩnh vực, theo đối tác đầu tư và theo vùng lãnh thổ tiếp tục có những chuyển biến tích cực. Trong 3 năm 2006-2008, vốn FDI đăng ký tập trung vào lĩnh vực công nghiệp và xây dựng, chiếm 56,7%; tiếp đến là lĩnh vực dịch vụ, chiếm 41,8%; lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp vẫn chiếm tỷ lệ thấp trong cơ cấu đầu tư, chỉ đạt 1,2% tổng vốn đăng ký.

Continue reading

ĐẦU TƯ CÓ ĐIỀU KIỆN: QUI ĐỊNH CỦA NHÀ NƯỚC, THỰC TIỄN TRIỂN KHAI, VƯỚNG MẮC VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT

NGUYỄN ĐÌNH TÀI

Hiện nay pháp luật Việt Nam quy định một số lĩnh vực, ngành nghề đầu tư – kinh doanh có điều kiện (1). Quy định này không phải chỉ riêng Việt Nam mới áp dụng, mà trên thực tế, hầu hết các quốc gia đều có quy định về điều kiện để đầu tư (2) trong một số lĩnh vực, ngành, nghề mà từng quốc gia đó cho là có những ảnh hưởng quan trọng đến xã hội, kinh tế, an ninh của đất nước. Trong chừng mực nào đó, điều kiện đầu tư hay đầu tư có điều kiện còn được các tổ chức quốc tế đặt ra cho các thành viên trong tổ chức đó phải tuân thủ.

Các quy định hiện hành của Việt Nam về lĩnh vực ĐT có điều kiện

Hiện tại, những lĩnh vực ĐT có điều kiện được quy định trong các văn bản chủ yếu sau:

Điều 29 Luật ĐT 2005 qui định 9 lĩnh vực ĐT có điều kiện áp dụng chung cho cả nhà ĐT nước ngoài và nhà ĐT trong nước: Lĩnh vực tác động đến quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; Lĩnh vực tài chính, ngân hàng; Lĩnh vực tác động đến sức khỏe cộng đồng; Văn hóa, thông tin, báo chí, xuất bản; Dịch vụ giải trí; Kinh doanh bất động sản; Khảo sát, tìm kiếm, thăm dò, khai thác tài nguyên thiên nhiên; môi trường sinh thái; Phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo; Một số lĩnh vực khác theo quy định của pháp luật. Continue reading

THỦ TỤC ĐẦU TƯ – CẦN MỘT CUỘC “ĐẠI PHẪU”

LS. PHẠM CHÍ CÔNG – Giám đốc Công ty Luật Khai Phong (KPLawyers)

Nhìn lại các quy định hướng dẫn thi hành Luật Đầu tư 2006 mới thấy đã và đang có những lúng túng từ phía cơ quan quản lý nhà nước dẫn đến những khó khăn, vướng mắc cho các doanh nghiệp.

Từ định nghĩa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Hiện nay, việc xác định chính thức thế nào là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (DNĐTNN) vẫn đang tồn tại những cách hiểu, giải thích không thống nhất khiến cho việc áp dụng các quy định liên quan trở nên phức tạp và không đồng nhất tại các bộ, ngành, hay từng địa phương.

Theo điều 3.6 Luật Đầu tư, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được xác định gồm (1) doanh nghiệp được thành lập bởi nhà đầu tư nước ngoài để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam hoặc (2) doanh nghiệp Việt Nam do nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại. Như vậy doanh nghiệp chỉ cần có một tỷ lệ rất nhỏ vốn đầu tư nước ngoài dù trực tiếp hay mua lại cổ phần cũng đều xem là DNĐTNN.

Cũng theo Luật Đầu tư, đã là “nhà đầu tư nước ngoài lần đầu đầu tư vào Việt Nam phải có dự án đầu tư và làm thủ tục đăng ký đầu tư để được cấp giấy chứng nhận đầu tư (GCNĐT) đồng thời là giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (GCNĐKKD)”.

Rõ ràng quy định này bất hợp lý ngay từ tên gọi bởi bản chất pháp lý của GCNĐKKD xác lập tư cách và địa vị pháp lý của một doanh nghiệp, chủ thể kinh doanh đồng thời với việc xác lập tính hợp pháp của các hành vi kinh doanh cụ thể. Chính vì thế, trên thực tế, quy định này đã không được thực thi thống nhất và đầy đủ.

Đến nghị định khác luật

Điều 9 Nghị định 139/2007 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp đã phân định tỷ lệ sở hữu vốn của nhà đầu tư nước ngoài trong việc thực hiện các thủ tục đầu tư hoặc đăng ký kinh doanh. Cùng là nhà đầu tư nước ngoài lần đầu đầu tư tại Việt Nam sẽ thực hiện các thủ tục thành lập doanh nghiệp, thủ tục đầu tư khác nhau, tùy theo tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ.

Theo đó, trường hợp doanh nghiệp mà nhà đầu tư nước ngoài sở hữu trên 49% vốn điều lệ thì phải có dự án đầu tư và thực hiện thủ tục đăng ký (hoặc thẩm tra) đầu tư gắn với thành lập tổ chức kinh tế theo quy định của Luật Đầu tư. Trong trường hợp này, doanh nghiệp được cấp GCNĐT đồng thời là GCNĐKKD.

Trường hợp doanh nghiệp mà nhà đầu tư nước ngoài sở hữu không quá 49% vốn điều lệ thì việc thành lập doanh nghiệp thực hiện theo quy định Đăng ký kinh doanh của Luật Doanh nghiệp và việc đăng ký đầu tư (của các DNĐTNN) trong trường hợp này áp dụng theo quy định tương ứng đối với dự án đầu tư trong nước. Tất nhiên là khó có thể áp dụng quy định tương ứng với dự án đầu tư trong nước bởi những điều kiện chắc chắn có khác biệt.

Continue reading

TỔNG KẾT 20 NĂM LUẬT ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM

TS. PHAN HỮU THẮNG

Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, nay là Luật Đầu tư là một trong những đạo luật đầu tiên của thời kỳ đổi mới. Việc ban hành Luật Đầu tư nước ngoài (ĐTNN) tại Việt Nam đã đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển của khu vực kinh tế có vốn ĐTNN tại Việt Nam trong suốt 20 năm qua.

KẾT QUẢ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 20 NĂM QUA (Chưa tính kết qủa đầu tư năm 2008 hơn 64 tỷ đô la – Civillawinfor)

Tình hình cấp phép chung: Tính đến cuối năm 2007, cả nước có hơn 9.500 dự án ĐTNN được cấp giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn đăng ký khoảng 98 tỷ USD (kể cả vốn tăng thêm). Trừ các dự án đã hết thời hạn hoạt động và giải thể trước thời hạn, hiện có 8.590 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 83,1 tỷ USD.

Tình hình tăng vốn đầu tư chung: Cùng với việc thu hút các dự án đầu tư mới, nhiều dự án sau khi hoạt động đã mở rộng quy mô sản xuất, tăng vốn đầu tư, nhất là từ năm 2001 trở lại đây. Tính đến hết năm 2007 có trên 4.000 lượt dự án tăng vốn đầu tư với tổng vốn tăng thêm hơn 18,9 tỷ USD, bằng 19,2% tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới.

Cơ cấu vốn ĐTNN chung từ 1988 đến 2007:

(1) Theo ngành: Lĩnh vực công nghiệp và xây dựng có tỷ trọng lớn nhất, chiếm 66,8% về số dự án, 60,2% tổng vốn đăng ký và 68,5% vốn thực hiện; Lĩnh vực dịch vụ chiếm 22,2% về số dự án, 34,4% số vốn đăng ký và 24,5% vốn thực hiện; Nông, lâm, ngư nghiệp chiếm 10,8% về số dự án, 5,37% tổng vốn đăng ký và 6,7% vốn thực hiện.

(2) Theo vùng và lãnh thổ: Từ năm 1988 đến hết năm 2007, các tỉnh phía Bắc đã thu hút 2.220 dự án với vốn đầu tư khoảng 24 tỷ USD, chiếm 26% về số dự án, 29% tổng vốn đăng ký cả nước và 24% tổng vốn thực hiện của cả nước. Các tỉnh phía Nam từ Ninh Thuận trở vào thu hút được 5.452 dự án với tổng vốn 46,8 tỷ USD, đã góp vốn thực hiện đạt 15,68 tỷ USD, chiếm 63% về số dự án, 56% về vốn đăng ký và 51% vốn thực hiện của cả nước, trong đó, Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam gồm 8 địa phương (TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu, Tây Ninh, Long An, Bình Phước) chiếm 64,3% về số dự án và 55,7% về vốn đăng ký và 48,4% vốn thực hiện của cả nước. Đồng bằng sông Cửu Long tuy là vựa lúa, vựa trái cây, giàu tiềm năng thuỷ, hải sản của cả nước nhưng thu hút vốn ĐTNN còn rất thấp so với các vùng khác, chiếm 3,6% về số dự án và 4,4% về vốn đăng ký và 3,2% vốn thực hiện của cả nước. Bắc và Nam Trung Bộ, trong đó Quảng Nam và Đà Nẵng đã có nhiều tiến bộ trong thu hút vốn ĐTNN, nhất là đầu tư vào xây dựng các khu du lịch, trung tâm nghỉ dưỡng, vui chơi đạt tiêu chuẩn quốc tế. Tây Nguyên cũng ở trạng thái thu hút vốn ĐTNN quá ít như vùng Đông Bắc và Tây Bắc.

360255 

Continue reading

ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI VỚI NỀN KINH TẾ VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP

HỮU HẠNH

Năm 1988, Luật Đầu tư nước ngoài (ĐTNN) tại Việt Nam (nay là Luật Đầu tư) bắt đầu có hiệu lực. Sau 20 năm vận hành, tính đến nay đã có hơn 9.530 dự án của 82 quốc gia và vùng lãnh thổ được cấp giấy phép đầu tư vào Việt Nam với tổng vốn đăng ký gần 100 tỷ USD. Trong đó có 8.590 dự án còn hiệu lực, với tổng vốn đăng ký hơn 83 tỷ USD. Trong 10 quốc gia và vũng lãnh thổ lọt vào Topten có vốn đầu tư cao nhất, thì có 6 quốc gia và vùng lãnh thổ có số vốn thực hiện từ 2 tỷ USD trở lên (riêng Nhật Bản gần 5 tỷ USD) là Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapor, Đài Loan, Hồng Kông và Hà Lan. Thực tiễn 20 năm qua cho thấy, khu vực kinh tế có vốn ĐTNN đã trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế, góp phần tích cực vào công cuộc đổi mới của đất nước.

Bức tranh tổng thể về ĐTNN

Xuất phát từ lợi thế phát triển kinh tế của từng vùng và địa phương cũng như đòi hỏi đầu tư hiệu quả và hội nhập của từng doanh nghiệp, tập đoàn, các nguồn vốn ĐTNN về cơ bản đã trải khắp 64 tỉnh, thành phố trong cả nước nhưng về mật độ và cơ cấu ngành nghề thì có khác nhau. Cụ thể, các tỉnh phía Bắc, thu hút hơn 24 tỷ USD vốn đầu tư và chiếm 27% tổng vốn đăng ký cả nước. Tương tự, với các tỉnh phía Nam là 44,9 tỷ và 54%, và các tỉnh miền Trung là 8,6 tỷ và 6%. Còn xét về cơ cấu ngành nghề thì lĩnh vực công nghiệp và xây dựng chiếm tỷ trọng lớn nhất, gần 67% về số dự án, hơn 60% về vốn đăng ký và tới 68,5% về vốn thực hiện; kế đến là lĩnh vực dịch vụ 22%, 34,5% và 24,5%; Sau cùng là lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp 10,8%, 5,4% và 6,7%. Nếu xét ở góc độ hình thức đầu tư thì, doanh nghiệp (DN) 100% vốn nước ngoài chiếm 74,4% tổng số dự án và gần 51% về tổng số đăng ký. Tương tự, DN liên doanh là 22,2% và 38%; Hợp tác kinh doanh là 3% và 8,3%; DN cổ phần là 0,1% và 0,4%; DN BOT là 0,1% và 2,7%…

Trong 20 năm qua, ĐTNN đã có sự đóng góp đáng kể cho sự phát triển toàn diện của nền kinh tế Việt Nam. Những đóng góp thể hiện qua các mặt sau:

Thứ nhất, đóng góp cho sự tăng trưởng nền kinh tế: từ mức trung bình 6,3% của GDP trong giai đoạn 1991 – 1995 lên 10,3% của 5 năm 1996 – 2000. Trong thời kỳ 2001 – 2005, tỷ trọng trên đạt trung bình là 14,6% và trong hai năm 2006 và 2007 tỷ trọng này là 17% GDP.

Thứ hai, là nguồn vốn bổ sung quan trọng đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển kinh tế – xã hội. Trong thời kỳ 1991 – 1995 tỷ trọng của ĐTNN trong đầu tư xã hội chiếm 30%, là mức cao nhất cho đến nay. Giai đoạn 1996 – 2000 chiếm 23,4%. Giai đoạn 2001 – 2005 và hai năm 2006 – 2007 chỉ còn khoảng 16,7%, do sự lớn mạnh của khu vực đầu tư tư nhân trong nước kể từ khi Quốc hội ban hành Luật Doanh nghiệp (năm 1999 và năm 2005). Đây cũng là một tín hiệu đáng mừng về sự phát triển nội lực, sự thông thoáng của cơ chế thị trường hội nhập của nước ta.

Thứ ba, ĐTNN góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao năng lực sản xuất công nghiệp. Tỷ trọng của ngành công nghiệp trong GDP từ 23,8% năm 1991 lên 40% năm 2004. Đến nay, khu vực kinh tế có vốn ĐTNN chiếm khoảng 35% giá trị sản xuất công nghiệp của cả nước. Đặc biệt, ở một số địa phương như Bình Dương, Đồng Nai, Vĩnh Phúc… tỷ lệ này đạt đến 65 – 70%. ĐTNN đã tạo ra nhiều ngành công nghiệp mới và tăng năng lực của một số ngành công nghiệp mũi nhọn như dầu khí, công nghệ thông tin, hóa chất, ô tô, xe máy, thép, điện tử và điện tử gia dụng, chế biến nông sản thực phẩm, da giày, dệt may…

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ TRONG KHẤU HAO VÀ PHÂN LOẠI TÀI SẢN CỐ ĐỊNH HỮU HÌNH

THS. ĐỖ THỊ HỒNG HẠNH

Một doanh nghiệp muốn tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh của mình thì phải có những tài sản nhất định. Tài sản là nguồn lực do doanh nghiệp kiểm soát và có thể thu được lợi ích kinh tế trong tương lai. Hiện nay toàn bộ tài sản trong doanh nghiệp được chia làm 2 loại: Tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn.

Tài sản cố định là một trong những yếu tố quan trọng bậc nhất trong quá trình sản xuất kinh doanh của các tổ chức và cá nhân. Tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh với vai trò là yếu tố cấu thành không thể thiếu trong giá trị sản phẩm, dịch vụ tạo ra, tài sản cố định phải được hạch toán, theo dõi phù hợp cả về mặt định lượng, cả về thông tin phục vụ cho việc quản lý và bảo toàn.

Trong phạm vi bài viết này xin đề cập ý kiến về vấn đề khi phân loại và khấu hao tài sản cố định hữu hình.

Thứ nhất: Khấu hao tài sản cố định hữu hình

Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) số 03 quy định:

Tài sản cố định hữu hình (TSCĐHH) là tài sản có hình thái vật chất do doanh nghiệp năm giữ để sử dụng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐHH. Tài sản được ghi nhận là TSCĐHH phải thoả mãn đồng thời tất cả bốn tiêu chuẩn: Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó; Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách đáng tin cậy; Thời gian sử dụng ước tính trên một năm; Có đủ tiêu chuẩn giá trị theo quy định hiện hành.

Trong quá trình sử dụng TSCĐHH được xác định theo nguyên giá, khấu hao lũy kế và giá trị còn lại:

Nguyên giá là toàn bộ các chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để có được TSCĐHH tính đến thời điểm đưa tài sản đó vào trạng thái sẵn sàng sử dụng.

Khấu hao là sự phân bổ một cách có hệ thống giá trị phải khấu hao của TSCĐHH trong suốt thời gian sử dụng hữu ích của tài sản đó.

Giá trị phải khấu hao là nguyên giá của TSCĐHH ghi trên báo cáo tài chính, trừ (-) giá trị thanh lý ước tính của tài sản đó.

Giá trị thanh lý là giá trị ước tính thu được khi hết thời gian sử dụng hữu ích của tài sản, sau khi trừ (-) chi phí thanh lý ước tính.

Thời gian sử dụng hữu ích của TSCĐHH do doanh nghiệp xác định chủ yếu dựa trên mức độ sử dụng ước tính của tài sản, tuy nhiên do chính sách quản lý của tài sản của doanh nghiệp mà thời gian sử dụng hữu ích ước tính của tài sản có thể ngắn hơn thời gian sử dụng thực tế của nó. Vì vậy việc ước tính thời gian sử dụng hữu ích của một TSCĐ hữu hình còn phải dựa trên kinh nghiệm của doanh nghiệp đối với các loại tài sản cùng loại.

Continue reading

TÁC ĐỘNG HAI MẶT CỦA VỐN NƯỚC NGOÀI ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA VIỆT NAM

TS. NGUYỄN MINH PHONG

Bên cạnh những lợi ích hiển nhiên to lớn của dòng vốn nước ngoài qua các kênh thu hút khác nhau, như bổ sung vốn đầu tư và gia tăng nguồn động lực mới, tích cực và mạnh mẽ hơn cho phát triển của đất nước, cải thiện cơ cấu và trình độ phát triển kinh tế, công nghệ, thị trường, đội ngũ lao động và quản lý… vẫn cần tỉnh táo nhận diện những tác động mặt trái của chúng để có các giải pháp thích ứng.

Tác động hai mặt

Về vốn vay: Dù là nguồn vốn hỗ trợ chính thức (ODA) có điều kiện ưu đãi cao nhất, cho đến các khoản vốn vay thương mại thông thường trên thị trường tài chính quốc tế thì nghĩa vụ nợ (bao gồm trả lãi và nợ gốc) cũng luôn luôn đặt ra cho người vay. Một cơ cấu nợ mà chiếm tỷ trọng lớn nhất là những khoản vay thương mại “nóng”, lãi cao, và bằng những ngoại tệ không ổn định theo xu hướng “đắt” lên sẽ chứa đựng những xung lực lạm phát mạnh. Những xung lực này càng mạnh hơn nếu vốn vay không được quản lý tốt và sử dụng có hiệu quả, buộc con nợ phải tiếp tục tìm kiếm các khoản vay mới, với những điều kiện có thể ngặt nghèo hơn – chiếc bẫy nợ sập lại, con nợ rơi vào vòng xoáy mới: Nợ-vay nợ mới-tăng nợ-tăng vay… Vòng xoáy này sẽ dẫn con nợ đến sự vỡ nợ hoặc vòng xoáy lạm phát: Nợ-tăng nghĩa vụ nợ-tăng thâm hụt ngân sách-tăng lạm phát. Lúc này dịch vụ nợ sẽ ngốn hết những khoản chi ngân sách cho phát triển và ổn định xã hội, làm căng thẳng thêm trạng thái khát vốn và hỗn loạn xã hội. Hơn nữa, việc “thắt lưng buộc bụng” trả nợ khiến nước nợ phải hạn chế nhập và tăng xuất, trong đó có hàng tiêu dùng mà trong nước còn thiếu hụt, do đó làm tăng mất cân đối hàng tiền, tăng giá, tăng lạm phát. Nợ nước ngoài có thể làm sụp đổ cả một chính phủ, nhất là ở những nơi tình trạng tham nhũng và vô trách nhiệm là phổ biến của giới cầm quyền, đi kèm với việc thiếu những giải pháp xử lý mềm dẻo khôn ngoan với nợ (đàm phán gia hạn nợ, đổi nợ thành đầu tư, đổi cơ cấu và điều kiện nợ, xin xoá nợ từng phần…). Do vậy, sự chủ động và tỉnh táo khống chế nợ ở mức độ an toàn, theo những dự án đầu tư cụ thể, được luận chứng kinh tế – kỹ thuật đầy đủ, và chấp nhận sự kiểm tra, giám sát của chủ nợ để tránh hao hụt do tham nhũng hay sử dụng nợ sai mục đích là những nguyên tắc hàng đầu cần được tuân thủ trong quá trình vay nợ nước ngoài.

Về vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI): Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài dưới mọi dạng sẽ an toàn và tốt hơn việc trực tiếp vay nợ thương mại (kể cả dưới dạng mua hàng trả chậm theo L/C). Hơn nữa, điều này còn tránh cho nước tiếp nhận đầu tư những khó khăn, lúng túng ban đầu về thị trường, kinh nghiệm quản lý-kinh doanh quốc tế. Cùng với những bảo đảm pháp lý có tính quốc tế, bằng cách điều chỉnh những chiếc “van” như: Ưu đãi thuế, tài chính, tiền tệ, phát triển hạ tầng cứng-mềm, các thủ tục hải quan, hành chính, các nước chủ nhà có thể hướng dẫn luồng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào đúng chỗ, đúng lúc, đủ khối lượng cần thiết theo kế hoạch định hướng sự phát triển kinh tế-xã hội của mình. Song, trong lĩnh vực tưởng chừng toàn những điều tốt lành này, những tác động mặt trái của FDI vẫn ẩn khuất đâu đó:

Continue reading

ĐÂU TƯ CÓ ĐIỀU KIỆN: QUI ĐỊNH CỦA NHÀ NƯỚC, THỰC TIỄN TRIỂN KHAI, VƯỚNG MẮC VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT

NGUYỄN ĐÌNH TÀI

Hiện nay pháp luật Việt Nam quy định một số lĩnh vực, ngành nghề đầu tư – kinh doanh có điều kiện (1). Quy định này không phải chỉ riêng Việt Nam mới áp dụng, mà trên thực tế, hầu hết các quốc gia đều có quy định về điều kiện để đầu tư (2) trong một số lĩnh vực, ngành, nghề mà từng quốc gia đó cho là có những ảnh hưởng quan trọng đến xã hội, kinh tế, an ninh của đất nước. Trong chừng mực nào đó, điều kiện đầu tư hay đầu tư có điều kiện còn được các tổ chức quốc tế đặt ra cho các thành viên trong tổ chức đó phải tuân thủ.

Các quy định hiện hành của Việt Nam về lĩnh vực ĐT có điều kiện

Hiện tại, những lĩnh vực ĐT có điều kiện được quy định trong các văn bản chủ yếu sau:

Điều 29 Luật ĐT 2005 qui định 9 lĩnh vực ĐT có điều kiện áp dụng chung cho cả nhà ĐT nước ngoài và nhà ĐT trong nước: Lĩnh vực tác động đến quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; Lĩnh vực tài chính, ngân hàng; Lĩnh vực tác động đến sức khỏe cộng đồng; Văn hóa, thông tin, báo chí, xuất bản; Dịch vụ giải trí; Kinh doanh bất động sản; Khảo sát, tìm kiếm, thăm dò, khai thác tài nguyên thiên nhiên; môi trường sinh thái; Phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo; Một số lĩnh vực khác theo quy định của pháp luật.

Phụ lục III ban hành kèm theo Nghị định số 108/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy định 14 lĩnh vực ĐT có điều kiện áp dụng cho nhà ĐTNN: Phát thanh, truyền hình. Sản xuất, xuất bản và phân phối các sản phẩm văn hoá. Khai thác, chế biến khoáng sản. Thiết lập hạ tầng mạng viễn thông, truyền dẫn phát sóng, cung cấp dịch vụ viễn thông và internet. Xây dựng mạng bưu chính công cộng; cung cấp dịch vụ bưu chính, dịch vụ chuyển phát. Xây dựng và vận hành cảng sông, cảng biển, cảng hàng không, sân bay. Vận tải hàng hoá và hành khách bằng đường sắt, đường hàng không, đường bộ, đường biển, đường thuỷ nội địa. Đánh bắt hải sản. Sản xuất thuốc lá. Kinh doanh bất động sản.ĐT trong lĩnh vực xuất khẩu, nhập khẩu, phân phối. Giáo dục, đào tạo. Bệnh viện, phòng khám. Các lĩnh vực ĐT khác trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên cam kết hạn chế mở cửa thị trường cho nhà ĐTNN..

Biểu cam kết cụ thể về thương mại và dịch vụ của Việt Nam với WTO có quy định các biện pháp hạn chế tiếp cận thị trường đối với các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài trong 14 ngành dịch vụ.

Tiếp tục triển khai thực hiện cam kết, hiện nay Chính phủ đang chỉ đạo các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành tiến hành nghiên cứu, rà soát và đề xuất việc thực hiện các cam kết của Việt Nam với WTO theo hướng rút ngắn thời gian hạn chế mở cửa và mở rộng tỷ lệ vốn tham gia đối với một số ngành nghề, lĩnh vực. Dự kiến những dịch vụ đó là: Cho thuê máy móc, thiết bị; nghiên cứu thị trường; phân tích và kiểm định kỹ thuật; tư vấn khoa học, kỹ thuật; sửa chữa, bảo dưỡng máy móc, thiết bị; khai thác mỏ; giáo dục; môi trường; y tế, xã hội; khách sạn và nhà hàng.

Thực hiện quy định về điều kiện ĐT

Sau hơn hai năm chính thức là thành viên của WTO, Việt Nam đã áp dụng nhiều nội dung cam kết theo đúng quy định và lộ trình thực hiện được rút ngắn, thông thoáng và dễ dàng hơn cho các nhà ĐT. Đặc biệt, đáng ghi nhận là việc quy định rõ ràng tỉ lệ vốn của nhà ĐTNN được phép tham gia ĐT tuỳ thuộc vào từng lĩnh vực ĐT. Ví dụ, trong lĩnh vực hàng hải, nhà ĐTNN không được sở hữu quá 49%, hay trong ngành viễn thông mức khống chế là không quá 51% áp dụng đối với nhà ĐTNN kinh doanh trong lĩnh vực đường trục.

Continue reading

LUẬT ĐẤU THẦU VÀ LUẬT ĐẦU TƯ “RÀNG BUỘC” CÁC DOANH NGHIỆP TRONG NƯỚC?

TRẦN THỊ SÁNH

Theo quy định của Luật Đấu thầu hiện hành, việc đấu thầu EPC (tổng thầu) hoặc từng gói thầu của các dự án đầu tư xây dựng được chia làm hai giai đoạn. Giai đoạn sơ tuyển về năng lực, kinh nghiệm và giai đoạn đấu thấu thương mại và giá. Theo phương thức lựa chọn này thì hầu hết các nhà thầu đều vượt qua giai đoạn 1, vì các nhà thầu có thể thuê các nhà tư vấn có kinh nghiệm làm bài. Giai đoạn 2 là đấu giá. Thực chất đấu thầu ở Việt Nam hiện nay là đấu về giá. Với cách làm này thì không có nhà thầu nào có thể vượt qua các nhà thầu Trung Quốc.

Thực chất là đấu về giá

Nhiều năm qua, Chính phủ Trung Quốc đã có nhiều chính sách ưu đãi, trợ giá cho các doanh nghiệp trong nước, đặc biệt với các tập đoàn, các doanh nghiệp thực hiện các dự án ở nước ngoài, nhằm đảm bảo đời sống và việc làm cho công nhân của họ. Chính vì vậy, nhà thầu Trung Quốc luôn bỏ giá thấp hơn các nhà thầu của các nước khác. Với hàng loạt dự án do Trung Quốc làm tổng thầu ở Việt Nam hiện nay, họ đã đưa sang nước ta hàng ngàn lao động phổ thông, trong đó có cả nấu ăn, vệ sinh, bảo vệ… như ở Nhà máy nhiệt điện Quảng Ninh, Hải Phòng, Cao Ngạn, xi măng Nghi Sơn, Đồng Bành, đạm Cà Mau, Ninh Bình…, trong khi người lao động nước ta đang thất nghiệp. Một lượng vốn rất lớn để tạo ra một khối lượng công việc, giá trị sản xuất, doanh thu và thị trường công ăn việc làm của chúng ta trong lĩnh vực này đều do người Trung Quốc thực hiện. Vì thế hậu quả của những tác động và hệ luỵ của nó đối với nền kinh tế, xã hội nước ta là điều tất yếu.

Theo ông Phạm Hùng – Tổng giám đốc Lilama: Hiện chúng ta đang vận dụng một cách cứng nhắc và máy móc Luật Đấu thầu của các nước và ngân hàng tư bản mà chúng ta quên rằng hình thức sở hữu của các nước này so với nước ta đang hoàn toàn khác. Các nhà đầu tư của các nước tư bản là các nhà đầu tư tư nhân. Nhà máy, dự án là sở hữu riêng của họ, trong khi ở nước ta tài sản, của cải, nhà máy, dự án là của Nhà nước. Khi chúng ta chưa đa dạng và thay đổi hình thức sở hữu mà lại áp dụng vội vàng và cứng nhắc Luật Đấu thầu của nước ngoài sẽ làm thiệt hại đến quyền lợi quốc gia, cản trở quá trình công nghiệp hóa và xây dựng các tập đoàn công nghiệp trong nước.

Continue reading

NHÌN NHẬN ĐÚNG VỀ CHỈ SỐ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ

LÊ BÌNH

Ngân hàng Deutsche Bank vừa công bố báo cáo đánh giá mức độ hấp dẫn của thị trường chứng khoán Việt Nam, trong đó, đặc biệt quan tâm đến chi phí sử dụng vốn (COE). Theo đó, hiện chi phí sử dụng vốn trong đầu tư chứng khoán tại nước ta ở mức 17% . Đây là mức chi phí sử dụng vốn cao thứ hai trong khu vực châu Á, sau chi phí sử dụng vốn của thị trường chứng khoán Pakistan và cao hơn các nước khác trong khu vực Đông Nam Á.

So sánh với 6 tháng trước, mức chi phí sử dụng vốn này tăng 0,65%, tăng cao thứ hai trong khu vực châu Á, sau Trung Quốc. Bên cạnh đó, chỉ số phần bù rủi ro vốn cổ phần cũng đã tăng lên mức 6,5% chi phí vốn của nhà đầu tư. Với những thông số này nhiều chuyên gia đề nghị cần nhìn nhận đúng về sức hấp dẫn của thị trường chứng khoán nước ta với các nhà đầu tư nước ngoài. Bởi lãi suất mong muốn của nhà đầu tư trên tổng vốn đầu tư tăng lên mức 17% cũng là quá cao trong giai đoạn thị trường chứng khoán nước ta phát triển tốt nhất.

Hơn nữa, trên thị trường chứng khoán thế giới, COE không chỉ là tính toán đơn thuần về chi phí vốn của thị trường mà khi xếp cạnh các nước khác nó trở thành một thước đo đánh giá lợi thế so sánh của thị trường này so với thị trường khác. COE cũng thể hiện kỳ vọng tối thiểu của nhà đầu tư chứng khoán khi đầu tư vào cổ phiếu để bù đắp lại những rủi ro của thị trường. Nghĩa là dù nhà đầu tư nước ngoài có kỳ vọng mức lợi nhuận cao đối với thị trường chứng khoán nước ta vẫn không thể yên tâm. Do yếu tố này chịu ảnh hưởng của tâm lý nhà đầu tư và phụ thuộc vào nhiều yếu tố bên ngoài như tăng trưởng kinh tế, các chính sách của Chính phủ, xu hướng đầu tư… Và trong mỗi thời điểm khác nhau của nền kinh tế thế giới, CEO có ý nghĩa tương đối khác nhau. Trong thời kỳ tăng trưởng mạnh của nền kinh tế thế giới, thị trường mới nổi trở thành điểm đến hẫp dẫn của nhà đầu tư vì tiềm năng của thị trường này thường được đánh giá là đủ để bù đắp những rủi ro thể hiện trong chi phí vốn. Tuy nhiên, khi kinh tế thế giới suy giảm, các thị trường này sẽ bị ảnh hưởng mạnh.

Continue reading

ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI NĂM 2008

NGUYỄN THÚY HƯƠNG – Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Mặc dù ảnh hưởng của suy thoái kinh tế thế giới khiến nền kinh tế nước ta gặp phải nhiều bất ổn, như chỉ số giá tiêu dùng cao, môi trường kinh doanh kém thuận lợi so với năm trước… năm 2008 vẫn đi qua với kết quả “ngoạn mục” về thu hút và sử dụng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của cả nước, đạt khoảng 65 tỉ USD – mức cao nhất từ trước tới nay. Điều này khẳng định, Việt Nam vẫn là điểm hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài.

1. Chỉ tính riêng 11 tháng đầu năm 2008, cả nước đã thu hút trên 60 tỉ USD, trong đó cấp mới đạt 59 tỉ USD (1.059 dự án), bằng 82,5% về số dự án và tăng gấp 7 lần về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2007; số còn lại là vốn đầu tư tăng thêm của một số dự án mở rộng sản xuất, kinh doanh. Quy mô vốn bình quân đầu tư của một dự án đạt 55,7 triệu USD/dự án thể hiện số lượng dự án có quy mô vốn lớn tăng hơn nhiều so với năm 2007 (12,2 triệu USD/dự án). Điều này thể hiện sự tin tưởng của các nhà đầu tư nước ngoài đối với môi trường đầu tư nước ta hiện nay. Đây là kết quả đáng khích lệ đối với các nhà hoạch định chính sách FDI, là thành quả của Chính phủ trong nỗ lực chỉ đạo, điều hành, của các cơ quan quản lý hoạt động FDI từ Trung ương đến địa phương trong việc tạo môi trường đầu tư – kinh doanh hấp dẫn, cởi mở, minh bạch và thông thoáng, phù hợp với cam kết quốc tế về giảm thiểu các khó khăn, vướng mắc cho nhà đầu tư. Bên cạnh đó còn là sự tích cực, chủ động trong thu hút và quản lý FDI bằng nhiều biện pháp theo hướng đơn giản thủ tục hành chính, hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho các dự án đầu tư đã được cấp phép nhanh chóng đi vào hoạt động kinh doanh hiệu quả, phát huy tính tự chủ và tự chịu trách nhiệm của doanh nghiệp.

2. Môi trường đầu tư – kinh doanh tại Việt Nam tiếp tục được cải thiện và được cộng đồng quốc tế đánh giá cao bởi việc hoàn thiện khung pháp luật về đầu tư ngày càng phù hợp với thông lệ quốc tế và khu vực. Chính sách phân cấp việc cấp giấy chứng nhận đầu tư và quản lý hoạt động FDI về địa phương đã tạo thế chủ động và tích cực cho cơ quan quản lý đầu tư các cấp trong thu hút và quản lý FDI bằng nhiều biện pháp theo hướng giảm thiểu thủ tục hành chính, hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho các dự án đầu tư đã được cấp phép nhanh chóng đi vào hoạt động kinh doanh hiệu quả, phát huy tính tự chủ và trách nhiệm của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, hoạt động xúc tiến đầu tư đã đổi mới cả về phương thức lẫn nâng cao chất lượng thông qua nhiều hoạt động, như triển khai thực hiện Quyết định số 109/2007/QĐ-TTg, ngày 17-7-2007 của Thủ tướng Chính phủ, về việc ban hành Quy chế xây dựng và thực hiện Chương trình xúc tiến đầu tư quốc gia giai đoạn 2007 – 2010; thành lập nhóm hỗ trợ dự án tiềm năng quy mô lớn, ảnh hưởng lớn tới địa phương; ban hành Danh mục dự án quốc gia kêu gọi FDI giai đoạn 2006 – 2010; xuất bản các tài liệu cập nhật, đĩa CD… liên quan tới hoạt động FDI; tổ chức nhiều hội thảo xúc tiến đầu tư ở trong và ngoài nước, kết hợp với các chuyến thăm và làm việc của lãnh đạo cấp cao Đảng, Nhà nước; chú trọng hướng thu hút đầu tư từ các tập đoàn đa quốc gia nhằm thu hút các dự án lớn, công nghệ cao hướng vào xuất khẩu.

Continue reading

NGHIÊN CỨU TÌNH HUỐNG TRONG ĐẦU TƯ TỰ DOANH

image LẠI HỒNG VÂN (Dịch theo William D. Bygrave)

Cuốn sách này là tuyển tập những câu chuyện về quá trình khởi nghiệp và phát triển kinh doanh trong những lĩnh vực mới, về các nhà đầu tư tự doanh, những cơ hội và yếu tố cần thiết để họ tạo dựng cơ nghiệp; những ví dụ thực tế nhằm bổ trợ cho cuốn “MBA trong tầm tay – Đầu tư tự doanh” đã được xuất bản tại Việt Nam. Bắt đầu một công việc kinh doanh là cả quá trình tổng thể, chúng ta không thể dễ dàng chia nhỏ thành những nguyên tắc, quy luật quản trị “cổ điển” như trong marketing và tài chính. Tuy nhiên, mỗi câu chuyện trong cuốn sách này đều có trọng tâm của nó.

Cuốn sách này bao quát tất cả những vấn đề về khách hàng, sản phẩm công nghiệp, kinh doanh sản xuất và dịch vụ, công nghệ cũ và công nghệ cao, các nguồn lực tài chính khác nhau bao gồm vốn của bản thân, gia đình, bạn bè, các nhà đầu tư cá nhân, các nhà quản lý vốn đầu tư mạo hiểm, thẻ tín dụng và ngân hàng. Những câu chuyện đều diễn ra vào những năm 90 và liên quan đến từng thời điểm có tính quyết định. Do các sinh viên thường quan tâm đến các nhà đầu tư tự doanh trong những câu chuyện đó nên chúng tôi đã lựa chọn những người mà chúng tôi tin rằng họ chính là những hình mẫu về tư cách đạo đức của đầu tư tư tự doanh.

JOHN ROUGHNEEN

John Roughneen tắt máy tính và nhìn chăm chăm vào chiếc màn hình tối đen, nơi mấy phút trước còn hiển thị menu khởi động Vending Tracker – chương trình chủ lực của Streamline Business Systems. Cuối năm 1991, John cùng cộng sự của mình – Glenn Butler đã sáng lập ra công ty Streamline nhằm mục đích phát triển phần mềm dành cho các nhà điều hành máy bán hàng tự động vừa và nhỏ. Khi đó, hầu hết các ông chủ những doanh nghiệp nhỏ vẫn còn quản lý, lập kế hoạch điều hành và thực hiện các giao dịch kế toán hoàn toàn bằng tay, thậm chí nhiều người còn chưa có lấy một chiếc máy tính cá nhân. Và lúc này đã là đầu năm 1993, sau hơn hai năm phát triển, phiên bản mới nhất của Tracker đã sẵn sàng để ra mắt. Với nhiều chức năng dành cho quản trị hàng tồn kho, kết toán doanh thu và hoa hồng, thực hiện được hơn 40 mẫu báo cáo kế toán và kiểm toán, hệ thống là sự kết hợp của rất nhiều đặc tính được chính những khách hàng tiềm năng và cả những người kinh doanh trong các lĩnh vực khác đưa ra. Điều đó khiến John và Butler tin tưởng rằng họ đã cho ra một sản phẩm đáp ứng được nhu cầu của thị trường ngách đặc biệt này. Tuy nhiên, doanh thu không đáng kể, còn nhiệm vụ đạt được doanh số đủ để thúc đẩy công việc kinh doanh phát triển vẫn là một mục tiêu đầy hứa hẹn song cũng rất khó thực hiện.

Continue reading