Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực xây dựng và bất động sản – THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA

NGUYỄN THANH NGA*  & A -LẾC-XƠ UA-REN**

Kể từ năm 2007, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam có mức tăng trưởng cao hơn hẳn so với các năm trước, đạt trên 57 tỉ USD (trong 9 tháng đầu năm 2008). So với các năm trước, vốn FDI năm 2008 có hai đặc điểm khác biệt: về quy mô, có rất nhiều dự án đăng ký trên một tỉ USD; về lĩnh vực đầu tư, FDI tập trung nhiều vào lĩnh vực xây dựng và phát triển bất động sản. Vậy thực trạng và những vấn đề gì đang đặt ra cho nền kinh tế nước ta?

Theo số liệu thống kê, các dự án lớn hàng tỉ USD cũng đã tập trung vào các lĩnh vực xây dựng và bất động sản bên cạnh lĩnh vực lọc dầu và khu liên hợp thép. Chỉ riêng 7 tháng đầu năm 2008, trong số 8 dự án trên một tỉ USD, chiếm ba phần tư tổng vốn đăng ký, thì 6 dự án về xây dựng và phát triển bất động sản. Điều không thể tránh khỏi là những dự án công nghiệp mới khác sẽ bắt đầu bằng việc xây dựng kết cấu hạ tầng. Trong trung hạn, những dự án FDI sẽ biến Việt Nam thành một “công trường” sôi động.

Ở Việt Nam nhu cầu đối với bất động sản vẫn còn cao hơn nhiều so với mức cung. Tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, tỷ lệ sử dụng các loại bất động sản đạt gần như 100%.

Đây là điều đáng mừng vì FDI tăng trong lĩnh vực xây dựng và phát triển bất động sản là phù hợp với nhu cầu phát triển của đất nước và với chính sách khuyến khích FDI của Chính phủ. Hiện nay, nhu cầu đối với các dự án bất động sản như nhà ở, khách sạn, văn phòng đều cao hơn nhiều so với mức cung. Mặc dù vào năm 2007, giá bán và thuê tất cả các loại bất động sản loại này và các khu đô thị tăng ít nhất là gấp đôi tại Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội, nhưng tỷ lệ sử dụng chúng vẫn đạt gần như 100%. Theo Chiến lược phát triển của Việt Nam, diện tích khu vực thành thị sẽ tăng từ 105.000 ha hiện tại lên 460.000 ha năm 2020 và tốc độ đô thị hóa sẽ tăng từ 28% hiện nay lên khoảng 45% vào năm 2025; dân số thành thị khi đó sẽ đạt 46 triệu người. Việt Nam sẽ phải xây dựng 35 triệu m2 nhà ở thành thị để tăng mức diện tích nhà ở lên 20 m2/người vào năm 2020. Nền kinh tế mở cửa hơn theo cam kết WTO và phát triển hơn theo định hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa cũng sẽ đẩy nhu cầu đối với các loại hình bất động sản tăng cao trong thời gian tới.

Continue reading

ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO LĨNH VỰC XÂY DỰNG VÀ BẤT ĐỘNG SẢN – THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA

NGUYỄN THANH NGA*  & A -LẾC-XƠ UA-REN**

Kể từ năm 2007, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam có mức tăng trưởng cao hơn hẳn so với các năm trước, đạt trên 57 tỉ USD (trong 9 tháng đầu năm 2008). So với các năm trước, vốn FDI năm 2008 có hai đặc điểm khác biệt: về quy mô, có rất nhiều dự án đăng ký trên một tỉ USD; về lĩnh vực đầu tư, FDI tập trung nhiều vào lĩnh vực xây dựng và phát triển bất động sản. Vậy thực trạng và những vấn đề gì đang đặt ra cho nền kinh tế nước ta?

Theo số liệu thống kê, các dự án lớn hàng tỉ USD cũng đã tập trung vào các lĩnh vực xây dựng và bất động sản bên cạnh lĩnh vực lọc dầu và khu liên hợp thép. Chỉ riêng 7 tháng đầu năm 2008, trong số 8 dự án trên một tỉ USD, chiếm ba phần tư tổng vốn đăng ký, thì 6 dự án về xây dựng và phát triển bất động sản. Điều không thể tránh khỏi là những dự án công nghiệp mới khác sẽ bắt đầu bằng việc xây dựng kết cấu hạ tầng. Trong trung hạn, những dự án FDI sẽ biến Việt Nam thành một “công trường” sôi động.

Ở Việt Nam nhu cầu đối với bất động sản vẫn còn cao hơn nhiều so với mức cung. Tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, tỷ lệ sử dụng các loại bất động sản đạt gần như 100%.

Đây là điều đáng mừng vì FDI tăng trong lĩnh vực xây dựng và phát triển bất động sản là phù hợp với nhu cầu phát triển của đất nước và với chính sách khuyến khích FDI của Chính phủ. Hiện nay, nhu cầu đối với các dự án bất động sản như nhà ở, khách sạn, văn phòng đều cao hơn nhiều so với mức cung. Mặc dù vào năm 2007, giá bán và thuê tất cả các loại bất động sản loại này và các khu đô thị tăng ít nhất là gấp đôi tại Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội, nhưng tỷ lệ sử dụng chúng vẫn đạt gần như 100%. Theo Chiến lược phát triển của Việt Nam, diện tích khu vực thành thị sẽ tăng từ 105.000 ha hiện tại lên 460.000 ha năm 2020 và tốc độ đô thị hóa sẽ tăng từ 28% hiện nay lên khoảng 45% vào năm 2025; dân số thành thị khi đó sẽ đạt 46 triệu người. Việt Nam sẽ phải xây dựng 35 triệu m2 nhà ở thành thị để tăng mức diện tích nhà ở lên 20 m2/người vào năm 2020. Nền kinh tế mở cửa hơn theo cam kết WTO và phát triển hơn theo định hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa cũng sẽ đẩy nhu cầu đối với các loại hình bất động sản tăng cao trong thời gian tới.

Continue reading

FDI TRONG ĐIỀU KIỆN VIỆT NAM GIA NHẬP WTO?

TS. NGUYỄN VĂN HOA – Bộ Công thương

I- Đặt vấn đề:
Nếu Việt Nam gia nhập WTO thì toàn bộ nền kinh tế sẽ có những thay đổi cực kỳ sâu sắc. Khi ấy đầu tư trực tiếp nước ngoài ( FDI ) sẽ có vai trò cực kỳ to lớn tác động mạnh mẽ đến sự tăng trưởng kinh tế xã hội Việt Nam. Hiện nay còn có nhiều cách nghĩ và hiểu khác nhau về vấn đề này .

II- Vai trò FDI ở Việt Nam ?
FDI được biết ở Việt Nam từ thời kỳ đổi mới đến nay. Nó được hiểu theo nhiều góc nhìn khác nhau.

Theo Quỹ Tiền tệ thế giới (IMF) thì FDI : “Đầu tư trực tiếp nhằm đạt được quyền lợi lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động trong một nền kinh tế khác với nền kinh tế nhà đầu tư. Định nghĩa này chỉ “ nghiêng” về quyền lợi của nhà đầu tư nước ngoài, không quan tâm đến lợi ích của nước chủ nhà tiếp nhận đầu tư.

Còn theo cách hiểu theo Luật đầu tư của Việt Nam thì FDI – Đầu tư nước ngoài(ĐTNN) là việc tổ chức, cá nhân nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền nước ngoài hoặc bất kỳ tài sản nào được chính phủ Việt Nam chấp nhận”.

FDI ở Việt Nam phải đáp ứng các mục đích sau đây:

-Thực hiện các chương trình kinh tế lớn, sản xuất hàng xuất khẩu và hàng thay thế hàng nhập khẩu;
-Sử dụng kỹ thuật cao, công nhân lành nghề, đầu tư theo chiều sâu để khai thác, tận dụng các khả năng và nâng cao công suất của các cơ sở kinh tế hiện có;
-Sử dụng nhiều lao động, nguyên liệu, và tài nguyên thiên nhiên sẵn có ở Việt Nam;
-Xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng;

Continue reading

GÓP Ý XÂY DỰNG THÔNG TƯ HƯỚNG DẪN THI HÀNH LUẬT ĐẦU TƯ

investments PGS TS PHẠM DUY NGHĨA – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội 

Khá bối rối trước 100 vấn đề đã được Ban soạn thảo đưa ra để gợi ý thảo luận xung quanh bản dự thảo văn bản hướng dẫn thi hành các nghị định liên quan đến Luật đầu tư 2005, tôi xin chọn một vài vấn đề dưới đây xin được trao đổi cùng quý vị.

Năng lực hướng dẫn của Bộ kế hoạch và đầu tư đã giảm đáng kể

Trong một cuộc tranh luận cách đây vài năm, do có nhiều người phê phán những bất cập của Luật đầu tư 2005, tôi đã đưa ra một quan sát rằng, luật quốc gia chỉ là một phần, khi quyền lực cấp Giấy chứng nhận đầu tư, quyền thu hồi và cấp quyền sử dụng đất đã được giao cho các tỉnh, thì dù pháp luật đầu tư có nhiều khiếm khuyết, song dưới áp lực cạnh tranh, các địa phương vẫn đua nhau mời gọi đầu tư, mời gọi nhượng quyền sử dụng đất cho các ông chủ tư bản để thu vén thêm cho công quỹ địa phương.

Continue reading

PHÁP LUẬT ĐẦU TƯ XÂY DỰNG Ở NƯỚC TA: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

TS. BÙI SĨ HIỂN – Bộ Xây dựng

Có một thực tế hiện nay là số lượng văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư xây dựng ở nước ta nhiều nhưng rất chồng chéo, thiếu tính đồng bộ, hệ thống. Quản lý nhà nước về hoạt động đầu tư nói chung, đầu tư xây dựng nói riêng, vẫn đang bộc lộ nhiều yếu kém. Phân tích về thực trạng và nguyên nhân của những hạn chế này, tác giả cho rằng, đã đến lúc chúng ta cần ban hành Luật Đầu tư xây dựng và quan trọng hơn là thực thi chúng một cách nghiêm chỉnh, minh bạch, tạo lực đẩy mới cho mọi thành phần kinh tế hoạt động trong lĩnh vực đầu tư xây dựng ở nước ta.

Hoạt động đầu tư xây dựng ở nước ta hiện nay đang được điều chỉnh bằng nhiều văn bản ở các cấp độ pháp lý khác nhau. Trong khi nội dung các văn bản pháp luật về đầu tư xây dựng hiện hành chưa bao quát một cách có hệ thống, đồng bộ và đầy đủ các hoạt động đầu tư xây dựng trong nước, khi chúng ta chưa có Luật Đầu tư để áp dụng chung cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế trong nước và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, thì Luật Khuyến khích đầu tư trong nước, Nghị quyết số 36/2004/QH11 về công tác đầu tư xây dựng cơ bản sử dụng vốn nhà nước và Nghị định số 16/2005/NĐ-CP ngày 07/02/2005 về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình được xem là những văn bản có tính pháp lý cao nhất, cùng với các văn bản khác do các bộ, ngành và địa phương ban hành, đã tạo thành một hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về đầu tư xây dựng làm cơ sở pháp lý để các cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức, cá nhân trong nước cũng như nước ngoài thực hiện việc đầu tư và quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng trên phạm vi cả nước. (Xem hộp 1) Continue reading

AN NINH TRONG THU HÚT ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

PGS., TS. NGUYỄN THƯỜNG LẠNG

Vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đang ngày càng có xu hướng tăng lên và ảnh hưởng của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đối với nền kinh tế Việt Nam ngày càng lớn. Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đang là động lực to lớn đối với sự phát triển của nền kinh tế và không thể bỏ qua ảnh hưởng của khu vực này đối với an ninh kinh tế và tài chính của Việt Nam. An ninh trong khu vực này, có ảnh hưởng lớn đến phúc lợi quốc gia và an ninh của dân cư. Đây là một vấn đề phức tạp, do đó, cần có sự phân tích, luận giải mối quan hệ giữa vấn đề thu hút đầu tư nước ngoài với vấn đề xây dựng hệ thống an ninh trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.

1. Quan niệm về an ninh trong thu hút đầu tư nước ngoài

Theo từ điển tiếng Anh kinh doanh (Longman), an ninh (security) là một thuật ngữ được sử dụng tuỳ thuộc vào góc độ xem xét. Thứ nhất, dưới góc độ cá nhân hoặc con người, an ninh là trạng thái không bị đe dọa mất việc làm mà không có lý do chính đáng hoặc không được bồi hoàn. Đây là khái niệm được sử dụng để chỉ an ninh về việc làm và gắn với chế độ an sinh xã hội. Thứ hai, dưới góc độ pháp lý, theo luật pháp Anh, an ninh là quyền chiếm hữu của một chủ sở hữu trong việc tiếp tục sử dụng hoặc sinh sống trên một tài sản được thuê sau khi kết thúc thời hạn thuê hoặc sau khi nhận được thông báo của chủ tài sản buộc người đi thuê phải rời khỏi nơi được thuê như hoạt động thuê ngắn hạn, thuê tài sản, đất và các công trình nông nghiệp, các cơ sở kinh doanh. Thứ ba, dưới góc độ tài chính – ngân hàng, thuật ngữ an ninh (security) được hiểu là một loại tài sản có giá trị mà người cho vay giao cho người đi vay để thực hiện ý định trả nợ như chứng chỉ sở hữu nhà ở, trái phiếu chính phủ và trái phiếu thương mại, các khoản nợ, cổ phiếu và cổ phần, hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, giấy chứng nhận sở hữu hàng hoá, hoặc sự bảo đảm của bên thứ ba. Nếu khoản nợ không đươc hoàn trả, người cho vay có quyền thu hồi nợ, các khoản lãi đến hạn và các khoản phí khác bằng cách bán chứng khoán để lấy tiền. Theo A. Maslow- người đưa ra thuyết nhu cầu của con người, an ninh là một nhu cầu cao hơn nhu cầu cơ bản của con người1. Đây cũng là nhu cầu gần như tự nhiên của con người.

Continue reading

VÀI NÉT VỀ ĐÀU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM

XT- VPNHNN

image Thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng từ năm 1986, nền kinh tế Việt Nam đã từng bước chuyển sang hoạt động theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập với nền kinh tế thế giới. Trong đó có việc hoàn thiện, nâng Điều lệ đầu tư năm 1977 thành bộ Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987, đã khẳng định sự đúng đắn của chủ trương, đường lối mở cửa kinh tế của Đảng. Nhờ đó, trong 20 năm qua, đầu tư nước ngoài đã không ngừng được mở rộng và phát triển, góp phần quan trọng vào những thành công của công cuộc đổi mới đất nước, cụ thể:

1. Tình hình thu hút vốn đầu tư nước ngoài từ 1988-2007

Cho đến cuối năm 2007, cả nước đã thu hút 9.500 dự án ĐTNN với tổng vốn đăng ký khoảng 98 tỉ USD. Trừ những dự án đã hết thời hạn hoạt động và giải thể trước thời hạn, hiện có 8.590 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký trên 83 tỉ USD. Riêng năm 2007 đã thu hút 20,3 tỉ USD, tăng gần 70% so năm 2006, gần bằng tổng mức ĐTNN trong 5 năm 2001-2005 và chiếm 20% tổng vốn ĐTNN trong 20 năm qua.

Sau 20 năm, vốn ĐTNN đã trải rộng khắp 64 tỉnh, thành phố trong nước, nhất là tại những địa bàn trọng điểm hoặc có lợi thế đầu tư, tập trung chủ yếu vào lĩnh vực công nghiệp (61% vốn đăng ký) và dịch vụ (34,4% vốn đăng ký). Trong đó, vùng kinh tế trọng điểm phía Nam thu hút 44,87 tỉ USD, chiếm 54%; vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc thu hút 24 tỉ USD, chiếm 27%; vùng kinh tế trọng điểm miền Trung thu hút 8,6 tỉ USD, chiếm 6% tổng vốn đăng ký.

Continue reading

ĐA DẠNG HÓA CÁC HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ: NHỮNG ĐIỀU CẦN TRÁNH

image NGUYỄN MINH PHONG

Việc đa dạng hoá đầu tư của các tập đoàn và doanh nghiệp, trong đó có doanh nghiệp nhà nước là xu thế tất yếu, xuất phát từ nhu cầu thực tiễn phát triển kinh doanh, từ sự xuất hiện cung cầu mới, từ xu hướng phát triển ngành và sự phát triển của khoa học công nghệ, cũng như từ sự gia tăng áp lực cạnh tranh giữa các đối thủ tiềm năng, buộc các doanh nghiệp phải bám sát thị trường và phải nhạy bén, năng động nắm bắt những thời cơ mới cho phép không ngừng mở rộng quy mô, tạo ra lợi nhuận cao và giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh.

1. Sự cần thiết và tác động hai mặt của đa dạng hóa đầu tư

Trong nền kinh tế hiện đại, đa dạng hoá đầu tư đã, đang và sẽ tiếp tục trở thành xu hướng phát triển ngày càng đậm nét của các tập đoàn kinh tế ở nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam.

Trên thực tế, Tập đoàn Bưu chính Viễn thông (VNPT), ngoài các sản phẩm, dịch vụ liên quan tới viễn thông và công nghệ thông tin, còn mở rộng sang lĩnh vực dịch vụ quảng cáo, kinh doanh bất động sản, cho thuê văn phòng; Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) ngoài lĩnh vực hoạt động truyền thống là sản xuất kinh doanh điện năng, viễn thông công cộng và cơ khí điện lực, còn đầu tư mở rộng sang lĩnh vực bất động sản, lĩnh vực tài chính – ngân hàng; Tập đoàn Cao su Việt Nam (VRG) cũng không bó khuôn trong lĩnh vực cao su, mà còn đầu tư vào ngành cơ khí, quản lý khai thác cảng biển, vận tải, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng, bất động sản, dịch vụ khách sạn, du lịch nội địa, quốc tế; Tập đoàn Vinashin ngoài lĩnh vực chuyên sâu của mình, cũng đã đầu tư vào dịch vụ vận tải biển, thuỷ điện, tài chính, chế tạo cơ khí…

Continue reading

PHÁP LUẬT DOANH NGHIỆP VÀ ĐẦU TƯ VỚI VẤN ĐỀ HỘI NHẬP

BÙI XUÂN HẢI

Hội nhập kinh tế quốc tế là một nội dung quan trọng của công cuộc đổi mới, nhất là khi chúng ta đã trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Pháp luật của chúng ta, nhất là pháp luật kinh doanh cũng nên được xây dựng gần hơn với pháp luật của các nền kinh tế phát triển. ở phạm vi hẹp, chúng tôi chỉ phân tích nguyên tắc đối xử quốc gia trong pháp luật doanh nghiệp và đầu tư; mô hình các tổ chức kinh doanh và quyền thành lập, góp vốn vào công ty của tổ chức để thấy pháp luật doanh nghiệp và đầu tư Việt Nam còn có những điểm cần bàn trong quá trình hội nhập.

1. Pháp luật doanh nghiệp và đầu tư với nguyên tắc đối xử quốc gia

Nguyên tắc đối xử quốc gia (the national treatment principle) là một nguyên tắc cơ bản trong quan hệ thương mại quốc tế của WTO. Cùng với nguyên tắc đối xử tối huệ quốc (most-favoured nation), nguyên tắc đối xử quốc gia được WTO coi là một trong những nguyên tắc làm nền tảng cho quan hệ thương mại giữa các thành viên của tổ chức này nhằm thực hiện mục tiêu không phân biệt đối xử trong quan hệ thương mại (trade without discrimination)[1]. Nguyên tắc đối xử quốc gia được cho là có nguồn gốc từ các thỏa thuận giữa các lãnh địa thành phố ở Italia từ thế kỷ thứ XI, rồi từ khi Thỏa thuận chung về Thuế quan và thương mại (the General Agreement on Tariffs and Trade GATT) ra đời, thì nguyên tắc đối xử quốc gia là một nguyên tắc quan trọng trong việc giải quyết vấn đề bảo hộ hay phân biệt đối xử[2]. Theo WTO, nguyên tắc này đòi hỏi sự đối xử của quốc gia đối với người nước ngoài và người trong nước bình đẳng như nhau (treating foreigners and locals equally), có nghĩa là đối xử với người nước khác như chính người dân nước mình (giving others the same treatment as ones own nationals). Hàng hóa trong nước và hàng hóa được nhập khẩu từ nước ngoài (ít nhất là khi đã vào thị trường nội địa), các dịch vụ, thương hiệu, bản quyền hay sáng chế từ nước ngoài cần được đối xử bình đẳng như của trong nuớc[3].

Continue reading

CHUYỂN ĐỔI DOANH NGHIỆP FDI CÒN NHIỀU VƯỚNG MẮC

THS. BÙI THANH LAM

Mặc dù thời hạn chót (hết tháng 7-2008 ) cho việc đăng ký lại/chuyển đổi doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam đã đến gần, nhưng theo ghi nhận của các cơ quan chức năng, hiện mới chỉ có gần 2% trong số hơn 6.000 doanh nghiệp đã đăng ký lại/chuyển đổi doanh nghiệp.

Mặc dù hành lang pháp lý về vấn đề này đã có nhưng còn nhiều vấn đề ảnh hưởng đến quyết định đăng ký lại/chuyển đổi của chủ đầu tư chưa được quy định đã tác động trực tiếp đến tiến độ dự kiến.
Thứ nhất, việc đăng ký lại, chuyển đổi doanh nghiệp làm thay đổi về mặt bản chất các quan hệ nội bộ và hoạt động sản xuất, kinh doanh thực tế của doanh nghiệp FDI, trong khi nhiều doanh nghiệp ngại có sự thay đổi. Việc đăng ký lại/chuyển đổi doanh nghiệp cũng có thể kéo theo sự thay đổi trong toàn bộ kết cấu nội bộ doanh nghiệp được Luật Đầu tư cũ điều chỉnh như quản trị, điều hành, kiểm soát nội bộ, cơ cấu, tỷ lệ tham gia hội đồng quản trị, ban điều hành… Ngoài ra, việc đăng ký lại/chuyển đổi doanh nghiệp còn kéo theo nhiều vấn đề liên quan đến các chi nhánh, trung tâm, cửa hàng trực thuộc.

Continue reading

VỀ BẢO LÃNH THỰC HIỆN NGHĨA VỤ TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM THAM GIA CÁC HỢP ĐỒNG PHỤ CỦA DỰ ÁN BOT CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI

THS. NGUYỄN THỊ LÁNG – Chi nhánh Văn phòng luật Pricewater house cooper Legal

Một trong những mục tiêu của pháp luật về đầu tư nước ngoài theo phương thức hợp đồng BOT là phải khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi đối với nhà đầu tư nước ngoài nhằm tối đa hóa tốc độ và phạm vi của dòng đầu tư nước ngoài vào Việt Nam cho sự phát triển các công trình cơ sở hạ tầng. Để thu hút hơn nữa đầu tư nước ngoài theo phương thức hợp đồng BOT, Nhà nước cần phải có các hình thức khuyến khích và một số hỗ trợ trực tiếp hoặc gián tiếp đối với các dự án BOT. Mức độ và loại hình hỗ trợ của mỗi Chính phủ nước chủ nhà tùy thuộc vào rủi ro có tính quốc gia, tính khả thi của dự án, nhu cầu của Nhà nước đó đối với dự án và vị trí có tính cạnh tranh của nước chủ nhà.

Xuất phát từ nhu cầu trên, Nhà nước ta đã ban hành Luật đầu tư nước ngoài quy định các biện pháp khuyến khích đầu tư và cụ thể hóa chúng tại Quy chế đầu tư theo Hợp đồng xây dựng – kinh doanh – chuyển giao, Hợp đồng xây dựng – chuyển giao – kinh doanh và Hợp đồng xây dựng – chuyển giao áp dụng cho đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ban hành kèm theo Nghị định 62/1998/NĐ-CP ngày 15/8/1998 của Chính phủ (Quy chế BOT). Theo đó các biện pháp khuyến khích đầu tư đối với dự án BOT bao gồm cả những biện pháp tài chính và hành chính. Các biện pháp này tập trung khuyến khích đầu tư nước ngoài vào những lĩnh vực đã được thể hiện trong các danh mục dự án khuyến khích và đặc biệt khuyến khích đầu tư, vào các địa bàn khuyến khích đầu tư.

Continue reading

HAI NỘI DUNG PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ GIỮA NHÀ ĐẦU TƯ TRONG NƯỚC VÀ NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI

PHÙNG THANH SƠN

Ngày 11/01/2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại lớn nhất thế giới, WTO. Một trong những nguyên tắc bắt buộc đối với chính sách kinh tế của các nước thành viên khi gia nhập WTO là không phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế với nhau, cũng như giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài, trừ những lĩnh vực ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Chính vì thế, trước khi trở thành thành viên của WTO, Việt Nam đã phải nội luật hóa nhiều nguyên tắc của luật pháp quốc tế bằng cách sửa đổi, bổ sung hàng loạt các luật, bộ luật của mình cho tương thích với luật pháp quốc tế. Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp ban hành năm 2005[1] là một trong những minh chứng cho điều đó. Trên nguyên tắc, hai đạo luật này đã không còn phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế cũng như nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài. Tuy vậy, nhưng thực tế pháp luật nước ta vẫn còn có sự phân biệt đối xử giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài:

Continue reading

PHÁP LUẬT DOANH NGHIỆP VÀ ĐẦU TƯ VỚI VẤN ĐỀ HỘI NHẬP

BÙI XUÂN HẢI

Hội nhập kinh tế quốc tế là một nội dung quan trọng của công cuộc đổi mới, nhất là khi chúng ta đã trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Pháp luật của chúng ta, nhất là pháp luật kinh doanh cũng nên được xây dựng gần hơn với pháp luật của các nền kinh tế phát triển. ở phạm vi hẹp, chúng tôi chỉ phân tích nguyên tắc đối xử quốc gia trong pháp luật doanh nghiệp và đầu tư; mô hình các tổ chức kinh doanh và quyền thành lập, góp vốn vào công ty của tổ chức để thấy pháp luật doanh nghiệp và đầu tư Việt Nam còn có những điểm cần bàn trong quá trình hội nhập.

1. Pháp luật doanh nghiệp và đầu tư với nguyên tắc đối xử quốc gia

Nguyên tắc đối xử quốc gia (the national treatment principle) là một nguyên tắc cơ bản trong quan hệ thương mại quốc tế của WTO. Cùng với nguyên tắc đối xử tối huệ quốc (most-favoured nation), nguyên tắc đối xử quốc gia được WTO coi là một trong những nguyên tắc làm nền tảng cho quan hệ thương mại giữa các thành viên của tổ chức này nhằm thực hiện mục tiêu không phân biệt đối xử trong quan hệ thương mại (trade without discrimination)[1].

Continue reading

GIẤY CHỨNG NHẬN ĐẦU TƯ CÓ THAY THẾ CHO GIẤY CHỨNG NHẬN ĐĂNG KÝ KINH DOANH ?

NGUYỄN PHƯƠNG LINH

Để gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) vào 11/2006, Việt Nam đã phải đàm phán, cam kết song phương và đa phương với các thành viên của WTO trên nhiều phương diện khác nhau, trong đó có phương diện luật pháp. Theo một lộ trình phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam và được WTO chấp nhận, Việt Nam cam kết hệ thống pháp luật của Việt Nam sẽ được sửa đổi cho phù hợp với thông lệ và luật pháp quốc tế. Do đó, trong năm 2005, Quốc hội đã xem xét và thông qua nhiều đạo luật quan trọng mà nổi bật nhất là Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư. Luật Doanh nghiệp (còn gọi là Luật Doanh nghiệp thống nhất) ra đời và có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2006 thay thế cho Luật Doanh nghiệp năm 1999, Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 2003 (trừ những quy định áp dụng cho các doanh nghiệp nhà nước nằm trong lộ trình phải chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần từ ngày 01/7/2006 đến ngày 01/7/2010) và các quy định về tổ chức và hoạt động tại Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (bao gồm cả Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 2000). Luật Đầu tư (còn gọi là Luật đầu tư chung) được ban hành và có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2006 thay thế cho Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và Luật Khuyến khích đầu tư trong nước năm 1998.

Continue reading

LUẬT ĐẦU TƯ VÀ NHỮNG BẤT CẬP

HOÀNG VĂN DỤ

Luật Đầu tư chung (ĐTC) là một trong hai luật kinh doanh quan trọng (cùng với Luật Doanh nghiệp thống nhất) để đẩy nhanh tốc độ phát triển khu vực kinh tế tư nhân cũng như đầu tư nước ngoài và góp phần kích thích tăng trưởng kinh tế. Luật ĐTC sẽ thay thế Luật Khuyến khích đầu tư trong nước và Luật Đầu tư nước ngoài, góp phần tạo khuôn khổ pháp lý thống nhất và phù hợp với thông lệ quốc tế cho các hoạt động đầu tư ở Việt Nam và từ Việt Nam ra nước ngoài.

Những bất cập về Luật Đầu tư chung

Luật Đầu tư chung (ĐTC) được Kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa XI thảo luận và thông qua vào tháng 11 – 2005. Trong quá trình thảo luận, có rất nhiều ý kiến chưa đồng tình ủng hộ, nên nhiều lúc tưởng chừng không thể thông qua vì trong Luật có quá nhiều bất cập. Thậm chí, Chủ t?ch Quốc hội Nguyễn Văn An khi điều khiển phiên thảo luận kỳ họp này cũng đã tuyên bố, các đại biểu cứ thảo luận kỹ, nếu chưa nhất trí thì chưa thông qua nhưng…cuối cùng vẫn thông qua.

Nhiều ý kiến của doanh nghiệp cũng như của các chuyên gia pháp luật, kinh tế cho rằng, các cơ chế quản lý như trong Luật ĐTC thể hiện sự can thiệp quá sâu của Nhà nước vào các hoạt động kinh doanh của nhà đầu tư. Những ý kiến đóng góp của các đại biểu không phải là không có lý, vì họ e ngại Luật ĐTC sẽ “đẻ” thêm giấy phép con, vẫn nặng về thủ tục là bước lùi so với trước…

Sau đây là một số bất cập trong Luật ĐTC:

– Luật ĐTC đã đưa ra tiêu chí mới để phân loại các dự án đầu tư và áp dụng thêm thủ tục đăng ký/cấp phép đầu tư đối với dự án đầu tư trong nước, đây là những thủ tục mà cho đến nay, nhà đầu tư trong nước không phải thực hiện. Như vậy, bên cạnh việc đăng ký thành lập doanh nghiệp, nhà đầu tư trong nước phải có nghĩa vụ đăng ký đầu tư đối với mọi dự án đầu tư mới. Hơn thế, những dự án đầu tư nào có giá trị trên 5 tỷ đồng mà thuộc loại dự án phổ thông sẽ phải được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (giấy CNĐKĐT), còn các dự án đầu tư thuộc ba nhóm còn lại phải được Nhà nước thẩm định trước khi cấp phép đầu tư.

Nhiều người cho rằng, nguy cơ ‘’đẻ’’ ra những giấy phép con, cản trở hoạt động của nhà đầu tư là không thể tránh khỏi. Bởi lẽ, muốn được cấp phép đầu tư phải thuê tư vấn độc lập thẩm định hiệu quả của dự án, phải có chứng nhận thẩm định chất lượng thiết bị nhập từ nước ngoài. Việc tạo ra những ‘’giấy phép con’’ thể hiện tư duy cũ của người quản lý đầu tư, không phù hợp với bối cảnh hội nhập. Xu hướng chung, quản lý đầu tư phải chuyển từ ‘’tiền kiểm’’ sang ‘’hậu kiểm’’, nhằm giảm thời gian và chi phí cho doanh nghiệp gia nhập thị trường. Tăng cường ‘’hậu kiểm’’, cơ quan quản lý sẽ phải chịu khổ và vất vả hơn trong việc thẩm định các yêu cầu đối với nhà đầu tư.

Chính vì thế, có ý kiến cho rằng, không phải cán bộ quản lý đầu tư không biết phiền toái của ‘’giấy phép con’’, thế nhưng, bằng ‘’giấy phép con’’, cơ quan quản lý đầu tư muốn nắm ‘’đằng chuôi’’, giành lấy sự an nhàn cho mình. ‘’Giấy phép con’’ có thể làm sống lại cơ chế ‘’xin- cho’’, tạo nên mảnh đất mầu mỡ cho tiêu cực, nhũng nhiễu phát sinh.

Nhà nước không nên can thiệp quá sâu vào hoạt động của doanh nghiệp mà chủ yếu để thị trường quyết định. Cụ thể, các doanh nghiệp làm ăn với nhau sẽ giám sát lẫn nhau, và họ sẽ biết ai để có thể ‘’chọn mặt gửi vàng’’!

Đáng lẽ, Luật ĐTC nên cho phép nhà đầu tư đăng ký dự án, đăng ký kinh doanh cùng một thời điểm và tự chịu trách nhiệm về tính trung thực của dự án, không cần đến sự thẩm tra của Nhà nước. Nếu trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp muốn đầu tư các dự án vượt ngoài phạm vi ngành nghề đã đăng ký thì buộc phải đăng ký bổ sung. Như thế, nhà đầu tư không cần đăng ký dự án, chỉ cần đăng ký kinh doanh, chịu trách nhiệm về dự án đầu tư ở những lĩnh vực ngành nghề đăng ký. Quản lý nhà nước về đầu tư không có nghĩa là cơ quan Nhà nước phải thẩm tra tính khả thi hay hiệu quả của dự án, vì không đủ nhân lực để làm thay chủ đầu tư. Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hồ Chí Minh đã kiến nghị: “Đòi hỏi giấy chấp thuận đầu tư sẽ hạn chế quyền tự chủ của doanh nghiệp, trong khi nhà đầu tư không cần đến loại giấy này”.

Theo quy định của Luật ĐTC thì những dự án phổ thông từ 5 tỷ đồng – 300 tỷ đồng phải làm nhiều thủ tục để xin Giấy chấp thuận đầu tư của cơ quan quản lý đầu tư và chịu thêm một cơ quan thanh tra mới là thanh tra đầu tư. Đây là những vấn đề nảy sinh mà Luật Khuyến khích đầu tư trong nước trước đây không qui định.

Trong khi đó, các doanh nghiệp hiện nay còn phải chịu sức ép từ các đơn vị thanh tra như: Tài chính, thuế, môi trường, xây dựng, sử dụng đất đai, lao động, hình sự, cứu hoả, thống kê… Ngoài ra, còn có các cơ quan thanh tra chuyên ngành về chứng khoán, bảo hiểm, ngân hàng, hàng hải, bưu chính viễn thông, vệ sinh an toàn thực phẩm…Người ta đã đặt câu hỏi, bất kỳ dự án đầu tư nào cũng đều phải chịu sự thanh tra của các tổ chức nói trên, không hiểu thanh tra sẽ thực hiện những công việc gì?

– Bất kỳ dự án đầu tư nào ở doanh nghiệp mà trị giá cổ phần nhà nước từ 100 tỷ đồng trở lên cũng được coi là dự án phổ thông có điều kiện. Như vậy cho dù giá trị dự án chỉ vài tỷ đồng cũng sẽ được coi là dự án phổ thông có điều kiện và buộc phải thẩm định bởi cơ quan Nhà nước để cho phép đầu tư. Điều này, Luật hiện hành cũng không qui định.

– Dự án thuộc lĩnh vực đầu tư có điều kiện được coi là dự án phổ thông có điều kiện. Như vậy là trong việc thành lập doanh nghiệp ở lĩnh vực đòi hỏi vốn pháp định (Luật Doanh nghiệp không quy định vốn pháp định), chứng chỉ hành nghề, giấy phép kinh doanh theo qui định hiện hành và theo Dự thảo Luật doanh nghiệp thống nhất thì nhà đầu tư còn phải lập dự án để xin thêm Giấy chấp thuận đầu tư và có thể còn phải được sự chấp thuận thêm của một vài cơ quan hành chính mới. Chẳng hạn như thành lập doanh nghiệp kiểm toán, qui định hiện hành chỉ đòi hỏi 3 kiểm toán viên có chứng chỉ hành nghề thì được thành lập doanh nghiệp, nếu theo như dự thảo thì nhà đầu tư còn phải lập dự án đầu tư để xin chấp thuận từ UBND tỉnh hoặc Bộ Kế hoạch và Đầu tư nữa…

– Bất kỳ dự án đầu tư nào có qui mô vốn trên 1.500 tỷ đồng đều được coi là dự án quan trọng và phải trình Chính phủ, so với trước có thể thêm vài cơ quan hành chính Nhà nước tham gia thẩm định dự án. Cụ thể, các dự án xây dựng đô thị mới, ngoài việc xin phép các cơ quan ban ngành của UBND tỉnh, Bộ Xây dựng, Bộ Tài nguyên Môi trường, bộ chủ quản, Tổng công ty Nhà nước thì nay có thể phải xin phép thêm Bộ Kế hoạch và Đầu tư….

– Dự án không sử dụng vốn Nhà nước có qui mô trên 800 tỷ đồng trong lĩnh vực năng lượng, cơ khí chế tạo, ximăng… được coi là dự án quan trọng và phải được thẩm định để cấp phép đầu tư và phải trình Chính phủ, so với trước sẽ thêm vài cơ quan hành chính tham gia xét duyệt dự án nữa. Điều đáng lưu ý là để thẩm định một dự án thì có thể phải chịu sự điều chỉnh của nhiều Luật chuyên ngành, như vậy là nhà đầu tư sẽ phải chuẩn bị nhiều bộ hồ sơ cho các cơ quan Nhà nước khác nhau.

– Mọi dự án đầu tư của doanh nghiệp có cổ phần chi phối của Nhà nước thì đều được coi như là dự án của doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước, thủ tục ra quyết định sẽ rất phức tạp vì doanh nghiệp đó bị coi là doanh nghiệp nhà nước.

Mục đích của cổ phần hoá là trao quyền tự chủ cho doanh nghiệp, giảm bớt sự can thiệp của các cơ quan nhà nước, nay chúng ta lại định áp đặt trở lại cơ chế quản lý doanh nghiệp Nhà nước cho các doanh nghiệp cổ phần hoá hay chăng?

– Việc qui định bất kỳ dự án đầu tư nào có vốn góp của Nhà nước, dù chỉ là thiểu số hoặc không đáng kể thì bắt buộc nhà đầu tư phải tổ chức giám định giá trị và chất lượng thiết bị nhập khẩu tạo tài sản cố định.

Các Luật hiện hành không qui định điều này, đây không phải là vấn đề kiểm soát đầu tư hay tăng cường quản lý nhà nước mà là sự không hiểu biết về quản lý nhà nước. Và điều đó sẽ cản trở đầu tư, hạn chế quyền kinh doanh của doanh nghiệp.

Về vấn đề này, Chủ nhiệm ủy ban Kinh tế và Ngân sách Nguyễn Đức Kiên cũng phải thừa nhận “Đúng là nay mai phải suy nghĩ sâu sắc hơn đối với dự án đầu tư, doanh nghiệp có vốn góp của Nhà nước. Nhà nước ‘’thò tay’’ đến đâu để không triệt tiêu quyền của Hội đồng quản trị và Ban giám đốc điều hành… Các đại biểu phản ánh thì mình cố gắng lắng nghe”.

– Nhiều người không tán thành việc qui định bất kỳ dự án nào được xây dựng mà Nhà nước có vốn góp dù chỉ là thiểu số hoặc không đáng kể thì việc lập, thẩm định, phê duyệt kỹ thuật, dự toán, tổng dự toán được thực hiện theo qui định của pháp luật về xây dựng. Nếu qui định như vậy thì đã áp đặt đối tượng doanh nghiệp này là doanh nghiệp nhà nước rồi, điều này hoàn toàn không có căn cứ.

– Tất cả các dự án đầu tư không phân biệt qui mô vốn, mà có cổ phần Nhà nước chiếm 30% trở lên thì phải thực hiện đấu thầu để lựa chọn nhà thầu thực hiện dự án theo qui định của pháp luật về đấu thầu. Như vậy, qui định này can thiệp quá sâu vào qui chế quản trị doanh nghiệp.

Tổng thư ký Hiệp hội các nhà đầu tư tài chính Việt Nam (VAFI) Nguyễn Hoàng Hải cho rằng: “Hàng ngàn doanh nghiệp cổ phần hoá mà Nhà nước nắm giữ 30% cổ phần trở lên sẽ phải chịu thêm nhiều giấy phép con khi toàn bộ các dự án đầu tư của doanh nghiệp phải trình lên bộ, UBND tỉnh, … quyết định. Đồng thời, họ còn phải mất những khoản tiền phi lý để thuê những tổ chức ‘chân gỗ’ đóng vai trò thẩm định và sẽ không tránh khỏi tình trạng nhiều doanh nghiệp tư vấn có quan hệ ‘ruột’ với cơ quan nhà nước…”. ngàn DN sẽ bị ác

– Luật vẫn còn sự phân biệt giữa doanh nghiệp trong nước và luật đầu tư nước ngoài. Điều này, Chủ nhiệm ủy ban Kinh tế và Ngân sách Quốc hội cũng thừa nhận: “ Nước nào cũng có một tí ưu tiên cho ‘’con đẻ’’ của mình”.

Sự kiện Luật ĐTC được Quốc hội thông qua và có hiệu lực thực hiện từ 1/7/2006, sẽ là một sự chuyển đổi môi trường rất lớn đối với các nhà đầu tư, doanh nghiệp trong nước.

SOURCE: TẠP CHÍ CÔNG NGHIỆP SỐ THÁNG 9/2006

 

LUẬT ĐẦU TƯ VÀ NHỮNG BẤT CẬP

Luật Đầu tư chung (ĐTC) là một trong hai luật kinh doanh quan trọng (cùng với Luật Doanh nghiệp thống nhất) để đẩy nhanh tốc độ phát triển khu vực kinh tế tư nhân cũng như đầu tư nước ngoài và góp phần kích thích tăng trưởng kinh tế. Luật ĐTC sẽ thay thế Luật Khuyến khích đầu tư trong nước và Luật Đầu tư nước ngoài, góp phần tạo khuôn khổ pháp lý thống nhất và phù hợp với thông lệ quốc tế cho các hoạt động đầu tư ở Việt Nam và từ Việt Nam ra nước ngoài.

Những bất cập về Luật Đầu tư chung.

Luật Đầu tư chung (ĐTC) được Kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa XI thảo luận và thông qua vào tháng 11 – 2005. Trong quá trình thảo luận, có rất nhiều ý kiến chưa đồng tình ủng hộ, nên nhiều lúc tưởng chừng không thể thông qua vì trong Luật có quá nhiều bất cập. Thậm chí, Chủ t?ch Quốc hội Nguyễn Văn An khi điều khiển phiên thảo luận kỳ họp này cũng đã tuyên bố, các đại biểu cứ thảo luận kỹ, nếu chưa nhất trí thì chưa thông qua nhưng…cuối cùng vẫn thông qua.

Nhiều ý kiến của doanh nghiệp cũng như của các chuyên gia pháp luật, kinh tế cho rằng, các cơ chế quản lý như trong Luật ĐTC thể hiện sự can thiệp quá sâu của Nhà nước vào các hoạt động kinh doanh của nhà đầu tư. Những ý kiến đóng góp của các đại biểu không phải là không có lý, vì họ e ngại Luật ĐTC sẽ “đẻ” thêm giấy phép con, vẫn nặng về thủ tục là bước lùi so với trước…

Sau đây là một số bất cập trong Luật ĐTC:

– Luật ĐTC đã đưa ra tiêu chí mới để phân loại các dự án đầu tư và áp dụng thêm thủ tục đăng ký/cấp phép đầu tư đối với dự án đầu tư trong nước, đây là những thủ tục mà cho đến nay, nhà đầu tư trong nước không phải thực hiện. Như vậy, bên cạnh việc đăng ký thành lập doanh nghiệp, nhà đầu tư trong nước phải có nghĩa vụ đăng ký đầu tư đối với mọi dự án đầu tư mới. Hơn thế, những dự án đầu tư nào có giá trị trên 5 tỷ đồng mà thuộc loại dự án phổ thông sẽ phải được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (giấy CNĐKĐT), còn các dự án đầu tư thuộc ba nhóm còn lại phải được Nhà nước thẩm định trước khi cấp phép đầu tư.

Nhiều người cho rằng, nguy cơ ‘’đẻ’’ ra những giấy phép con, cản trở hoạt động của nhà đầu tư là không thể tránh khỏi. Bởi lẽ, muốn được cấp phép đầu tư phải thuê tư vấn độc lập thẩm định hiệu quả của dự án, phải có chứng nhận thẩm định chất lượng thiết bị nhập từ nước ngoài. Việc tạo ra những ‘’giấy phép con’’ thể hiện tư duy cũ của người quản lý đầu tư, không phù hợp với bối cảnh hội nhập. Xu hướng chung, quản lý đầu tư phải chuyển từ ‘’tiền kiểm’’ sang ‘’hậu kiểm’’, nhằm giảm thời gian và chi phí cho doanh nghiệp gia nhập thị trường. Tăng cường ‘’hậu kiểm’’, cơ quan quản lý sẽ phải chịu khổ và vất vả hơn trong việc thẩm định các yêu cầu đối với nhà đầu tư.

Chính vì thế, có ý kiến cho rằng, không phải cán bộ quản lý đầu tư không biết phiền toái của ‘’giấy phép con’’, thế nhưng, bằng ‘’giấy phép con’’, cơ quan quản lý đầu tư muốn nắm ‘’đằng chuôi’’, giành lấy sự an nhàn cho mình. ‘’Giấy phép con’’ có thể làm sống lại cơ chế ‘’xin- cho’’, tạo nên mảnh đất mầu mỡ cho tiêu cực, nhũng nhiễu phát sinh.

Nhà nước không nên can thiệp quá sâu vào hoạt động của doanh nghiệp mà chủ yếu để thị trường quyết định. Cụ thể, các doanh nghiệp làm ăn với nhau sẽ giám sát lẫn nhau, và họ sẽ biết ai để có thể ‘’chọn mặt gửi vàng’’!

Đáng lẽ, Luật ĐTC nên cho phép nhà đầu tư đăng ký dự án, đăng ký kinh doanh cùng một thời điểm và tự chịu trách nhiệm về tính trung thực của dự án, không cần đến sự thẩm tra của Nhà nước. Nếu trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp muốn đầu tư các dự án vượt ngoài phạm vi ngành nghề đã đăng ký thì buộc phải đăng ký bổ sung. Như thế, nhà đầu tư không cần đăng ký dự án, chỉ cần đăng ký kinh doanh, chịu trách nhiệm về dự án đầu tư ở những lĩnh vực ngành nghề đăng ký. Quản lý nhà nước về đầu tư không có nghĩa là cơ quan Nhà nước phải thẩm tra tính khả thi hay hiệu quả của dự án, vì không đủ nhân lực để làm thay chủ đầu tư. Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hồ Chí Minh đã kiến nghị: “Đòi hỏi giấy chấp thuận đầu tư sẽ hạn chế quyền tự chủ của doanh nghiệp, trong khi nhà đầu tư không cần đến loại giấy này”.

Theo quy định của Luật ĐTC thì những dự án phổ thông từ 5 tỷ đồng – 300 tỷ đồng phải làm nhiều thủ tục để xin Giấy chấp thuận đầu tư của cơ quan quản lý đầu tư và chịu thêm một cơ quan thanh tra mới là thanh tra đầu tư. Đây là những vấn đề nảy sinh mà Luật Khuyến khích đầu tư trong nước trước đây không qui định.

Trong khi đó, các doanh nghiệp hiện nay còn phải chịu sức ép từ các đơn vị thanh tra như: Tài chính, thuế, môi trường, xây dựng, sử dụng đất đai, lao động, hình sự, cứu hoả, thống kê… Ngoài ra, còn có các cơ quan thanh tra chuyên ngành về chứng khoán, bảo hiểm, ngân hàng, hàng hải, bưu chính viễn thông, vệ sinh an toàn thực phẩm…Người ta đã đặt câu hỏi, bất kỳ dự án đầu tư nào cũng đều phải chịu sự thanh tra của các tổ chức nói trên, không hiểu thanh tra sẽ thực hiện những công việc gì?

– Bất kỳ dự án đầu tư nào ở doanh nghiệp mà trị giá cổ phần nhà nước từ 100 tỷ đồng trở lên cũng được coi là dự án phổ thông có điều kiện. Như vậy cho dù giá trị dự án chỉ vài tỷ đồng cũng sẽ được coi là dự án phổ thông có điều kiện và buộc phải thẩm định bởi cơ quan Nhà nước để cho phép đầu tư. Điều này, Luật hiện hành cũng không qui định.

– Dự án thuộc lĩnh vực đầu tư có điều kiện được coi là dự án phổ thông có điều kiện. Như vậy là trong việc thành lập doanh nghiệp ở lĩnh vực đòi hỏi vốn pháp định (Luật Doanh nghiệp không quy định vốn pháp định), chứng chỉ hành nghề, giấy phép kinh doanh theo qui định hiện hành và theo Dự thảo Luật doanh nghiệp thống nhất thì nhà đầu tư còn phải lập dự án để xin thêm Giấy chấp thuận đầu tư và có thể còn phải được sự chấp thuận thêm của một vài cơ quan hành chính mới. Chẳng hạn như thành lập doanh nghiệp kiểm toán, qui định hiện hành chỉ đòi hỏi 3 kiểm toán viên có chứng chỉ hành nghề thì được thành lập doanh nghiệp, nếu theo như dự thảo thì nhà đầu tư còn phải lập dự án đầu tư để xin chấp thuận từ UBND tỉnh hoặc Bộ Kế hoạch và Đầu tư nữa…

– Bất kỳ dự án đầu tư nào có qui mô vốn trên 1.500 tỷ đồng đều được coi là dự án quan trọng và phải trình Chính phủ, so với trước có thể thêm vài cơ quan hành chính Nhà nước tham gia thẩm định dự án. Cụ thể, các dự án xây dựng đô thị mới, ngoài việc xin phép các cơ quan ban ngành của UBND tỉnh, Bộ Xây dựng, Bộ Tài nguyên Môi trường, bộ chủ quản, Tổng công ty Nhà nước thì nay có thể phải xin phép thêm Bộ Kế hoạch và Đầu tư….

– Dự án không sử dụng vốn Nhà nước có qui mô trên 800 tỷ đồng trong lĩnh vực năng lượng, cơ khí chế tạo, ximăng… được coi là dự án quan trọng và phải được thẩm định để cấp phép đầu tư và phải trình Chính phủ, so với trước sẽ thêm vài cơ quan hành chính tham gia xét duyệt dự án nữa. Điều đáng lưu ý là để thẩm định một dự án thì có thể phải chịu sự điều chỉnh của nhiều Luật chuyên ngành, như vậy là nhà đầu tư sẽ phải chuẩn bị nhiều bộ hồ sơ cho các cơ quan Nhà nước khác nhau.

– Mọi dự án đầu tư của doanh nghiệp có cổ phần chi phối của Nhà nước thì đều được coi như là dự án của doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước, thủ tục ra quyết định sẽ rất phức tạp vì doanh nghiệp đó bị coi là doanh nghiệp nhà nước.

Mục đích của cổ phần hoá là trao quyền tự chủ cho doanh nghiệp, giảm bớt sự can thiệp của các cơ quan nhà nước, nay chúng ta lại định áp đặt trở lại cơ chế quản lý doanh nghiệp Nhà nước cho các doanh nghiệp cổ phần hoá hay chăng?

– Việc qui định bất kỳ dự án đầu tư nào có vốn góp của Nhà nước, dù chỉ là thiểu số hoặc không đáng kể thì bắt buộc nhà đầu tư phải tổ chức giám định giá trị và chất lượng thiết bị nhập khẩu tạo tài sản cố định.

Các Luật hiện hành không qui định điều này, đây không phải là vấn đề kiểm soát đầu tư hay tăng cường quản lý nhà nước mà là sự không hiểu biết về quản lý nhà nước. Và điều đó sẽ cản trở đầu tư, hạn chế quyền kinh doanh của doanh nghiệp.

Về vấn đề này, Chủ nhiệm ủy ban Kinh tế và Ngân sách Nguyễn Đức Kiên cũng phải thừa nhận “Đúng là nay mai phải suy nghĩ sâu sắc hơn đối với dự án đầu tư, doanh nghiệp có vốn góp của Nhà nước. Nhà nước ‘’thò tay’’ đến đâu để không triệt tiêu quyền của Hội đồng quản trị và Ban giám đốc điều hành… Các đại biểu phản ánh thì mình cố gắng lắng nghe”.

– Nhiều người không tán thành việc qui định bất kỳ dự án nào được xây dựng mà Nhà nước có vốn góp dù chỉ là thiểu số hoặc không đáng kể thì việc lập, thẩm định, phê duyệt kỹ thuật, dự toán, tổng dự toán được thực hiện theo qui định của pháp luật về xây dựng. Nếu qui định như vậy thì đã áp đặt đối tượng doanh nghiệp này là doanh nghiệp nhà nước rồi, điều này hoàn toàn không có căn cứ.

– Tất cả các dự án đầu tư không phân biệt qui mô vốn, mà có cổ phần Nhà nước chiếm 30% trở lên thì phải thực hiện đấu thầu để lựa chọn nhà thầu thực hiện dự án theo qui định của pháp luật về đấu thầu. Như vậy, qui định này can thiệp quá sâu vào qui chế quản trị doanh nghiệp.

Tổng thư ký Hiệp hội các nhà đầu tư tài chính Việt Nam (VAFI) Nguyễn Hoàng Hải cho rằng: “Hàng ngàn doanh nghiệp cổ phần hoá mà Nhà nước nắm giữ 30% cổ phần trở lên sẽ phải chịu thêm nhiều giấy phép con khi toàn bộ các dự án đầu tư của doanh nghiệp phải trình lên bộ, UBND tỉnh, … quyết định. Đồng thời, họ còn phải mất những khoản tiền phi lý để thuê những tổ chức ‘chân gỗ’ đóng vai trò thẩm định và sẽ không tránh khỏi tình trạng nhiều doanh nghiệp tư vấn có quan hệ ‘ruột’ với cơ quan nhà nước…”. ngàn DN sẽ bị ác

– Luật vẫn còn sự phân biệt giữa doanh nghiệp trong nước và luật đầu tư nước ngoài. Điều này, Chủ nhiệm ủy ban Kinh tế và Ngân sách Quốc hội cũng thừa nhận: “ Nước nào cũng có một tí ưu tiên cho ‘’con đẻ’’ của mình”.

Sự kiện Luật ĐTC được Quốc hội thông qua và có hiệu lực thực hiện từ 1/7/2006, sẽ là một sự chuyển đổi môi trường rất lớn đối với các nhà đầu tư, doanh nghiệp trong nước.

Hoàng Văn Dụ

TCCN số tháng 9/2006 (trang 54)

TÌNH HÌNH CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC ĐẾN CUỐI NĂM 2005

Cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước được tiến hành thí điểm từ tháng 6 năm 1992. Tính đến ngày 31/12/2005, cả nước đã cổ phần hóa được 2.935 doanh nghiệp nhà nước. Trong đó, doanh nghiệp thuộc các ngành công nghiệp, giao thông, xây dựng chiếm 66,0% ; ngành thương mại, dịch vụ chiếm 27,6%; ngành nông, lâm, ngư nghiệp chiếm 6,4%. Phân theo chủ sở hữu, doanh nghiệp thuộc các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chiếm 61,7%; thuộc các Bộ, ngành chiếm 29%; thuộc các tổng công ty 91 chiếm 9,3%. Phân theo quy mô vốn, doanh nghiệp có vốn nhà nước dưới 5tỷ đồng chiếm 54,0%; từ 5-10tỷ đồng chiếm 23,0%; trên 10tỷ đồng chiếm 23,0%.

Đơn vị có nhiều doanh nghiệp được cổ phần hóa là các Bộ; Bộ Công nghiệp, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Xây dựng, Giáo thong vận tải; thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội; các tỉnh: Khánh Hòa, Nam Định; Hải Phòng, Quảng Ninh, Nghệ An, Thanh Hóa; các tổng công ty: Bưu chính viễn thông, Hóa chất. Tuy nhiên, có nhiều đơn vị triển khai cổ phần hóa chậm như các Tổng công ty: Công nghiệp tàu thủy, Xi măng, Dầu khí; các tỉnh: Cà Mau, Kiên Giang, Lai Châu.

Công tác sắp xếp và cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước được đẩy mạnh hơn sau khi Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án tổng thể sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước của các Bộ, ngành, địa phương, Tổng công ty 91 theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 3 và Nghị quyết Trung ương 9 (khóa IX). Giai đoạn này (2001-2005), cả nước sắp xếp được 3.590 doanh nghiệp nhà nước, trong đó đã cổ phần hóa 2.347 doanh nghiệp nhà nước, bằng gần 80% toàn bộ doanh nghiệp đã cổ phần hóa; hoàn thành kế hoạch cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước theo đề án tổng thể sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt (2.347 doanh nghiệp /2.258 doanh nghiệp).

Nhìn chung các doanh nghiệp sau cổ phần hóa hoạt động có hiệu quả hơn. Theo báo cáo của các Bộ, ngành địa phương về kết quả hoạt động của 850 doanh nghiệp cổ phần hóa đã hoạt động trên một năm cho thấy: vốn điều lệ bình quân tăng 44%; doanh thu bình quân tăng 23,6%; lợi nhuận thực hiện bình quân tăng 139,76%; trên 90% số doanh nghiệp sau cổ phần hoạt động kinh doanh có lãi; nộp ngân sách bình quân tăng 24,9%; thu nhập của người lao động bình quân tăng 12%; số lao động tăng bình quân 6,6%; cổ tức bình quân đạt 17,11%. Cổ phần hóa tạo điều kiện pháp lý và vật chất để người lao động nâng cao vai trò làm chủ trong doanh nghiệp.

Tuy đạt được những hiệu quả đáng ghi nhận nêu trên nhưng so với yêu cầu và mục tiêu của Nghị quyết Trung ương 9 khóa IX thì việc cổ phần hóa, sắp xếp các doanh nghiệp còn gặp phải những hạn chế sau:

– Việc cổ phần hóa, sắp xếp các doanh nghiệp có quy mô lớn, trong đó các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính, ngân hang thực hiện còn chậm.

– Các doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hóa chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ và việc huy động vốn trong quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước còn hạn chế. Thời kỳ đầu do chưa khuyến khích việc bán cổ phần ra bên ngoài nên số vốn huy động ngoài xã hội vào sản xuất, kinh doanh còn hạn chế. Chưa có doanh nghiệp nào tính giá trị quyền sử dụng đất vào giá trị doanh nghiệp khi cổ phần hóa.

– Thời gian thực hiện cổ phần hóa một doanh nghiệp còn dài làm tiến độ cổ phần hóa chậm.

– Vốn nhà nước còn chiếm tỷ trọng lớn trong vốn điều lệ ở nhiều doanh nghiệp không thuộc diện cần giữ cố phần chi phối, phổ biến nhất là trong các tổng công ty nhà nước thuộc các ngành xây dựng, giao thong. Việc thu hút vốn cổ đông ngoài doanh nghiệp mới đạt 24,1% vốn điều lệ; mới có trên 20 công ty có cổ đông là nhà đầu tư nước ngoài; các cổ đông chiến lược vì thế cũng không có nhiều cơ hội để tham gia vào phát triển sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Việc người lao động trong một số doanh nghiệp bán bớt cổ phần ưu đãi sau khi mua đã làm giảm tác dụng của chính sách khuyến khích người lao động có cổ phần trong doanh nghiệp cổ phần hóa.

– Nhiều công ty cổ phần chưa có sự đổi mới thực sự trong quản trị công ty; phương pháp quản lý, lề lối làm việc, tư duy quản lý vẫn còn như doanh nghiệp nhà nước. Hạn chế này rõ nhất là ở những doanh nghiệp mà Nhà nước còn giữ cố phần chi phối, ban lãnh đạo của doanh nghiệp đều tư doanh nghiệp nhà nước trước đó chuyển sang.

– Trong một số công ty cổ phần, người lao động – cổ đông do nhận thức chưa đầy đủ về quyền và nghĩa vụ của mình, phần do sự hiểu biết pháp luật về công ty cổ phần còn hạn chế, nên có nơi quyền làm chủ chưa được phát huy, ngược lại có nơi lạm quy định của pháp luật gây khó khăn cho công tác quản lý của Hội đồng quản trị, sự điều hành của giám đốc. Nhiều nội dung của cơ chế, chính sách quản lý công ty cổ phần như: chính sách tiền lương, tiền thưởng … vẫn còn áp dụng như doanh nghiệp nhà nước.

– Một số công ty cổ phần kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh đạt thấp, chủ yếu là các doanh nghiệp hoạt động trong những ngành, lĩnh vực điều kiện phát triển khó khăn, công nghệ lạc hậu, lại không được xử lý dứt điểm những tồn tại về tài chính khi còn là doanh nghiệp nhà nước.

Về phương hướng, nhiệm vụ cổ phần doanh nghiệp nhà nước giai đoạn 2006-2010: Tiếp tục cổ phần hóa các công ty nhà nước độc lập thuộc các Bộ, địa phương; Đẩy mạnh sắp xếp, cổ phần các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước; Cổ phần hóa các ngân hàng thương mại, các công ty bảo hiểm.

ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI TP.HCM

http://www.dbnd.hochiminhcity.gov.vn

TIẾP CẬN ĐẤT ĐAI: NHỮNG KHÓ KHĂN CỦA KHU VỰC DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN

Hàng năm, một số lượng lớn doanh nghiệp (DN) mới ra đời làm gia tăng nhu cầu đối với đất cho mục đích công nghiệp và thương mại để xây dựng nhà xưởng, văn phòng, các điểm bán lẻ v.v… Tiếp cận đất với giá cả minh bạch, thủ tục đơn giản là tương đối khó khăn đối với khối DN tư nhân hiện nay. Bản tin này sẽ đề cập một số cản trở về mặt chính sách và thực tế triển khai mà các DN tư nhân đang vướng phải khi tiếp cận đất đai phục vụ mục đích sản xuất kinh doanh.

Nguồn cung đất rất hạn chế

Theo nhiều cuộc thăm dò DN trong nước, sự khan hiếm đất dành cho kinh doanh cũng như tác động của sự thiếu hụt này lên giá cả được coi là hai cản trở đối với sự tăng trưởng của DN. Nhiều DN mong muốn được giao đất hoặc thuê đất từ Nhà nước (thông qua chính quyền các Tỉnh) để đảm bảo mảnh đất mình được sử dụng đã “nằm trong quy hoạch”, không bị đòi lại trước thời hạn và có thể yên tâm đầu tư xây dựng nhà xưởng. Tuy nhiên vì nhiều lí do khác nhau, quỹ đất công rất hạn chế và kênh giao đất hay thuê đất trực tiếp từ chính quyền Tỉnh hầu như chỉ dành cho các DN quy mô lớn (đa phần là các dự án đầu tư nước ngoài có nhu cầu lớn về diện tích đất) – các DN tư nhân không tận dụng được kênh này. Khảo sát của IFC/FIAS về kinh nghiệm tiếp cận đất đai của doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) cho thấy cứ 4 DN thì chỉ có 1 DN được giao đất hay thuê đất trực tiếp từ Nhà nước và 75% số DN đang trong thời kỳ tăng trưởng thừa nhận rào cản lớn nhất đối với sự phát triển của họ là việc thiếu đất.

Thông tin về thị trường đất chưa hiệu quả

Chỉ số minh bạch của thị trường bất động sản toàn cầu (The Real Estate Transparency Index 2006), do tập đoàn Jones Lang LaSalle thực hiện, xếp Việt Nam là 1 trong 3 nước (Việt Nam, Venezuela và Ai Cập) đứng cuối danh sách do thiếu minh bạch về thông tin thị trường cũng như bảo hộ các quyền liên quan đến bất động sản. Hơn một nửa số DN trong khảo sát PCI 2006 1 cũng khẳng định họ chủ yếu dựa vào nguồn thông tin của nhân viên trong công ty và quan hệ cá nhân để tìm đất xây dựng nhà xưởng – chưa có cơ chế hỗ trợ (dịch vụ) giúp DN tìm đất sản xuất. Khảo sát của IFC/FIAS cũng cho những phát hiện tương tự. Hơn 50% DNNVV được khảo sát cho rằng tìm được một mảnh đất thích hợp trên thị trường thứ cấp là rất khó, 66% DN thành công trong việc tìm đất đều phải thông qua kênh quan hệ cá nhân. Những phát hiện này cho thấy nếu chú trọng cải thiện cơ sở hạ tầng thông tin có thể có tác động tích cực đến tính cân xứng thông tin của thị trường đất, cụ thể là i) thiết lập khung pháp lý để hỗ trợ các hoạt động môi giới tư nhân đối với đất sản xuất; ii) cải thiện khả năng tra cứu quá trình giao dịch của thửa đất một cách nhanh chóng với chi phí thấp, iii) công bố công khai và minh bạch quy hoạch đất của các địa phương; và iv) cải thiện công tác quy hoạch sử dụng đất để quyền đối với mỗi mảnh đất cụ thể có thể được xác định dễ dàng bởi cả người mua và người bán trên thị trường.

Quyền và bảo hộ quyền đối với đất còn yếu

Đối với các nhà đầu tư, việc có đất mà không có quyền đầy đủ đối với mảnh đất đó chỉ có ý nghĩa rất hạn chế. Một mối lo ngại lớn đối với các nhà đầu tư hiện nay, đặc biệt là các nhà đầu tư nhỏ có cơ sở sản xuất kinh doanh nằm ngoài các khu công nghiệp, là sự thay đổi đến chóng mặt và trong nhiều trường hợp không thể đoán trước được của công tác quy hoạch sử dụng đất – hậu quả là họ có thể bị mất quyền sử dụng đất do quy hoạch thay đổi và đất của họ thuộc diện bị Nhà nước thu hồi. Những DN không đủ khả năng vào các khu công nghiệp hay đứng ra mua lại những mảnh đất lớn của các hộ gia đình thì giải pháp duy nhất là đi thuê lại của tư nhân hay thuê chui lại của các DNNN. Tuy nhiên, thuê của tư nhân hầu như là ngắn hạn và do đó không khuyến khích các nhà đầu tư bỏ tiền xây dựng hay cải tiến nhà xưởng. Thuê chui lại đất của DNNN cũng rất rủi ro do chưa có khung pháp lý điều chỉnh việc cho thuê lại này. Thực tiễn cho thấy DN cảm thấy bất an khi thuê đất từ khu vực tư nhân do bảo hộ của pháp luật đối với người có quyền sử dụng đến hiện tại lẫn người đi thuê ở nước ta là chưa đầy đủ và rõ ràng.

Ngoài ra, ở Việt Nam đất là tài sản quan trọng nhất để góp vốn liên doanh liên kết hoặc thế chấp vay vốn để phát triển sản xuất kinh doanh. Hiện nay nhà đầu tư trong nước còn gặp một số bất lợi khi thuê đất từ Nhà nước. Nhà đầu tư trong nước ít khi được thuê đất của Nhà nước trả tiền trước một lần mà nếu được không phải DNNVV nào cũng đủ khả năng trả hết một lần. Trong khi đó nếu họ thuê đất trả tiền hằng năm thì họ không có quyền gì đối với đất (ngoại trừ mục đích đã được xác định cho thời gian thuê), nhất là không có quyền bán hay dùng đất để thế chấp, trừ quyền được thế chấp các tài sản trên đất. Quy định này tạo nên một sự thiếu rõ ràng đối với quyền của chủ đất và chủ nợ – ngân hàng (làm thế nào ngân hàng có thể đảm bảo được quyền đối với tài sản trên đất nếu không có quyền đối với mảnh đất?) và do đó hạn chế khả năng DN tư nhân trong nước sử dụng đất đi thuê để được thế chấp vay vốn.

Thủ tục hành chính liên quan đến đất còn phức tạp

Một khảo sát DN của GTZ khẳng định quá trình tìm mặt bằng sản xuất là phức tạp nhất trong các loại thủ tục hành chính để thành lập DN, thủ tục kéo dài nhất và cũng tốn kém không ít. Thông thường để được Nhà nước giao đất, DN phải trải qua 7 thủ tục với thời gian trung bình mất khoảng 230 ngày và qua rất nhiều cơ quan liên quan.2 Các DNNVV trong khảo sát của IFC/FIAS cũng khẳng định trong khi có được đất trên thị trường thứ cấp chỉ mất chưa đến 7 ngày thì thủ tục đăng ký giao dịch và xin cấp GCNQSD đất rất phức tạp và tốn nhiều thời gian. Gần đây các trung tâm đăng ký đất được thành lập ở hầu hết các tỉnh thành đã góp phần giảm bớt thủ tục rườm rà nhưng vẫn chưa rút ngắn đáng kể thời gian cấp GCNQSD đất và các giao dịch liên quan đến đất. Mức độ không hài lòng của DN trong khảo sát IFC/FIAS đối với riêng quá trình cấp GCNQSD cũng khá cao, trong đó phần lớn DN phàn nàn về thời gian xử lý của cơ quan chính quyền là quá dài. Chỉ khoảng 50% DN khẳng định thời gian cấp GCNQSD dưới một tháng. Điều này là hoàn toàn trái với quy định về thời gian trong luật định và các văn bản thi hành.


(1) Khảo sát để xây dựng Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Việt Nam năm 2006, Dự án Nâng cao năng lực cạnh tranh Việt Nam(VNCI) và Phòng Thương mại & Công nghiệp Việt Nam(VCCI)
(2) Từ Ý tưởng Kinh doanh đến Hiện thực: chặng đường gian nan, GTZ/CIEM, tháng 7/2005. Bảy thủ tục đó là: 1) Tìm hiểu chính quyền cơ sở về việc xin giao đất hoặc thuê đất; 2) xin chấp thuận về nguyên tắc; 3) lập dự án và lên phương án đền bù; 4) phê duyệt dự án và phương án đề bù; 5) giải phóng mặt bằng; 6) bàn giao mặt bằng và ký hợp đồng thuê đất; 7) nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

SOURCE: http://www.vcci.com.vn

 

HUY ĐỘNG VỐN CỔ ĐÔNG THÁCH THỨC CỦA THỊ TRƯỜNG CỔ PHIẾU VIỆT NAM

Việc phát triển thị trường vốn đang là một trong những vấn đề ưu tiên hàng đầu của Chính phủ Việt Nam. Trong bài phát biểu tổng kết Hội nghị Chính phủ sơ kết 4 năm thi hành Luật Doanh nghiệp toàn quốc đầu tháng 11 năm 2003, Thủ tướng Phan Văn Khải đã nêu rõ điều cấp bách hiện nay là hình thành đồng bộ các loại thị trường, trong đó có thị trường vốn, để tạo dựng môi trường kinh doanh cho doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả. Tại hội nghị này, chính giới ngân hàng cũng đã khuyến cáo doanh nghiệp cần tìm nguồn vốn trung và dài hạn thông qua các kênh khác của thị trường vốn như trái phiếu hoặc cổ phiếu, vì với nguồn huy động từ tiền gửi tiết kiệm ngắn hạn, hoạt động chính của ngân hàng là cung cấp tín dụng ngắn hạn chứ không phải là dài hạn. Bản tin này đề cập đến các khó khăn trong việc phát triển thị trường cổ phiếu và huy động vốn cổ đông ở Việt Nam.

Số lượng và chất lượng hạn chế của cổ phiếu niêm yết trên Trung tâm Giao dịch Chứng khoán (TTGDCK)

Sau hơn 3 năm hoạt động, với 22 công ty được niêm yết vào thời điểm hiện tại, quy mô của TTGDCK Việt Nam còn quá nhỏ so với nhu cầu vốn của nền kinh tế.1 Tất cả các công ty niêm yết hiện đều là các công ty quy mô nhỏ với số vốn khoảng vài chục tỷ đồng, chưa đủ gây ra sức hút đối với các nhà đầu tư. Cho đến nay, chưa có DNNN lớn nào được Nhà nước cho phép bán cổ phần ra công chúng và niêm yết trên TTGDCK. Số lượng công ty tư nhân đạt tiêu chuẩn niêm yết cũng rất hạn chế. Hơn nữa, các công ty niêm yết trên thị trường hiện nay đều đã được cổ phần hóa trước khi niêm yết; chưa công ty nào được thành lập mới bằng cách huy động vốn qua TTCK (IPO). Nhiều nhà đầu tư cho rằng sự hạn chế từ phía cung này khiến thị trường không có sức hấp dẫn đối với họ.

Thiếu vắng sự tham gia tích cực của những nhà đầu tư tổ chức trên thị trường

Về phía cầu, những nhà đầu tư cổ phiếu trên TTGDCK Việt Nam hầu hết là cá nhân mang tính đầu cơ hơn là đầu tư, góp phần tạo tính bất ổn định của thị trường. Điều này làm cho chính các doanh nghiệp ngần ngại khi quyết định huy động vốn qua TTGDCK. Những nhà đầu tư tổ chức Việt Nam cũng như nước ngoài chưa tham gia nhiều vào mua cổ phiếu của các công ty niêm yết, một phần là do tính kém hấp dẫn của các cổ phiếu trên thị trường, nhưng cũng một phần do những khó khăn, phức tạp liên quan đến khuôn khổ pháp lý. Những khó khăn đó là khung pháp lý về bảo vệ quyền lợi cổ đông thiểu số chưa đầy đủ, thiếu các chuẩn mực về công khai minh bạch thông tin, các quy định chưa rõ ràng về chế độ thuế đối với nhà đầu tư, quỹ đầu tư nước ngoài, các hạn chế về hạn mức đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài, v.v.

Hoạt động của thị trường phi chính thức lớn hơn nhiều lần so với thị trường chính thức và không được kiểm soát thích đáng

Việc bán cổ phiếu cho công chúng ở bên ngoài TTGDCK (thị trường phi tập trung OTC) diễn ra khá sôi động, nhưng hiện chưa có quy định pháp luật nào kiểm soát hoạt động này. Theo ước tính, số lượng doanh nghiệp huy động vốn cổ đông từ công chúng trên thị trường không chính thức này gấp khoảng 30 lần số doanh nghiệp niêm yết chính thức.2 Trong số khoảng 1.000 DNNN đã được cổ phần hóa, chỉ có chưa tới 3% đã niêm yết, như vậy có thể cho rằng một số lượng lớn cổ phiếu của các doanh nghiệp này đang được mua bán trên thị trường không chính thức.

Ở các nền kinh tế phát triển, thị trường OTC thường cũng có quy mô lớn hơn gấp nhiều lần thị trường tập trung, song thị trường này được kiểm soát bởi các luật lệ khá chặt chẽ nhằm bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư. Các luật lệ này vẫn chưa được thiết lập ở Việt Nam. Lo lắng chung từ phía quản lý nhà nước cũng như giới doanh nghiệp là thị trường phi chính thức không được kiểm soát này có nguy cơ sụp đổ cao và có thể gián tiếp làm tổn hại cho thị trường chính thức mới manh nha phát triển.

Chiến lược phát triển thị trường vốn của Chính phủ và khuôn khổ pháp lý liên quan còn có nhiều bất cập

Mặc dù Chính phủ đã thể hiện quyết tâm phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam (qua Quyết định số 163/2003/QD-TTg ra ngày 5/8/2003 định ra các mục tiêu chiến lược như đưa tổng giá trị thị trường chứng khoán đạt 2-3% GDP vào năm 2005 và 10-15% GDP vào năm 2010), nhưng các quy định pháp lý hiện hành cũng như những biện pháp triển khai dường như lại không thống nhất với chiến lược này. Ví dụ như theo văn bản Nhà nước gần đây nhất về cổ phần hóa (Chỉ thị số 01 Chính phủ tháng 1 năm 2003), Nhà nước vẫn sẽ nắm giữ ít nhất 51% cổ phần đối với các DNNN cổ phần hóa có vốn trên 5 tỷ đồng và sản xuất kinh doanh có lãi. Như vậy, trong số gần 2.000 DNNN nằm trong kế hoạch cổ phần hóa đến năm 2005, sẽ có rất ít trường hợp mà cổ đông tư nhân được chiếm phần đa số trong các công ty lớn.

Quy mô nhỏ và mức độ công khai thông tin thấp của các doanh nghiệp Việt Nam

Các công ty tư nhân của Việt Nam mới phát triển trong vòng hơn một thập kỷ qua, đặc biệt là từ năm 2000. Vì vậy, hầu hết các công ty tư nhân đều ở một quy mô nhỏ hoặc rất nhỏ và thường được quản lý theo kiểu gia đình. Hơn nữa, nhiều doanh nghiệp tư nhân Việt Nam thường tìm cách duy trì chế độ nhiều sổ sách và không công khai thông tin. Ví dụ, số doanh nghiệp báo cáo tài chính theo quy định của Luật Doanh nghiệp chỉ chiếm khoảng 15-20%.3 Nguyên nhân của tình hình này không chỉ do ý định chủ quan, thói quen của doanh nghiệp mà còn do sự thiếu vắng khung pháp lý và các chuẩn mực về công khai thông tin, kiểm toán, kế toán… của Việt Nam. Các vấn đề này tiếp tục là trở ngại đối với nhà đầu tư và không khuyến khích được hoạt động huy động vốn cổ đông.

****************************

SOURCE: http://www.vcci.com.vn