CẨM NANG MUA BÁN, SÁP NHẬP TẠI VIỆT NAM

VIỆT NAM M&A NETWORK

1. Khái niệm Mua bán – Sáp nhập (M&A)

M &A (viết tắt của cụm từ tiếng Anh “Mergers and Acquisitions” có nghĩa là Mua bán và Sáp nhập) là hoạt động giành quyền kiểm soát một doanh nghiệp, một bộ phận doanh nghiệp thông qua việc sở hữu một phần hoặc toàn bộ doanh nghiệp đó. Như vậy, nguyên tắc cơ bản của M&A là phải tạo ra những giá trị mới cho các cổ đông mà việc duy trì tình trạng cũ không đạt được. Nói cách khác, M&A liên quan đến vấn đề sở hữu và thực thi quyền sở hữu để làm thay đổi hoặc  tạo ra những giá trị mới cho cổ đông.

Hộp 1.1. Những tình huống không được coi là M&A

•     Một doanh nghiệp mua cổ phần của một doanh nghiệp khác nhưng không tham gia hoạt động quản trị/điều hành, chỉ thuần túy nhận cổ tức hoặc kỳ vọng nhận thặng dư khi bán lại cổ phần cho nhà đầu tư khác;

•     Một quỹ đầu tư chứng khoán mua cổ phiếu (niêm yết hoặc OTC) của một doanh nghiệp đại chúng trên thị trường chứng khoán và cũng không tham gia quản trị/điều hành tại doanh nghiệp đó.

•     Một quỹ đầu tư mạo hiểm (venture capital) khi đầu tư vốn với tư cách cổ đông vào các doanh nghiệp và cử đại diện phần vốn góp tại Hội đồng quản trị nhưng vai trò của các thành viên này chủ yếu chỉ mang tính tư vấn, hỗ trợ cho các doanh nghiệp này với kỳ vọng khi doanh nghiệp phát triển sẽ có thể thoái vốn thông qua việc phát hành cổ  phiếu ra công chúng (IPO). Trường hợp doanh nghiệp do quỹ đầu tư vào không thành công thì khoản đầu tư trên có thể mất theo đúng tính chất “mạo hiểm” của quỹ.

Như vậy, hoạt động M&A không chỉ làm thay đổi tình trạng sở hữu của một doanh nghiệp đối với cổ phần hoặc tài sản mà còn làm thay đổi cả hoạt động quản trị/điều hành của doanh nghiệp. Tuy nhiên mức độ thay đổi về quản trị còn phụ thuộc vào các quy định của pháp luật, điều lệ doanh nghiệp và các thỏa thuận của các bên khi tiến hành thương vụ M&A. Continue reading

CÁC BƯỚC TRONG QUY TRÌNH MUA DOANH NGHIỆP

THS. NGUYỄN TRÍ THANH – Đại Học Học Hitotsubashi – Nhật bản & THS.BÙI ANH TUẤN – Đại học tổng hợp Columbia, Hoa Kỳ

y thuộc vào quy mô của giao dịch, mục đích của thương vụ, lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp mua và doanh nghiệp mục tiêu, các bước trong quy trình mua có thể khác nhau. Tuy nhiên, chúng tôi muốn giới thiệu các bước thường được bên mua thực hiện trong quy trình mua doanh nghiệp. Các phần việc này có thể áp dụng cho hầu hết các thương vụ mua doanh nghiệp diễn ra tại Việt nam cũng như trên toàn thế giới.

• Xác định mục tiêu của giao dịch mua doanh nghiệp;

• Xây dựng kế hoạch thực hiện

• Tập hợp đội ngũ;

• Xác định tiêu chí sàng lọc và lựa chọn doanh nghiệp mục tiêu

• Tìm kiếm doanh nghiệp mục tiêu;

• Tiếp cận doanh nghiệp mục tiêu;

• Thực hiện rà soát, thẩm định doanh nghiệp mục tiêu;

• Định giá và đàm phán

• Lựa chọn phương thức thực hiện giao dịch;

• Xác định nguồn tài chính tài trợ cho giao dịch;

• Tiến hành thương lượng cụ thể các điều khoản hợp đồng mua doanh nghiệp và kết thúc giao dịch

• Giai đoạn sau khi mua doanh nghiệp – Những điều cần lưu ý

Continue reading

MUA BÁN, SÁP NHẬP DOANH NGHIỆP: KHÔNG CẦN LUẬT RIÊNG?

NGUYỄN QUANG

Mới đây, một nhóm nghiên cứu gồm các luật sư đến từ 3 văn phòng luật sư uy tín trong và ngoài nước đã trình bày bản báo cáo, theo đó cho rằng, không cần thiết phải xây dựng một văn bản pháp lý riêng cho hoạt động mua bán, sáp nhập doanh nghiệp.

Nhiều quy định, ít tác dụng

Bộ luật Dân sự, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Cạnh tranh… đã có một số quy định liên quan đến hoạt động mua bán, sáp nhập doanh nghiệp (M&A). Tuy nhiên, những quy định này mới chỉ dừng lại ở việc xác lập về mặt hình thức, chứ chưa “chạm” tới nội dung của hoạt động M&A.

Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Bộ Kế hoạch và Đầu tư Phạm Mạnh Dũng cho biết, hiện nay, tại Việt Nam khái niệm M&A vẫn chưa được dịch và hiểu cho thống nhất. Ông Dũng nêu: Luật Đầu tư chỉ đưa ra các khái niệm “sáp nhập” và “mua lại công ty” mà không đưa ra nội hàm của các khái niệm này (Điều 25); còn Luật Doanh nghiệp sử dụng khái niệm “sáp nhập” (Điều 153), mà không sử dụng thuật ngữ “mua lại công ty”, tuy nhiên lại có thêm thuật ngữ “hợp nhất doanh nghiệp” (Điều 152).

Phía doanh nghiệp kêu bị thiệt do khung pháp lý cho M&A rời rạc, chưa có luật cụ thể. Một lãnh đạo của Công ty Chứng khoán Bảo Việt cho rằng, hiện tại cơ quan quản lý Việt Nam mới chỉ “chấp nhận” khái niệm thâu tóm. Trong khi theo thông lệ quốc tế, có hai hình thức: sáp nhập (hai công ty gộp chung tài sản, quyền nghĩa vụ, chấm dứt sự tồn tại của mình và trở thành một công ty mới) và thâu tóm (một công ty mua lại toàn bộ hoặc phần lớn công ty kia, các công ty bị thâu tóm sẽ chấm dứt sự tồn tại). Ông Đặng Thế Đức, Luật sư điều hành Công ty Luật Indochina Cousel cho biết, khi muốn xúc tiến một thương vụ M&A, các doanh nghiệp luôn lúng túng với những vấn đề như các hình thức giao dịch, thẩm định và điều tra, đàm phán và soạn thảo hợp đồng…

Continue reading

BÀN VỀ NỘI DUNG VỐN ĐẦU TƯ TRONG KINH TẾ (*)

NGUYỄN THỊ VIỆT HỒNG – Viện Khoa học Thống kê

Vốn đầu tư là chỉ tiêu kinh tế cơ bản thu hút sự quan tâm của nhiều người. Tùy theo nhu cầu quản lý và phân tích khác nhau mà mỗi người quan tâm đến nội dung của vốn đầu tư theo các giác độ khác nhau. Từ trước đến nay đã có những chỉ tiêu về “Vốn đầu tư xây dựng cơ bản” và “Vốn đầu tư phát triển” được công bố số liệu, nhưng chỉ tiêu về “vốn đầu tư trong kinh tế” theo tôi là rất quan trọng, nhưng hiện nay còn nhiều vấn đề cần bàn đến. Vậy nội dung của chỉ tiêu này bao gồm những gì? có khác hay không so với các chỉ tiêu về “Vốn đầu tư xây dựng cơ bản (XDCB)” và “Vốn đầu tư phát triển”.

1. Đầu tư

Trong kinh tế “Đầu tư” được hiểu là sự chi tiêu mà kết quả làm tăng tài sản cho nền kinh tế (giá trị của những tài sản mua đi bán lại giữa các thực thể kinh tế với nhau không được coi là đầu tư đối với nền kinh tế). Vì vậy, có những trường hợp đối với một cá nhân, hoặc của một tổ chức nào đó là đầu tư, nhưng xét trên phạm vi toàn nền kinh tế thì đó không phải là đầu tư nếu quá trình đầu tư đó không tạo thêm tài sản mới. (ví dụ: một người bỏ ra một khoản tiền để mua một ngôi nhà của người khác để ở thì hành vi mua bán đó không được tính là đầu tư trên phạm vi toàn nền kinh tế).

Các nhà kinh tế vĩ mô chia đầu tư thành 3 loại chính như sau: đầu tư vào tài sản cố định dùng trong sản xuất kinh doanh; đầu tư vào tài sản lưu động(1) và đầu tư vào nhà ở.

Đầu tư tài sản cố định(2) là sự bỏ vốn ra để xây dựng nhà máy, cơ sở hạ tầng và mua sắm trang, thiết bị và các tài sản đủ tiêu chuẩn là TSCĐ của các đơn vị sản xuất kinh doanh (làm tăng thực sự tài sản sản xuất). Theo quy định hiện hành của Bộ Tài chính là những tài sản có giá trị từ 10 triệu đồng trở lên và có thời gian sử dụng trên 1 năm.

Continue reading

THÂU TÓM VÀ HỢP NHẤT TỪ KHÍA CẠNH QUẢN TRỊ CÔNG TY: LÝ LUẬN, KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ THỰC TIỄN Ở VIỆT NAM

TS. NGUYỄN ĐÌNH CUNG & THS. LƯU MINH ĐỨC – Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương

1. Giới thiệu

Thâu tóm và hợp nhất công ty (tạm dịch từ mergers and acquisitions –M&A) là những hoạt động kinh doanh và quản trị không xa lạ ở các nền kinh tế phát triển trên thế giới. Tại Việt Nam, cho đến nay, các phương tiện thông tin đại chúng và thậm chí cả một số văn bản pháp luật của Việt Nam sử dụng thuật ngữ “sáp nhập và mua lại” để chỉ khái niệm M&A. Tuy nhiên, khái niệm và các hoạt động thuộc M&A đa dạng hơn nhiều so với khái niệm “sáp nhập và mua lại”.

Trên thế giới, các hoạt động M&A đã trải qua nhiều thăng trầm. Hơn 100 năm qua, Hoa Kỳ đã chứng kiến 5 chu kỳđỉnh cao của hoạt động sáp nhập công ty: đó là các năm 1895-1905, 1925-1929, 1965-1970, 1980-1985 và 1998-2000. Làn sóng M&A diễn ra mạnh mẽ và song hành với những giai đoạn kinh tế tăng trưởng nóng. Đó là thời điểm ban quản trị của các công ty liên tục hoạt động dưới sức ép cạnh tranh rất lớn từ thị trường. Khái niệm tăng trưởng lợi nhuận và mở rộng hoạt động thông qua M&A đồng nghĩa với sự tồn tại của công ty nói chung, cũng như địa vị của chính họ ở các công ty này nói riêng.

Bước vào thế kỷ XXI, nền kinh tế thế giới tiếp tục chứng kiến một làn sóng M&A mới, dưới những hình thức đa dạng và quy mô lớn chưa từng có. Đợt sóng này không chỉ bó hẹp trong phạm vi các nền kinh tế phát triển mà còn lan tỏa sáng các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển như Hàn Quốc, Singapore, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc, Trung Đông… Năm 2006, tổng giá trị M&A toàn cầu đạt mức cao kỷ lục, 3460 tỷđô la Mỹ (USD). Còn trong 5 tháng đầu năm nay, thị trường mua bán sáp nhập công ty trên thế giới đã đạt trị giá 2000 tỷ USD (trung bình 93 tỷ/tuần), tăng 60% so với cùng kỳ năm ngoái. Có thể liệt kê một số vụ M&A nổi bật nhưBarclays – ABN Amro (87 tỷ USD), Thomson – Reuters (17,2 tỷ USD), HeidelbergCement AG – Hanson Plc (15,5 tỷ USD), Quỹ Cerberus – Chrysler (7,4 tỷ USD), NYS Corp. – Euronext (9,96 tỷ USD), Blackstone – Hilton (26 tỷ USD)… Theo kết quả khảo sát 73 công ty tại 11 nền kinh tế tiêu biểu, 44% số công ty được hỏi cho biết họ có ý định thúc đẩy hoạt động M&A trong 2-3 năm tới.(1)

Continue reading

M&A: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NGUYÊN TẮC VÀ TRÌNH TỰ TIẾN HÀNH

TS. J. FRED WESTON – Anderson Shool of Business at UCLA.

TS. SAMUEL C. WEAVER – Lehigh University

Dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, cạnh tranh đang diễn ra với nhiều hình thức khác nhau, ngày càng quyết liệt trong giai đoạn phát triển hiện nay của nền kinh tế thế giới. Do những hạn chế về nguồn lực, các công ty, các tổ chức kinh tế buộc phải hợp tác với nhau trong quá trình sản xuất, tiêu thụ cũng như nghiên cứu và phát triển. Trong quá trình đó Mua bán (hay mua lại) và sáp nhập trở thành một công cụ để nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp.

Thuật ngữ M&A (Mergers and Acquisitions) được dùng để chỉ sự sáp nhập và mua lại các doanh nghiệp. Sáp nhập là hình thức kết hợp của hai hay nhiều doanh nghiệp, thường có cùng quy mô, thống nhất với nhau thành một doanh nghiệp mới. Mua lại là hình thức kết hợp mà một doanh nghiệp mua lại toàn bộ hoặc phần lớn một doanh nghiệp khác mà không hình thành một doanh nghiệp mới. Trên góc độ pháp lý, công ty bị mua lại toàn bộ sẽ ngừng hoạt động, công ty tiến hành mua lại “nuốt” trọn hoạt động kinh doanh của công ty kia.

Trong thực tế, một thương vụ mua lại cũng có thể được xem là sáp nhập nếu như các bên có sự thỏa thuận nhằm mục đích mang lại lợi ích lớn nhất có thể cho cả hai bên. Ngược lại, khi mà đối tượng bị mua lại không muốn, thậm chí thực hiện các kỹ thuật tài chính để chống lại, thì nó hoàn toàn được coi là một thương vụ mua lại cưỡng bức (hostile acquisition). Để xác định một thương vụ là mua lại hay sáp nhập, cần phải xem đến tính chất hợp tác hay thù địch giữa hai bên. Nó chính là cách ban giám đốc, người lao động và cổ đông của công ty bị mua lại nhận thức về mỗi thương vụ.

Trong hoạt động M&A, doanh nghiệp mua lại hay nhận sáp nhập còn được gọi là doanh nghiệp thôn tính, doanh nghiệp bị sáp nhập hay bị mua lại là doanh nghiệp mục tiêu, là đối tượng trong các vụ sáp nhập hay mua lại.

Continue reading

KHUNG PHÁP LÝ ĐIỀU TIẾT SÁP NHẬP, MUA LẠI DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM

TS. PHẠM TRÍ HÙNG – Đại học Luật TPHCM

Vai trò của Nhà nước chính là tạo dựng một môi trường kinh tế vĩ mô ổn định, một khung khổ pháp lý khuyến khích đầu tư tư nhân và cạnh tranh, thực thi chính sách mở cửa hướng vào thương mại quốc tế . Theo nhà kinh tế học J. Stigliz, vai trò của Nhà nước là tạo dựng một kết cấu hạ tầng thể chế, bao gồm: hệ thống hợp đồng và pháp lý đảm bảo cho thị trường hoạt động một cách đúng đắn; các quyền sở hữu; hạ tầng vật chất (kể cả dịch vụ tài chính và viễn thông); và hạ tầng trí tuệ (thông qua giáo dục, nghiên cứu triển khai và công nghệ).

Xuất phát từ thực tế và các quan điểm kinh tế phổ biến, thể chế kinh tế thị trường đối với doanh nghiệp Việt Nam được hiểu là bao gồm toàn bộ hệ thống các quy định pháp luật, cơ chế chính sách và bộ máy thực thi của Nhà nước đối với doanh nghiệp theo nguyên tắc: Nhà nước tạo dựng môi trường kinh tế vĩ mô ổn định, hỗ trợ cho việc hình thành và tạo điều kiện để các loại thị trường vận hành có hiệu quả và bền vững; hình thành các khung khổ pháp lý khuyến khích đầu tư và cạnh tranh bình đẳng giữa các loại hình doanh nghiệp trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Từ cách hiểu trên, chúng ta thấy trong thể chế thị trường, hệ thống các quy định pháp luật chính là khung pháp lý; nguyên tắc được nêu ra là Nhà nước hỗ trợ cho việc hình thành và tạo điều kiện để các loại thị trường (trong đó có thị trường mua bán doanh nghiệp) và hình thành các khung pháp lý khuyến khích đầu tư (trong đó có sáp nhập, mua bán doanh nghiệp như hình thức đầu tư).

Mục tiêu của bài viết này là nhằm góp phần vào việc xác định những cơ sở lý luận và thực tiễn của việc tiếp tục hình thành và hoàn thiện khung pháp lý điều tiết sáp nhập, mua bán doanh nghiệp ở Việt Nam thông qua việc làm rõ quan niệm về sát nhập, mua bán doanh nghiệp và đưa ra một số đề xuất nhằm xây dựng khung pháp lý điều tiết sáp nhập, mua bán doanh nghiệp như hình thức đầu tư trực tiếp ở Việt Nam và như cơ sở để hình thành thị trường mua bán doanh nghiệp ở Việt Nam. Qua đây chúng tôi hy vọng có những đóng góp cụ thể cho dự thảo Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp.

Continue reading

GIỚI HẠN SỞ HỮU CỔ PHẦN CỦA NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI NGÂN HÀNG CHƯA NIÊM YẾT

LS. NGUYỄN VĂN PHƯƠNG

Nhà đầu tư nước ngoài góp vốn, mua cổ phần của ngân hàng thương mại Việt Nam, ngoài việc phải tuân theo quy định của pháp luật chung, còn phải thực hiện quy định của pháp luật về ngân hàng. Hiện nay, quy định của pháp luật về ngân hàng còn có những bất cập, hạn chế, nên giới hạn sở hữu cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài tại các ngân hàng thương mại chưa niêm yết đang có những ý kiến khác nhau về cả lý luận và thực tiễn.

1/. Khó kiểm soát tỷ lệ sở hữu cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài khi IPO của ngân hàng thương mại nhà nước cổ phần hóa

Cho đến nay, có 02 trên tổng số 05 ngân hàng thương mại 100% vốn nhà nước đã chính thức chuyển đổi thành ngân hàng thương mại cổ phần, bao gồm: Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) và Ngân hàng Công thương Việt Nam (Vietinbank). Việc cổ phần hoá 03 ngân hàng thương mại 100% vốn nhà nước còn lại (Ngân hàng Phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long – MHB, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – BIDV, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Agribank) thực hiện theo lộ trình được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Thực hiện quy định của pháp luật về cổ phần hoá, trước khi bán đấu giá cổ phần lần đầu ra công chúng (IPO), Vietcombank và Vietinbank đã công bố giá trị doanh nghiệp và số cổ phần được bán lần đầu ra công chúng. Tổ chức được ủy quyền bán đấu giá cổ phần lần đầu ra công chúng của Vietcombank và Vietinbank là Sở Giao dịch Chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (HoSE). Quy chế bán đấu giá cổ phần lần đầu của Vietcombank và Vietinbank do HoSE ban hành đều quy định tổng số cổ phần mà các nhà đầu tư nước ngoài được mua tối đa bằng 30% tổng số cổ phần được bán ra. Tuy nhiên, giới hạn sở hữu cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài tại Vietcombank hoặc Vietinbank theo quy định trên đây là rất khó kiểm soát vì các lý do sau đây:

Continue reading

“HẠT SẠN” GÂY RỦI RO KHI CHUYỂN NHƯỢNG VỐN

TRẦN THANH TÙNG

Chị H. là thành viên sáng lập của công ty TNHH B. Do nhu cầu rút vốn khỏi công ty, chị có ý định bán lại toàn bộ vốn góp của mình cho đối tác khác. Sau một thời gian dài thương lượng với đối tác và nhờ luật sư soạn thảo hồ sơ, chị H. hồi hộp nộp hồ sơ đăng ký chuyển nhượng vốn tại Sở Kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT) thành phố Y…

Bán là đã nhận đủ tiền rồi

Sau một hồi lật tới lật lui hồ sơ, anh nhân viên phòng đăng ký kinh doanh trả lại hồ sơ với lý do là hợp đồng chuyển nhượng vốn giữa chị và đối tác không ghi câu “đã giao đủ tiền chuyển nhượng vốn”.

Dù cố gắng giải thích rằng số tiền chuyển nhượng vốn là rất lớn và đối tác không muốn thanh toán một lúc mà thành nhiều lần nhưng anh nhân viên chỉ lạnh lùng lắc đầu và nhắc chị về kiểm tra lại Nghị định 88.

Kiểm tra kỹ lưỡng Nghị định 88, chỉ thấy điều 33.(2) quy định trong hồ sơ đăng ký việc chuyển nhượng vốn phải có hợp đồng chuyển nhượng và “các giấy tờ chứng thực đã hoàn tất việc chuyển nhượng có xác nhận của công ty”.

Theo cách hiểu của chị, “các giấy tờ chứng thực đã hoàn tất việc chuyển nhượng” chỉ là các tài liệu chứng minh hợp đồng chuyển nhượng vốn đã ký và đã được Hội đồng thành viên công ty thông qua, đã ghi vào sổ thành viên của công ty rồi, còn việc nhận tiền hay chưa chỉ là vấn đề thanh toán giữa hai bên.

Sau một hồi tranh luận, nhân viên Sở KH&ĐT vẫn khăng khăng rằng “các giấy tờ chứng thực đã hoàn tất việc chuyển nhượng” là giấy tờ chứng minh các bên đã giao nhận đủ tiền rồi, bất kể giá trị chuyển nhượng là bao nhiêu.

Continue reading

TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG SÁP NHẬP VÀ MUA LẠI TẠI VIỆT NAM THỜI GIAN QUA

CCID – VCAD Một thực tế là có sự chênh lệch rất lớn giữa các doanh nghiệp nước ngoài và các doanh nghiệp trong nước. Hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam có quy mô nhỏ hơn so với các doanh nghiệp nước ngoài; yếu hơn về khả năng tài chính; kinh nghiệm thương trường; thiếu đội ngũ nhân lực có khả năng quản trị doanh nghiệp. Thêm vào đó, các thủ tục liên quan đến giao dịch M&A còn thiếu minh bạch nên tỷ lệ thành công của các giao dịch này rất thấp.

Trước tháng 7/2006, hoạt động mua lại chưa được thừa nhận là một hình thức đầu tư; do vậy chỉ xuất hiện trong khu vực các doanh nghiệp FDI dưới dạng chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ quyền lợi và nghĩa vụ (thường gọi là chuyển nhượng vốn pháp định) của một hay các bên liên doanh cho bên kia hoặc cho một đối tác khác. Sau khi Luật Đầu tư có hiệu lực (01/7/2006) và Nghị định số 108/2006/NĐ-CP (22/9/2006) quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Đầu tư được ban hành; việc chuyển nhượng và mua lại doanh nghiệp mới được chính thức điều chỉnh như một hình thức đầu tư trong hoạt động của nền kinh tế cũng như trong thu hút đầu tư nước ngoài. Việc mua lại dự án FDI ngày càng phát triển về hình thức và số lượng, và hiện gồm các dạng sau: bên nước ngoài trong liên doanh mua toàn bộ hay một phần vốn góp của bên Việt Nam; một đối tác nước ngoài khác mua lại toàn bộ hoặc một phần vốn góp của phía nước ngoài hoặc của bên Việt Nam hoặc của các bên tham gia liên doanh; một đối tác nước ngoài khác mua toàn bộ hoặc một phần vốn góp của một nhà đầu tư trong doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài; Doanh nghiệp Việt Nam mua lại cổ phần của bên nước ngoài trong doanh nghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài; giao dịch mua lại khi thanh lý doanh nghiệp FDI hết hạn hoạt động hoặc giải thể trước thời hạn. Ở Việt Nam tồn tại các giao dịch mua lại các dự án FDI, và thường xảy ra ở các dự án có quy mô tương đối lớn. Theo số liệu thống kê của Bộ Kế hoạch- Đầu tư, đến hết năm 2007, đã có 1.092 dự án, với tổng vốn đầu tư đăng ký gần 16,9 tỷ USD được điều chỉnh Giấy phép đầu tư với nội dung chuyển nhượng vốn giữa các đối tác. Số dự án có hoạt động mua lại chỉ chiếm chưa đến 13% so với tổng số dự án FDI đầu tư vào Việt Nam nhưng tổng vốn đăng ký của các dự án này chiếm tới gần 20% tổng vốn FDI được cấp phép.

Continue reading

MUA BÁN, SÁP NHẬP DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM: NHÌN TỪ BÊN MUA VÀ BÊN BÁN

THS. NGUYỄN MAI PHƯƠNG – Chi nhánh Công ty Luật Mayer Brown JSM tại Hà Nội

Mua bán (acquisition) và sáp nhập (merger) doanh nghiệp (M&A) là một phần tất yếu của bất cứ nền kinh tế lành mạnh nào và là một công cụ hiệu quả để tái cơ cấu doanh nghiệp. Quan trọng hơn, đó là cách thức chủ yếu để các doanh nghiệp mở rộng và phát triển hoạt động kinh doanh của mình và đem lại thu nhập cho chủ sở hữu và các nhà đầu tư. Nguyên tắc M &A là tạo ra giá trị cho cổ đông bao trùm và lớn hơn tổng giá trị hiện tại của hai doanh nghiệp khi hai doanh nghiệp tồn tại riêng rẽ.

1. Khái niệm về M &A theo quy định của pháp luật Việt Nam

Hoạt động M &A ở Việt Nam được quy định rải rác ở các văn bản quy phạm pháp luật khác nhau và hiện chưa có một khung pháp luật hoàn chỉnh và thống nhất điều chỉnh lĩnh vực này. Các giao dịch M &A, tùy từng trường hợp cụ thể, có thể liên quan và chịu sự điều chỉnh của các quy phạm pháp luật về doanh nghiệp, về chứng khoán, về cạnh tranh, về đầu tư và luật hợp đồng.

Thuật ngữ “mua bán” và “sáp nhập” là hai khái niệm luôn đi kèm với nhau nhưng lại thường bị nhầm lẫn hoặc được sử dụng thay thế cho nhau, mặc dù hai thuật ngữ này có sự khác biệt cơ bản về bản chất. Hai hoạt động này khác nhau và hệ quả pháp lý của chúng cũng khác nhau.

Trong những năm gần đây, hoạt động M &A trở nên sôi động hơn tại Việt Nam. Tuy nhiên, các giao dịch này chủ yếu là các giao dịch mua lại. Theo thống kê của Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư tại hội thảo về vấn đề này diễn ra ngày 11/6 vừa qua tại Hà Nội, năm 2005 chỉ có 18 vụ M &A với tổng giá trị là 61 triệu đôla Mỹ, năm 2006 có 32 vụ với tổng giá trị các thương vụ là 245 triệu đôla Mỹ. Năm 2007, Việt Nam có hơn 90 vụ M &A với giá trị giao dịch là hơn 1, 7 tỷ đôla Mỹ và năm 2008, đã có gần 40 vụ sáp nhập và mua lại với tổng giá trị gần 30 triệu đôla Mỹ. Theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế, trong 5 đến 10 năm tới, sẽ có từ 30% đến 50% doanh nghiệp tại Việt Nam sẽ sáp nhập hoặc bị sáp nhập với các đối tác khác. Hoạt động M &A tiếp tục diễn ra sôi động do đây là một hình thức đầu tư ngày càng phổ biến và tiện lợi; do sự tăng trưởng nóng của nền kinh tế Việt Nam trong thời gian qua; do nhà đầu tư nước ngoài đánh giá cao những cơ hội đầu tư tại Việt Nam cũng như do những cam kết của Chính phủ Việt Nam trong lộ trình thực hiện khi gia nhập WTO; và do những ảnh hưởng quốc tế với sự góp mặt của hàng loạt quỹ đầu tư trong và ngoài nước.

Continue reading

TỶ GIÁ – NGUỒN GỐC RỦI RO TÀI CHÍNH CHO CÁC DOANH NGHIỆP

THS. ĐINH THỊ THU HỒNG

Tỷ giá là một trong nguồn gốc rủi ro chính khiến nhiều doanh nghiệp trên thế giới rơi vào lao đao, và cũng là nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của rất nhiều công cụ phòng chống rủi ro ngoại hối. Trong quá khứ, tác động của việc tỷ giá biến động nhiều hơn kể từ sau sự sụp đổ của chế độ tỷ giá Bretton Woods vào đầu thập niên 1970 đã kéo nhiều công ty lớn trên thế giới, đặc biệt là nhiều công ty tên tuổi của Mỹ và Nhật vào những “rắc rối” về tỷ giá trong các thập niên 1980 và 1990. Thời kỳ đó, những tên tuổi như Laker Airlines, Caterpillar, Toyota, Honda, v.v. đều than phiền trên mặt báo rằng những biến động bất lợi của tỷ giá đã tạo ra nhiều khó khăn cho hoạt động kinh doanh của họ, và khiến cho doanh thu lẫn lợi nhuận giảm thấp.

Trong thời gian gần đây, tỷ giá USD/VND có những biến động bất thường, mới đầu năm 2008 còn tình trạng đồng đô la ế ẩm không ngân hàng thương mại nào mua thì giờ đây (vào giữa tháng 5/2008) giá trị đồng tiền này đã tăng vọt lên hơn 13% không đầy 3 tháng. Những biến động này đã tác động không nhỏ đến hoạt động của các doanh nghiệp. Bài viết tập trung làm rõ về mặt lý thuyết và thực tiễn những tác động rủi ro tỷ giá đến các doanh nghiệp và đề xuất một số biện pháp nhằm giảm những rủi ro này.

1. Tác động của tỷ giá đến các doanh nghiệp

Về lý thuyết, biến động tỷ giá có thể tác động đến doanh nghiệp theo nhiều cách và được đo lường bằng độ nhạy cảm đối với rủi ro tỷ giá.

Nguy cơ độ nhạy cảm tỷ giá có thể xảy ra cho bất kỳ doanh nghiệp nào – thậm chí xảy ra với cả những doanh nghiệp mà tất cả các hoạt động kinh doanh của họ không liên quan gì đến bất cứ một loại ngoại tệ nào. Vậy nguồn gốc của rủi ro tỷ giá xuất phát từ đâu?

Nguy cơ độ nhạy cảm tỷ giá bắt nguồn từ các giao dịch thương mại. Đây là loại nguy cơ độ nhạy cảm tỷ giá phổ biến nhất mà các doanh nghiệp gặp phải do hoặc phải trả tiền cho người cung cấp hoặc bán hàng và thu về một đồng tiền khác với đồng tiền nước mình, thông qua các giao dịch như:

Continue reading

MUA BÁN, SÁP NHẬP CÔNG TY – NHIỀU KIỂU MUA BÁN

LS. NGUYỄN NGỌC BÍCH

Mua hay bán công ty là nói về một giao dịch nhưng ở vị trí khác nhau của người mua hay người bán; còn về phía công ty – anh “pháp nhân” tội nghiệp – thì bị mua hay được bán tức là nó sáp nhập với một pháp nhân khác.

Các cách mua bán

Một công ty có thể mua một công ty khác bằng một trong ba cách là: sáp nhập, mua tài sản, hay mua cổ phần/cổ phiếu của công ty kia. Sự khác biệt chính giữa ba cách này nằm ở các vấn đề sau: (i) công ty đi mua có ôm nợ của công ty bị bán không; (ii) cổ đông của cả hai bên, hoặc một bên, có phải biểu quyết để chấp thuận việc mua bán không; (iii) cổ đông của công ty bị mua có được hưởng lợi nhờ một sự định giá cổ phiếu do tòa án ra không (vì họ cãi nhau về giá bán) và (iv) mức thuế phải đóng cho giao dịch này.

Luật lệ của các nước phát triển ngày nay có khuynh hướng buộc công ty đi mua phải gánh nợ cho công ty bị bán; dù có là bán tài sản đi nữa, nếu bên mua lấy gần hết số tài sản và tiếp tục kinh doanh sau đó. Do việc này, hai bên mua bán phải bàn bạc kỹ lưỡng về việc người mua gánh nợ của người bán và người trước phải kiểm tra làm sao để biết chắc không có các món nợ trời ơi bỗng ở đâu rơi xuống đầu mình trong tương lai vì công việc kinh doanh trước kia hay hiện nay của bên bán.

Cách mua bán đầu tiên là sáp nhập được quy định trong luật doanh nghiệp. Diễn giải ra là A một công ty lớn mua B một công ty nhỏ; B sẽ sáp nhập vào A và bị giải thể để chỉ còn A. Cổ đông của B có thể được trả tiền mặt hay được cấp cổ phiếu của A; hoăc nhận cả hai thứ kia; hoặc có cổ đông này nhận tiền, người kia nhận cổ phiếu. Cách sáp nhập này uyển chuyển trong việc trả tiền.

Continue reading

TẠI SAO DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN KHÔNG ĐƯỢC GÓP VỐN

LS. NGUYỄN NGỌC BÍCH

Một doanh nghiệp tư nhân (DNTN) muốn góp vốn với một công ty trách nhiệm hữu hạn nhưng bị Sở Kế hoạch và Đầu tư TPHCM từ chối với lý do DNTN là loại hình trách nhiệm vô hạn. Sự từ chối đó là đúng, nhưng lý do thì không hẳn như thế vì vô hạn hay hữu hạn thì cũng là chịu trách nhiệm. Lý do của nó khác, liên quan đến những khái niệm pháp lý nền tảng về công ty.

Hai cách phát triển trái ngược nhau

Sự phát triển của định chế công ty ở ta so với định chế tương tự của các nước đi đầu trên thế giới thì ngược hẳn nhau. Ở các nước kia, công ty có trước sau đó mới có luật pháp điều chỉnh nó. Lý do là ở đó do nhu cầu của cuộc sống người ta phải giao ước, hứa hẹn (vay nợ, mua bán, lập hội). Sau đó họ cãi nhau; bèn thưa ra chính quyền; nơi này giải quyết và kết quả giải quyết tạo nên luật pháp. Ở đó thực tại cuộc sống có trước, luật pháp có sau. Đó là sự diễn tiến tự nhiên của lịch sử.

Ở ta luật pháp tạo nên thực tại cuộc sống. Và định chế công ty ở ta đã hình thành trong hoàn cảnh này. Trước năm 1990, không có DNTN hay công ty. Chính Luật Công ty năm 1990 tạo nên chúng; sau đó Luật Doanh nghiệp 2000 và 2005 tiếp tục cải tiến chúng. Vì từ luật pháp mà ra nên các loại hình doanh nghiệp được sắp xếp theo sự hợp lý: DNTN, hợp danh, trách nhiệm hữu hạn… Ở các nước khác, chúng không đi theo trình tự hợp lý đó. Lý do là từ trong cuộc sống chúng nảy sinh và không chính quyền nào muốn đụng cho đến khi có sự tranh chấp xảy ra trong nội bộ của chúng; chính quyền can thiệp và chúng trở thành một định chế theo luật pháp. Chẳng hạn ở Anh, nước phát triển nhất trong thế kỷ 19 và trở thành mẫu mực cho các nước khác về các loại hình doanh nghiệp, thì luật công ty cổ phần của họ có vào năm 1862, trong khi luật công ty hợp danh mãi đến năm 1890 mới có, còn DNTN không có luật! Đấy là vì người ta coi DNTN là một con người (một thể nhân trên 18 tuổi) và hoạt động của nó bị chi phối bởi các luật căn bản dành cho thể nhân kia (hợp đồng, dân sự…). Thành ra nếu chúng ta lấy các khái niệm pháp lý trong luật pháp của mình, vốn phát sinh theo sự hợp lý, để suy ra những thứ tương tự trong luật của các nước, vốn phát sinh theo nhu cầu cuộc sống, thì nhiều lúc thấy khó hiểu và dễ hiểu sai. Do đó phải đi riêng lẻ vào từng khái niệm pháp lý nhất định.

Continue reading

CHUYỂN NỢ THÀNH VỐN GÓP: VƯỚNG TỪ CƠ CHẾ

THS. PHẠM MẠNH THƯỜNG – Bộ Tài Chính

Chuyển nợ thành vốn góp cổ phần gắn với xóa nợ như một mũi tên trúng hai đích: vừa giúp xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại nhà nước, vừa giúp cổ phần hóa các công ty nhà nước yếu kém về tài chính. Tuy nhiên, quá trình này đang gặp những vướng mắc từ cơ chế.

Yêu cầu từ thực tiễn

Nghị định số 187 (ban hành ngày 16-11-2004) của Chính phủ và Thông tư số 126 (năm 2004) của Bộ Tài chính quy định điều kiện để cổ phần hóa (CPH) các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) là phải còn vốn nhà nước và điều này trở thành áp lực đối với các doanh nghiệp bị âm vốn nhà nước khi CPH. Do không dễ xóa nợ lãi tiền vay ngân hàng thương mại nhà nước (NHTMNN), xóa nợ ngân sách… theo các quy định hiện hành nên để được CPH, các doanh nghiệp thường tính “vống” giá trị tài sản của mình sao cho đủ bù số âm vốn nhà nước. Với cách này, sau CPH doanh nghiệp thường tiếp tục kinh doanh sa sút do không có thực lực tài chính để hoạt động. Trường hợp âm vốn quá lớn không thể bù đắp từ tăng khống giá trị tài sản, nếu không được các NHTMNN xóa nợ, các doanh nghiệp này cũng không CPH được và do đó sẽ tiếp tục tồn tại lay lắt chờ được bán, giao hay giải thể, phá sản. Với doanh nghiệp yếu kém về tài chính thì việc xóa nợ gắn với chuyển nợ thành vốn góp được xem là lựa chọn hợp lý cho NHTMNN để đổi lấy kỳ vọng thu hồi vốn sau này, và cũng là giải pháp khả dĩ để CPH các doanh nghiệp này.

Bất cập của cơ chế

Xét về cơ chế, trước hết, đó là sự bất cập trong cơ cấu cổ phần phát hành lần đầu khi CPH. Theo Thông tư 126, việc chuyển nợ thành vốn góp phải tuân thủ các quy định về quyền mua cổ phần lần đầu với giá cổ phần xác định qua đấu giá. Tại mục A, phần V của thông tư này, cơ cấu cổ phần lần đầu gồm cổ phần nhà nước; cổ phần bán ưu đãi giảm giá cho người lao động; cổ phần bán ưu đãi giảm giá cho nhà đầu tư chiến lược và cổ phần bán đấu giá công khai cho các nhà đầu tư.

Continue reading

MUA BÁN VÀ SÁP NHẬP

THANH TRÚC

Quy luật trong kinh doanh rất dễ hiểu và đơn giản: “phát triển hay là chết”. Các công ty đang phát triển sẽ lấy đi thị phần từ các đối thủ cạnh tranh, tạo ra lợi nhuận kinh tế và mang lại thu nhập cho các cổ đông. Ngược lại, những công ty không phát triển thường bị phá sản. M&A đóng một vai trò quan trọng đối với cả 2 chiều của quy luật này, thúc đẩy các công ty mạnh phát triển nhanh hơn. Còn chắc chắn các công ty yếu kém sẽ nhanh chóng bị loại khỏi cuộc chơi.

1+1 >2

Các thương vụ M&A đều dựa trên một nguyên tắc cơ bản là giá trị tổng hợp sau khi tiến hành M&A phải lớn hơn tổng giá trị hiện tại của hai công ty khi còn đứng riêng rẽ. Giá trị tăng thêm này, thường được nhắc đến bằng khái niệm “giá trị cộng hưởng” – là một yếu tố rất quan trọng dẫn đến thành công của một thương vụ. Nó được coi như một thành tố màu nhiệm thúc đẩy bên mua bỏ ra hàng triệu USD chi phí phụ trội trong thương vụ M&A.

Giá trị cộng hưởng có được nhờ sự kết hợp hợp lý sau M&A, để thống nhất, tập hợp nguồn lực tài chính, công nghệ, nhân lực và thương hiệu, quản lý chi phí hiệu quả hơn, tạo lợi nhuận và giá trị cổ đông lớn hơn, lợi thế kinh tế nhờ quy mô, khả năng làm giá tốt hơn nhờ giảm bớt cạnh tranh và nâng cao thị phần, thâm nhập một ngành mới… Tất nhiên, sự cộng hưởng sẽ không tự đến nếu không có M&A.

Trong thực tế không ít trường hợp, khi hai công ty tiến hành sáp nhập lại có hiệu ứng ngược lại, đó là 1+1<2. Do đó, việc phân tích chính xác mức độ cộng hưởng trước khi tiến hành những thương vụ M&A rất quan trọng. Khá nhiều nhà quản lý doanh nghiệp đã cố tình vẽ ra bức tranh cộng hưởng để tiến hành các vụ M&A nhằm trục lợi từ việc định giá doanh nghiệp. Đây cũng là sự thật của “một nửa sự thật ít nói” về M&A.

Continue reading

QUYỀN CỦA NHÀ ĐẦU TƯ THEO LUẬT ĐẦU TƯ

NGUYỄN HỒNG ANH

Khi một cá nhân hoặc một pháp nhân bỏ tiền hoặc tài sản để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam, họ trở thành nhà đầu tư và chịu sự điều chỉnh của Luật đầu tư số 59/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005 (“Luật Đầu Tư”). Cũng theo Luật Đầu Tư, nhà đầu tư có thể thực hiện đầu tư thông qua hai hình thức: đầu tư gián tiếp và đầu tư trực tiếp. Ở hình thức đầu tư gián tiếp, nhà đầu tư thực hiện việc mua cổ phiếu, trái phiếu các giấy tờ có giá khác, đầu tư vào quỹ đầu tư chứng khoán và thông qua các định chế tài chính trung gian khác mà không tham gia quản lý hoạt động đầu tư.

Ngược lại, ở hình thức đầu tư trực tiếp, nhà đầu tư tham gia vào việc quản lý hoạt động đầu tư. Ta tạm quy ước gọi nhà đầu tư theo hai loại hình đầu tư nêu trên là nhà đầu tư gián tiếp và nhà đầu tư trực tiếp. Các phân tích về nhà đầu tư gián tiếp và các quyền của họ, sẽ được thực hiện, tốt hơn, tại một đề tài khác và liên quan tới thị trường chứng khoán. Các quyền của nhà đầu tư trực tiếp theo hình thức hợp đồng BCC, BOT, BTO và BT cũng sẽ được phân tích riêng tại một chuyên đề khác. Trong khuôn khổ bài viết này, ta thử tìm hiểu về các quyền của nhà đầu tư trực tiếp, lần lượt theo các giai đoạn của quá trình đầu tư: chuẩn bị đầu tư (1), triển khai thực hiện dự án đầu tư (2), và kết thúc đầu tư (3).

1. Chuẩn bị đầu tư

Về nguyên tắc, Luật Đầu Tư ghi nhận nhà đầu tư có quyền tự chủ đầu tư, kinh doanh. Nhà đầu tư có quyền lựa chọn lĩnh vực đầu tư, hình thức đầu tư, phương thức huy động vốn, địa bàn, quy mô đầu tư, đối tác đầu tư và thời hạn hoạt động của dự án. Tuy nhiên, để thực hiện quyền này, nhà đầu tư phải tuân theo một số thủ tục nhất định. Liên quan tới việc đăng ký đầu tư hoặc thẩm định đầu tư đối với các dự án, nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài sẽ phải thực hiện các thủ tục không giống nhau.
Đối với các dự án không có vốn đầu tư nước ngoài, có quy mô vốn đầu tư từ mười lăm tỷ đồng Việt Nam đến dưới ba trăm tỷ đồng Việt Nam và không thuộc Danh mục lĩnh vực đầu tư có điều kiện thì nhà đầu tư làm thủ tục đăng ký đầu tư tại cơ quan nhà nước quản lý đầu tư cấp tỉnh. Và nếu nhà đầu tư trong nước có dự án gắn với việc thành lập tổ chức kinh tế thì việc thực hiện đăng ký kinh doanh trước theo quy định của Luật Doanh Nghiệp, pháp luật có liên quan và thực hiện thủ tục đầu tư theo quy định của Luật Đầu Tư.

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ TRONG HOẠT ĐỘNG M&A Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA

QUYẾT THẮNG

Sự suy thoái của nền kinh tế Mỹ trong thời gian gần đây khiến cho các quỹ đầu tư, công ty và tập đoàn lớn trên thế giới nghĩ đến việc chuyển hướng kinh doanh sang các quốc gia có nền kinh tế phát triển nhanh, trong đó có Việt Nam. Nhiều người cho rằng làn sóng M&A sẽ diễn ra mạnh mẽ chưa từng thấy ở Việt Nam, đặc biệt trong các lĩnh vực tài chính, ngân hàng, chứng khoán, viễn thông…

Khi nguồn lực sản xuất – kinh doanh quan trọng là đất đai thuộc về các doanh nghiệp trong nước thì M&A sẽ là con đường ngắn nhất để hút vốn nươc ngoài cũng như nâng cao chất lượng đầu tư nước ngoài và quy mô của các doanh nghiệp Việt Nam.

Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và thị trường M&A có mối quan hệ biện chứng. Việc thu hút được lượng FDI nhiều hay ít phụ thuộc không nhỏ vào việc thiết lập, vận hành và phát triển thị trường M&A. Ngược lại, thị trường M&A là cơ sở cho FDI xâm nhập nhanh nhất vào thị trường. Do vậy, việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài không thể tách rời việc xây dựng, phát triển thị trường M&A.

Thị trường M&A Việt Nam chỉ sôi động và chuyên nghiệp khi các quy định liên quan đến hoạt động M&A được xây dựng rõ ràng và đầy đủ, đặc biệt là quy định về tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài trong từng lĩnh vực cụ thể. Việc nghiên cứu, đề xuất giải pháp phát triển hoạt động M&A đặc biệt là các giải pháp tăng cường quản lý nhà nước sẽ góp phần tạo một kênh thu hút đầu tư nước ngoài mới và quan trọng để thúc đẩy thu hút đầu tư nước ngòai vào Việt Nam trong giai đoạn tới.

Trong bối cảnh nhiều nhà đầu tư rút khỏi thị trường chứng khoán, việc phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO) có thể gặp khó khăn, nhưng hoạt động sáp nhập và mua lại doanh nghiệp (M&A) đang có điều kiện tốt để phát triển.

Continue reading

PHẦN VỐN GÓP TRONG CÔNG TY CÓ TƯ CÁCH PHÁP NHÂN – TIẾP CẬN TỪ GÓP ĐỘ PHÁP LUẬT TÀI SẢN

NGUYỄN HỒNG ANH

Trong xã hội hiện đại, phần vốn góp, cổ phần trong công ty có tư cách pháp nhân (sau đây gọi là “Phần Vốn Góp”) là tài sản có giá trị lớn trong sản nghiệp của chủ sở hữu. Không phải được hình thành từ thế giới vật chất như các tài sản hữu hình[i], cũng không phải là sản phẩm được hình thành từ con tim và khối óc như các đối tượng của sở hữu trí tuệ, Phần Vốn Góp là kết qủa của sự phân thân về giá trị của tài sản góp vốn vào công ty. Phần Vốn Góp và tài sản góp vốn vào công ty là hai tài sản độc lập và thuộc về hai sản nghiệp của hai chủ thể khác nhau.

Phần Vốn Góp là tài sản thuộc sản nghiệp của nguời góp vốn. Tài sản đem góp vốn là tài sản thuộc sản nghiệp của công ty nhận tài sản góp vốn. Thế nhưng, không phải lúc nào người ta cũng phân biệt được sự khác nhau này. Bài viết này chỉ nhằm cung cấp một cách hiểu đúng về Phần Vốn Góp.

1. Sự hình thành Phần Vốn Góp

Góp vốn vào công ty có tư cách pháp nhân. Là việc một người, thông qua hợp đồng góp vốn, chuyển quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng đối với tài sản của mình cho công ty có tư cách pháp nhân và đổi lại, họ trở thành chủ sở hữu đối với Phần Vốn Góp của công ty đó.

1.1. Tài sản góp vốn. Tiền hoặc hiện vật. Hiện vật theo nghĩa rộng nhất, là tài sản hữu hình hoặc vô hình mà không phải là tiền, có thể kể ra đây: vàng, máy móc, thiết bị, nhà xưởng, quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất, các yếu tố vô hình của sản nghiệp thương mại (biển hiệu, tên thương mại, mạng lưới tiêu thụ hàng hoá..).

1.2. Định giá tài sản góp vốn. Luật quyết định rằng những tài sản mà không phải là tiền (Đồng Việt Nam hoặc ngoại tệ tự do chuyển đổi) và vàng[ii] thì phải được định giá (Điều 23 Luật Doanh Nghiệp số 13 ngày 12 tháng 6 năm 1999 (sau đây gọi là “Luật Doanh Nghiệp“).

Continue reading