TRANH CHẤP HÔN NHÂN – GIA ĐÌNH: LY HÔN VÌ CHỒNG KHÔNG ĐI MỸ

SONG NGUYỄN

Cấp giám đốc thẩm chỉ hủy phần phân chia tài sản chung nhưng tòa sơ thẩm lần hai giải quyết lại cả yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, được không?

Ngày 7-1- 2010 vừa qua đã là lần thứ 12 TAND TP.HCM quyết định hoãn xử vụ ly hôn giữa bà T. (Việt kiều Mỹ) với ông B. Vụ án ban đầu đã được tòa giải quyết khá nhanh vì hai bên đương sự thỏa thuận được với nhau nhưng rồi một bên đổi ý khiến quá trình tòa xử lại phát sinh nhiều rắc rối.

Thỏa thuận ban đầu

Theo hồ sơ, năm 1989, sau khi lấy ông B., bà T. sang Mỹ sống, mỗi năm chỉ về nước với chồng vài tháng. Năm 2000, bà sinh được một bé gái, có ý đưa chồng sang Mỹ định cư luôn nhưng ông B. không chịu, nói “phải 60 tuổi mới đi”. Thấy tình cảm sứt mẻ vì mỗi người một phương, tháng 11-2005, bà T. đâm đơn xin ly hôn, chia tài sản chung…

Theo bà T., vợ chồng bà có một căn nhà, một căn hộ chung cư, một xe hơi, một xe máy, ba chiếc tivi, tổng giá trị hơn 5,4 tỉ đồng. Bà yêu cầu được chia đôi mỗi người khoảng 2,2 tỉ đồng. Ngược lại, ông B. nói căn nhà là ông tự bỏ tiền ra mua và đứng tên, còn xe hơi đã bán nên yêu cầu tòa cho vợ chồng ông tự thỏa thuận.

Tháng 3-2006, TAND TP.HCM đã ra quyết định công nhận sự thỏa thuận giữa hai bên. Theo đó, bà T. được nuôi con, ông B. có trách nhiệm cấp dưỡng 2 triệu đồng/tháng đến khi con trưởng thành. Về tài sản chung, ông B. được quản lý, sử dụng hết nhưng phải trả cho bà T. 1,6 tỉ đồng…

Hủy phần chia tài sản chung

Sau đó, bà T. đã khiếu nại xin xem xét giám đốc thẩm vì cho rằng giá trị tài sản mà tòa sơ thẩm công nhận là quá thấp so với thực tế. Bà nói mình không sống tại Việt Nam nhiều nên không biết rõ giá trị thật của hai căn nhà. Cạnh đó, do ông B. dây dưa việc trả tiền và cấp dưỡng nuôi con nên bà yêu cầu tòa tăng mức cấp dưỡng nuôi con là 2.000 USD/tháng tính đến năm cháu bé 18 tuổi và trả một lần.

Continue reading

TRANH CHẤP HÔN NHÂN: LẤY CHỒNG . . . KHÔNG GIẤY

KHÁNH LY

Tổ chức đám cưới linh đình nhưng lại quên đăng ký kết hôn, thế là bị thiệt!

Chị T. (quận Tân Phú, TP.HCM) lấy chồng và làm thủ tục kết hôn ở ngoài Bắc rồi vào TP.HCM lập nghiệp. Chăm chỉ làm ăn, vợ chồng chị trở nên khấm khá, mua nhà, lập xưởng sản xuất. Nhưng lúc này, chồng chị bắt đầu phải lòng một phụ nữ khác…

Mất cả chồng lẫn của

Năm 2007, khuyên nhủ chồng không được, chị T. đồng ý ra tòa ly hôn. Phần tài sản chung gồm hai căn nhà khi đó không ra tòa chia mà mỗi người ở một căn. Chị T. nuôi con nhỏ và tiếp tục công việc kinh doanh. Tuy nhiên, người chồng sau một năm sống với cô vợ trẻ thì ly dị.

Tình nghĩa vợ chồng vẫn còn và vì thương con nên chị T. đồng ý quay về sống chung với chồng cũ. Điều dại dột là chị không yêu cầu chồng làm giấy đăng ký kết hôn lại. Từ chuyện hợp thức hóa đến chuyện sửa sang hai căn nhà đều do chị T. lấy tiền riêng đưa chồng lo liệu. Chồng muốn làm ăn riêng, chị cũng gom góp đưa vốn cho chồng.

Nhưng rồi chị phát hiện chồng lén lút chung sống với phụ nữ khác và đã có cả con riêng. Đã vậy, anh chồng còn lên tiếng đòi chiếm luôn cái xưởng sản xuất tuy đứng tên anh nhưng phần lớn là vốn liếng của chị. Đến nước này thì chị T. đành tiễn chồng và tiễn cả số tài sản đáng kể của mình theo chồng.

Trường hợp của V. (sinh viên một trường ở Bà Rịa-Vũng Tàu) cũng buồn không kém. Đầu năm 2009, V. lỡ có bầu. Người yêu của V. cũng chỉ ở độ tuổi 20, không học hành nên gia đình mở cho một cửa hàng nhỏ để tự kinh doanh. Đám cưới được tổ chức với đầy đủ nghi lễ nhưng vợ chồng V. chưa vội đăng ký kết hôn vì cho rằng không mấy quan trọng. Gia đình cho ít vốn làm của hồi môn, V. đưa luôn một phần cho chồng kinh doanh, mua xe máy và vật dụng sinh hoạt.

Continue reading

TRANH CHẤP SỞ HỮU CHUNG HỢP NHẤT CỦA VỢ CHỒNG: CHIA TÀI SẢN THEO NGUỒN GỐC, CÔNG SỨC ĐÓNG GÓP ĐỐI VỚI TÀI SẢN LIÊN QUAN ĐẾN 20 TỜ VÉ SỐ ĐỘC ĐẮC!?

VĨNH SƠN – HỒNG TÚ

Theo luật sư bảo vệ cho chị A., số tiền trúng số trên có được trong thời gian vợ chồng chung sống với nhau nên phải xem là tài sản chung và phải được chia đều. Tòa nói công sức đóng góp kẻ nhiều người ít cũng chưa thuyết phục. Nếu nói chị A. không có hoặc có ít công sức đóng góp lại càng bất hợp lý…

Ngày 9-12-2009, TAND tỉnh An Giang hoãn phiên xử phúc thẩm vụ án không công nhận là vợ chồng giữa chị Huỳnh Thị A. và anh Trần Văn T vì lấn cấn chuyện chia tài sản liên quan đến 20 tờ vé số độc đắc.

Năm 2008, anh T. và chị A. tổ chức đám cưới (chưa đăng ký kết hôn) và họ sống bằng nghề bán vé số dạo. Có tật hay ngủ quên nên anh T. thường “ôm” vé số ế. Có lần vợ anh phải cầm cả đôi bông tai ngày cưới lấy tiền trả nợ cho đại lý. Nghèo nhưng gia đình nhỏ của họ vẫn ấm cúng.

Ngày 25-3-2009, anh T. nhận của đại lý 200 tờ vé số (loại 5.000 đồng/tờ) đi bán nhưng đến chiều vẫn còn 40 tờ vé số ế. Thất thểu về nhà với 40 tờ vé số ế thì anh T. hay tin mình trúng số. Trong đó có 20 tờ trúng đặc biệt và 20 tờ trúng an ủi. Tổng giá trị giải thưởng anh T. nhận là hơn 2,5 tỉ đồng. Sau đó mâu thuẫn vợ chồng phát sinh nhưng hai người vẫn sống chung. Sau khi xây mới căn nhà, còn lại 1,4 tỉ đồng anh T. mang gửi ngân hàng…

Ngày 27-8, TAND huyện Thoại Sơn không công nhận hai người là vợ chồng vì không đăng ký kết hôn. Số tiền 1,4 tỉ đồng do trúng số mà có là tài sản tồn tại trong thời gian chung sống với nhau. Tuy lý luận như vậy nhưng khi chia tài sản này thì tòa quyết: anh T. nhận 80% trên tổng giá trị giải thưởng (tương đương 1 tỉ 120 triệu đồng), còn chị A. chỉ được 280 triệu đồng. Lý do là anh T. trực tiếp đi bán vé số, bị ế nên trúng thưởng, còn chị A. ít có công sức đóng góp. Cho rằng mình bị tòa xử ép, chị A. kháng cáo.

Theo luật sư bảo vệ cho chị A., số tiền trúng số trên có được trong thời gian vợ chồng chung sống với nhau nên phải xem là tài sản chung và phải được chia đều. Tòa nói công sức đóng góp kẻ nhiều người ít cũng chưa thuyết phục. Nếu nói chị A. không có hoặc có ít công sức đóng góp lại càng bất hợp lý…

Continue reading

TRANH CHẤP TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG: “QUA ĐƯỜNG” CŨNG LÀ VỢ CHỒNG?

HOÀNG LAM

Do ký tên xác nhận căn nhà là của vợ nên người chồng mất quyền đối với tài sản chung.

Ông T. chung sống với bà K. từ năm 1976, có tổ chức lễ cưới nhưng không đăng ký kết hôn. Theo Nghị quyết số 35 năm 2000 của Quốc hội, quan hệ của họ là hôn nhân thực tế. Năm 2004, họ từng ra tòa ly hôn nhưng sau khi được tòa hòa giải thành thì họ đã quay về đoàn tụ. Ba năm sau, ông T. lại nộp đơn đòi ly hôn vợ.

Xuất hiện bà vợ “qua đường”

Tại phiên tòa sơ thẩm, ông T. hoảng hồn khi hội đồng xét xử xác định ông và bà K. không phải là vợ chồng. Bởi lẽ trước khi sống với bà K., ông đã chung sống và có con với người phụ nữ khác. Ông chưa ly hôn với bà này nên quan hệ giữa ông và bà K. là bất hợp pháp. TAND quận Gò Vấp không công nhận ông T. và bà K. là vợ chồng.

Ông T. phản ứng: “Năm 1972, tôi có cặp bồ và làm một phụ nữ có thai. Đó là chuyện đã qua của thời trai trẻ của tôi. Cô ấy đã chết sau ngày giải phóng, làm sao mà tôi ly hôn được!”.

Phúc thẩm vụ án hồi tháng 3-2008, TAND TP.HCM viện dẫn Thông tư số 690 năm 1960 của TAND tối cao và xác định quan hệ giữa ông T. và bà K. không vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng. Họ là vợ chồng hợp pháp. Vì đời sống chung của họ có mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên cấp phúc thẩm giải quyết cho họ được ly hôn.

Mất quyền vì bản cam kết

Tài sản lớn nhất hai bên tranh chấp là căn nhà tại quận Gò Vấp. Ông T. bảo đây là tài sản chung vợ chồng tích cóp mãi mới có được, yêu cầu chia đôi. Bà K. lại nhận căn nhà là của riêng mình. Bằng chứng là giấy tờ nhà đất đều do một mình bà đứng tên. Hơn nữa, chính ông T. đã ra Phòng Công chứng số 5 vào cuối năm 2004 để ký giấy cam kết căn nhà là tài sản riêng của bà.

Continue reading

TRANH CHẤP QUYỀN NUÔI CON KHI LY HÔN: LY HÔN TÒA LẠI GIAO CON CHO BÀ NGOẠI

NGUYÊN TRƯỜNG

Theo luật, chỉ khi cha mẹ, anh, chị, em không còn thì ông bà nội, ông bà ngoại mới có quyền nuôi dưỡng cháu.

TAND TP Bến Tre (Bến Tre) vừa có văn bản kiến nghị gửi chánh án TAND tỉnh Bến Tre về một bản án ly hôn của tòa này bị TAND tỉnh sửa trước đó.

Sơ thẩm: Cha được nuôi

Theo hồ sơ, cuối năm 2008, anh N. nộp đơn ra TAND thị xã Bến Tre (nay là TP Bến Tre) xin ly hôn với chị Ng.

Tại phiên sơ thẩm tháng 11-2008, anh N. khai vợ chồng họ kết hôn năm 2003, nay đã có một con chung năm tuổi. Sau hai năm chung sống tại TP.HCM, vợ chồng bất đồng quan điểm nên chị Ng. đem con về sống với cha mẹ ruột tại Bến Tre. Nay anh yêu cầu tòa cho ly hôn và được trực tiếp nuôi con, còn tài sản chung và nợ chung thì không có gì.

Ở phiên xử này, chị Ng. chỉ có bản tự khai gửi đến tòa do trước đó chị phạm tội mua bán trái phép chất ma túy, đang phải thụ án sáu năm tù. Theo bản tự khai, chị đồng ý ly hôn, không yêu cầu giải quyết về tài sản chung, nợ chung mà chỉ yêu cầu được nuôi con.

TAND thị xã Bến Tre nhận định về mặt hôn nhân, hai bên đương sự đều thuận tình chia tay. Về mặt nuôi dưỡng con chung, chị Ng. đang thụ án tù, không có điều kiện nuôi con. Vì vậy, tòa đã chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh N., giao con chung cho anh trực tiếp nuôi dưỡng. Tòa cũng ghi nhận là nếu sau này, vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên thì tòa có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Phúc thẩm: Bà ngoại được nuôi

Sau đó, chị Ng. có đơn kháng cáo gửi từ trại giam, yêu cầu tòa phúc thẩm giao con cho mình nuôi. Tháng 3-2009, TAND tỉnh Bến Tre xử phúc thẩm đã ra phán quyết trái ngược hoàn toàn so với cấp sơ thẩm: Giao quyền nuôi con cho chị Ng. Vì chị Ng. đang thụ án tù nên tòa giao cho mẹ chị tiếp tục nuôi dưỡng cháu bé cho đến khi chị chấp hành án xong.

Continue reading

TRANH CHẤP HÔN NHÂN – GIA ĐÌNH: LƯƠNG TÂM NGƯỜI CẦM CÂN, NẢY MỰC Ở ĐÂU?

TIỂU PHƯƠNG

Tại phiên toà xét xử ly hôn giữa bà Lê Thị Tiến và ông Diêm Đăng Bình, trú tại thôn An Liễu, xã Lam Cốt (Tân Yên, Bắc Giang), nhiều người không khỏi day dứt trước những câu hỏi của cả bốn đứa con dành cho cha đẻ của mình: Từ khi con được sinh ra, đã bao giờ bố coi chúng con là con chưa, hay chỉ là đám nô lệ?

Bà Tiến và ông Bình lập gia đình năm 1974. Thời gian đầu, cuộc sống không có xô xát gì lớn, nhưng càng về sau, ông càng trở nên độc đoán, đối xử tàn nhẫn với vợ con. Những trận đòn vô cớ liên tiếp dội lên đầu. Bà đã từng nhập viện tâm thần điều trị hơn một tháng vì bị chồng đánh cho đến gần ngất xỉu, làm ảnh hưởng dây thần kinh não.

Công an xã Lam Cốt và chính quyền địa phương đã nhiều lần can thiệp, ông Bình tỏ ra ăn năn hối lỗi, nhưng sau đó lại chứng nào, tật nấy. Không chỉ với vợ, ngay cả những đứa con đẻ của ông cũng sẵn sàng chịu trận bất kể lúc nào.

Theo lời bà Tiến và các con trình bày, ông Bình cũng đã xác nhận trước toà: Gia đình vừa làm ruộng, vừa chăn nuôi và sau này làm thêm nghề xay sát gạo. Nhà ông bà có cả một gian chứa thóc, lúc nào thóc trong nhà cũng có hàng chục tấn. Nhưng gian thóc đó bị ông khoá chặt, mẹ con bà không bao giờ được bước chân vào.

Đi chợ bán gạo về nộp lại tiền cho ông. Hàng tháng, ông cân ra một số thóc nhất định cho cả nhà ăn, nếu không đủ thì lấy khoai, sắn trừ bữa. Con trai út nấu cháo lỡ để rớt xuống đất, ông bắt con cúi xuống liếm hết. Một lần, đi làm về không thấy con trai lớn nấu cơm, ông Bình xúc một bát… phân bò bắt con phải ăn, nó không chịu, ông đánh.

Không những thế, mẹ con bà còn bị phía gia đình ông Bình luôn tìm cớ xỉ vả, chì chiết, doạ dẫm… Ngay cả người em dâu đằng nhà chồng cũng tự cho mình "cái quyền" sỉ nhục bà.

Continue reading

TRANH CHẤP CHA, MẸ, CON: CUỘC CHIẾN GIÀNH TRẺ THƠ

HOÀNG YẾN

Một bên là mẹ ruột, một bên là “người dưng” nhưng lại chăm sóc, nuôi nấng, yêu thương cháu bé từ lúc còn thơ ấu…

Tháng 11-2006, chị M. nộp đơn xin ly hôn đến TAND quận 6 (TP.HCM). Theo đơn khởi kiện, chị sống chung với anh C. không đăng ký kết hôn từ tháng 12-2002. Chỉ hai tháng sau, chị nhận thấy giữa hai người có nhiều điều không hợp nên không tiếp tục chung sống nữa. Giữa họ không có con chung cũng như tài sản chung gì. Chị chỉ có một đứa con riêng tên B., sinh tháng 9-2002, hiện gia đình anh C. đang nuôi giữ. Nay chị xin được ly hôn và xin được nhận lại con.

Giao quyền nuôi con cho mẹ ruột

Ngược lại, anh C. kể rằng anh và chị M. sống chung từ năm 2000, có một con chung là cháu B. Đến tháng 12-2002, chị M. bỏ nhà đi nơi khác nên anh và gia đình đã chăm sóc bé B. cho đến nay.

Thụ lý vụ án, TAND quận 6 đã quyết định trưng cầu giám định để xác định ADN của cháu B. Theo kết quả giám định, anh C. không phải là cha ruột của cháu. Sau đó, anh C. đồng ý ly hôn với chị M., trả lại cháu B. cho chị nhưng yêu cầu chị phải trả 180 triệu đồng chi phí mà cha mẹ anh đã bỏ ra nuôi cháu từ lúc cháu mới bốn tháng tuổi. Riêng cha mẹ của anh C. thì không đồng ý giao trả cháu vì cho rằng chị M. đã bỏ rơi con.

Xử sơ thẩm hồi tháng 8-2008, TAND quận 6 đã quyết định không công nhận chị M. và anh C. là vợ chồng. Cháu B. không phải là con của anh C. nên gia đình anh C. phải giao trả cháu cho mẹ ruột. Về phía chị M. cũng phải thanh toán cho gia đình anh C. hơn 45 triệu đồng chi phí nuôi cháu bé.

Ngay sau đó, anh C. kháng cáo yêu cầu TAND TP xử lại. Còn chị M. cũng kháng cáo về số tiền tòa sơ thẩm buộc chị phải trả cho gia đình anh C. bởi theo chị, gia đình anh C. giữ con chị trái ý muốn, chị đã đòi nhiều lần nhưng không trả.

Continue reading

TRANH CHẤP HÔN NHÂN – GIA ĐÌNH: MỘT ÔNG BỐN BÀ

THANH TÙNG

Cưới vợ đầu có đăng ký nhưng không ly hôn; vợ hai không đăng ký nhưng lại được ly hôn. Tiếp tục cưới vợ ba, vợ tư một cách vô tư.

Chánh án TAND huyện Bến Lức (Long An) Trương Ngọc Thành vừa cho biết sẽ phải ngưng giải quyết vụ ông N. xin ly hôn với bà vợ ba để xử lý cho xong hôn nhân giữa ông N. với bà vợ đầu. Đây là trường hợp hy hữu khiến các cơ quan chức năng phải dở khóc dở cười.

10 năm cưới ba vợ

Năm 1994, ông N. cưới bà vợ đầu, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Tân Bửu (Bến Lức). Hôn nhân giữa họ tồn tại rất ngắn ngủi rồi đường ai nấy đi.

Năm 1996, khi chưa ly hôn, ông N. đã làm đám cưới rồi sống chung không hôn thú với bà vợ hai. Một năm sau, họ sinh được một con chung. Rồi do mâu thuẫn, họ xin ly hôn. Lẽ ra phải xác định đây là hôn nhân trái pháp luật thì năm 1999, TAND huyện Bến Lức lại cho ông N. ly hôn bà vợ hai và giải quyết các yêu cầu về tài sản chung, quyền nuôi con, cấp dưỡng.

Năm 2000, ông N. lại tổ chức đám cưới và sống chung với bà vợ ba, có một con chung, đến năm 2004 thì được chính… xã Tân Bửu cho đăng ký kết hôn. Tháng 7-2008, lấy lý do bà vợ ba bỏ đi theo người khác, ông N. làm đơn xin ly hôn bà này.

Thụ lý, TAND huyện Bến Lức té ngửa vì thấy sự việc quá phức tạp, bèn yêu cầu UBND xã Tân Bửu xác minh, cung cấp thông tin về tình trạng hôn nhân của ông N. Tháng 7-2009, UBND xã Tân Bửu trả lời rằng khi ông N. đến xã đăng ký kết hôn với bà vợ ba thì ông khai chỉ có một vợ, đã được tòa cho ly hôn vào năm 1999 (bà vợ hai) và đưa ra bản án của tòa. Dựa vào đó, cán bộ tư pháp xã mới cho ông đăng ký kết hôn.

Continue reading

TRANH CHẤP QUYỀN NUÔI CON NUÔI: GIÀNH LẠI QUYỀN NUÔI CON

VĂN ĐOÀN

Tranh chấp quyền nuôi trẻ với bà ngoại nhưng không được các cơ quan pháp luật địa phương giải quyết. Bài “Giành nuôi cháu ngoại” (Pháp Luật TP.HCM ngày 6-5) có phản ánh vụ tranh chấp quyền nuôi trẻ bốn tuổi giữa bà Trần Thị Kim Hạnh (ngụ phường Linh Xuân, quận Thủ Đức, TP.HCM) với bà K. (thị trấn Chư Ty, huyện Đức Cơ, Gia Lai). Đến nay, vụ việc này vẫn chưa được giải quyết.

Năm 2005, con gái bà K. đến nhà bà Hạnh sinh con. Ít ngày sau, do con bà K. bỏ lại trẻ nên bà Hạnh đã đứng ra làm giấy khai sinh cho trẻ với tư cách là mẹ. Cuối tháng 2-2009, bà K. đưa trẻ lên Gia Lai chơi. Lấy lý do “để công an địa phương không làm khó dễ”, bà K. đề nghị bà Hạnh đưa khai sinh của trẻ, đồng thời viết giấy chuyển quyền nuôi con. Sau đó, bà K. không chịu giao trả trẻ, viện lẽ đã đưa cho bà Hạnh 30 triệu đồng…

Không ai chịu xử lý

Phản đối việc bà K. đưa tiền, bà Hạnh đã nộp nhiều đơn yêu cầu các cơ quan chức năng xem xét, buộc bà K. phải giao trả trẻ cho bà. Cho rằng vụ việc chỉ đơn thuần là tranh chấp dân sự, Công an huyện Đức Cơ đã chuyển hồ sơ đến UBND thị trấn Chư Ty. Ngày 7-4, do hòa giải không thành nên UBND thị trấn đã chuyển hồ sơ đến TAND huyện.

Ngày 21-4, Sở Tư pháp tỉnh Gia Lai xác định đây là tranh chấp về xác định cha mẹ cho con hoặc xác định con cho cha mẹ nên thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND theo khoản 4 Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nhưng đến ngày 18-5, TAND huyện Đức Cơ đã ra thông báo trả lại đơn kiện của bà Hạnh vì “không thuộc thẩm quyền”.

Continue reading

THỰC TIỄN ĐĂNG KÝ KẾT HÔN: MẤT QUYỀN LÀM VỢ

ĐỨC MINH

Viện lẽ hồ sơ trước đây chưa đầy đủ, UBND huyện đã hủy bỏ giấy chứng nhận kết hôn của đương sự. Chị D. (ngụ Hà Nội) yêu người thầy lớn hơn mình 37 tuổi. Người thầy tên T., góa vợ đã lâu. Cuối tháng 1-2007, hai người đi đăng ký kết hôn và được UBND xã Phù Lưu Tế (huyện Mỹ Đức) cấp giấy chứng nhận kết hôn.

Cuộc hôn nhân ngắn ngủi

Sau ngày cưới, vợ chồng chị D. vào Đà Nẵng để ra mắt họ hàng và làm giỗ cho người vợ đầu của ông T. Không may, ông T. bị đột tử do mang sẵn căn bệnh huyết áp cao và tiểu đường. Tính ra, hôn nhân của họ kéo dài chưa đầy tuần lễ. Khi mất, ông T. có để lại một căn hộ và một biệt thự.

Hai năm sau đó, chị D. đi bước nữa. Tháng 2-2009, chị D. được UBND xã Phù Lưu Tế xác nhận “đã đăng ký kết hôn một lần, chồng chết, hiện độc thân”. Tuy nhiên, chỉ một tháng sau khi có xác nhận này, UBND xã Phù Lưu Tế đã mời chị đến hòa giải với… con gái ông T. về hôn nhân trước. Tại đây, chị hết sức bất ngờ khi được biết vào tháng 10-2007, từ phản ánh của con gái ông T., UBND xã Phù Lưu Tế đã ra quyết định thu hồi, hủy bỏ giấy chứng nhận kết hôn giữa chị với ông T. Lý do: hai người vi phạm thủ tục đăng ký kết hôn. Cụ thể, hồ sơ kết hôn của chị D. và ông T. thiếu tờ khai đăng ký kết hôn của cả hai; giấy xác nhận tình trạng hôn nhân của ông T. đã hết hạn sử dụng do được cấp từ năm 2005. Khi ra quyết định thu hồi này, UBND xã Phù Lưu Tế đã không thông báo cho chị D.

Theo Nghị định 158 ngày 27-12-2005 của Chính phủ (về đăng ký và quản lý hộ tịch) thì UBND cấp xã không có thẩm quyền thu hồi, hủy bỏ các giấy tờ hộ tịch do mình cấp sai, thẩm quyền này thuộc về UBND huyện. Vì lẽ này, tháng 4-2009, UBND huyện Mỹ Đức đã ra quyết định hủy bỏ quyết định trái thẩm quyền nói trên của UBND xã Phù Lưu Tế, đồng thời thu hồi, hủy bỏ, xóa đăng ký kết hôn của chị D. và ông T.

Continue reading

TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH: PHIÊN TÒA “THAY ĐỔI NGƯỜI TRỰC TIẾP NUÔI CON SAU KHI LY HÔN” TẠI TÒA ÁN Q.7 – MỘT PHIÊN TÒA BẤT CÔNG!

THÙY DƯƠNG

"Trong hai năm qua, những lúc bé ốm đau, bệnh tật thì anh ấy ở đâu? Chẳng lẽ, tôi làm công nhân vệ sinh thì không có quyền làm mẹ sao?". Bức xúc của chị Nguyễn Thị Lan (Q.7) cũng là của đa số người dự khán phiên tòa xét xử thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn tại tòa án Q.7. Một câu hỏi lớn đặt ra: liệu có điều gì khuất tất trong phiên tòa này?

Sáng 21/5, TAND Q.7, TP.HCM đã mở phiên tòa xét xử vụ kiện "Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn" giữa nguyên đơn là anh Nguyễn Văn Thuận (SN 1980 ở P.10, Q. Gò Vấp) và bị đơn là chị Nguyễn Thị Lan (SN 1979 ở P. Bình Thuận, Q.7). Hội đồng xét xử (HĐXX) đã tuyên án: giao bé Nguyễn Trọng Trí, sinh năm 2003, cho anh Thuận nuôi dưỡng.

Ngay sau bản án được tuyên, chị Lan đã òa khóc, cho rằng bản án không công bằng. Bức xúc của chị được những người dự khán phiên tòa đồng cảm, chia sẻ.

Chị Lan và anh Thuận kết hôn năm 2003, đến giữa năm 2007 thì cả hai thuận tình ly hôn. Hai bên thỏa thuận, chị Lan được quyền nuôi con và anh Thuận trợ cấp 300.000đ/tháng. Tuy nhiên, sau đó anh Thuận không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng. Để có tiền nuôi con, chị Lan đã nhận trông coi nhà vệ sinh công cộng tại BV Từ Dũ từ 7g sáng đến 9g tối. Hàng ngày, 6g30 chị thức dậy đưa con đi học rồi đi làm. Đến 4g, chị đón con và đưa bé đi học chữ. Sau đó, chị rước bé về chỗ làm (có một phòng riêng sinh hoạt) để bé nghỉ ngơi, xem hoạt hình và 9g hai mẹ con cùng về nhà.

Theo chị Lan, suốt hai năm chị nuôi bé Trí, anh Thuận không một lần đến thăm. Dù vậy, mỗi cuối tuần (chiều thứ sáu) chị Lan đều cho con về nhà nội chơi. Nhưng ngày 21/11/2008, khi chị đến rước con thì gia đình anh Thuận không cho. Chị Lan đã đến nhà anh Thuận nhiều lần và làm đơn gửi chính quyền địa phương, cơ quan thi hành án để xin thi hành án giao con, nhưng vẫn chưa được nhận con.

Continue reading

VỤ ÁN: BI KỊCH CƯỚI NHẦM TRẺ CON?

THANH TÙNG – VĂN ĐOÀN

10 năm sau khi lấy vợ, có hai con, bị cáo bỗng bị bắt về tội hiếp dâm trẻ em do cưới nhầm cô dâu mười hai tuổi rưỡi. Nhiều người băn khoăn, liệu bị cáo có đáng bị trừng phạt không?

Ngày 19-6, TAND tối cao tại TP.HCM đã tuyên hủy toàn bộ án sơ thẩm vụ Ngô Minh Thuận phạm tội hiếp dâm trẻ em để trả hồ sơ điều tra lại từ đầu do chưa rõ độ tuổi của người bị hại. Cũng trong phiên xử, đại diện VKSND tối cao cho rằng khi phát hiện vụ việc đã 10 năm nhưng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự vẫn còn nên vụ án không có vấn đề gì về tố tụng. Tuy nhiên, phía Viện tối cao đã rút toàn bộ kháng nghị đòi tăng hình phạt đối với bị cáo của VKSND tỉnh Tây Ninh…

“Gạo” đã nấu thành “cơm”

Thuận làm nghề sửa xe máy thuê, còn N. hằng ngày phụ bán hàng cho người dì ở một cửa hàng bên cạnh (thuộc thị trấn Hòa Thành, Tây Ninh). Từ quê lên thị trấn, thoát cảnh chân lấm tay bùn nên cô bé N. trở nên trắng trẻo, phổng phao, vẻ người lớn. Qua mai mối, họ đã làm quen và thân nhau lúc nào không hay. Hai bên gia đình biết chuyện nên cũng có ý tác hợp cho con trẻ.

Chuyện mừng rồi cũng đến, dù chưa đăng ký kết hôn, ngày 25-5-1998, Thuận và N. ra mắt họ hàng, bạn bè bằng một đám cưới long trọng. Về sống chung, đôi lần Thuận ngờ ngợ vợ mình còn ít tuổi. Tuy nhiên, sau đó hai con lần lượt ra đời nên Thuận cũng quên bẵng.

Continue reading

TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH: MỘT VIỆT KIỀU MÒN MỎI CHỜ TÒA ÁN XÉT XỬ TRONG VỤ LY HÔN

M.T.P

TAND TP Hồ Chí Minh thụ lý vụ kiện "tranh chấp tài sản sau ly hôn" của bà Phạm Nguyễn Quỳnh Thị Tuyết (Ruby Quynh Pham), quốc tịch Mỹ, từ ngày 22/2/2008 đến nay đã gần 16 tháng nhưng vẫn chưa đưa ra xét xử.

Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 302/QĐ-CNTT ngày 7/4/2006 của TAND TP HCM thể hiện: Nguyên đơn – bà Phạm Nguyễn Quỳnh Thị Tuyết (Ruby Quynh Pham), quốc tịch Mỹ, thường trú tại 9243 Pipilo St Sandieo CA 92129 USA  thuận tình ly hôn với ông Lưu Hoàng Ba, thường trú tại 003 Lô D, chung cư Phạm Viết Chánh, phường 19, Bình Thạnh, TP Hồ Chí Minh.

Về con chung của hai người (tên là Lưu Hoàng Karen, SN 2000) do bà Tuyết nuôi dưỡng, ông Ba có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2 triệu đồng cho đến khi Karen trưởng thành. Về tài sản chung, ông Ba được quản lý, sử dụng và sở hữu sau khi hợp thức hóa căn nhà 7B-B1, đường Hoa Lan, phường 2, Phú Nhuận và 1 căn hộ số 003 Lô D, chung cư Phạm Viết Chánh, quận Bình Thạnh cùng một số tài sản khác. Nhưng ông Ba phải có trách nhiệm hoàn lại phần chênh lệch giá trị hai căn nhà cho bà Tuyết với số tiền 1,6 tỷ đồng, thời gian hoàn tiền được chia thành 7 lần trong 5 năm.

Continue reading

TRANH CHẤP TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG: PHƯỜNG “THIẾU CHÍNH XÁC”, DÂN MẤT BIỆT THỰ TIỀN TỶ

VŨ VĂN TIẾN

Từ giấy chứng thực giả do ông Nguyễn Ngọc Phương, Phó Chủ tịch UBND phường Trung Tự, quận Đống Đa xác nhận, một đại tá quân đội đã bị vợ chiếm đoạt ngôi biệt thự trị giá hàng chục tỷ đồng là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân.

Xác nhận vắng mặt người cam đoan

Trong đơn tố cáo gửi Báo Dân trí, đại tá Phan Quốc Thắng hiện là Giảng viên Học viện Kỹ thuật Quân sự cho biết: ông Thắng và vợ là bà Nguyễn Thị Bích Thuỷ đã làm đơn ly hôn ra tòa từ đầu năm 2006.

Tuy nhiên trong thời gian tòa án giải quyết ly hôn, bà Thuỷ đã giả mạo chữ ký của chồng rồi cùng cán bộ có thẩm quyền tạo giấy tờ giả, bán tẩu tán nhiều tài sản có giá trị lớn và chiếm đoạt toàn bộ số tiền bán được.

Cụ thể, biệt thự 5C4, khu đô thị Nam Thăng Long (Ciputra), rộng 198m2 là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân giữa ông Thắng và bà Thuỷ. Tuy nhiên ngày 26/7/2007, bà Thuỷ đã làm giả “Giấy cam đoan” xác nhận biệt thự trên là tài sản riêng của mình, giả chữ ký của ông Phan Quốc Thắng, rồi xin chứng thực chữ ký giả mạo tại UBND phường Trung Tự.

Thực tế, ông Phan Quốc Thắng không làm giấy xác nhận tài sản trên cho bà Thuỷ, đồng thời ngày 26/7/2007, ông Thắng cũng không hề đến UBND phường Trung Tự vì phải thực hiện nhiệm vụ của Học viện Kỹ thuật Quân sự.

Vậy mà, bất chấp sự thật như trên, ông Nguyễn Ngọc Phương, Phó Chủ tịch UBND phường Trung Tự đã xác nhận vào “Giấy cam đoan” giả mạo trên là: “Chứng thực ông Phan Quốc Thắng đã ký trước mặt tôi (ông Phương – PV) tại UBND phường Trung Tự ngày 26/7/2007”.

Continue reading

TRANH CHẤP QUYỀN SỞ HỮU GIỮA CHA MẸ VÀ CON: BỐ MẸ KIỆN CON BẤT HIẾU RA TÒA

BÙI NGỌC

Khi ngôi nhà chưa chuyển cho con trai sở hữu, vợ chồng ông Th. cho người khác thuê một phần, mỗi tháng trên 2 triệu đồng. Nhưng khi tin tưởng và cho con, nguồn tiền cho thuê không còn, đặc biệt là khi con trai cắt nguồn “trợ cấp” thì vợ chồng ông khó khăn, túng thiếu. Bức xúc, vợ chồng ông Th. đã khởi đơn kiện đòi lại nhà và đất của mình.

Hiếm khi chúng tôi tham dự phiên tòa dân sự bởi nó đụng chạm đến những vấn đề về đời tư của các gia đình bị đơn cũng như nguyên đơn. Thế nhưng, phiên tòa dân sự mà TAND quận Thanh Khê đưa ra xét xử vào giữa tháng 5/2009 đã gây cho tôi nhiều tò mò. Bởi đây là một sự hy hữu, hiếm có xưa nay ở TP Đà Nẵng vì nó là câu chuyện: Bố mẹ đẻ kiện con trai…

Nguyên đơn là ông Nguyễn Ngọc Th. (77 tuổi) và bà Ngô Thị C. (77 tuổi); bị đơn là anh Nguyễn Ngọc L. (47 tuổi ) và chị Vũ Thị Đ. (45 tuổi) cùng trú phường Tân Chính, quận Thanh khê.

Được biết, vợ chồng ông Th. có 9 người con cả trai lẫn gái, trong đó, Nguyễn Ngọc L. là con thứ 7 được ông bà tin tưởng, thương yêu. Do đó, khi tuổi già sức yếu, vợ chồng ông Th. quyết định trao tài sản cho vợ chồng đứa con trai mà ông bà cảm thấy tin tưởng, yêu quý này.

Để thực hiện ước nguyện cuối cùng của cuộc đời mình, ngày 7/3/2002, ông Th. và bà C. đã đến Phòng công chứng số 1 TP Đà Nẵng làm hợp đồng chuyển dịch cho nhà và đất ở của mình tại đường Lê Duẩn (mảnh đất được UBND thành phố cấp ngày 15/6/2001) cho vợ chồng anh L. và chị Đ. với nội dung hợp đồng là “cho nhận”. Continue reading

TRANH CHẤP QUYỀN NUÔI CON: GIÀNH NUÔI CHÁU NGOẠI

VĂN ĐOÀN

Sinh được 10 ngày thì mẹ bỏ con cho người khác nuôi. Nay đứa trẻ hơn ba tuổi thì bà ngoại lại giành nuôi. Hơn tháng nay, chị Trần Thị Kim Hạnh (ngụ quận Thủ Đức, TP.HCM) phải ngược xuôi từ TP.HCM đến tỉnh Gia Lai để đòi lại đứa con mới hơn ba tuổi của mình.

Không phải là con đẻ

Chị Hạnh kể, qua người quen, chị có biết chị N. (ngụ huyện Đức Cơ, Gia Lai). Đầu năm 2005, do mang thai ngoài ý muốn nên chị N. có ý định phá thai. Chị Hạnh khuyên chị N. nên sinh con và hứa sẽ nhận đứa bé làm con mình. Sau đó, chị Hạnh đã chăm sóc chị N. cho đến ngày sinh nở. Chị Hạnh còn đưa các giấy tờ mang tên mình cho chị N. làm thủ tục nhập viện và xuất viện. Khi đứa bé được 10 ngày tuổi thì chị N. bỏ đi. Sau đó, chị Hạnh đã lấy tư cách mẹ ruột để làm giấy khai sinh cho cháu bé và nuôi cháu như con ruột.

Mọi chuyện yên ả trôi qua cho đến khi đứa bé được ba tuổi thì bà K. (bà ngoại của cháu) bất ngờ tìm đến thăm. Chị Hạnh đồng ý nhận từ bà K. một ít tiền để mua sữa cho cháu bé. Tháng 2-2009, bà K. ngỏ ý muốn đưa cháu ngoại về Gia Lai chơi một thời gian. Sau khi cân nhắc, chị Hạnh chấp nhận. Gần tháng sau, bà K. gọi điện thoại báo cho chị Hạnh biết là đứa bé bị bệnh và khóc nhiều vì nhớ mẹ. Chị Hạnh tức tốc lên Gia Lai để đưa đứa bé về lại TP.HCM nhưng bà K. nhất quyết không giao lại đứa bé.

Ai được quyền nuôi trẻ

Theo bà K., chị Hạnh đã viết giấy chuyển quyền nuôi dưỡng con cho bà với lý do không đủ điều kiện nuôi dưỡng đứa bé. Bà đã đưa cho chị Hạnh 30 triệu đồng và chị Hạnh đã đưa cho bà giấy khai sinh của đứa bé. Còn chị Hạnh cho rằng chị đã tự viết giấy chuyển quyền nuôi con với mục đích giúp bà K. không bị công an địa phương làm khó dễ khi mang đứa trẻ về nhà. Song chị khẳng định giấy đó không phải là giấy cho con bởi lẽ điều kiện kinh tế của chị rất khá giả và chị có dư khả năng nuôi đứa bé. Chị cũng phủ nhận việc bà K. đã đưa cho chị 30 triệu đồng.

Continue reading

TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH: HẾT SỐNG CHUNG = LY HÔN THỰC TẾ?

HOÀNG LAM

Chồng tự ý bỏ vợ đi “tòm tem” với bà khác, tòa công nhận đã ly hôn trên thực tế? Chuyện tức mình này đã xảy ra với bà N. Vừa chớm qua tuổi 18, bà và ông H. được gia đình hai bên tổ chức lễ cưới nhưng cả hai không đăng ký kết hôn. Theo luật định, đây là hôn nhân thực tế vì hai bên đã chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1974, tức trước ngày 3-1-1987.

Không sống chung, mất chồng như chơi!

Cuộc sống vợ chồng ban đầu cũng hòa thuận, hạnh phúc. Năm 1982, khi bà N. mang thai con thứ năm thì quan hệ của họ trở nên căng thẳng. Biết chồng mình đang để ý đến người khác nên bà N. ra sức ngăn cản. Khổ nỗi ông H. đã không lắng nghe mà lại còn đánh vợ. Tủi thân, bà bỏ về nhà cha mẹ ruột sinh sống và tần tảo nuôi con, lòng vẫn mong có lúc chồng sẽ quay về với mình.

Nhưng ông H. vẫn quyết đâm đơn ra tòa đòi ly hôn vợ. Tại tòa, ông công khai thừa nhận mình và vợ bé đã có với nhau bốn mặt con. Hội đồng xét xử sơ thẩm hôm ấy bày tỏ thái độ bất mãn thay cho bà N. Họ cho rằng ông H. thiếu trách nhiệm làm chồng, làm cha và quyết định bác yêu cầu ly hôn của ông. Cấp sơ thẩm còn tuyên hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa ông H. với người vợ hai. Sau đó, tuy chống án không thành nhưng ông H. vẫn tiếp tục chung sống với vợ hai.

Năm 1994, ông H. xích mích với bạn nhậu nên bị đánh chết. Chín năm sau, cha ruột của ông kiện đòi con dâu thứ hai trả đất do con trai chết để lại. Ông bảo ngày xưa mình giao đất cho con trai theo kiểu cho sử dụng tạm chứ không cho luôn. Phúc thẩm vụ án hồi tháng 3-2004, TAND tỉnh Bình Dương xác định đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của ông H., giờ ông H. chết thì phát sinh thừa kế. Nếu muốn thì cha ông H. cần khởi kiện yêu cầu chia thừa kế.

Lạ lùng ở chỗ TAND tỉnh lại kết luận ông H. và bà N. đã ly hôn trên thực tế. Tòa này cho rằng tuy cả hai cấp tòa không cho ông H. ly hôn với bà N. nhưng quan hệ vợ chồng giữa họ đã không còn tồn tại. Họ không sống chung suốt từ năm 1982 đến khi ông H. bị đánh chết. Hơn nữa, khi ông H. bị đánh chết, bà chẳng thể hiện sự quan tâm, cũng không tố giác kẻ gây án. Trong khi đó, người vợ sau đã chung sống với ông H. từ trước năm 1987 nên đủ tư cách là vợ thực tế của ông H. (!?).

Continue reading

CÔNG NHẬN NUÔI CON NUÔI THỰC TẾ, SAO KHÔNG?

THỤY CHẤU

Gần đây, các cơ quan công chứng tại TP.HCM rất “khó xử” khi tiếp nhận các yêu cầu công chứng văn bản khai nhận di sản thừa kế do cha mẹ nuôi chết để lại. Đó là những trường hợp đã được nhận làm con nuôi từ trước giải phóng nhưng không lập thủ tục nhận con nuôi.

Công chứng viên bối rối

Nghệ sĩ ưu tú (NSƯT) Thanh Sang thuộc một trong số các trường hợp éo le trên. Trước đây, ông được bà X. nhận làm con nuôi. Năm 2002, bà X. mua một căn nhà tại khu Văn Thánh Bắc (phường 25, quận Bình Thạnh) và đến năm 2007 thì bà qua đời.

Sinh thời, bà X. sống độc thân, không chồng con, không anh chị em và chỉ có nghệ sĩ Thanh Sang là người thân duy nhất. Khi nghệ sĩ nộp hồ sơ khai nhận di sản thừa kế, phòng công chứng nọ đã không biết giải quyết sao vì trước đây bà X. không làm thủ tục nhận ông làm con nuôi.

Nghệ sĩ Thanh Sang đã phải xuất trình các bản hộ khẩu có được từ năm 1989 đến thời điểm mẹ nuôi mất, trong đó ghi rõ hai bên là mẹ – con nuôi. Tháng 4-2008, nhiều nghệ sĩ cải lương tài danh (như NSND Thanh Tòng, các NSƯT Thanh Điền, Minh Vương, Lệ Thủy, Thanh Kim Huệ…) cùng ký giấy xác nhận bà X. là mẹ nuôi của nghệ sĩ Thanh Sang từ trước giải phóng. Tiếp đó, Sở Văn hóa và Thông tin TP.HCM, UBND phường 25 (quận Bình Thạnh) cũng đóng dấu xác nhận quan hệ mẹ – con nuôi giữa bà X. và nghệ sĩ Thanh Sang.

Ấy vậy, hồ sơ khai nhận nêu trên cũng phải mất hơn một năm trời “loanh quanh” mới được công chứng. Cách đây chừng một tháng, nghệ sĩ Thanh Sang mới có thể thở phào nhẹ nhõm khi được UBND quận Bình Thạnh cấp “giấy hồng” cho căn nhà được thừa kế nêu trên.

Cơ quan cấp giấy băn khoăn

Tương tự, ông Phan M. (phường 17, quận Phú Nhuận) cũng được mẹ nuôi để lại một căn nhà thừa kế. Người mẹ nuôi ấy đã nhận ông làm con nuôi từ năm 1962 nhưng không làm giấy tờ gì. Quan hệ mẹ nuôi – con nuôi của họ chỉ được thể hiện trong sổ hộ khẩu và được bà con chòm xóm ký xác nhận. Nếu việc thừa kế nhà của nghệ sĩ Thanh Sang gặp khó ở giai đoạn đầu (công chứng) thì ông M. lại bị “mắc kẹt” ở giai đoạn sau (cấp “giấy hồng”).

Continue reading

TRANH CHẤP LY HÔN: 77 TUỔI VẪN RA TÒA LY HÔN

ĐỖ SƠN

Tại xã Giáp Sơn, huyện Lục Ngạn, Bắc Giang, bà Nguyễn Thị Thêu 77 tuổi làm đơn ly hôn chồng là ông Vũ Văn Đán 72 tuổi và được tòa chấp nhận với lời nói cuối cùng của ông Đán “Tôi rất tiếc bà ấy”.

Không kết hôn vẫn ly hôn

Ở tuổi 13, ông Vũ Văn Đán được gia đình cho cưới cô Nguyễn Thị Thêu 18 tuổi. Không đám cưới, không giấy kết hôn, chỉ có mâm cơm báo cáo với tổ tiên. Họ có một con gái sinh năm 1967.

Ông Đán là con một, nên áp lực về con trai nối dõi tông đường ngày càng lớn khi bà Thêu không sinh được người chống gậy.

Năm 1974, bà Thêu để ông Đán lấy vợ hai là bà Vũ Thị Lụa. Ba người chung sống với nhau hơn chục năm thì nảy sinh mâu thuẫn. Mẹ con bà Thêu ra ở nhờ trên đất của cô bên chồng. Năm 1987, con gái bà Thêu là Vũ Thị Bồng kết hôn.

Bà sang ở với vợ chồng con gái. Gần đây, bà Thêu lại quay về ở chung với gia đình ông Đán nhưng mâu thuẫn liên tiếp xảy ra. Miếng đất 3.600 m2 mà bà Thêu và ông Đán sử dụng ngày xưa được ông Đán, bà Lụa làm giấy cho con trai của ông và vợ hai là Vũ Văn Quân mà không chia cho bà và con gái. Từ mâu thuẫn về tình cảm, sự phân chia tài sản của ông Đán, bà Thêu làm đơn xin ly hôn.

TAND huyện Lục Ngạn xác định, dù không có giấy tờ kết hôn quan hệ giữa bà Thêu và ông Đán, bà Lụa vẫn là hôn nhân thực tế. Bà Thêu và ông Đán ly thân nhiều năm, mâu thuẫn giữa bà Lụa và bà Thêu cùng các con ngày càng nghiêm trọng. Vì vậy tòa chấp thuận giải quyết cho bà Thêu và ông Đán ly hôn.

“Bà ấy quyết thì phải chịu”

Sau khi TAND huyện Lục Ngạn tuyên chấp thuận ly hôn, bà Thêu có đơn khiếu nại về việc phân chia tài sản. Gia đình ông Đán lại cùng nhau đến TAND tỉnh để phân xử.

Bà Thêu ốm nên ủy quyền cho con gái và con rể đến tòa. Ông Đán, bà Lụa và vợ chồng anh Quân- con riêng của bà Lụa với ông Đán, cũng có mặt. Những người ấy đều từng sống chung trong một mái nhà, ăn cùng một mâm cơm.

Continue reading