TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH: ĐÒI TIỀN … LÀM VỢ

HOÀNG YẾN

Ra tòa, người vợ đặt điều kiện với chồng rằng muốn ly hôn thì phải bồi thường “tiền làm vợ” trong bốn năm nay.

TAND một quận tại TP.HCM đang giải quyết một vụ ly hôn khá hi hữu khi người vợ đòi chồng phải trả “tiền làm vợ” trong thời gian chung sống vì bà đã “hy sinh hết mực” cho chồng.

Chồng đòi chia tay, vợ nhất quyết không chịu

Trước đó, giữa tháng 4, ông K. nộp đơn ra tòa xin ly hôn. Trong đơn, ông trình bày rằng ông kết hôn với bà H. từ năm 2007. Quá trình sống chung, do có mâu thuẫn về tính cách nên họ không còn thương yêu, quan tâm nhau nữa. Cảm thấy hôn nhân không còn ý nghĩa, ông quyết định đường ai nấy đi. Giữa hai người không có con chung, còn tài sản chung chỉ có một căn nhà mua trong thời kỳ hôn nhân. Ông K. yêu cầu tòa giải quyết cả việc phân chia căn nhà.

Thụ lý vụ án, tòa mời hai bên đến hòa giải. Trái với ông K., bà H. khăng khăng không chịu ly hôn. Bà nói vẫn thương yêu chồng, cuộc sống gia đình vẫn đang rất hạnh phúc. Để làm bằng chứng, bà H. trình cho tòa những tấm ảnh vợ chồng âu yếm chụp chung trong chuyến đi du lịch gần đây. Đặc biệt, trong các phiên hòa giải, bà luôn tranh thủ nhẹ nhàng hỏi chồng: “Em có làm gì mình buồn không, mình nói để em sửa”. Vợ thủ thỉ gì, ông K. cũng một mực im lặng. Khi tòa hỏi đến, ông vẫn nói là muốn ly hôn vì không thể sống chung nữa.

Bất ngờ đòi tiền… làm vợ

Thấy lạ, người thẩm phán giải quyết vụ việc cố công tìm hiểu nguyên nhân đích thực dẫn đến việc ông K. một hai đòi ly hôn nhưng cả hai vợ chồng đều kín như bưng, không ai tiết lộ gì. Cuối cùng, qua nhiều lần hòa giải không thành, mới đây tòa phải đưa vụ án ra xét xử.

Continue reading

THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ ĐẠI DIỆN: ỦY QUYỀN VỀ TÀI SẢN TRONG ÁN LY HÔN?

HỒNG TÚ

Luật quy định đối với “việc ly hôn” đương sự không được ủy quyền cho người khác nhưng “việc ly hôn” là gì thì lại đang có nhiều cách hiểu khác nhau.

Khi ly hôn, đương sự có được ủy quyền cho người khác thay mình tham gia phiên tòa phúc thẩm nếu hai bên chỉ còn tranh chấp về phần tài sản chung hay không? Luật quy định chưa rõ nên tòa lúng túng, các chuyên gia thì mỗi người một ý…

Năm 1995, anh NCH đăng ký kết hôn với chị HCU. Sau đó, hai vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Xung đột lên đến đỉnh điểm vào năm 2004 khi anh H. cho rằng đứa con thứ hai không phải là con mình. Do không thể hàn gắn, tháng 4-2008, chị U. đã nộp đơn ra TAND một huyện thuộc tỉnh Đồng Nai để yêu cầu tòa chấp thuận cho mình ly hôn với anh H.

Định ủy quyền về phần tài sản

Tháng 3-2010, TAND huyện này xử sơ thẩm đã tuyên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị U., giao hai con cho chị U. nuôi dưỡng. Về phần tài sản, tòa giao quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất cho chị U. nhưng chị U. phải có nghĩa vụ thanh toán cho anh H. số tiền bằng phần giá trị tương đương với phần của anh H.

Không đồng ý, anh H. kháng cáo về phần nuôi con và phần tài sản. Sau khi TAND tỉnh Đồng Nai thụ lý, làm việc với tòa, anh H. đã thay đổi yêu cầu kháng cáo. Anh không kháng cáo phần con chung nữa mà chỉ kháng cáo yêu cầu TAND tỉnh Đồng Nai xem xét phần chia tài sản chung.

Sau đó do vụ án chưa được giải quyết dứt điểm, trong khi bản thân chuẩn bị phải xuất cảnh ra nước ngoài, chị U. đã dự định ủy quyền cho người khác đại diện mình tham gia quá trình xét xử phúc thẩm.

Continue reading

TRANH CHẤP NGHĨA VỤ CỦA CHA MẸ VỚI CON SAU LY HÔN: ĐÒI CHỒNG CŨ CẤP DƯỠNG NUÔI CON

PHẠM THÁI QUÍ

Con sinh ra trong vòng 300 ngày kể từ ngày bản án, quyết định của tòa xử cho vợ chồng ly hôn có hiệu lực là con chung của hai người. Tòa buộc người vợ phải chứng minh cháu bé sinh ra sau khi ly hôn là con của chồng cũ là không phù hợp.

Hơn 10 năm trước, anh T. kết hôn với chị L. rồi sinh được một bé trai. Do chị L. làm hướng dẫn viên du lịch nên nay đây mai đó khiến anh T. thường nghi vợ không chung thủy.

Sinh con sau sáu tháng ly hôn

Sự nghi ngờ này khiến cho hai vợ chồng luôn xung đột. Đến đầu năm 2006, anh T. gửi đơn ra tòa đòi ly hôn. Do chị L. cũng đồng ý nên ngày 10-5-2006, tòa ra quyết định công nhận việc thuận tình này…

Sáu tháng sau, chị L. sinh thêm một bé gái. Làm giấy khai sinh cho con chị vẫn khai tên cha là anh T. Được một thời gian, do hoàn cảnh khó khăn, chị L. yêu cầu anh T. góp thêm tiền để nuôi bé thứ hai. Anh T. không đồng ý vì cho rằng bé không phải con mình.

Thấy anh T. dây dưa từ chối trách nhiệm của người cha, chị L. làm đơn khởi kiện yêu cầu TAND huyện T. (tỉnh Quảng Bình) giải quyết buộc anh T. phải cấp dưỡng nuôi bé.

Sau khi xem xét đơn khởi kiện, tòa cho rằng chị L. sinh cháu bé sau khi đã ly hôn nên để có cơ sở buộc anh T. cấp dưỡng nuôi con, chị phải làm đơn yêu cầu tòa án xác định cháu bé này là con anh T. Sau khi có kết quả, tòa mới xem xét giải quyết vụ kiện đòi cha cấp dưỡng…

Continue reading

TRANH CHẤP TÀI SẢN GIỮA VỢ VÀ CHỒNG: CẦN XEM XÉT LẠI BẢN ÁN PHÚC THẨM DÂN SỰ SỐ 197 NGÀY 11/9/2010 CỦA TÒA PHÚC THẨM TANDTC TẠI TPHCM VỀ VỤ ÁN TRANH CHẤP NHÀ SỐ 526 AN DƯƠNG VƯƠNG, PHƯỜNG 9, QUẬN 5 TPHCM

HUY ANH

Từ những căn cứ xác thực, có tình, có lý, Toà án nhân dân TP Hồ Chí Minh đã xét xử sơ thẩm xác định căn nhà số 526 An Dương Vương, Phường 9, Quận 5, TP Hồ Chí Minh thuộc sở hữu chung của vợ chồng ông Nguyễn Đức Anh – bà Lã Thị Bích Liên. Toà án xử phân chia cho mỗi người 1/2 căn nhà.
Thế nhưng Toà Phúc thẩm TANDTC lại lập luận vòng vo, thiếu tính thuyết phục để xét xử ngược lại hoàn toàn 180º theo đề nghị phi lý của bà Liên, cụ thể là: Xác định căn nhà nêu trên là tài sản riêng của bà Liên và “ghi nhận sự tự nguyện của bà Liên” trả lại tiền xây dựng nhà cho ông Trần Ngọc Trường- người được ông Nguyễn Đức Anh (chứ không phải bà Liên) nhờ đứng ra giám sát xây dựng và ứng tiền xây dựng nhà vào năm 1994 (?).

Ông Nguyễn Đức Anh và bà Lã Thị Bích Liên kết hôn với nhau từ năm 1976. Vợ chồng mua căn nhà 526 An Dương Vương, Phường 9, Quận 5, TP Hồ Chí Minh vào năm 1979 của ông Tiêu Mộc. Do lúc đó ông  Nguyễn Đức Anh không có hộ khẩu tại TP Hồ Chí Minh nên đã để bà Liên đứng tên trên giấy tờ với hình thức cùng với ông Tiêu Mộc lập giấy tờ “Tặng cho”. Căn nhà lúc đó là nhà trệt, nền xi-măng, mái nửa tôn, nửa ngói, tường mượn. Năm 1984, ông Nguyễn Đức Anh cùng 2 con sang Canada định cư và năm 1992 ông bảo lãnh cho bà Liên và các con còn lại sang Canada. Trước khi đi, bà Liên có làm tờ ủy quyền giao căn nhà cho bà Cao Thị Thanh Hồng quản lý, trên giấy này có ghi tên bà và chồng là ông Nguyễn Đức Anh đồng sở hữu căn nhà. Năm 1994, vợ chồng ông Nguyễn Đức Anh hợp đồng với Công ty Novina xây dựng lại nhà và nhờ ông Trần Ngọc Trường đứng ra giám sát việc xây dựng và ứng trước số tiền xây dựng nhà là 250.000.000đ. Bà Hồng đã xác nhận sự việc này và giao lại nhà cho ông Trường từ năm 1994. Xây xong nhà thì vợ chồng ông Anh bà Liên giao cho bà Lã Thị Bích Thơm (em gái bà Liên) trong coi căn nhà. Trong quá trình trông coi, bà Thơm có sửa chữa mặt tiền căn nhà, lắp đặt đồng hồ điện nước, điện thoại.

Đến nay, (sau khi ông Anh và bà Liên đã ly hôn), ông Nguyễn Đức Anh có đơn yêu cầu chia đôi căn nhà cho mỗi người 1/2. Nếu bà Liên lấy nhà thì hoàn tiền cho ông hoặc ngược lại, sau khi đã trừ các khoản tiền xây dựng, sửa chữa nhà trả ông Trường, bà Thơm và tiền trông coi nhà cho bà Hồng.

Continue reading

THỰC TIỄN ÁP DỤNG LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH: BỊ TÂM THẦN, CHA MẸ CÓ ĐƯỢC THAY MẶT XIN LY HÔN?

TÙNG CHI

Pháp luật chưa điều chỉnh tình huống nếu vợ hoặc chồng bị tâm thần thì cha, mẹ người bệnh có quyền đại diện đứng đơn xin ly hôn và tham gia tố tụng hay không. Ngành tòa án từ chối giải quyết trong khi thực tế đã xuất hiện không ít trường hợp tương tự…

Mới đây, TAND một quận tại TP.HCM đã trả đơn trong một vụ xin ly hôn khá lạ: Cha mẹ của một người đàn ông bị tâm thần đề nghị thay mặt con trai đứng đơn khởi kiện và tham gia tố tụng tại tòa nhằm giúp người con dâu được tự do, có cơ hội đi lấy chồng khác.

Giải thoát cho con dâu

Người con dâu trong vụ này là chị G. Theo trình bày của chị, vợ chồng chịlấy nhau được hơn 10 năm, có với nhau hai mặt con. Trước đây, chồng chị hoàn toàn bình thường nhưng sau mấy năm đi làm thuê ở một số nơi về thì thấy có dấu hiệu thần kinh không ổn định. Sau đó người chồng đổ bệnh, ốm liền mấy tháng, khi tạm khỏe lại thì đầu óc không còn minh mẫn như trước, suốt ngày tưng tưng, nói năng lảm nhảm.

Hai năm trước, chị cùng gia đình đưa chồng đến bệnh viện tâm thần khám. Các bác sĩ kết luận chồng chị bị tâm thần nặng. Gần đây, thấy bệnh tâm thần của con trai chữa trị mãi nhưng không hết mà có phần nặng thêm, phía gia đình chồng đã vận động chị G. đứng đơn xin ly hôn để tìm hạnh phúc mới.

Tuy nhiên, do thương chồng và cũng đã lớn tuổi, chị G. không chịu, quyết định ở vậy chăm sóc chồng và các con. Về phía cha mẹ chồng, vì muốn giải thoát cho con dâu khỏi cảnh khổ nên khi vận động không được, họ đã quyết định thay con trai làm đơn “xin ly hôn giùm”.

Luật không cho phép đại diện

Nghiên cứu đơn “xin ly hôn giùm” này, tòa đã giải thích cho cha mẹ chồng chị G. biết là theo Điều 73 Bộ luật Tố tụng dân sự, đối với các vụ án ly hôn không được áp dụng chế độ người đại diện. Tức là phải đích thân chồng hay vợ đứng đơn khởi kiện và tham gia tố tụng chứ không thể nhờ ai thay mặt mình được.

Cha mẹ chồng chị G. vẫn thắc mắc rằng bản thân con trai họ đang bị bệnh tâm thần, làm sao tỉnh táo được như người bình thường mà khởi kiện hay tham gia tố tụng. Họ thương người con dâu đã bao năm vất vả vì chồng vì con, giờ có chồng mà cũng như không. Họ muốn gánh trách nhiệm lo lắng, chăm sóc, nuôi dưỡng con trai để con dâu có cơ hội đi tìm hạnh phúc mới. Chẳng lẽ người con dâu của họ sẽ phải bị giam hãm cả cuộc đời mình với người chồng tâm thần suốt đời suốt kiếp hay sao?

Continue reading

THỰC TIỄN ÁP DỤNG LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH: ĐÒI SÍNH LỄ

KIM PHƯỢNG – THANH TÙNG

Nhiều người cho rằng tòa chưa xét lỗi của hai bên mà đã vội tuyên nhà gái phải trả lại sính lễ là chưa thuyết phục cả về tình lẫn lý. Cô N. rưng rưng nước mắt: “Họ chỉ nghĩ đến tiền mà không nghĩ đến uy tín, danh dự của tôi sau sự cố này…”.

Mới đây, TAND huyện Giá Rai (Bạc Liêu) đã buộc gia đình cô N. phải trả lễ vật gần 23 chỉ vàng, 10 triệu đồng tiền mặt cho gia đình anh P. vì đám cưới của hai người bị hủy, không diễn ra như dự kiến. Gia đình cô N. bức xúc cho rằng tòa tuyên như vậy là sai sót vì chưa xét đến phong tục, tập quán và phẩm giá của phụ nữ.

Hủy đám cưới, đòi lễ vật

Theo hồ sơ, năm 19 tuổi, qua mai mối, cô N. gặp anh P. Sau đó hai gia đình đồng ý định ngày cưới cho đôi trẻ. Lúc đám hỏi, nhà trai mang sính lễ đến nhà gái theo đúng phong tục địa phương gồm 13,5 chỉ vàng 24K; 8,9 chỉ vàng 18K; 10 triệu đồng tiền mặt và mâm quà trà rượu. Ai nấy đều vui vẻ mong đến ngày thành hôn.

Tuy nhiên, lúc chuẩn bị đám cưới, gia đình hai bên nảy sinh mâu thuẫn gay gắt. Trong một buổi gặp gỡ dàn xếp, cha chú rể bỗng đứng lên tuyên bố hủy hôn. Ông còn dứt khoát: “Không đòi toàn bộ vòng vàng, tiền bạc của lễ ăn hỏi mà để lại hết cho nhà gái, coi như… xui rủi”.

Đám cưới đã không diễn ra đúng như lời tuyên bố của nhà trai. Chỉ có điều là sau đó cha chú rể lại kiện ra TAND huyện Giá Rai, yêu cầu phía nhà gái phải trả lại toàn bộ lễ vật.

Xử sơ thẩm hồi cuối tháng 9 vừa qua, TAND huyện Giá Rai đã chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc gia đình cô N. phải hoàn trả đầy đủ lễ vật. Theo tòa, đây là hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện. Nguyên đơn dùng số tiền, vàng trên làm lễ vật tặng nhà gái là để đạt điều kiện hai trẻ cưới nhau. Thực tế không có đám cưới, nhà trai đòi lại lễ vật là hợp lý, cần chấp nhận. Cạnh đó, các bên không yêu cầu bồi thường thiệt hại do không thực hiện nghĩa vụ sau khi tặng cho tài sản nên tòa không xem xét đến phần lỗi của các bên.

Continue reading

THỰC TIỄN XÁC ĐỊNH CHA, MẸ, CON: TRUY NHẬN NGƯỜI ĐÃ CHẾT LÀ CHA – KHÓ!

HOÀNG YẾN

Một cặp chị em song sinh hơn 27 tuổi kiện xin xác nhận cha. Vụ việc bế tắc bởi người cha đã mất…

Ngày 23-7, sau khi nghị án, Tòa Phúc thẩm TAND Tối cao đã quyết định hoãn phiên xử để cân nhắc việc lấy mẫu giám định ADN xác định huyết thống vì phía bị đơn cương quyết phản đối.

Tuổi thơ vắng bóng cha

Tháng 4-2009, hai chị em song sinh N. và H. đã nộp đơn đến TAND tỉnh Tây Ninh xin xác định ông S. là cha.

Theo nội dung đơn, năm 1980, mẹ họ cùng ông S. không làm lễ cưới hỏi nhưng sống công khai như vợ chồng. Khi người mẹ mang thai họ thì giữa bà với ông S. phát sinh mâu thuẫn nên hai bên sống riêng.

Đến năm 1983, họ chào đời, sống với mẹ và hoàn toàn không biết đến mặt cha. Người mẹ giận ông S. nên không chịu đi làm giấy khai sinh. Đến lúc phải khai sinh cho con để đi học, khai sinh của anh H. thì bà để trống tên cha, còn khai sinh của chị N. thì bà lấy họ ngoại và tên người khác ghép lại.

Khoảng năm 2001-2002, bà mới nói cho hai chị em N. và H. biết ông S. là cha ruột của họ. Biết chuyện, chị em họ vẫn thường qua thăm nom cha và ông S. cũng không hề ngăn cản. Ông còn thường cho tiền, hỏi thăm đời sống của hai chị em.

Đến cuối năm 2007, ông S. bệnh chết, hai chị em N. và H. đến xin chịu tang thì bị các cô chú ngăn cản. Vì thế, hai chị em họ đã nộp đơn ra tòa, yêu cầu xác định ông S. là cha của họ với chứng cứ là lời khai của người mẹ cùng một số nhân chứng đang sống tại địa phương.

Không giám định được ADN

Quá trình giải quyết án, hai chị em N. và H. đã yêu cầu xin quật mộ ông S. thu thập mẫu ADN để giám định huyết thống. Nhưng phía bị đơn đồng loạt phản đối. Họ nói chưa từng nghe hay biết gì về mối quan hệ giữa mẹ của hai chị em N. và H. với ông S. Lúc còn sống, ông S. chưa từng lần nào thừa nhận hai chị em N. và H. là con ruột; ngược lại, hai chị em N. và H. cũng chưa lần nào yêu cầu xác định ông S. là cha, nay ông S. đã mất mới yêu cầu là không thể chấp nhận.

Continue reading

TRANH CHẤP VỀ XÁC ĐỊNH NGƯỜI THỪA KẾ: MỘT NGƯỜI HAI GIẤY KẾT HÔN

HOÀNG YẾN

Một vụ tranh chấp di sản thừa kế đang bị bế tắc bởi nguyên đơn có cùng lúc… hai giấy đăng ký kết hôn với hai người chồng.

Tháng 2-2010, bà H. đã nộp đơn khởi kiện đến TAND quận 11 (TP.HCM) để tranh chấp tài sản thừa kế với các anh em bên gia đình chồng.

Kiện tranh chấp di sản

Trong đơn, bà H. trình bày: Năm 2001, bà lập gia đình với ông L., có đăng ký kết hôn tại phường 13. Bốn năm sau, họ sinh được một bé gái. Năm 2009, chồng bà bị bệnh qua đời, bà ở vậy trong căn nhà của chồng (do cha mẹ chồng đã mất để lại) và chăm sóc một người anh chồng bị bệnh tâm thần.

Thế rồi các anh chị của chồng bà ở gần đó liên tục kéo đến gây chuyện, đòi đuổi bà ra khỏi nhà. Có lần xung đột căng thẳng, bà phải nhờ công an đến giải quyết. Nay bà không dám về nhà nữa vì mỗi lần về đều bị anh chị của chồng chửi rủa. Bà yêu cầu tòa xác định phần thừa kế của bà trong căn nhà này với các anh chị bên chồng để có điều kiện tạo lập cuộc sống mới.

Làm việc với tòa, phía gia đình bên chồng bà H. không đồng ý với yêu cầu trên. Theo họ, người mẹ trước khi mất đã dặn không được bán căn nhà này, để lại làm nhà thờ tổ và làm chỗ ở cho người anh bị tâm thần.

Phía bị đơn còn yêu cầu tòa xem xét bé gái con bà H. có đúng là con của em trai họ hay không. Bởi giấy khai sinh của bé ghi sinh năm 2005, không có tên cha trong khi đến năm 2006 em trai họ mới kết hôn với bà H., không phải từ năm 2001 như bà H. nói. Họ còn cho rằng lúc còn sống, em trai họ cũng không thừa nhận đứa con này…

Continue reading

THỰC TIỄN ÁP DỤNG LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH TRONG GIẢI QUYẾT LY HÔN: “TÌNH TRẠNG HÔN NHÂN TRẦM TRỌNG” – KHÓ ĐỊNH LƯỢNG

HOÀNG YẾN

Mỗi ngày, các trung tâm tư vấn pháp luật về hôn nhân và gia đình tiếp không ít người đến than khổ vì tòa không cho ly hôn.

Theo luật, muốn được giải quyết ly hôn thì tình trạng hôn nhân của họ phải trầm trọng. Tuy nhiên, thế nào là tình trạng hôn nhân trầm trọng thì ngay chính các thẩm phán cũng còn đang mơ hồ…

Năm 2005, chị NTK từ Hải Phòng vào TP.HCM làm việc rồi kết hôn với anh NTV. Đáng buồn là cuộc sống giữa chị và gia đình chồng sau khi cưới đã không thể hòa hợp. Cha mẹ chồng luôn có lời lẽ chê bai, xúc phạm chị ăn bám nhà họ dù chị vẫn có công việc ổn định.

Muốn chia tay mà không được

Để tránh đụng chạm, nhiều lần chị K. đề nghị chồng ở riêng nhưng anh không đồng ý vì anh là con trai một. Anh lại rất được gia đình cưng chiều, có vợ rồi nhưng vẫn quen thói ỷ lại, không chịu giúp đỡ vợ bất cứ việc gì. Ngày yêu nhau, chị nghĩ sau khi cưới anh sẽ thay đổi nhưng giờ chị biết là không thể. Tệ hơn, khi anh thấy cảnh vợ và gia đình mình bất đồng, anh không chủ động cùng vợ tháo gỡ mà còn thường xuyên rong chơi, nhậu nhẹt, nhậu say về lại đánh đập chị. Gia đình chồng thấy thế cũng không hề can thiệp, có lần chị bị thương nặng, chỉ có hàng xóm đưa vào bệnh viện.

Kể trong tủi hờn, chị bảo chỉ vì thương con, yêu anh mà chị mới ráng chung sống đến giờ. Nay nhận thấy tình cảm dành cho chồng đã hết, chị không muốn tiếp tục sống những tháng ngày đen tối thêm nữa nên đã nhiều lần đề nghị chồng ký vào đơn xin ly hôn nhưng anh không chịu. Chị đơn phương nộp đơn ra TAND quận xin ly hôn. Tuy nhiên, tòa nhận định mâu thuẫn giữa vợ chồng chị không trầm trọng, không cần thiết phải ly hôn nên bác đơn chị. Từ ngày tòa bác đơn, chồng chị không hề bày tỏ ý chí sẽ cải thiện tình hình để hàn gắn hôn nhân, vẫn thường thượng cẳng tay hạ cẳng chân với chị. Chị sống trong chuỗi ngày lo âu, không dám bỏ đi vì xót con thơ vừa hơn hai tuổi, còn tiếp tục nộp đơn ly hôn thì e tòa lại bác…

Continue reading

THỰC TIỄN TỐ TỤNG: ĐUỔI BẮT MỆT MỎI ĐỂ … LY HÔN

HOÀNG YẾN

Phía bị đơn không có nơi cư trú cố định hay cố tình lẩn tránh thì nguyên đơn chỉ biết khóc ròng vì ly hôn không được mà vợ chồng cũng chẳng xong.

Năm 2005, vợ chồng chị V. (quận 2, TP.HCM) xảy ra mâu thuẫn trầm trọng nên người chồng bỏ nhà ra đi. Thấy đã cạn nghĩa, chị V. nộp đơn đến TAND quận 2 để xin ly hôn.

Khốn khổ vì cái địa chỉ

Tuy nhiên, tòa đã trả lại đơn vì không biết anh chồng hiện đang ở đâu. Dõi theo chân chồng, chị V. cứ chạy hết tòa này đến tòa khác rồi đành phải lủi thủi vác đơn về vì cứ vài ba tháng anh chồng tạm trú ở nơi quận này, vài ba tháng sau anh lại xin tạm trú nơi khác. Năm năm nay chị V. vẫn chưa thể ly hôn bởi anh chồng thay đổi xoành xoạch chỗ ở.

Tương tự, chị M. (quận Bình Thạnh, TP.HCM) cũng không thể dứt khoát được với chồng. Năm 2001, vợ chồng chị kết hôn nhưng được hơn hai năm anh chồng đã dọn đi chỗ khác. Chị gửi đơn xin ly hôn đến TAND quận Bình Thạnh và cho tòa biết rõ ràng nơi chồng đang ở. Tòa đi xác minh thì người chồng đã chuyển đi chỗ khác. Gọi điện thoại cho chồng đến tòa để làm thủ tục thì chồng trả lời “Muốn làm gì thì làm” nhưng nhất quyết giấu biệt nơi ở. Vì thế, vụ án ly hôn của chị bị tòa đình chỉ vì không có cơ sở thụ lý.

Trường hợp chị E. ở quận 12 (TP.HCM) cũng vậy. Vì mâu thuẫn gia đình, người chồng cũng đã bỏ đi. Sau đó, chị E. có người yêu mới và muốn ly hôn với chồng cũ nhưng nhiều năm nay vẫn chưa được tòa thụ lý vụ án. Nguyên do cũng bởi anh chồng rày đây mai đó nên chị không biết hiện chồng đang ở đâu. Năm 2007, chị về nơi chồng đăng ký thường trú để xin ly hôn nhưng tòa cũng không thụ lý vì lúc này người chồng vừa đi lao động ở nước ngoài… Còn gia đình chồng cũng không cung cấp địa chỉ cho chị.

Continue reading

THỰC TIỄN XÁC ĐỊNH CHA, MẸ, CON: TRUY NHẬN CHA – TÒA HAY SỞ GIẢI QUYẾT

TIẾN HIỂU

Người mẹ nói không hề có chuyện tranh chấp con nên việc xác nhận cha thuộc trách nhiệm giải quyết của Sở Tư pháp.

TAND TP.HCM đã thụ lý đơn kiện của ông S. (quốc tịch Canada) đòi xác nhận cha cho con. Mẹ của đứa bé đã phản đối vì cho rằng việc công nhận này thuộc trách nhiệm của Sở Tư pháp chứ không phải của tòa.

Muốn kết hôn để con có cha

Người mẹ cho biết bà và ông S. quen nhau khi đi du lịch tại đồng bằng sông Cửu Long vào đầu năm 2003. Sau chuyến đi, hai người thường liên lạc rồi về sống chung. Được ít lâu, bà có thai.

Lúc này, cả hai chuẩn bị hồ sơ để làm thủ tục kết hôn. Thế nhưng thủ tục sắp hoàn thành thì ông S. đột nhiên từ chối, không muốn kết hôn nữa. Bị từ hôn, bà chịu nhiều áp lực về kinh tế cũng như những lời gièm pha từ gia đình, dòng họ khi phải sinh con một mình.

Tuy chịu nhiều sóng gió, bà vẫn cố níu kéo tình cảm của ông. Có bận bà đã lặn lội đưa con trai sang Canada thuyết phục ông kết hôn để trong giấy khai sinh của con không khuyết tên cha. Những tưởng khi đưa con sang, ông S. sẽ đồng ý nhưng bà chỉ nhận được sự hững hờ.

Nhận thấy mọi cố gắng của mình không thành, bà đưa con trai quay về nước và coi như chưa từng quen biết ông. Kể từ đó, bà đã một mình gồng gánh nuôi con học hành mà không nhận được bất cứ sự giúp đỡ nào từ phía ông. Thỉnh thoảng ông S. quay lại Việt Nam và xin phép bà cho đưa con đi chơi mấy ngày, bà vui vẻ đồng ý…

Continue reading

TRANH CHẤP CHA, MẸ, CON: CÔ GÁI CÂM KIỆN ANH CHĂN VỊT

THANH THIÊN

Tòa đã ba lần mời anh chăn vịt đi giám định gien nhưng anh này đều không chịu đi nên có nghĩa đã mặc nhiên thừa nhận đứa bé là con mình?

Mới đây, TAND huyện Cai Lậy (tỉnh Tiền Giang) vừa xử sơ thẩm vụ chị H. (câm, điếc bẩm sinh) kiện đòi một anh thanh niên phải cấp dưỡng cho con. Dù không nghe, nói được nhưng chị này biết chữ nên đã viết kể tường tận mối quan hệ giữa hai người…

Tác giả là anh chăn vịt

Theo đơn kiện và trình bày của người đại diện cho chị H., khoảng đầu năm 1996, chị thường đi ruộng vào ban đêm. Một anh thanh niên cùng xóm, nuôi vịt gần nhà, thấy chị hay tới lui nên đến làm quen. Lâu dần hai người trở thành thân…

Mấy tháng sau, chị H. ra dấu chỉ vào bụng. Người nhà thấy dáng vẻ chị là lạ nên vội vàng chở đi khám. Kết quả chị đã mang thai khoảng năm tháng.

Người nhà ra dấu hỏi lại chị mang thai với ai. Dù bị tật nhưng chị này vẫn học được chữ nên đã lấy giấy bút viết ra tên người thanh niên chăn vịt. Biết được “thủ phạm”, người nhà chị này liền báo với ấp mời anh này đến hỏi nguồn căn. Tuy nhiên, anh này lắc đầu, không chịu hợp tác.

Sau đó, ấp đã mời nhiều thanh niên lại để cho chị H. nhận mặt ai là tác giả của cái thai. Không chút ngần ngừ, chị chỉ ngay vào anh chăn vịt! Chị cho biết đã quan hệ với anh chăn vịt bảy lần và bào thai trên là kết quả của những lần hai người gần gũi…

Phải có nghĩa vụ cấp dưỡng

Ít lâu sau, chị H. sinh em bé. Sau nữa, chị yêu cầu anh chăn vịt cấp dưỡng cho con nhưng anh này không đồng ý. Do vậy, chị H. phải khởi kiện ra tòa…

Continue reading

TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH: ĐIỀU TRA CHƯA KỸ, ĐÃ VỘI PHÁN QUYẾT

DƯƠNG QUỲNH HƯƠNG

Anh Nguyễn Thế Tiếng (sinh 1964) và chị Nguyễn Thị Kim Sang (sinh 1969) chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1999, quá trình chung sống hai người có 2 con chung. Trước khi chung sống với chị Sang ở thị xã Bạc Liêu, anh Tiếng sống ở thành phố Cà Mau và đã có một đời vợ, chị Tô Hồng Mai (ốm mất năm 1997) và hai con riêng là Nguyễn Thế Hiền (sinh 1986) và Nguyễn Thị Hồng Anh (sinh 1991); còn chị Sang sống ở tỉnh Đồng Tháp, đã có một đời chồng (ly hôn năm 1998) và một con trai riêng (chồng cũ nuôi).

Sau khi tự nguyện chung sống với nhau một thời gian, không đăng ký kết hôn, đến năm 2007 do mâu thuẫn trầm trọng nên hai bên không thể chung sống với nhau trong một nhà. Ngày 24.12.2007, TAND thị xã Bạc Liêu đã ra Quyết định số 26/2007/QĐST-HNGĐ về việc công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, theo đó giao hai con chung cho chị Sang nuôi dưỡng, anh Tiếng có trách nhiệm đóng góp nuôi dưỡng một cháu; về phần tài sản, giao cho anh Tiếng toàn bộ nhà, đất và các vật kiến trúc khác gắn liền với đất tọa lạc tại số B04/27A, khóm Trà Kha A, phường 8, thị xã Bạc Liêu (phần nhà, đất này anh Tiếng mua do bán nhà cũ ở thành phố Cà Mau), còn anh Tiếng có trách nhiệm giao chị Sang 25 lượng vàng 24k (vàng 9999) khi anh Tiếng chuyển nhượng dãy nhà trọ trên mảnh đất có cùng địa chỉ nói trên.

Đến ngày 13.6.2008, Chánh án TAND tỉnh Bạc Liêu ra Quyết định kháng nghị số 01/2008/QĐKN-DS đối với Quyết định số 26 ngày 24.12.2007 của TAND thị xã Bạc Liêu, theo đó đề nghị Ủy ban Thẩm phán TAND tỉnh Bạc Liêu xét xử giám đốc thẩm hủy về phần tài sản đối với Quyết định nêu trên và giao hồ sơ cho TAND thị xã Bạc Liêu giải quyết lại, bởi vì anh Tiếng và chị Sang đều khai nhận nợ Ngân hàng Đông Á số tiền 600 triệu đồng chưa hết hạn hợp đồng nhưng cấp sơ thẩm không đưa ngân hàng tham gia tố tụng. Tiếp đến, ngày 22.10.2008, TAND thị xã Bạc Liêu ra Quyết định số 14/2008/QĐST-HNGĐ về thay đổi việc nuôi con, theo đó anh Tiếng có trách nhiệm trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung mà không yêu cầu chị Sang cấp dưỡng nuôi con.

Continue reading

TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH: ĐIỀUTRA CHƯA KỸ, ĐÃ VỘI PHÁN QUYẾT

DƯƠNG QUỲNH HƯƠNG

Anh Nguyễn Thế Tiếng (sinh 1964) và chị Nguyễn Thị Kim Sang (sinh 1969) chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1999, quá trình chung sống hai người có 2 con chung. Trước khi chung sống với chị Sang ở thị xã Bạc Liêu, anh Tiếng sống ở thành phố Cà Mau và đã có một đời vợ, chị Tô Hồng Mai (ốm mất năm 1997) và hai con riêng là Nguyễn Thế Hiền (sinh 1986) và Nguyễn Thị Hồng Anh (sinh 1991); còn chị Sang sống ở tỉnh Đồng Tháp, đã có một đời chồng (ly hôn năm 1998) và một con trai riêng (chồng cũ nuôi).

Sau khi tự nguyện chung sống với nhau một thời gian, không đăng ký kết hôn, đến năm 2007 do mâu thuẫn trầm trọng nên hai bên không thể chung sống với nhau trong một nhà. Ngày 24.12.2007, TAND thị xã Bạc Liêu đã ra Quyết định số 26/2007/QĐST-HNGĐ về việc công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, theo đó giao hai con chung cho chị Sang nuôi dưỡng, anh Tiếng có trách nhiệm đóng góp nuôi dưỡng một cháu; về phần tài sản, giao cho anh Tiếng toàn bộ nhà, đất và các vật kiến trúc khác gắn liền với đất tọa lạc tại số B04/27A, khóm Trà Kha A, phường 8, thị xã Bạc Liêu (phần nhà, đất này anh Tiếng mua do bán nhà cũ ở thành phố Cà Mau), còn anh Tiếng có trách nhiệm giao chị Sang 25 lượng vàng 24k (vàng 9999) khi anh Tiếng chuyển nhượng dãy nhà trọ trên mảnh đất có cùng địa chỉ nói trên.

Đến ngày 13.6.2008, Chánh án TAND tỉnh Bạc Liêu ra Quyết định kháng nghị số 01/2008/QĐKN-DS đối với Quyết định số 26 ngày 24.12.2007 của TAND thị xã Bạc Liêu, theo đó đề nghị Ủy ban Thẩm phán TAND tỉnh Bạc Liêu xét xử giám đốc thẩm hủy về phần tài sản đối với Quyết định nêu trên và giao hồ sơ cho TAND thị xã Bạc Liêu giải quyết lại, bởi vì anh Tiếng và chị Sang đều khai nhận nợ Ngân hàng Đông Á số tiền 600 triệu đồng chưa hết hạn hợp đồng nhưng cấp sơ thẩm không đưa ngân hàng tham gia tố tụng. Tiếp đến, ngày 22.10.2008, TAND thị xã Bạc Liêu ra Quyết định số 14/2008/QĐST-HNGĐ về thay đổi việc nuôi con, theo đó anh Tiếng có trách nhiệm trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung mà không yêu cầu chị Sang cấp dưỡng nuôi con.

Continue reading

THỰC TIỄN ÁP DỤNG LUẬT DÂN SỰ: CỬ NGƯỜI GIÁM HỘ, THEO LUẬT NÀO?

VĂN ĐOÀN

Các đồng thừa kế có sự xung đột về lợi ích, đợi để họ thỏa thuận chọn một người làm giám hộ cho người mất năng lực hành vi dân sự là điều rất khó.

Xung quanh việc chính quyền địa phương cử người giám hộ cho người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự không có người giám hộ đương nhiên, giữa Bộ luật Dân sự và Luật Hôn nhân và Gia đình hiện đang có sự xung đột.

Một vụ tranh chấp thừa kế mà TAND TP.HCM thụ lý hiện đang bị ách lại vì chính quyền địa phương chưa thể cử được người giám hộ cho một người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

Tòa nhờ ủy ban

Tháng 10-2008, TAND TP.HCM thụ lý vụ tranh chấp thừa kế mà ông T. là bị đơn. Ông H. ở Việt Nam và bốn người em khác ở nước ngoài được tòa xác định là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Trước đó, ông H. từng bị TAND TP tuyên bố bị mất năng lực hành vi dân sự. Theo luật, các giao dịch dân sự của ông phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện nên ngày 8-3-2010, TAND TP.HCM có công văn gửi UBND phường 4, quận 3 yêu cầu UBND phường cử người giám hộ cho ông H.

Theo công văn trên, ông H. và ông T. là anh em ruột, ở cùng một nhà nhưng ông T. không phải là người giám hộ đương nhiên cho ông H. Do ông T. có đơn tự nguyện làm người giám hộ cho ông H. nên căn cứ vào Điều 63 Bộ luật Dân sự, tòa đề nghị UBND phường 4 có văn bản cử ông T. làm người đại diện theo pháp luật cho ông H. để giải quyết vụ kiện. Công văn của tòa cũng nêu rõ nếu UBND phường 4 không thực hiện được thì phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho tòa biết.

Ủy ban vướng luật

Từ đó đến nay đã hai tháng nhưng UBND phường 4 vẫn chưa đáp ứng yêu cầu của tòa.

Continue reading

THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT ÁN HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH: KHÓ LY HÔN VÌ CHỒNG Ở … LUNG TUNG

TẤN LỘC

Các tòa án liên tục chuyển hồ sơ qua lại, chưa thể giải quyết ly hôn vì người chồng liên tục thay đổi chỗ ở. Chưa ly hôn lại tiếp tục kết hôn.

Sau khi cưới nhau, có hai con, vợ chồng chị T. thường xuyên lục đục. Anh chồng hay đi làm xa, mỗi lần về lại sinh sự đánh đập vợ con. Chịu không nổi cảnh này, năm 2005, chị T. đã gửi đơn ra TAND huyện Sông Hinh (Phú Yên) xin được ly hôn.

Tòa chuyển tới chuyển lui

Đi xác minh, tòa huyện này nhận thấy vợ chồng chị T. có hộ khẩu ở huyện (do anh chồng đứng tên) nhưng đã bán nhà đi khỏi địa phương. Do đó, tòa huyện trả lại đơn. Chị này vội vàng cung cấp địa chỉ tạm trú của vợ chồng tại TP Tuy Hòa (Phú Yên). Tuy nhiên, Tòa án huyện Sông Hinh vẫn không nhận thụ lý giải quyết vì cho rằng không thuộc thẩm quyền lãnh thổ.

Bẵng đi một thời gian, chị T. lại tiếp tục gửi đơn đến TAND huyện Sông Hinh đề nghị giải quyết ly hôn vì cho rằng hai vợ chồng vẫn đang đăng ký hộ khẩu tại huyện. Tòa án huyện lại tiếp tục xác minh và thấy đúng là vợ chồng chị T. có hộ khẩu ở đây thật nên thụ lý giải quyết.

Sau đó, biết tin anh chồng đang sống với người khác ở huyện Tây Hòa, Tòa án huyện Sông Hinh đã chuyển đơn của chị T. đến tòa huyện này. Thế nhưng, Tòa án huyện Tây Hòa đã trả lại đơn khởi kiện cho Tòa án huyện Sông Hinh vì cho rằng anh T. không có hộ khẩu ở huyện.

Mới đây, chị T. lại báo cho Tòa án Sông Hinh biết anh chồng đã dạt qua huyện Đông Hòa sinh sống. Xác minh đúng như vậy, tòa này lại vội chuyển hồ sơ của chị T. đến Tòa án huyện Đông Hòa để giải quyết theo thẩm quyền. Hiện nay, Tòa án huyện Đông Hòa đang xem xét việc tiếp nhận hồ sơ.

Continue reading

TRANH CHẤP QUAN HỆ NUÔI CON NUÔI: TỪ CON NUÔI – KHÔNG PHẢI DỄ?

HOÀNG YẾN

Cực chẳng đã nhiều bậc cha mẹ già mới dứt tình ra tòa xin chấm dứt mối quan hệ với đứa con nuôi đã thành niên ngỗ nghịch, bất hiếu. Thế nhưng nhiều trường hợp đang bế tắc vì ngành tòa án từ chối thụ lý…

Vợ chồng ông T.V.V kết hôn với nhau từ năm 1960 nhưng hiếm muộn, không có con. Tháng 7-1975, ông bà được một hộ lý quen biết giới thiệu nhận nuôi một đứa bé trai bị bỏ rơi tại bệnh viện ngay từ khi mới chào đời.

Nuôi ong tay áo

Vui mừng khôn xiết, ông bà V. làm thủ tục nhận đứa bé làm con nuôi. Từ ngày trong nhà có tiếng trẻ thơ bi bô, gia đình ông bà trở nên rất hạnh phúc, không ngớt niềm vui, tiếng cười. Ông bà cần mẫn làm lụng, dành dụm nuôi đứa con khôn lớn. Đến tuổi lấy chồng lấy vợ, ông bà cũng không tiếc tiền dành dụm lấy ra để lo liệu cho con một đám cưới nở mày nở mặt với mọi người.

Vậy mà từ lúc cưới vợ về xong, người con nuôi trở nên trái tính trái nết. Đã ở lỳ ăn bám cha mẹ, không chịu đi làm, người con nuôi còn hay vòi vĩnh tiền bạc, gây sự, chửi cha mắng mẹ. Khuyên bảo con mãi không được nhưng còn nặng lòng thương, ông bà V. bèn mua một mảnh đất ở vùng ven, xây nhà làm chỗ ở cho gia đình nhỏ của con.

Sau khi có nhà mới, người con vẫn thường quấy rối cha mẹ nuôi bằng cách rủ bạn bè về nhà cha mẹ nuôi tổ chức ăn nhậu rồi ở lại, sau đó mượn rượu để chửi mắng cha mẹ thậm tệ. Tình trạng này cứ lặp đi lặp lại. Cuối cùng chịu hết xiết, ông bà V. đành ngậm ngùi cùng nhau nộp đơn yêu cầu tòa án một quận ở TP.HCM cho chấm dứt mối quan hệ với con nuôi. Ông bà nghĩ rằng việc chấm dứt như vậy cũng là điều kiện pháp lý để sau này khỏi phải để lại tài sản cũng như khỏi bị mang tai tiếng là “ở ác mới có đứa con nuôi bất hiếu, phản phúc”.

Continue reading

TRANH CHẤP QUYỀN NUÔI CON CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI: MỘT NỮ MC GIÀNH QUYỀN NUÔI CON ĐANG Ở NƯỚC NGOÀI

HOÀNG YẾN

Bản án của tòa án Việt Nam khó được công nhận và thi hành tại các quốc gia chưa ký hiệp định tương trợ tư pháp với nước ta.

Vụ một nữ MC truyền hình ở Việt Nam thắng kiện người chồng cũ ở nước ngoài, giành được quyền nuôi con đã đặt ra một vấn đề pháp lý: Làm sao để thi hành án bởi cháu bé đang sống với bà nội bên Mỹ. Theo nhiều chuyên gia, đây là chuyện rất nan giải…

Luật sư Lê Thành Kính (Trưởng Văn phòng luật sư Lê Nguyễn) nhìn nhận dù bản án của tòa án Việt Nam trong vụ việc trên đã có hiệu lực pháp luật nhưng để thực thi tại Mỹ là rất khó.

Khó về pháp lý

Theo luật sư Kính, trước hết, giữa Việt Nam và Mỹ không có hiệp định tương trợ tư pháp. Về hình sự, trong một số trường hợp hai nước có sự tương trợ tư pháp theo nguyên tắc có đi có lại nhưng về mặt dân sự, hôn nhân và gia đình thì không và thường rơi vào bế tắc.

Ở đây, nếu cháu bé có quốc tịch Việt Nam thì MC này có thể nhờ Bộ Ngoại giao tác động bằng con đường ngoại giao. Theo thông lệ quốc tế, Bộ Ngoại giao có thể yêu cầu Mỹ trao trả cháu bé, vốn là công dân Việt Nam. Nhưng nếu cháu bé mang quốc tịch Mỹ thì việc tác động bằng con đường ngoại giao có thể bị từ chối ngay.

Còn trường hợp nếu MC này sang Mỹ yêu cầu tòa án Mỹ công nhận, cho thi hành bản án có hiệu lực của tòa án Việt Nam sẽ là con đường rất dài và tốn nhiều chi phí mà kết quả chưa chắc khả quan. Luật sư Kính dẫn chứng: Một doanh nghiệp lớn đề nghị thi hành một bản án của tòa án Việt Nam ở một nước có hiệp định tương trợ tư pháp với ta mà còn phải lao đao về chi phí vì mất cả năm chưa xong, huống hồ gì một công dân Việt Nam lặn lội sang tận Mỹ…

Continue reading

THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH: GẦN 20 NĂM KHÔNG THỂ LY HÔN

HOÀNG YẾN

Luật không cho phép tòa cưỡng chế trưng cầu giám định đối với đương sự có dấu hiệu tâm thần nên vụ án đành… treo.

TAND một quận ở TP.HCM đang đau đầu khi giải quyết vụ ông P. (ngụ Gò Vấp) yêu cầu tuyên bố vợ ông mất năng lực hành vi dân sự để ông ly hôn.

Đòi tuyên vợ mất năng lực…

Ông P. kể rằng vợ chồng ông kết hôn năm 1987. Ba năm sau thì có một bé gái. Tuy nhiên, một năm sau nữa, vợ ông bỏ nhà đi…

12 năm trước, ông cũng đã nộp đơn ra tòa này xin ly hôn vì vợ bị bệnh bởi bà hay nói ông lăng nhăng. Rồi bà từng một lần tự tử, phá phách, chửi bới ông, đánh con trước mặt lối xóm… Ông không thể chung sống vì nếu sống chung sẽ sinh ra những người con không bình thường.

Tuy nhiên, vợ ông lại phản bác cho là mình rất bình thường, không mắc bệnh gì cả. Bà vẫn rất yêu thương chồng con… Bà nhấn mạnh thêm rằng từng bị sốc khi biết ông không chung thủy, phụ bạc. Gia đình có đưa bà đi khám vì bà bị bệnh về nhân cách, không có bệnh về tâm thần.

Sau khi nghe hai bên trình bày, cuối cùng tòa quyết không chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông P. vì bà vợ chỉ bị sốc về tình cảm dẫn đến ảnh hưởng tinh thần chứ không phải mắc bệnh tâm thần như ông nại ra.

Giờ đây, để chuyện ly hôn có kết quả, ông làm đơn yêu cầu tòa tuyên bố bà mất năng lực hành vi dân sự. Bởi nếu ông không làm được thủ tục này thì không có cách nào khác để ly hôn.

Continue reading