M&A CẦN NHIỀU HƠN MỘT KHUNG PHÁP LÝ

NGUYỄN LAN PHƯƠNG

Trong bối cảnh kinh tế Việt Nam và thế giới đang trải qua giai đoạn khó khăn, hầu hết các doanh nghiệp (DN) đang phải xoay sở cho chính mình thì xu hướng mua bán và sát nhập (M&A) đang phát triển mạnh tại Việt Nam… Sắp tới đây, sẽ có nhiều doanh nghiệp sẵn sàng bán hoặc sáp nhập DN.

Xu hướng tương lai

Hiện nay, có khoảng 350.000 DN đang hoạt động tại Việt Nam, với 95% trong số này là DN nhỏ và vừa. Theo kế hoạch phát triển đến năm 2010, con số này sẽ lên đến 500.000 DN. Theo Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch &Đầu tư) sẽ có khoảng 50% số DN Việt Nam có thể sáp nhập với các đối tác là nhà đầu tư trong và ngoài nước.

Hoạt động M&A tuy mới mẻ với thị trường Việt Nam, nhưng, ở nước ngoài thì hoạt động này đã trở nên phổ biến. Các nhà đầu tư nước ngoài đã quen với các hoạt động M&A tại nước sở tại nên họ sẽ có thuận lợi hơn khi đầu tư vào Việt Nam theo hình thức này.

Có thể thấy, qua các thương vụ M&A, khá nhiều DN vẫn tỏ ra lúng túng, chưa được trang bị những kiến thức cơ bản và tổng thể về M&A, dẫn đến nhiều cuộc thương thảo không thành công, hoặc DN được mua lại, sáp nhập với những điều kiện, giá trị chưa thỏa mãn. DN Việt Nam có thể phải chịu những thiệt thòi nếu thiếu kinh nghiệm và kiến thức cần thiết về M&A.

Phía bên mua, nhà đầu tư nước ngoài am tường quản trị, có tiềm lực tài chính, có nhiều kinh nghiệm trong sáp nhập mua lại DN, có thể đưa ra hợp đồng phức tạp với những điều kiện khó khăn cho DN Việt Nam…

Khung pháp lý hiện hành còn nhiều bất cập

Thị trường mua bán và sáp nhậ doanh nghiệp Việt Nam ở thời điểm này khá hấp dẫn và có khả năng thu hút đồng vốn của các nhà đầu tư nước ngoài. Trong thời gian qua, cũng đã có nhiều thương vụ M&A thực hiện thành công. Song, vẫn tồn tại không ít khó khăn từ hành lang pháp lý, vẫn còn những tồn tại cần khắc phục mà điển hình nhất là khung pháp lý chưa thực sự rõ ràng, nằm rải rác ở một số luật như Luật Đầu tư, Luật Cạnh tranh, Luật Chứng khoán… cũng gây nhiều khó khăn cho cả bên mua và bên bán. Vấn đề hậu M&A thường các doanh nghiệp bên bán ít khi quan tâm đến.

Continue reading

CẦN ĐIỀU CHỈNH LẠI CÁC KHÁI NIỆM “ĐẦU TƯ” VÀ “VỐN ĐẦU TƯ”

VŨ QUANG VIỆT

1. Thế nào là đầu tư?

Đầu tiên cũng nên giải thích cho rõ hơn thế nào là “đầu tư” theo quan điểm của quốc tế. Từ ngữ quốc tế chính xác là gross capital formation, có thể dịch là “tích lũy tài sản cố định gộp”.

Thế nào là tích lũy tài sản cố định gộp? Đó là sự tăng/giảm về tài sản cố định (có thể là do đầu tư, có thể do người khác cho, có thể là giảm đi do đem bán) do kết quả của quá trình sản xuất. Việc giảm do tai nạn cháy nhà, phá hủy để xây mới không được tính vào đây vì đây là các hành động không nằm trong diện giao dịch trong sản xuất.

Gọi là “gộp” vì chưa tính phần mất mát vì tuổi thọ giảm và vì năng suất giảm của tài sản cố định theo thời gian cũng như sự lạc hậu của tài sản. Phần mất mát này có thể gọi tạm là khấu hao tài sản cố định, nhưng về mặt kinh tế nó hoàn toàn khác ý niệm dùng trong hạch toán doanh nghiệp vì nó phải phản ảnh sự mất mát liên quan đến tuổi thọ và năng suất, do đó phải được các nhà thống kê tính toán.

 

Continue reading

LUẬT VỀ MUA BÁN DOANH NGHIỆP: BÌNH LUẬN NGẮN TỪ GÓC NHÌN QUẢN TRỊ CÔNG TY

PGS, TS. PHẠM DUY NGHĨA – Khoa Luật, Đại học Kinh tế TP. HCM

Mua bán và sáp nhập công ty (M&A) đã xuất hiện và có thể sẽ trở nên sôi động hơn ở nước ta, nhất là khi các nhà đầu tư từ Trung Hoa đại lục rủng rỉnh tiền bạc bắt đầu nhòm tới các nguồn tài nguyên và kênh tiêu thụ ở Việt Nam. Giúp tái cấu trúc doanh nghiệp, lưu chuyển vốn, mua bán và sáp nhập doanh nghiệp có thể có lợi cho năng lực cạnh tranh quốc gia.

Về chi tiết, việc mua bán hay sáp nhập thường gồm nhiều công đoạn, diễn ra bằng nhiều cách, với sự tham gia của nhiều lực lượng chuyên gia, trong đó chuyên gia pháp lý thường đóng những vai trò lớn trong xác định doanh nghiệp mục tiêu, nhận diện các yếu tố tạo nên giá thành, giúp thương thảo và thiết kế các hợp đồng cũng như làm thủ tục nội bộ trong công ty mua cũng như công ty bán và những thủ tục hành chính khác với cơ quan nhà nước để hoàn tất việc mua bán. Đang có một cuộc tranh luận trong giới làm chính sách về việc liệu nước ta có nên có một đạo luật về mua bán công ty hay không? Để góp phần vào cuộc tranh luận đó, bài viết ngắn dưới đây bước đầu tìm hiểu và bàn luận về một số khía cạnh pháp lý có thể cần được lưu tâm trong quá trình mua bán công ty.

Đối tượng mua bán: Trên thực tế, các loại hình doanh nghiệp đều có thể được mua bán, thậm chí các quyền lợi trong các liên danh không hình thành nên pháp nhân cũng có thể được mua bán. Tuy nhiên, luật pháp không mấy quan tâm đến việc mua bán ki-ốt trên chợ hay cửa hàng của một tiểu thương, kể cả việc mua lại doanh nghiệp tư nhân (DNTN), phần vốn trong hợp danh hay các công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) tư nhân. Về cơ bản, quyền mua bán thuộc tự do khế ước; thuận mua vừa bán, miễn là không có những dấu hiệu làm cho việc mua bán có nguy cơ trở nên vô hiệu. Sự quan tâm của người làm luật chỉ tăng lên trong việc mua bán doanh nghiệp nhà nước (DNNN) – vì đó là bán của công cho tư nhân; và mua bán các công ty cổ phần hoặc việc mua bán tạo nên sự lũng đoạn của độc quyền cản trở cạnh tranh bình thường. Thường thì luật pháp không mấy quan tâm đến việc mua bán công ty phải diễn ra như thế nào – không Nhà nước nào có thể thông thái hơn giới doanh nhân, việc tính toán mua bán bằng cách nào là tự do của họ. Nhà nước chỉ quan tâm để bảo vệ những lợi ích nhất định, ví dụ: (i) bảo vệ cạnh tranh, (ii) bảo vệ doanh nghiệp trong nước trước nguy cơ bị thôn tính bởi các tập đoàn nước ngoài, (iii) bảo vệ các cổ đông nhỏ có thể bị lừa gạt qua các cuộc mua bán, (iv) bảo vệ chủ nợ và người làm công trong công ty.

Continue reading

ĐẦU TƯ MẠO HIỂM – ĐỘNG LỰC PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP CÔNG NGHỆ CAO

TS. NGUYỄN NGHĨA

Đầu tư mạo hiểm (ĐTMH) là loại hình đầu tư thấy trước được nhiều rủi ro, nhưng nếu thành công sẽ đem lại hiệu quả rất cao. Đây là phương thức đầu tư gắn liền với sự hình thành và phát triển loại hình doanh nghiệp khoa học và công nghệ (KH&CN), đặc biệt là doanh nghiệp công nghệ cao. Bài viết dưới đây giới thiệu tóm tắt những nội dung cơ bản về ĐTMH và đề xuất mô hình Quỹ ĐTMH ở nước ta.

Hiện nay, nước ta đang ở trước ngưỡng cửa gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và hội nhập toàn diện với nền kinh tế thế giới. Trong môi trường cạnh tranh, doanh nghiệp muốn sinh tồn thì phải đổi mới công nghệ và doanh nghiệp nào có công nghệ cao, nhiều tài sản vô hình thì sẽ chiến thắng, cho nên ĐTMH là yếu tố quan trọng thúc đẩy hình thành doanh nghiệp công nghệ cao và phát triển công nghệ cao.

ĐTMH là vấn đề mới tại Việt Nam. Điểm đặc biệt của nó là gắn kết chặt chẽ với các yếu tố như thị trường công nghệ, thị trường vốn… Những vấn đề lý luận về ĐTMH, các bước ĐTMH và cơ chế đầu tư, nguồn vốn cũng như khâu rút vốn, chính sách thuế… là những vấn đề phức tạp, cần phải dành nhiều thời gian nghiên cứu.

Khái niệm cơ bản về ĐTMH

ĐTMH – (Venture Capital) là khái niệm có nội hàm đặc biệt, trên thực tế, có thể biên dịch thành đầu tư khởi nghiệp, vì mục đích chủ yếu của ĐTMH là hình thành các doanh nghiệp KH&CN hoặc doanh nghiệp công nghệ cao. Theo nghĩa rộng, là đầu tư vốn vào toàn bộ hoạt động kinh tế mang tính phát triển, sáng tạo, có độ mạo hiểm cao nhưng tiềm năng hiệu quả cũng cao. Theo nghĩa hẹp, ĐTMH thường là đầu tư vào sản xuất, kinh doanh sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao.

Continue reading

Đầu tư trực tiếp nước ngoài trong nền kinh tế Việt Nam NHỮNG THÀNH TỰU, HẠN CHẾ VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN

TRỊNH MINH TÂM

Trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) được xem là một trong những trụ cột góp phần vào tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Tuy nhiên, trong lĩnh vực này, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, cũng còn không ít hạn chế. Vì vậy, làm thế nào để thu hút tối đa nguồn FDI vào Việt Nam và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn này là vấn đề cần được quan tâm hiện nay.

Hơn 20 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu hết sức ấn tượng trên tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là về kinh tế. Từ một nước có tốc độ phát triển kinh tế chậm, đến nay Việt Nam đã trở thành một trong những nước có tốc độ phát triển cao và ổn định nhất trong khu vực và trên thế giới. FDI đã được nhìn nhận như là một trong những trụ cột góp phần vào tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Vai trò của FDI được thể hiện thông qua việc đóng góp vào các yếu tố quan trọng của tăng trưởng kinh tế như: Bổ sung nguồn vốn đầu tư, chuyển giao công nghệ, đẩy mạnh xuất khẩu, tạo việc làm và phát triển nguồn nhân lực. Bên cạnh đó, FDI cũng góp phần thúc đẩy Việt Nam tham gia hội nhập sâu rộng hơn vào nền kinh tế thế giới.

Những thành tựu…

Việt Nam thực hiện Luật Đầu tư nước ngoài (1987) trong bối cảnh kinh tế – xã hội còn phát triển ở mức rất thấp, cơ sở hạ tầng nghèo nàn, khoa học và công nghệ lạc hậu, nguồn nhân lực dồi dào nhưng phần lớn trong lĩnh vực nông nghiệp và chưa qua đào tạo. Từ khi thực hiện Luật Đầu tư nước ngoài (nay là Luật Đầu tư năm 2005) đến nay, FDI đã góp phần tích luỹ vốn và tăng thu ngân sách cho Việt Nam. Thời kỳ 1996-2000, không kể nguồn thu từ dầu thô, các doanh nghiệp có vốn FDI đã nộp ngân sách đạt 1,49 tỷ USD. Trong 5 năm 2001-2005, thu ngân sách từ khối doanh nghiệp có vốn FDI đạt hơn 3,6 tỷ USD, tăng bình quân 24%/năm. Riêng hai năm 2006-2007 khu vực có vốn FDI đã nộp ngân sách trên 3 tỷ USD, gấp đôi thời kỳ 1996-2000 và bằng 83% thời kỳ 2001-2005. Tính đến hết tháng 6.2009, Việt Nam có 10.409 dự án FDI với tổng mức vốn đầu tư đăng ký hơn 164,6 tỷ USD1.

Continue reading

ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TRONG NỀN KINH TẾ VIỆT NAM NHỮNG THÀNH TỰU, HẠN CHẾ VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN

TRỊNH MINH TÂM

Trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) được xem là một trong những trụ cột góp phần vào tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Tuy nhiên, trong lĩnh vực này, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, cũng còn không ít hạn chế. Vì vậy, làm thế nào để thu hút tối đa nguồn FDI vào Việt Nam và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn này là vấn đề cần được quan tâm hiện nay.

Hơn 20 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu hết sức ấn tượng trên tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là về kinh tế. Từ một nước có tốc độ phát triển kinh tế chậm, đến nay Việt Nam đã trở thành một trong những nước có tốc độ phát triển cao và ổn định nhất trong khu vực và trên thế giới. FDI đã được nhìn nhận như là một trong những trụ cột góp phần vào tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Vai trò của FDI được thể hiện thông qua việc đóng góp vào các yếu tố quan trọng của tăng trưởng kinh tế như: Bổ sung nguồn vốn đầu tư, chuyển giao công nghệ, đẩy mạnh xuất khẩu, tạo việc làm và phát triển nguồn nhân lực. Bên cạnh đó, FDI cũng góp phần thúc đẩy Việt Nam tham gia hội nhập sâu rộng hơn vào nền kinh tế thế giới.

Những thành tựu…

Việt Nam thực hiện Luật Đầu tư nước ngoài (1987) trong bối cảnh kinh tế – xã hội còn phát triển ở mức rất thấp, cơ sở hạ tầng nghèo nàn, khoa học và công nghệ lạc hậu, nguồn nhân lực dồi dào nhưng phần lớn trong lĩnh vực nông nghiệp và chưa qua đào tạo. Từ khi thực hiện Luật Đầu tư nước ngoài (nay là Luật Đầu tư năm 2005) đến nay, FDI đã góp phần tích luỹ vốn và tăng thu ngân sách cho Việt Nam. Thời kỳ 1996-2000, không kể nguồn thu từ dầu thô, các doanh nghiệp có vốn FDI đã nộp ngân sách đạt 1,49 tỷ USD. Trong 5 năm 2001-2005, thu ngân sách từ khối doanh nghiệp có vốn FDI đạt hơn 3,6 tỷ USD, tăng bình quân 24%/năm. Riêng hai năm 2006-2007 khu vực có vốn FDI đã nộp ngân sách trên 3 tỷ USD, gấp đôi thời kỳ 1996-2000 và bằng 83% thời kỳ 2001-2005. Tính đến hết tháng 6.2009, Việt Nam có 10.409 dự án FDI với tổng mức vốn đầu tư đăng ký hơn 164,6 tỷ USD1.

Continue reading

SO SÁNH HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ VÀNG VÀ ĐẦU TƯ CỔ PHIẾU

HỒ VIẾT TIẾN – Trường Đại học kinh tế TP. Hồ Chí Minh

Ở Việt Nam, nói đến đầu tư là người ta thường nghĩ đến vàng, đô-la, nhà đất và chứng khoán. Đầu tư đô-la thực chất chỉ là vì lo sợ trước yếu tố lạm phát của đồng tiền Việt Nam, nên hiện nay, khi lạm phát giảm đáng kể, đầu tư vào đô-la rõ ràng là kém hiệu quả. Bên cạnh đó, chưa có cơ quan nào thống kê được biến động chính xác giá nhà đất. Chỉ có vàng và chứng khoán là có thể so sánh được. Mặt khác, thời gian vừa qua chứng kiến những biến động đáng kể của thị trường chứng khoán, đồng thời gần đây giá vàng biến động chưa từng thấy trong vòng 10 năm nay. Chính vì thế, nhiều nhà đầu tư bắt đầu tính toán so sánh giữa sở hữu vàng và đầu tư cổ phiếu. Bài viết này so sánh lợi nhuận và rủi ro của 2 loại hình đầu tư đó.

Trong bài này, chúng tôi phân tích so sánh hiệu quả đầu tư vàng và đầu tư cổ phiếu. Giá vàng lấy từ trang web của Tổng cục Thống kê và Niêm giám Thống kê các năm 2000 và 2001, giá cổ phiếu căn cứ vào chỉ số VN-Index, có nguồn từ các trang web của Trung tâm Giao dịch Chứng khoán TP. HCM và các công ty chứng khoán. Số liệu lấy theo tháng (ngày cuối tháng) và tính từ 31/7/2000 đến 30/04/2007. Tổng cộng có 82 tháng. Kết quả như sau :

1. Đầu tư cổ phiếu lời hơn nhưng có điều kiện

Đồ thị 1 mô tả mức tăng giá của vàng và cổ phiếu (không tính cổ tức) trong 6 năm 9 tháng. Tính trung bình, sau gần 7 năm, vàng tăng được 160,1%, tương đương với 15,2%/năm. Như vậy, rõ ràng, vàng đem lại lợi nhuận cao hơn cả lãi suất tiết kiệm cũng như trái phiếu. Trong khi đó, giá chứng khoán tăng 809,8%, tương đương với mức tăng 38,7%/năm. Như vậy, về dài hạn, đầu tư cổ phiếu mang lại lợi nhuận gấp hơn 2 lần đầu tư vàng.

Đồ thị 1 : Mức tăng giá cổ phiếu và vàng giai đoạn 7/2000 – 4/2007

Continue reading

ĐẦU TƯ MẠO HIỂM – HÌNH THỨC ĐẦU TƯ CẦN QUAN TÂM

TRẦN THỊ MAI HOA

Đầu tư mạo hiểm (ĐTMH) là một hình thức đầu tư khá phổ biến tại nhiều nước phát triển trên thế giới như Mỹ, Anh, Nhật Bản, Hàn Quốc… Kinh nghiệm của các nước này cho thấy, ĐTMH là một kênh cung cấp vốn hiệu quả và quan trọng, góp phần thúc đẩy phát triển nền khoa học và công nghệ của quốc gia. Tuy nhiên, đối với Việt Nam hình thức đầu tư này còn khá mới. Thông qua việc phân tích hình thức, cơ chế hoạt động của ĐTMH nói chung và những rào cản đối với ĐTMH tại Việt Nam nói riêng, tác giả đã đưa ra một số giải pháp trên hai cấp độ: Vĩ mô và vi mô nhằm phát triển hình thức đầu tư này tại Việt Nam.

Đặc điểm của ĐTMH

ĐTMH xuất hiện đầu tiên ở Mỹ vào năm 1946. Đến nay, hình thức đầu tư này đã khá phổ biến ở nhiều nước trên thế giới. Tại Mỹ, nhiều công ty công nghệ danh tiếng như Microsoft, Apple, Yahoo… đã được thành lập và phát triển từ nguồn vốn ĐTMH.

Khác với các hình thức đầu tư tài chính thông thường, đối tượng được nhận vốn ĐTMH phần lớn là các doanh nghiệp công nghệ cao, công nghệ tiên tiến có quy mô vừa và nhỏ đang trong giai đoạn khởi nghiệp. Vì đầu tư vào công nghệ cao, công nghệ tiên tiến nên độ rủi ro rất lớn, nhưng ngược lại nếu thành công thì lợi nhuận thu được rất cao. ĐTMH có một số đặc điểm sau:

Thứ nhất, đầu tư vào các doanh nghiệp mà không cần phải có một khoản đặt cọc hay ký quỹ nào.

Thứ hai, các chuyên gia quản lý vốn mạo hiểm rót vốn vào doanh nghiệp chủ yếu dựa trên sự tin tưởng vào việc tạo dựng thành công doanh nghiệp của người sáng lập và đội ngũ lãnh đạo doanh nghiệp.

Thứ ba, các chuyên gia quản lý vốn mạo hiểm đầu tư vào một doanh nghiệp nào đó thì có nghĩa là họ sẽ đồng tham dự vào việc kiểm soát điều hành doanh nghiệp. Điều này cũng có nghĩa là họ sẽ phải đối mặt với rủi ro bị mất khoản đầu tư trong trường hợp doanh nghiệp bị phá sản. Tuy nhiên, rủi ro cao thì sẽ được bù đắp bởi lợi nhuận cao khi doanh nghiệp đó thành công.

Continue reading

KHÍA CẠNH PHÁP LÝ VÀ CẤU TRÚC CỦA GIAO DỊCH SÁP NHẬP, MUA LẠI DOANH NGHIỆP

TS. PHẠM TRÍ HÙNG – Đại học Luật TPHCM

1. Các hình thức của giao dịch M&A

Sau khi đã hiểu được sự cần thiết của giao dịch M&A, câu hỏi đặt ra với các doanh nghiệp là thực hiện M&A như thế nào.

Thông thường một giao dịch M&A phải trải qua các bước:

– Tìm kiếm đối tác

– Thẩm định, xác định giá trị giao dịch

– Đàm phán, ký kết, thực hiện Hợp đồng M&A

Trong giao dịch M&A, vấn đề cần quan tâm trước tiên đó là hình thức pháp lý mà pháp luật cho phép để thực hiện giao dịch. Hình thức pháp lý ở đây được hiểu là các trình tự, điều kiện do pháp luật quy định mà các bên tham gia giao dịch phải tuân thủ. Hình thức pháp lý của giao dịch M&A sẽ quyết định các công việc cụ thể cần thực hiện cũng như quyết định chúng sẽ được thực hiện như thế nào và tại thời điểm nào.

Pháp luật Việt Nam quy định về các hình thức thực hiện giao dịch M&A như sau:

– Góp vốn trực tiếp vào doanh nghiệp thông qua việc góp vốn để tăng vốn điều lệ công ty TNHH hoặc mua cổ phần phát hành để tăng vốn điều lệ của công ty cổ phần.

– Mua lại phần vốn góp hoặc cổ phần đã phát hành của thành viên hoặc cổ đông của công ty. Không giống như hình thức góp vốn trực tiếp vào doanh nghiệp, đây là hình thức đầu tư không làm tăng vốn điều lệ của doanh nghiệp nhưng có thể làm thay đổi cơ cấu sở hữu vốn góp/cổ phần của doanh nghiệp.

Continue reading

BẢO VỆ CỔ ĐÔNG THIỂU SỐ: NHỮNG VƯỚNG MẮC PHÁT SINH TỪ THỰC TIỄN

LG. VŨ XUÂN TIỀN – Chủ tịch HĐTV Công ty Tư vấn VFAM Việt Nam

Để huy động triệt để nguồn vốn đang nhàn rỗi trong nhân dân tham gia thị trường, Luật Doanh nghiệp đã có những quy định nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các thành viên góp vốn, các cổ đông chỉ góp vốn với một tỷ lệ nhỏ ( gọi chung là các cổ đông thiểu số). Tuy nhiên, việc thực hiện những quy định của Luật Doanh nghiệp trong thực tế đã và đang gặp một số vướng mắc lớn cần được nghiên cứu, tháo gỡ.

Quy định của Luật

Về việc thông qua quyết định của đại hội đồng cổ đông đối với công ty cổ phần, khoản 3 Điều 104 Luật Doanh nghiệp 2005 quy định như sau:
“3. Quyết định của đại hội đồng cổ đông được thông qua tại cuộc họp khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Được số cổ đông đại diện ít nhất 65% tổng số phiếu biểu quyết của tất cả cổ đông dự họp chấp thuận; tỷ lệ cụ thể do điều lệ công ty quy định;
b) Đối với quyết định về loại cổ phần và tổng số cổ phần của từng loại được quyền chào bán; sửa đổi, bổ sung điều lệ công ty; tổ chức lại, giải thể công ty; đầu tư hoặc bán tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty nếu điều lệ công ty không có quy định khác thì phải được số cổ đông đại diện ít nhất 75% tổng số phiếu biểu quyết của tất cả cổ đông dự họp chấp thuận; tỷ lệ cụ thể do điều lệ công ty quy định”.
Khoản 2 Điều 52, cũng có quy định tương tự đối với việc thông qua các quyết định của hội đồng thành viên của công ty TNHH có từ hai thành viên trở lên.

Những vướng mắc từ thực tiễn…

Trước hết, quy định nêu trên của Luật Doanh nghiệp là nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của cổ đông thiểu số. Song, do quá nhấn mạnh đến việc bảo vệ các cổ đông thiểu số nên không ít trường hợp gây những khó khăn không đáng có cho việc quản trị công ty. Các cụm từ: “ít nhất 65%”, “ít nhất 75%” và “tỷ lệ cụ thể do điều lệ công ty quy định” là nguyên nhân gây khó khăn cho việc quản trị các công ty TNHH có từ hai thành viên trở lên và các công ty cổ phần. Xin nêu một ví dụ điển hình như sau:

Continue reading

XU THẾ TẤT YẾU CỦA HOẠT ĐỘNG M&A TẠI CÁC CÔNG TY CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

TS. THÂN THỊ THU THỦY

Theo qui định của Nghị định 14/2007/NĐ-CP thời hạn tăng vốn pháp định của công ty chứng khoán lên 300 tỷ đồng là ngày 31/12/2008, nhưng hiện nay có rất nhiều công ty chứmg khoán phải đứng trước sự lựa chọn tăng vốn hay giảm nghiệp vụ kinh doanh. Một lần nữa, bài toán sáp nhập và mua bán công ty chứng khoán đã trở thành một vấn đề quan tâm của mọi thành viên tham gia thị trường.

1. Hoạt động sáp nhập và mua bán M&A

M&A là một hoạt động không xa lạ với các quốc gia phát triển trên thế giới .Xuất hiện ở VN từ những năm 2000, hiện nay hoạt động này đang có xu hướng phát triển mạnh, nhất là trong lĩnh vực tài chính –ngân hàng. Sáp nhập là việc một hay nhiều công ty chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình cho một công ty khác, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công ty bị sáp nhập. Bên bị sáp nhập gọi là công ty mục tiêu. Mua lại là việc một công ty mua lại hay thâu tóm toàn bộ hoặc một phần tài sản của công ty khác. Hợp nhất là hình thức hai hay nhiều công ty sẽ chuyển toàn bộ tài sản hữu hình và vô hình , quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp để hình thành nên một công ty mới và kết thúc sự tồn tại của các công ty bị hợp nhất.

Trong thực tế ít xảy ra sáp nhập hay hợp nhất mà thường là mua lại, bởi vì sáp nhập và hợp nhất đòi hỏi sự hợp tác rất cao giữa các bên tham gia, trong đó cả hai bên phải cùng nhìn thấy được triển vọng của thương vụ và đặc biệt những cuộc hợp nhất luôn đỏi hỏi sự tương đồng và cân bằng về năng lực quản lý, năng lực tài chính … để cùng chia sẻ trên tinh thần hợp tác cao nhất.

Theo Andrew J.Sherman và Milledge A.Hart thì có nhiều lý do để làm cho xu hướng M&A ngày càng phát triển :

-M&A là cách thức hiệu quả để xâm nhập vào một thị trường mới. Và M&A cũng là phương cách hiệu quả để tiếp cận, mở rộng hoạt động và thị trường ra quốc tế

-M&A là cách để sở hữu những tài sản trí tuệ của các doanh nghiệp khác.

-Việc thu hút vốn sau M&A có triển vọng hơn và nhất là có sự thay đổi nhanh chóng về công nghệ.

Continue reading

NHÌN NHẬN ĐÚNG VAI TRÒ CỦA FDI Ở VIỆT NAM

TS. PHAN MINH NGỌC

Những tác động tiêu cực của vốn đầu tư nước ngoài (FDI) không phải là thuộc tính riêng, và chúng thường là hệ quả của các chính sách và chất lượng quản lý kinh tế. Đây là điều các nhà hoạch định chính sách cần chú ý khi hoạch định một chính sách tổng thể về FDI ở Việt Nam.

Con số vốn FDI đăng ký và vốn FDI thực hiện qua từng tháng, quý và năm luôn thu hút sự chú ý đặc biệt của nhiều người. Rất thường xuyên, những con số này được coi đồng nghĩa với thước đo thành công của chính sách phát triển kinh tế cũng như môi trường kinh doanh của Việt Nam. Bởi vậy, việc duy trì và không ngừng làm cho những con số này tăng lên là điều đặc biệt quan trọng đối với các cấp chính quyền, và cũng vì vậy mà người ta có xu hướng chạy đua, châm trước, và đưa ra quá nhiều ưu đãi để kéo nhà đầu tư nước ngoài đổ tiền của vào Việt Nam nói chung và từng địa phương nói riêng. FDI thường được nhìn nhận như một liều thuốc đại bổ cho nền kinh tế thiếu dinh dưỡng và không mấy ai mảy may nghĩ đến mặt trái của tấm huy chương FDI.

Bởi vậy, dường như chỉ mới gần đây những tác động tiêu cực của FDI mới được bộc lộ rõ nét và mới được công luận chú ý và bắt đầu có cái nhìn mang tính phê phán hơn so với cái nhìn mầu hồng mang nặng tính thực dụng trước đây. Mặt trái của tấm huy chương FDI thường được liệt kê dưới những tác động tiêu cực như gây ô nhiễm môi trường, thôn tính thị trường trong nước, hoặc có những hành vi thao túng giá cả. Một số ít thì chỉ ra rằng FDI vào các ngành dịch vụ nhiều một cách tương đối thì làm tăng thêm thâm hụt cán cân mậu dịch (tức là nhập khẩu lớn hơn xuất khẩu). Thậm chí có người còn quy kết FDI làm tăng tính bất ổn định xã hội với nhiều vụ đình công v.v…

Continue reading

THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI THÔNG QUA HÌNH THỨC BÁN VÀ SÁP NHẬP DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM

THS. BÙI THANH LAM

Hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài được áp dụng khá hiệu quả trên thế giới là thông qua thị trường mua bán và sáp nhập doanh nghiệp (M&A). Thông qua thị trường M&A, nhà đầu tư nước ngoài được lựa chọn hình thức đầu tư: (a) Đóng góp vốn để thành lập doanh nghiệp mới hoặc để tham gia quản lý hoạt động đầu tư, (b) Mua toàn bộ hoặc một phần doanh nghiệp đang hoạt động, (c) Mua cổ phiếu để thâu tóm hoặc sáp nhập doanh nghiệp trên thị trường, (d) hợp nhất, sáp nhập với doanh nghiệp ở nước có dự định đầu tư.

Trên thế giới, việc tạo ra môi trường và hành lang pháp lý đồng bộ cho việc thu hút FDI đều được các nước chú trọng, tạo ra những điều kiện tốt nhất cho thị trường M&A phát triển. Với giá trị lên đến hàng ngàn tỷ USD mỗi năm, thị trường M&A không chỉ là kênh hút vốn của Nhà nước, doanh nghiệp mà còn tạo ra cơ hội cho nhà đầu tư nước ngoài tiếp cận thị trường quốc gia dự định đầu tư một cách nhanh nhất, tiết kiệm được chi phí lớn nhất. Vì vậy, FDI và M&A có mối quan hệ biện chứng, việc hút lượng FDI nhiều hay ít phụ thuộc không nhỏ vào việc thiết lập, vận hành và phát triển thị trường M&A, và ngược lại M&A là giúp cho FDI xâm nhập nhanh nhất vào thị trường, bài viết này xin giới thiệu về một số khía cạnh liên quan đến thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thông qua hình thức mua bán và sáp nhập doanh nghiệp ở Việt Nam.

1. Thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài và mua bán sáp nhập doanh nghiệp trên thế giới và Việt Nam

1.1. Thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài và mua bán sáp nhập doanh nghiệp trên thế giới.

Theo thống kê từ Tổ chức Thương mại và phát triển Liên hợp quốc (UNTACD), kể từ năm 2004 đến năm 2006, thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tăng liên tục, giá trị vốn FDI của năm 2005 trên thế giới là 916,3 tỷ USD, tăng 29% so với năm 2004, giá trị vốn FDI của năm 2006 đạt trên 1200 tỷ USD, tăng 34% so với năm 2005, 6 tháng đầu năm 2007, lượng vốn FDI của thế giới cũng đã vượt ngưỡng 700 tỷ USD. Nguồn vốn FDI đi qua nhiều kênh khác nhau, trong đó kênh mua bán sáp nhập doanh nghiệp (M&A) góp phần quan trọng vào việc gia tăng số lượng và giá trị của lượng FDI trên toàn cầu. Theo những đánh giá của Thomson và PricewaterhouseCoopers’ (PwC) thì tổng giá trị M&A trong năm 2006 đã lên đến gần 3500 tỷ USD với gần 40.000 vụ, xu hướng cổ phần hoá, tư nhân hoá đang diễn ra tại các nước phát triển và đang phát triển là những cơ sở quan trọng cho thị trường M&A bùng nổ.

Continue reading

ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM NĂM 2009 VÀ TRIỂN VỌNG NĂM 2010

LÊ HẢI VÂN – Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Mặc dù có sự giảm sút cả về vốn đăng ký và vốn giải ngân so với cùng kỳ năm trước, nhưng vốn đầu tư nước ngoài (ĐTNN) vào Việt Nam trong bối cảnh khó khăn của năm nay vẫn đạt kết quả khá cao so với các năm trước đó. Riêng thu ngân sách nhà nước từ khu vực vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) năm 2009 ước đạt 2,47 tỉ USD, mức cao nhất từ trước đến nay và tăng 23% so với cùng kỳ 2008.

Vượt qua khó khăn, thu hút FDI đạt được thành tích đáng khích lệ

Năm 2009 là một năm đầy thách thức đối với thu hút FDI vào Việt Nam. Nền kinh tế Việt Nam vừa vượt qua những khó khăn của năm 2008 như lạm phát cao, thâm hụt thương mại lớn, thị trường chứng khoán sụt giảm mạnh… lại phải đối mặt với cơn bão khủng hoảng tài chính toàn cầu khiến cho dòng FDI toàn cầu tiếp tục suy giảm đáng kể. FDI đầu tư ra tại 47 quốc gia (chiếm 60% tổng dòng FDI ra toàn cầu, trong đó có các nhà đầu tư lớn như Nhật Bản, Đức, Pháp và Hoa Kỳ) đã giảm 57% trong năm 2009. Dòng FDI vào 57 nền kinh tế (chiếm 60% tổng FDI toàn cầu, trong đó các quốc gia tiếp nhận lớn nhất như Trung Quốc, Bra-xin và Nga) cũng sụt giảm tới 54% trong năm 2009. Giá trị các thương vụ mua lại và sáp nhập (M&As) qua biên giới cũng sụt giảm tới 77% trong năm 2009. Khả năng và ý định đầu tư ra nước ngoài của các tập đoàn đa quốc gia (TNCs) một nguồn FDI lớn đã bị ảnh hưởng đáng kể do tác động của suy thoái kinh tế dẫn tới các chính sách thắt chặt tín dụng tại nước đầu tư, giảm kỳ vọng thị trường, giảm giá trị tài sản do thị trường chứng khoán đi xuống và giảm lợi nhuận của các tập đoàn. Thêm vào đó, các TNCs còn phải đối mặt với những thay đổi khó lường trong chính sách của các nền kinh tế để ứng phó với khủng hoảng.

Trong bối cảnh khó khăn chung của nền kinh tế toàn cầu cũng như của nền kinh tế trong nước, ĐTNN vào Việt Nam trong năm 2009 cũng suy giảm đáng kể so với cùng kỳ năm 2008. Các số liệu sơ bộ tính đến 15-12-2009 cho thấy, Việt Nam thu hút được 839 dự án FDI với tổng vốn đăng ký mới và tăng thêm là 21,48 tỉ USD, chỉ bằng 53,9% về số dự án mới và 30% vốn đầu tư đăng ký so với cùng kỳ 2008. Vốn đầu tư thực hiện ước đạt 10 tỉ USD, bằng 87% so với cùng kỳ năm 2008. Xuất khẩu của khu vực ĐTNN, kể cả dầu khí, năm 2009 ước đạt 29,9 tỉ USD, bằng 86,6% so với năm 2008 và chiếm 52,7% tổng xuất khẩu cả nước. Nếu không tính dầu thô, khu vực ĐTNN xuất khẩu 23,6 tỉ USD, chiếm 41,7% tổng xuất khẩu và bằng 98% so với năm 2008. Nhập khẩu của khu vực ĐTNN năm 2009 ước đạt 24,8 tỉ USD, bằng 89,2% so với năm 2008 và chiếm 36,1% tổng nhập khẩu cả nước. Như vậy, khu vực FDI xuất siêu 5,03 tỉ USD trong khi mức thâm hụt thương mại của các khu vực kinh tế dự kiến lên tới 12 tỉ USD năm 2009.

Continue reading

CHẠY VỐN, TRỐN NỢ – SỢ LÃI, HÃI TIỀN

LS. TRƯƠNG THANH ĐỨC – Chủ tịch HĐTV Công ty Luật BASICO

Các nguồn huy động vốn của doanh nghiệp bao gồm:
– Vốn chủ sở hữu của chủ doanh nghiệp, người góp vốn (vốn điều lệ, vốn từ các quỹ và lợi nhuận để lại);
– Vốn vay ngân hàng thương mại và ngân hàng phát triển;
– Vốn vay thương mại gồm mua trả chậm của nhà cung ứng, bán hàng trong và ngoài nước và chiếm dụng vốn của người khác;
– Vốn vay của các tổ chức, cá nhân khác thông qua việc phát hành trái phiếu hoặc nhận tiền ký quỹ, đặt cọc, trả trước;
– Vốn vay của các tổ chức, cá nhân khác, trong đó có bạn bè, người nhà thân quen và CBNV trong doanh nghiệp;
– Vốn huy động từ các nguồn khác.

Câu hỏi đầu tiên trong kinh doanh được đưa ra thật tự nhiên, đơn giản với nghĩa là “tiền đâu”? Có rất nhiều nguồn vốn phục vụ cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, đối với những doanh nghiệp bình thường, thật khó để “xoay” vốn trong thời kỳ lạm phát, kinh tế suy thoái.

Vốn chủ sở hữu, không cứu được ai

Vốn chủ sở hữu dường như không bao giờ đủ để kinh doanh. Có 100 triệu đồng vốn, người ta sẽ muốn kinh doanh với 1 tỷ. Khi có đến 10 tỷ đồng, người ta lại muốn mở rộng kinh doanh lên 100 tỷ. Phần vốn chủ sở hữu thường chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng tài sản. Đặc biệt trong thời kỳ khó tìm vốn, cái khó đầu tiên chính là không tăng được vốn chủ sở hữu, không bán được trái phiếu. Cổ phần, cổ phiếu hiện hữu đã khó chuyển nhượng, thì cũng rất ít khả năng được góp tăng thêm.

Kinh doanh mà không vay vốn, cũng đồng dạng với kiểu cá nhân đầu tư tiền gửi vào ngân hàng lấy lãi. Vay vốn nhiều đâu phải là không tốt. Số tiền vay cũng là một trong những yếu tố thể hiện sức mạnh và uy tín của doanh nghiệp. Nước Mỹ là một nền kinh tế lớn nhất thế giới và cũng là quốc gia vay nợ nhiều nhất. Các ngân hàng là những chủ nợ lớn nhất đồng thời cũng là những con nợ lớn nhất. Phần lớn doanh nghiệp trông chờ vào vốn vay.

Continue reading

M&A Ở VIỆT NAM: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP CƠ BẢN

NGUYỄN HÒA NHÂN – Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng

TÓM TẮT

M&A là hoạt động kinh tế tăng trưởng mạnh từ lâu nay trên thế giới. Ở Việt Nam, hoạt động này bắt đầu chưa lâu song ngày càng sôi động và hứa hẹn một sự bùng nổ trong thời gian đến tuy rằng những hiểu biết hiện tại về nó còn rất hạn chế. Chính vì vậy, bài viết này nhằm giới thiệu hệ thống các vấn đề cơ bản liên quan quá trình M&A và phân tích thực tế ứng dụng hoạt động M&A ở Việt Nam. Một trong những vấn đề lý thuyết mấu chốt cần nắm vững khi tiến hành hoạt động M&A được đề cập đến là các yếu tố tạo nên giá trị tăng thêm sau M&A.

Bài viết cũng phân tích một cách cơ bản những kết quả và hạn chế của hoạt động M&A cho đến nay cũng như những cơ hội và thách thức cho hoạt động M&A sắp đến. Cuối cùng, điều quan trọng là đề xuất một số hướng giải pháp cơ bản chuẩn bị cho sự phát triển hoạt động M&A ở Việt Nam, nhất là các nội dung cần lưu ý cho các công ty tham gia M&A.

1. M&A và những lợi ích

Hiện nay M&A được gọi phổ biến là “sáp nhập (Mergers) và mua lại (Acquisitions)” (có người còn gọi đó là “hợp nhất và thâu tóm”). Sáp nhập là hình thức trong đó hai hay nhiều công ty kết hợp lại thành một và cho ra đời một pháp nhân m ới, một công ty mới thay vì hoạt động và sở hữu riêng lẻ. Ví dụ Daimler-Benz và Chrysler sáp nhập thành một công ty mới mang tên DaimlerChrysler. Có 3 loại sáp nhập: ngang, dọc, tổ hợp. Sáp nhập ngang (horizontal mergers) là sự sáp nhập giữa hai công ty kinh doanh trong cùng cùng một lĩnh vực, ví dụ giữa hai ngân hàng sáp nhập với nhau; Sáp nhập dọc (vertical mergers) là sự sáp nhập giữa hai công ty nằm trên cùng một chuỗi giá trị, dẫn tới sự mở rộng về phía trước (forward, ví dụ công ty may mặc mua lại chuỗi cửa hàng bán lẻ quần áo) hoặc phía sau (backward, ví dụ công ty sản xuất sữa mua lại công ty bao bì, đóng chai hoặc công ty chăn nuôi bò sữa) của công ty sáp nhập trên chuỗi giá trị đó; Sáp nhập tổ hợp (conglomerate mergers) bao gồm tất cả các loại sáp nhập khác.

Continue reading

THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN TỪ THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

THS. NGUYỄN HỒ PHI HÀ

Vốn là một câu chuyện thường xuyên làm đau đầu các doanh nghiệp. Vốn đối với doanh nghiệp quan trọng như huyết mạch trong cơ thể con người. Vì vậy, huy động vốn là một vấn đề vô cùng quan trọng đối với doanh nghiệp. Hiện nay, có nhiều kênh huy động vốn khác nhau, trong đó thị trường bất động sản là một trong những kênh huy động vốn đang nhận được sự quan tâm từ nhiều phía. Vậy thực trạng huy động vốn từ thị trường bất động sản ở Việt Nam hiện nay ra sao? 

Có thể nhận thấy rằng thị trường bất động sản là một loại hình thị trường quan trọng. Đối với các nước công nghiệp, hoạt động của thị trường bất động sản thường chiếm khoảng 30% GDP. Cũng có rất nhiều quốc gia có nguồn thu thuế cho Ngân sách Nhà nước từ đất đai và bất động sản chiếm 50%-70% tổng thu. Sự ra đời và phát triển của loại hình thị trường này đã có những đóng góp không nhỏ vào sự phát triển kinh tế xã hội của nước ta trong thời gian qua bởi nó là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế. Việc phát triển thị trường bất động sản tạo ra những kích thích cho đầu tư vào đất đai, sự chuyển dịch năng động về lao động giữa các ngành, các vùng lãnh thổ; chuyển bất động sản thành tài sản tài chính để thu hút vào hoạt động các nguồn lực tài chính cho nền kinh tế…. Và thị trường bất động sản thực sự là một kênh huy động vốn hiệu quả cho các doanh nghiệp. Điều này được thể hiện rất rõ thông qua tình hình huy động nguồn vốn từ đất đai cho Ngân sách Nhà nước sẽ gián tiếp tác động tới nguồn vốn cho doanh nghiệp. Cụ thể trong thời gian qua, các khoản thu từ đất đai luôn là một nguồn thu ổn định và chiếm từ 8- 9,5% tổng số thu của Ngân sách Nhà nước. Đó là chưa tính đến lệ phí trước bạ khi chuyển quyền sử dụng đất và các khoản thu gián tiếp thông qua góp vốn liên doanh bằng giá trị quyền sử dụng đất… cũng làm tăng các khoản thu khác của Ngân sách Nhà nước. Điều này được thể hiện số thu cho Ngân sách Nhà nước từ đất đai qua các năm như sau:

Continue reading

TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI ĐẾN PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

PV

Luật Đầu tư nước ngoài (ĐTNN) Việt Nam năm 1987 là một trong những đạo luật kinh tế đầu tiên của thời kỳ đổi mới. Nhìn lại chặng đường 20 năm qua, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Trương Văn Đoan đã có bài tổng kết Tác động của ĐTNN đến phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam, tại Hội Nghị Tổng kết 20 năm ĐTNN tại Việt Nam (1987 – 2007, Civillawinfor).

DẤU ẤN 20 NĂM

Trong suốt 20 năm qua, khu vực kinh tế có vốn ĐTNN đã không ngừng được mở rộng và phát triển, trở thành bộ phận quan trọng của nền kinh tế, góp phần tích cực vào thành công của công cuộc đổi mới đất nước.

Tính đến nay, cả nước có khoảng 9.500 dự án ĐTNN được cấp phép đầu tư với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt khoảng 98 tỷ USD. Trừ các dự án đã hết thời hạn hoạt động và giải thể trước thời hạn, hiện có 8.590 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký trên 83 tỷ USD. Riêng năm 2007, thu hút ĐTNN đạt 20,3 tỷ USD, tăng gần 70% so với năm 2006, gần bằng tổng mức đầu tư nước ngoài của 5 năm 2001 – 2005 và chiếm tới gần 20% tổng vốn đầu tư nước ngoài trong 20 năm qua.

Lĩnh vực công nghiệp và xây dựng có tỷ trọng lớn nhất, chiếm 61% tổng vốn đăng ký, lĩnh vực dịch vụ chiếm 34,4% tổng vốn đầu tư đăng ký; lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp chiếm 4,6 % tổng vốn ĐTNN đăng ký.

Đến nay, ĐTNN đã trải rộng khắp 64 tỉnh, thành phố cả nước, trong đó tập trung chủ yếu tại các địa bàn trọng điểm, có lợi thế, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương, làm cho các vùng này thực sự là vùng kinh tế động lực, lôi kéo phát triển kinh tế – xã hội chung và các vùng phụ cận. Vùng trọng kinh tế điểm phía Bắc thu hút trên 24 tỷ USD vốn đầu tư, chiếm 27% tổng vốn đăng ký cả nước; vùng kinh tế trọng điểm phía Nam thu hút 44,87 tỷ USD vốn đầu tư, chiếm 54% tổng vốn đăng ký; vùng kinh tế trọng điểm miền Trung thu hút được 8,6 tỷ USD vốn đăng ký, chiếm 6% tổng vốn đăng ký của cả nước.

Continue reading

BẢO VỆ BÍ MẬT THƯƠNG MẠI TRONG NHƯỢNG QUYỀN

KINH DOANH – Mọi hợp đồng nhượng quyền đều bao gồm nhiều điều khoản nhằm bảo vệ các quyền sở hữu trí tuệ, các sáng chế, bí quyết kinh doanh. Có nhiều hợp đồng lại thất bại do không chỉ ra được một cách thức đúng đắn nhằm bảo vệ một thứ được coi là tài sản quý giá nhất đối với mọi doanh nghiệp đó chính là các bí mật thương mại.

Xét trong bối cảnh của nghành công nghiệp nhượng quyền, thật rất cần thiết cho cả bên nhượng quyền và bên nhận quyền hiểu thế nào là một bí mật thương mại, tại sao việc bảo vệ bí mật thương mại lại trở nên quan trọng, sự bảo vệ đó có thể thất bại ra sao và những nỗ lực cần thiết để giúp đảm bảo việc bảo vệ những bí mật thương mại trong nghành kinh doanh này nhằm duy trì lợi thế cạnh tranh của hệ thống nhượng quyền.

Bí mật thương mại:

Một bí mật thương mại được định nghĩa chung như là một dạng thông tin mà các thông tin này có thể tạo ra cho người nắm giữ chúng một lợi thế cạnh tranh nhất định, do vậy thông tin này sẽ được giữ bí mật và người khác sẽ không biết gì về thông tin này và bí mật thương mại chính là đối tượng của những nỗ lực thiết thực nhằm duy trì tính bí mật của nó trong bất kì hoàn cảnh nào.

Tại sao việc bảo vệ bí mật thương mại lại quan trọng?

Những bí mật thương mại có thể mang lại một lợi thế canh tranh cho một doanh nghiệp miễn là các đối thủ không thể biết gì về chúng. Vì vậy, không giống bằng sáng chế, chỉ có giá trị đến 20 năm sau khi thông tin này đã được phổ biến rộng rãi, ngược lại, một bí mật thương mại có thể còn giá trị để mang lại một lợi thế cạnh tranh lâu dài hơn sau khi một bằng sáng chế đã hết hiệu lực.
Thí dụ, nếu công thức cho Coco-Cola đã được cấp bằng sáng chế thay vì được xác nhận như là một bí mật thương mại thì bằng sáng chế này chắc chắn đã hết hiệu lực từ lâu, mặt khác, với một lợi thế cạnh tranh, Coco-Cola và nghành kinh doanh nước giải khát của thương hiệu này đã được ỵêu thích hơn 100 năm qua.

Continue reading