THỰC TRẠNG VIỆC ĐĂNG KÝ KẾT HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI THEO NGHỊ ĐỊNH SỐ 68/2002/NĐ-CP VÀ NGHỊ ĐỊNH SỐ 69/2007/NĐ-CP

XUÂN HOA

Theo đánh giá của ông Trần Thất – Vụ trưởng Vụ Hành chính tư pháp trong Báo cáo chuyên đề công tác hành chính tư pháp tại Hội nghị giao ban công tác tư pháp 6 tháng đầu năm 2008, 2 Nghị định điều chỉnh lĩnh vực hộ tịch có yếu tố nước ngoài là Nghị định 68/2002/NĐ-CPNghị định 69/2007/NĐ-CP đã đưa công tác hộ tịch có yếu tố nước ngoài nói chung và việc đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng đi vào quỹ đạo ổn định, cơ bản đáp ứng được yêu cầu quản lý Nhà nước, cũng như giải quyết thấu đáo được các vấn đề phát sinh trong lĩnh vực này. Tuy nhiên, bên cạnh đó, cũng không tránh khỏi những tồn tại có nguyên nhân từ vấn đề cơ bản nhất – vấn đề nhân sự.

Đương sự hiểu luật hơn cán bộ 

Theo tổng kết của Vụ Hành chính tư pháp, khi giải quyết việc kết hôn có yếu tố nước ngoài, cán bộ hộ tịch của các Sở Tư pháp có rất nhiều cách hiểu khác nhau, dẫn đến việc áp dụng các quy định về thủ tục không thống nhất. Cùng một việc, nhưng địa phương này giải quyết dễ dàng, địa phương khác lại gây khó khăn, thậm chí không giải quyết, dẫn đến bức xúc trong dư luận. Chính vì vậy, đã có trường hợp, đương sự phải làm động tác chuyển hộ khẩu từ địa phương này sang địa phương khác mới được công nhận việc kết hôn.

Continue reading

CÔNG VĂN CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO SỐ 77/2003/HĐTP NGÀY 27 THÁNG 6 NĂM 2003 VỀ VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THỪA KỂ ĐỐI VỚI NHỮNG TRƯỜNG HỢP NAM – NỮ CHUNG SỐNG NHƯ VỢ CHỒNG TỪ NGÀY 3/1/1987 ĐẾN NGÀY 1/1/2001 CHƯA CÓ ĐĂNG KÝ KẾT HÔN MÀ MỘT BÊN CHẾT TRƯỚC

Kính gửi: – Các Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh

– Các Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

– Các Toà phúc thẩm, Toà dân sự toà án nhân dân tối cao

Ngày 16/4/2003 Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐTP “Hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết một số loại tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình” (gọi tắt là Nghị quyết số 01). Theo hướng dẫn tại điểm b mục 1 Phần II của Nghị quyết số 01 đối với trường hợp nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 đến ngày 01/01/2001 có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, nếu sau ngày 01/01/2003 họ vẫn chưa đăng ký kết hôn mà có một bên chết trước và có tranh chấp về thừa kế thì trong khi chưa có quy định mới của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, tuỳ từng trường hợp mà Toà án xử lý như sau:

– Nếu chưa thụ lý vụ án thì không thụ lý;

– Nếu đã thụ lý vụ án và đang giải quyết thì ra quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án. Continue reading

CÔNG VĂN CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO SỐ 77/2003/HĐTP NGÀY 27 THÁNG 6 NĂM 2003 VỀ VIỆC THÔNG BÁO VIỆC TIẾP TỤC GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN NÊU TẠI ĐIỂM B MỤC 1 PHẦN II CỦA NGHỊ QUYẾT SỐ 01 CỦA HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
********
Số: 77/2003/KHXX

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

********
Hà Nội, ngày 27 tháng 6 năm 2003

CÔNG VĂN

CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO SỐ 77/2003/HĐTP NGÀY 27 THÁNG 6 NĂM 2003 VỀ VIỆC THÔNG BÁO VIỆC TIẾP TỤC GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN NÊU TẠI ĐIỂM B MỤC 1 PHẦN II CỦA NGHỊ QUYẾT SỐ 01 CỦA HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN

Kính gửi:

– Các Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh
– Các Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
– Các Toà phúc thẩm, Toà dân sự toà án nhân dân tối cao

Ngày 16/4/2003 Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐTP “Hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết một số loại tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình” (gọi tắt là Nghị quyết số 01). Theo hướng dẫn tại điểm b mục 1 Phần II của Nghị quyết số 01 đối với trường hợp nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 đến ngày 01/01/2001 có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, nếu sau ngày 01/01/2003 họ vẫn chưa đăng ký kết hôn mà có một bên chết trước và có tranh chấp về thừa kế thì trong khi chưa có quy định mới của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, tuỳ từng trường hợp mà Toà án xử lý như sau:

– Nếu chưa thụ lý vụ án thì không thụ lý;

– Nếu đã thụ lý vụ án và đang giải quyết thì ra quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án.

Continue reading

BẢO ĐẢM NGHĨA VỤ BẰNG TIỀN VAY CỦA VỢ CHỒNG

TRẦN QUANG MINH – Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm

Trong hoạt động bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng, có nhiều trường hợp, các tổ chức này thực hiện việc cho vay đối với khách hàng vay là người đã có vợ hoặc chồng. Trong những trường hợp này, các cán bộ tín dụng thường gặp khó khăn trong việc xác định số tiền vay và tài sản hình thành từ tiền vay có thuộc tài sản chung của hai vợ chồng hay không? Các hợp đồng tín dụng và hợp đồng bảo đảm bằng tài sản hình thành từ tiền vay chỉ cần sự tham gia ký kết của người đi vay hay cần có sự tham gia ký kết của cả hai vợ chồng? Việc đăng ký giao dịch bảo đảm trong trường hợp này sẽ được thực hiện như thế nào?

 

 

 

 Trong phạm vi bài viết này, tác giả xin được giải đáp những thắc mắc nêu trên căn cứ vào hệ thống pháp luật hiện hành nói chung và những quy định mới nhất của pháp luật về giao dịch bảo đảm nói riêng, qua đó, hy vọng góp phần giúp cho hoạt động cho vay và bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng được thực hiện theo đúng quy định pháp luật và an toàn.
1. Việc xác định tiền vay và tài sản hình thành từ tiền vay là tài sản thuộc sở hữu chung hay sở hữu riêng của vợ chồng
Để xác định tiền vay và tài sản hình thành từ tiền vay trong thời kỳ hôn nhân thuộc sở hữu chung hay sở hữu riêng của vợ chồng, chúng ta cần phải căn cứ vào những quy định của Luật Hôn nhân và gia đình và văn bản hướng dẫn thi hành như Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 03 tháng 10 năm 2001 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Hôn nhân và gia đình (sau đây gọi là Nghị định số 70). Trong những văn bản nêu trên, có những quy định sau đây liên quan đến vấn đề này: Continue reading

KHI TÒA XEM NGƯỜI SỐNG… NHƯ ĐÃ CHẾT

VŨ PHƯƠNG THẢO

TAND quận Hải Châu (Đà Nẵng) đã ra một quyết định vi phạm cả về thủ tục tố tụng và xâm phạm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân…

Tòa xử sai

Ngày 19.1.2004, TAND quận Hải Châu đã đưa ra xét xử vụ ly hôn giữa anh Lưu Hoàng Long và chị Phạm Thị Hoàng Yến. Theo Quyết định 04/DSST ngày 19.1.2004, TAND quận Hải Châu công nhận sự thuận tình ly hôn và thỏa thuận chị Yến nuôi con chung là Lưu Hoàn Mỹ đến tuổi trưởng thành. Đáng lưu ý là tại phần 3 của quyết định này, về tài sản chung, tòa quyết định giao ngôi nhà và đất tại 122 Núi Thành (Đà Nẵng) cho cháu Lưu Hoàn Mỹ được quyền sở hữu và sử dụng khi đủ 18 tuổi. Trên thực tế, đây là căn nhà thuộc quyền sở hữu hợp pháp của ông Lưu Quý Thảo và bà Nguyễn Thị Oai (cha mẹ anh Long). Trước đó, ông Thảo – bà Oai đã lập di chúc cho vợ chồng anh Long căn nhà này.

Continue reading

TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH: KHUẤT TẤT QUANH VỤ LY HÔN 54 TỶ ĐỒNG

THANH LƯU – TÂM PHÚC

PHẦN 1

Sống chung 21 năm, có đăng ký kết hôn, có hai mặt con nhưng người vợ vẫn bị “đẩy” ra đường tay trắng…

TAND thị xã Tân An (Long An) vừa xử sơ thẩm một vụ ly hôn gây xôn xao dư luận địa phương vì chuyện “một ông ba bà” và tài sản tranh chấp lên tới 54 tỷ đồng.

Một ông ba bà

Năm 1977, ông B. chung sống không đăng ký kết hôn với bà T. tại xã Long Trì (Châu Thành). Mười năm sau, khi đã có với nhau hai mặt con, ông B. bỏ lên thị xã ăn ở với bà K. Hai người sống tại nhà cha mẹ bà K., năm năm sau mới ra ở riêng.

Năm 1995, ông B. cùng một nhóm bạn đi buôn gỗ ở Campuchia. Sau hai năm, ông thành một đại gia ở thị xã Tân An. Cùng năm này, ông và bà K. có với nhau đứa con thứ hai và mua một miếng đất ở một vị trí đẹp để xây khách sạn PN (đặt theo tên hai con chung của ông bà). Một năm trước, hai người đã ra phường làm giấy đăng ký kết hôn.

Continue reading

ĐỒNG THÁP: MẸ NGHÈO TÒA KHÔNG CHO NUÔI CON

TAND thị xã Sa Đéc trích dẫn luật nhưng lại… “quên” đoạn cuối.

Theo chị M. trình bày, năm 2004, đang học cao đẳng dở dang, chị đã kết hôn với anh H. Thời gian đầu sau khi kết hôn, chị vẫn theo đuổi việc học, sau có em bé nên chị nghỉ hẳn, về quê chồng ở thị xã Sa Đéc (Đồng Tháp) sinh sống.

Mất quyền nuôi con

Thời gian hạnh phúc chưa được bao lâu thì do tính tình không hòa hợp, mâu thuẫn giữa mẹ chồng và con dâu ngày một nghiêm trọng. Nhiều lần chị M. phải bỏ về bên ngoại ở TP Cần Thơ. Mâu thuẫn cứ lặp đi lặp lại, cuộc sống chung không còn hạnh phúc, chị định xin ly hôn nhưng nghĩ tội nghiệp con trai, sợ cháu thiếu cha hoặc vắng mẹ sau này nên cứ nấn ná mãi.

Đến tháng 3-2008, chị M. quyết định nộp đơn xin ly hôn. Sau nhiều lần hòa giải không thành bởi cả chị M. lẫn anh H. đều giành quyền nuôi con, ngày 25-3 TAND thị xã Sa Đéc đã đưa vụ án ra xử.

Continue reading

MỘT ÔNG LẤY HAI BÀ: AI LÀ VỢ HỢP PHÁP?

Một vụ án ly hôn hy hữu vừa được TAND quận 10, TP HCM, đưa ra xét xử. Người chồng chung sống không đăng ký với 2 bà vợ, nay muốn ra tòa ly hôn với bà vợ đầu tiên và chia tài sản. Nhưng tòa không chấp nhận mà lại tuyên hủy cuộc hôn nhân trái pháp luật của ông với bà vợ thứ hai.

Vấn đề pháp lý nảy sinh trong vụ án này là ai được công nhận làm vợ hợp pháp của nguyên đơn – ông L. Thời điểm ông ăn ở với hai người phụ nữ diễn ra trước 1/6/1976 – ngày thống nhất pháp luật giữa hai miền Nam – Bắc, trong đó có luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 quy định chế độ hôn nhân một vợ một chồng.

Theo hồ sơ xác minh của tòa án, năm 1958, ông L. và bà S. sống chung tại một căn hộ do chính quyền cũ cấp cho ông. Sau nhiều năm chung sống và sinh hạ được 7 người con, hai người phát sinh mâu thuẫn. Ông L. thường bỏ nhà đi nơi khác.

Continue reading

LY HÔN Ở TUỔI 75?

Họ đã chung sống vợ chồng hơn nửa thế kỷ, có với nhau 7 đứa con và hầu hết đã thành gia thất. Người con lớn năm nay đã 50 tuổi, cháu chắt nội ngoại đề huề, nhưng vì những mâu thuẫn không thể hòa giải, cặp vợ chồng già này đã viết đơn đưa nhau ra tòa khẩn thiết xin được ly dị ở cái tuổi “xưa nay hiếm”.

Vụ việc hy hữu này kéo dài nhiều năm nay, nhưng vẫn chưa ngã ngũ khi mâu thuẫn cuối cùng vẫn là chuyện chia chác đất đai.

Đã muốn ly dị từ 20 năm trước!

Phiên tòa giải quyết vụ hậu ly hôn giữa ông Nguyễn Như Cương (SN 1932) và bà Trần Thị Cẩm (SN 1935) diễn ra ở TAND tỉnh Nghệ An ngày 21/3/2008.

Continue reading

HÀNH VI VI PHẠM VIỆC CẤP DƯỠNG CỦA NGƯỜI PHẢI THI HÀNH ÁN KHÔNG CẤU THÀNH TỘI PHẠM

TRỊNH TIẾN VIỆT – Khoa luật ĐH quốc gia Hà Nội

Tạp chí Dân chủ và pháp luật số 2/2001 có đăng bài viết của tác giả Vũ Thanh Xuân – Đội thi hành án huyện Thới Bình, Cà Mau về trường hợp cơ quan thi hành án tổ chức thi hành bản án, quyết định của Tòa án về việc cấp dưỡng, nhưng người phải thi hành án về việc cấp dưỡng lại cố tình không chấp hành án, mặc dù đã được cơ quan thi hành án đôn đốc và xử phạt hành chính. Trong trường hợp này, người phải thi hành án có phạm tội không, nếu có thì phạm tội gì?

Tác giả bài viết có đưa ra hai quan điểm khác nhau trong quá trình giải quyết vụ án này. Quan điểm thứ nhất cho rằng hành vi của người phải thi hành án đã phạm tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng (Điều 152 BLHS năm 1999). Quan điểm thứ hai lại khẳng định người này phạm tội không chấp hành án (Điều 304 BLHS năm 1999).

Continue reading

MỘT TÒA, HAI PHÁN QUYẾT

THANH LƯU – Pháp luật Tp. Hồ Chí Minh 26/3/2008

Ra quyết định sai luật, ông chánh án “chữa cháy” bằng cách ra tiếp một quyết định khác cùng số, cùng thời gian nhưng nội dung thì trái ngược hoàn toàn…

Chị L., ngụ huyện Chơn Thành (Bình Phước) sống chung với anh N. từ năm 1990 nhưng không đăng ký kết hôn. 15 năm sau, ngày 7-4-2005, họ làm đơn đề nghị TAND huyện Chơn Thành cho chấm dứt quan hệ vợ chồng vì cuộc sống chung không hòa hợp, thường xuyên phát sinh mâu thuẫn và đã sống ly thân từ năm 2003.

Continue reading

"CỦA ANH, CỦA TÔI" KHI LY HÔN

DIỆU NGA – Báo Pháp Luật TPHCM

Đưa nhau đến tòa ly hôn thường cũng là lúc người ta đem “của anh, của tôi, của chúng ta” ra cân đo, đong đếm. Cái tình, cái nghĩa của bao nhiêu năm đầu gối tay ấp đều bay biến hết…

1. Thiên tình sử của 10 năm về trước, giờ đây được anh L. và chị H. mang ra trình tòa. Ngày chưa cưới nhau, anh hào phóng tặng chị 10 triệu đồng để chị học nghề y. đáp lại tấm thịnh tình đó là một đứa con ra đời trước dự định. Dù hơi hổ mặt với bà con lối xóm nhưng với tấm lòng nhân hậu, mẹ anh đã tổ chức một tiệc cưới linh đình để đón chị về làm dâu.

Hạnh phúc tưởng như lớn dần cùng với đứa con trai kháu khỉnh. Thế nhưng những va chạm trong sinh hoạt hàng ngày, những phức tạp trong quan hệ nàng dâu-gia đình chồng cứ tích tụ dần theo thời gian mà không được cởi bỏ. Rồi cũng đến lúc mâu thuẫn bùng nổ nặng nề và họ dễ dàng đưa nhau ra tòa để đường ai nấy đi. Continue reading

VỤ ÁN TRANH NHAU CON TRÂU CỒ

Tòa tuyên mỗi bên được sở hữu một con trâu nhưng không nêu rõ là con nào nên gần 20 năm nay không thể thi hành án.

Chung sống với nhau gần 40 năm trời và có đến 14 mặt con, đùng một cái, vợ chồng ông T. ở ấp Vinh Thuận, xã Ngọc Thuận, Giồng Riềng (Kiên Giang) lại kéo nhau ra tòa xin ly hôn. Hòa giải, tòa mới vỡ lẽ nguyên nhân lục đục trong gia đình họ xuất phát từ chuyện tiền nong: Nghi ngờ vợ dành dụm “quỹ đen”, ông T. đã đuổi bà ra khỏi nhà, mâu thuẫn kéo dài.

Continue reading

GIẢI QUYẾT CÁC HỒ SƠ KẾT HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI: MỖI NƠI MỘT KIỂU

HOÀNG THƯ – THU HẰNG

Mặc dù Nghị định 69/CP sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 68/CP về quan hệ hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài đã tháo gỡ một số vấn đề về trình tự thủ tục trong việc đăng ký kết hôn, tuy nhiên có nhiều điểm trong Nghị định này chưa rõ ràng dẫn đến mỗi nơi một cách làm khác nhau.

Mất thời gian quá!

Hai giờ chiều, chúng tôi đến Sở Tư pháp TP. Hà Nội thì lúc này đã có 5 đôi nam nữ đang ngồi đợi cán bộ Sở phỏng vấn (một quy định mới của Nghị định số 69/CP nhằm hạn chế tình trạng lợi dụng kết hôn để mua bán phụ nữ hoặc vì mục đích tư lợi). Anh Đinh Khắc Việt, thường trú tại Berlin – CHLB Đức, tâm sự: Tôi ở Đức về cuối tháng 12/2007, nộp hồ sơ ngày 30/12. Nhưng trước khi tôi về nước, gia đình 2 bên đã lo đủ các thủ tục hồ sơ, chỉ chờ tôi về hoàn thiện nốt. Chiều nay, hai chúng tôi đến đây phỏng vấn. Mọi việc ổn thoả, tôi đã lấy giấy hẹn trả kết quả sau 30 ngày, cộng với thời gian CA xác minh phải thêm 20 ngày, tổng cộng là 50 ngày. Trong khi đó, cuối tháng 1 tới, tôi đã hết hạn phép và phải trở lại Đức. Để kết hôn được, tôi sẽ phải quay về Việt Nam trong vòng 3 tháng nữa. Không hiểu cải cách kiểu gì chứ tôi thấy mất thời gian và rất tốn kém!

Bà Trần Thị Nhàn (Ba Đình, Hà Nội) thì thắc mắc: Con gái tôi mang quốc tịch Hà Lan, hiện đang muốn kết hôn với một người đàn ông ở Hà Tây. Dịp Tết này, nó sẽ về nước. Tôi ra đây tìm hiểu trước xem hồ sơ phải làm những gì để thông tin cho nó mà chuẩn bị. Có điều, tôi thấy hồ sơ yêu cầu nhiều loại giấy tờ quá, đặc biệt, thời hạn giải quyết mất gần 2 tháng trời? Con tôi làm việc ở Hà Lan chứ không  phải buôn bán nên nó rất khó nghỉ lâu đến như vậy.

Đem phản ánh của người dân về thời hạn 50 ngày giải quyết hồ sơ là khá dài hỏi các cán bộ tư pháp, chúng tôi được chị Bùi Thị Thu – cán bộ bộ phận “một cửa” Sở Tư pháp Hà Nội, cho biết: Mỗi ngày bộ phận “một cửa” tiếp nhận khoảng 4 – 5 bộ hồ sơ xin đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài, ngày cao điểm, con số này có thể cao hơn một chút. Tuy nhiên, có nhiều công dân phải trở đi trở lại nhiều lần vì không hiểu hoặc không làm đúng các hướng dẫn về giấy tờ trong hồ sơ. Chúng tôi luôn sẵn sàng hướng dẫn tất cả người dân về thủ tục, song khi đến làm hồ sơ mọi người cũng nên đọc các thông báo niêm yết công khai ở bộ phận “một cửa” để biết thêm các thủ tục, trình tự cũng như thời gian. Việc gì chưa rõ, công dân hãy hỏi trực tiếp cán bộ thì sẽ đỡ mất công đi lại, chi phí… Ông Nguyễn Văn Thơm – Trưởng phòng Nghiệp vụ hộ tịch Sở Tư pháp Hải Dương lại lý giải: Cái khó của cán bộ tư pháp bây giờ là sợ bị dân kêu gây phiền hà. Nhưng quả thật có một số trường hợp, chúng tôi vừa làm vừa run. Các bạn xem, có trường hợp đương sự xin được tới 4 bản Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân. Chẳng hạn, chúng tôi yêu cầu xuất trình bản án ly hôn hoặc về nơi cư trú lấy Giấy xác nhận thì một số người bỏ luôn hồ sơ.

Cứ thẩm định cho …chắc?

Tính riêng trong năm 2007, Sở Tư pháp Hà Nội đã giải quyết khoảng 400 hồ sơ đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài. Quy trình giải quyết một việc đăng ký kết hôn của Hà Nội có thể tóm tắt như sau: đương sự nộp hồ sơ hợp lệ tại Sở Tư pháp, sau đó cả hai bên nam, nữ phải có mặt để phỏng vấn. Hồ sơ sẽ được hoàn thiện để Sở Tư pháp chuyển xuống UBND cấp xã nơi đương sự thường trú hoặc tạm trú niêm yết trong vòng 7 ngày. Tiếp đến hồ sơ sẽ được gửi qua cơ quan CA thẩm định, xác minh. Tiến hành xong các bước nói trên, Sở Tư pháp sẽ trình cho Chủ tịch UBNDTP. ký quyết định và trả kết quả cho đương sự.

Tuy nhiên, cũng là việc đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài nhưng ở Hà Tây lại có cách giải quyết khác. Điển hình là, việc niêm yết ở xã phường và xác minh tại cơ quan công an được tiến hành đồng thời với nhau. Theo giải thích của ông Nguyễn Hoài Nam – Trưởng phòng Hộ tịch Sở Tư pháp Hà Tây, cách làm này nhằm tiết kiệm thời gian cho các bên đương sự, thể hiện cải cách hành chính, rút ngắn thời gian. Chỉ trong trường hợp hồ sơ “có vấn đề” thì cơ quan công an mới cần xác minh thêm trong vòng 20 ngày.

Tương tự, ông Thơm cho biết, mặc dù chỉ tiếp nhận hồ sơ 3 ngày/ tuần song năm 2007, Sở Tư pháp Hải Dương đã giải quyết xong 500 bộ và có hơn 50% được trả trong thời hạn 30 – 35 ngày. Số còn lại là do Sở Tư pháp phải tiến hành thẩm định đối với những trường hợp xin đăng ký kết hôn lần thứ 3, thứ 4 hoặc độ tuổi chênh lệch của 2 bên đương sự quá lớn và chỉ có khoảng 20% thì Sở chuyển sang cho CA xác minh. Ông Thơm phấn khởi nói với chúng tôi: “Mới đây, Sở Tư pháp Hải Dương vừa tổ chức Lễ trao Giấy chứng nhận kết hôn cho 3 đôi nam nữ mà hồ sơ được giải quyết gói gọn trong vòng 20 ngày”. Đã có trường hợp cần thiết (đương sự xuất trình vé máy bay), Sở này trả luôn hồ sơ chứ không cần đợi đúng lịch quy định. Đó là do cán bộ tư pháp phải linh động, phải vì dân thôi, ông Thơm kết luận.

Như vậy, trên thực tế, tính riêng trong quy định về việc gửi hồ sơ đến cơ quan công an thẩm định mỗi địa phương đã có những cách làm khác nhau. Tuy nhiên, phần lớn việc thẩm định được tiến hành với tất cả các hồ sơ, không có ngoại lệ. Chỉ một số ít địa phương gửi thẩm định các hồ sơ trong trường hợp cơ quan tư pháp thấy nghi ngờ. Thực ra, vấn đề có hay không gửi thẩm định không do ngành tư pháp mà do UBND cấp tỉnh quyết định. Dường như cứ có thẩm định của cơ quan CA, Chủ tịch UBND cấp tỉnh khi ký các hồ sơ này cũng cảm thấy yên tâm hơn!? Theo quy định của Nghị định 69/CP hiện hành, chỉ trong những trường hợp cần thiết hoặc có nghi vấn hoặc khiếu nại, tố cáo thì Sở tư pháp mới cần xác minh, làm rõ. Còn trong trường hợp thấy vấn đề cần xác minh thuộc chức năng của CA thì Sở Tư pháp đề nghị CA xác minh.  Tuy nhiên, như thế nào là nghi vấn, là cần thiết, nội dung khiếu nại tố cáo nào cần xác minh, thẩm định thuộc thẩm quyền của cả ngành CA và Tư pháp, đến nay chưa có hướng dẫn. Cho nên, để an toàn nhiều địa phương đã chọn giải pháp 100% hồ sơ đều qua “cửa CA”. Cách làm trên dễ dẫn đến hậu quả việc giải quyết hồ sơ một cách tuỳ tiện, kéo dài. Trong khi thực tế, công dân nước ngoài về Việt Nam thường rất hạn chế về mặt thời gian. Nếu hồ sơ không được giải quyết đúng hạn sẽ dẫn đến việc đương sự  “bỏ của chạy lấy người” bởi theo quy định, Lễ đăng ký kết hôn (bắt buộc phải có mặt cả hai bên nam nữ – PV) phải được tổ chức trong thời hạn 7 ngày từ ngày Chủ tịch UBND cấp tỉnh ký Giấy chứng nhận kết hôn, trừ trường hợp có lý do chính đáng thì cũng phải tổ chức trong thời hạn không quá 90 ngày, nếu không sẽ phải làm lại thủ tục đăng ký từ đầu. Vì lý do đó mà thời gian qua, tại các Sở Tư pháp đã có khá nhiều trường hợp Giấy chứng nhận kết hôn bị huỷ do quá hạn về thời gian.

Cần hướng dẫn cụ thể

Về thủ tục thẩm định, xác minh đối với hồ sơ, các địa phương đề nghị cần có hướng dẫn rõ ràng những trường hợp nào là có nghi vấn, có “vấn đề”, để đảm bảo đúng tiến độ về mặt thời gian, đặc biệt trong xu thế cải cách hành chính như giai đoạn hiện nay. Ngoài ra, liên quan đến thẩm quyền ký Giấy chứng nhận kết hôn, một số địa phương cho rằng nên sửa đổi quy định theo hướng Chủ tịch UBND cấp tỉnh có thể uỷ quyền cho Giám đốc Sở Tư pháp ký. Bởi xuất phát từ thực tế, Chủ tịch UBND cấp tỉnh có quá nhiều việc phải làm, trong nhiều trường hợp sẽ không ký đúng hạn.

Nghị định 69/CP cũng quy định cụ thể những trường hợp từ chối đăng ký kết hôn, trong đó có việc lừa dối, cưỡng ép kết hôn. Tuy nhiên, để xác định mục đích thực sự của cuộc hôn nhân là rất khó, kể cả khi đã đưa vào quy định bắt buộc các bên đương sự phải trả lời phỏng vấn tại Sở Tư pháp hay quy định hai bên đương sự phải cùng biết một thứ tiếng… Do vậy, nhằm tránh những tiêu cực trong lĩnh vực đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài, cần tăng cường kiểm tra thanh tra đối với các hoạt động này và có biện pháp xử lý nếu phát hiện sai phạm.

——————————————————————

Thời hạn giải quyết việc đăng ký kết hôn tại Việt Nam là 30 ngày, kể từ ngày Sở Tư pháp nhận đủ hồ sơ hợp lệ. Trong trường hợp có yêu cầu cơ quan công an xác minh thì thời hạn được kéo dài thêm 20 ngày

(Trích nội dung Điều 15 Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10/07/2002của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đìnhvề quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài)

SOURCE: MOj.GOV.VN

 

NHỮNG VẤN ĐỀ TRAO ĐỔI TỪ THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

NGUYỄN MINH HẰNG  – Học viện tư pháp

NGUYỄN MINH HIẾU  – Toà dân sự TAND TP HCM

Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2004 lần đầu tiên đã pháp điển hóa các quy định về thủ tục giải quyết việc dân sự, trong đó có việc hôn nhân và gia đình. Có thể nói, đây là một bước đột phá về thủ tục tố tụng, tạo ra một hành lang pháp lý trong việc giải quyết nhanh, giản lược các việc mang tính chất đặc trưng là không có tranh chấp, nhưng cá nhân, cơ quan, tổ chức yêu cầu Tòa án công nhận một sự kiện pháp lý, công nhận quyền về dân sự, hôn nhân gia đình… Bên cạnh những ưu điểm, thực tiễn thụ lý và giải quyết các việc dân sự (theo nghĩa rộng) nói chung và việc hôn nhân gia đình nói riêng đã và đang đặt ra khá nhiều vướng mắc cần tháo gỡ và cần có sự hướng dẫn thống nhất. Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 517/NCPL NGÀY 9-10-1993 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO VỀ VIỆC LY HÔN VỚI MỘT BÊN ĐANG Ở NƯỚC NGOÀI

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
********
Số: 517/1993/NCPL
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
********
Hà Nội, ngày 9 tháng 10 năm 1993

CÔNG VĂN

SỐ 517/NCPL NGÀY 9-10-1993 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO VỀ VIỆC LY HÔN VỚI MỘT BÊN ĐANG Ở NƯỚC NGOÀI

Trong thời gian vừa qua Toà án nhân dân tối cao nhận được công văn của một số Toà án nhân dân địa phương hỏi một số vấn đề về thủ tục giải quyết việc ly hôn có một bên đương sự đang ở nước ngoài. Toà án nhân dân tối cao đã trao đổi với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và tại công văn ngày 5-10-1993 Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã thống nhất với Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn thêm như sau, ngoài các hướng dẫn trước đây tại các công văn số 130/NCPL ngày 16-12-1991 và số 29/NCPL ngày 6-4-1992 của Toà án nhân dân tối cao:

1. Trong trường hợp Toà án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục uỷ thác tư pháp đến lần thứ hai, nhưng không được các cơ quan tư pháp có trách nhiệm của nước liên quan đáp ứng, thì Toà án liên hệ với Bộ Tư pháp để thông qua Bộ Ngoại giao yêu cầu cơ quan lãnh sự của nước ta tại nước có liên quan thực hiện uỷ thác tư pháp theo quy định tại Điều 30 Pháp lệnh lãnh sự công bố ngày 24-11-1990 với nội dung: Lãnh sự thực hiện uỷ thác tư pháp của cơ quan Nhà nước Việt Nam có thẩm quyền đối với công dân Việt Nam ở khu vực lãnh sự, nếu việc đó không trái với pháp luật nước tiếp nhận hoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam và nước tiếp nhận ký kết hoặc tham gia.

Việc thực hiện uỷ thác tư pháp này phải tuân theo các quy định của pháp luật tố tụng Việt Nam. Nếu Toà án đã thực hiện theo đúng các hướng dẫn nói trên nhưng việc uỷ thác tư pháp vẫn không có kết quả do bị đơn không có địa chỉ rõ ràng, sống lưu vong, không ai quản lý, thì Toà án yêu cầu thân nhân của bị đơn đó gửi cho họ lời khai của nguyên đơn và báo cho họ gửi về Toà án những lời khai hoặc các tài liệu cần thiết cho việc giải quyết vụ án. Sau khi có kết quả, Toà án có thể căn cứ vào những lời khai và tài liệu đó để xét xử, nếu nguyên đơn ở trong nước công nhận những lời khai hoặc tài liệu gửi về đúng là của bị đơn đang ở nước ngoài. Nếu theo cách thức liên hệ nói trên và đã liên hệ được với bị đơn đang ở nước ngoài, nhưng họ cố tình từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết đến lần thứ hai, thì Toà án có thể đưa vụ án ra xét xử. Nếu theo cách thức liên hệ nói trên, nhưng không liên hệ được thì Toà án ra quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 45 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự và giải thích cho nguyên đơn biết họ có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án cấp huyện nơi họ thường trú xác định bị đơn mất tích hoặc đã chết theo thủ tục quy định về việc xác định công dân mất tích hoặc đã chết.

2. Đối với những vụ án ly hôn, nguyên đơn là người ở trong nước bị bỏ lửng nhiều năm, bị đơn là người đang ở nước ngoài, nhưng có đầy đủ căn cứ chứng minh là họ vẫn gọi điện về cho thân nhân của họ ở trong nước và thân nhân của họ không chịu cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn cho Toà án, cũng như không chịu thực hiện yêu cầu của Toà án thông báo cho bị đơn biết để bị đơn gửi lời khai về cho Toà án, thì cần coi đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Trong trường hợp này, nếu Toà án đã yêu cầu đến lần thứ hai mà thân nhân của họ cũng không chịu cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn cho Toà án cũng như không chịu thực hiện yêu cầu của Toà án thông báo cho bị đơn biết, thì Toà án có thể đưa vụ án ra xét xử. Ngược lại, nếu không có đầy đủ căn cứ để chứng minh được là bị đơn vẫn gọi điện về cho thân nhân của họ ở trong nước và thân nhân của họ không chịu cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn cho Toà án thì Toà án ra quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 45 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự và giải thích cho nguyên đơn biết họ có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án huyện nơi họ thường trú xác định bị đơn mất tích hoặc đã chết theo thủ tục quy định về việc xác định công dân mất tích hoặc đã chết.

3. Đối tượng các trường hợp sau khi xét xử sơ thẩm vẫn không có hoặc không biết địa chỉ của bị đơn để tống đạt bản án và thân nhân của họ ở trong nước cũng từ chối việc thông báo cho họ kết quả xét xử của Toà án, thì Toà án gửi công văn cho cơ quan ngoại giao của nước ta ở nước ngoài kèm theo bản sao bản án và yêu cầu niêm yết bản sao bản án tại trụ sở của cơ quan ngoại giao đó; đồng thời Toà án cấp cho thân nhân của họ ở trong nước một bản sao bản án và yêu cầu họ gửi cho bị đơn đang ở nước ngoài. Trong thời hạn 3 tháng, kể từ ngày Toà án gửi công văn và bản sao bản án yêu cầu cơ quan ngoại giao của nước ta ở nước ngoài niêm yết bản sao bản án và kể từ ngày Toà án cấp cho thân nhân của họ ở trong nước bản sao bản án, dù Toà án có nhận được hay không nhận được thông báo của cơ quan ngoại giao nước ta ở nước ngoài cũng như thông báo của thân nhân của họ ở trong nước về việc đã niêm yết bản sao bản án, đã gửi bản sao bản án cho họ hay chưa mà không có đơn, thư của bị đơn đang ở nước ngoài về việc họ có kháng cáo, đồng thời trong thời hạn kháng cáo, kháng nghị được quy định tại Điều 59 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, bản án cũng không bị những người khác kháng cáo hoặc Viện kiểm sát nhân dân kháng nghị, thì bản án được thi hành theo thủ tục chung.

Trịnh Hồng Dương

(Đã ký)

CÔNG VĂN SỐ 131/2002/KHXX CỦA TANDTC VỀ THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT VIỆC XIN THAY ĐỔI NUÔI CON SAU KHI LY HÔN

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
********
Số: 131/2002/KHXX
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
********

Hà Nội, ngày 29 tháng 8 năm 2002

CÔNG VĂN

CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO SỐ 131/2002/KHXX NGÀY 29 THÁNG 8 NĂM 2002 VỀ VIỆC XÁC ĐỊNH THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT VIỆC XIN THAY ĐỔI NUÔI CON SAU KHI LY HÔN

Kính gửi: Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai

Sau khi nghiên cứu Công văn số 65/DS ngày 14-5-2002 của Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai, Toà án nhân dân tối cao có ý kiến như sau:

Theo quy định tại điểm 1 Điều 14 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, trong trường hợp bị đơn không có nơi cư trú ở Việt Nam, thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi cư trú cuối cùng của bị đơn ở Việt Nam giải quyết. Theo nội dung Công văn của quý Toà, thì chị Nguyễn Thị Hồng Diễm trước khi xuất cảnh sang Pháp định cư đã cư trú ở Bình Định; do đó, trong trường hợp này Toà án có thẩm quyền giải quyết vụ án xin thay đổi việc nuôi con sau khi ly hôn giữa anh Hạnh và chị Diễm là Toà án nhân dân tỉnh Bình Định nơi cư trú cuối cùng của chị Diễm ở Việt Nam.

Bởi vậy, nếu quý Toà chưa thụ lý vụ án về việc anh Võ Duy Hạnh yêu cáu thay đổi việc nuôi con sau khi ly hôn thì quý Toà cần giải thích, hướng dẫn cho anh Hạnh nộp đơn yêu cầu thay đổi việc nuôi con tại Toà án nhân dân tỉnh Bình Định; nếu quý Toà đã thụ lý vụ án, thì căn cứ vào quy định tại Điều 15 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự quý Toà cần chuyển vụ án cho Toà án nhân dân tỉnh Bình Định để thụ lý giải quyết theo thẩm quyền và thông báo cho anh Hạnh biết.

Trên đây là ý kiến của Toà án nhân dân tối cao để quý Toà tham khảo trong việc giải quyết vụ án ở địa phương.

Đặng Quang Phương

(Đã ký)

NHỮNG CÔ DÂU… KHÔNG THỂ CHẠY TRỐN

Cô dâu Huỳnh Mai, cô dâu Kim Đồng lấy chồng nước ngoài để thực hiện giấc mơ đổi đời. Thế nhưng, khi giấc mơ ấy chưa thành hiện thực thì họ đã bỏ mạng nơi xứ người: Huỳnh Mai bị người chồng Hàn đánh đập cho tới chết còn Kim Đồng thì bỏ mạng vì ngã từ trên cao xuống khi chạy trốn người chồng của mình.

Đó chỉ là hai cái chết thảm trong số rất nhiều những số phận không may mắn của những người phụ nữ Việt Nam lấy chồng ngoại quốc thông qua con đường môi giới hôn nhân. Những người nghèo vì đồng tiền vẫn phải đánh bạc với số phận của mình, còn những trung tâm môi giới vì lợi nhuận vẫn bất chấp tính mạng của những cô dâu Việt. Những trung tâm này đẩy những cô gái Việt ra giữa biển khơi mà không cho họ một chiếc phao cứu sinh để họ có đường sống sót quay về bờ.
1. Thiên đường không tìm thấy

Cô dâu Kim Đồng trong đám cưới những tưởng là thiên đường của mình

Họ là những người con gái Việt Nam lấy chồng ngoại quốc thông qua những trung tâm môi giới hôn nhân. Không khả năng sử dụng ngoại ngữ của nước sở tại, không hiểu biết về nền văn hóa và truyền thống của quốc gia đó, không một chút thông tin về người mình sắp lấy làm chồng và gia đình của anh ta. Và điều quan trọng nhất là không có tình yêu. Nói tóm lại, các cô dâu Việt lấy chồng thông qua con đường môi giới hôn nhân không hề có một điều kiện nào để đảm bảo cho một gia đình hạnh phúc về sau, thế nhưng họ vẫn nhắm mắt đưa chân, đánh cược với số phận của mình và những kết thúc đau lòng, bi thảm dường như là hệ quả tất yếu của những cuộc hôn nhân như thế.

Điểm khởi đầu của con đường hôn nhân này là những Trung tâm môi giới hôn nhân. Những người phụ nữ bị buộc phải đứng xếp hàng (nhiều trường hợp bị buộc phải lột bỏ y phục) để cho những người đàn ông ngoại quốc lựa chọn như những món hàng. Ngay từ khi đó, họ đã ở vào thế yếu và phải chấp nhận sự khinh rẻ của những người chồng tương lai của mình – những người họ không hề quen biết và cũng không có quyền được tìm hiểu. Một điều quan trọng ở đây: “Chú rể” không phải là một người thanh niên cùng lứa tuổi với cô dâu, mà là những người đàn ông tuổi tác bằng bố hay tuổi ông nội ông ngoại của cô dâu, hoặc thường là một người đàn ông đã góa vợ, bệnh hoạn hay thuộc loại không thể tìm được vợ ở quốc gia mà họ đang sinh sống.

Hiện nay, phụ nữ Việt Nam thường được môi giới hôn nhân với những người đàn ông ở Đài Loan và Hàn Quốc là chủ yếu. Khi dời khỏi Việt Nam những cô gái phải đối mặt với rất nhiều nguy cơ: Hoặc bị bán làm nô lệ không công, hoặc bị ép buộc hành nghề mại dâm cho dân bản xứ, hoặc bị bán cho các ổ điếm. Một số các cô khác thì quả thực được đem về làm vợ, nhưng không phải làm vợ cho một mình người đàn ông đã sang Việt Nam mua cô về, mà là phải lần lượt làm vợ cho tất cả những người đàn ông sống trong gia đình; và trong cuộc sống hàng ngày thì các cô bị đối xử như người ở hay giống như nô lệ: phải thức khuya dậy sớm, phải làm đủ mọi công việc phục dịch hầu hạ cho cả gia đình. Có những người lại được mua về để phục vụ những người bệnh hoạn tật nguyền trong gia đình. Chỉ có một số ít thực sự là làm dâu đúng nghĩa. Tuy nhiên, ngay cả đối với những cô dâu này, hai từ “hạnh phúc” vẫn là những tiếng xa lạ; phẩm giá và nhân vị của những người phụ nữ bị mua về làm dâu không được tôn trọng; các cô dâu không có tiếng nói trong gia đình và chỉ được coi như sở hữu của chồng và của cả gia đình nhà chồng, ai cũng có quyền sai khiến và bắt các cô phải phục dịch.

Thời gian gần đây, báo chí trong và ngoài nước đã phanh phui rất nhiều vụ xâm hại nghiêm trọng đến thân thể của các cô dâu Việt lấy chồng ngoại quốc. Từ những cô dâu Việt trên đất Đài bị sát hại như Trần Thị Hồng Thắm hay trở về Việt Nam trong tình trạng người không ra người như Trần Thị Bích My, Cao Thị Hồng Nương… đến những cái chết thương tâm của những cô dâu Việt trên đất Hàn như Huỳnh Mai, Kim Đồng chính là những hình ảnh bề nổi của phận Việt làm dâu nơi đất khách: Họ không thể và không có khả năng để chạy trốn khỏi những nguy cơ có thể tổn hại đến sức khỏe, thậm chí là chính mạng sống của mình. Một cái giá, một sự đánh đổi quá đắt khi chấp nhận làm dâu trên đất khách khi không có tình yêu để mong có được cuộc sống đầy đủ, sung túc cho gia đình và bản thân. Họ không thể tìm thấy thiên đường cho mình mà rơi vào địa ngục và thủ phạm chính là những trung tâm môi giới hôn nhân.

Cô dâu Huỳnh Mai trong ngày cưới

2. Và những trung tâm buôn bán phụ nữ trá hình

 

Những cô gái Việt Nam muốn đổi đời bằng con đường lấy chồng ngoại quốc ngày càng nhiều lên chính là điều kiện để những trung tâm môi giới hôn nhân có thể tồn tại và phát triển. Thế nhưng, cách làm ăn thiếu trách nhiệm của những trung tâm buôn bán phụ nữ trá hình dưới cái tên “môi giới hôn nhân” chính là thủ phạm của những cái chết thương tâm của những cô dâu Việt trên đất khách.

Vì lợi nhuận, những trung tâm này không quan tâm đến hạnh phúc của những người được họ mai mối. Họ biến những cô gái nông thôn thành những món hàng để rao bán cho những người đàn ông ngoại quốc. Họ không hề trang bị cho những cô gái ấy một chút vốn liếng nào để có thể trở thành cô dâu ở một đất nước xa lạ. Thậm chí họ không thể tự kêu cứu khi tính mạng bị đe dọa. Những cô dâu ấy phải tự mình bươn chải nơi xứ người mà không nhận được sự giúp đỡ từ phía trung tâm môi giới hôn nhân mà họ đã tin tưởng gửi mình. Những trung tâm ấy đẩy họ ra biển cả mà không cho họ một chiếc phao cứu sinh để có thể quay lại bờ.

Trở lại trường hợp của Huỳnh Mai, cô gái này chấp nhận lấy chồng Hàn Quốc và gia đình cô chỉ được trả một số tiền rẻ mạt là 400 USD. Ngay khi làm đám cưới xong, những “ông tơ bà nguyệt” của cuộc hôn nhân này đã thu mất 200 USD từ phía cha mẹ cô và họ rũ bỏ hoàn toàn trách nhiệm. Họ bỏ mặc số phận của một con người sau khi đã nhận được khoản phí từ việc môi giới hôn nhân đó.

Nạn nhân của các trung tâm môi giới hôn nhân

Những trung tâm môi giới hôn nhân giữa người Việt Nam và người nước ngoài không khác gì những con buôn. Họ lấy những người phụ nữ Việt Nam làm món hàng để có thể thu về lợi nhuận cho bản thân mình. Những người phụ nữ Việt Nam chấp nhận lấy chồng Đài Loan, Hàn Quốc và một số quốc gia khác thông qua những trung tâm môi giới phải chấp nhận cuộc hôn nhân không do tình yêu, nhưng là do hoàn cảnh sống éo le bó buộc; và các cô đi lấy chồng không do cưới hỏi đúng với đạo lý và truyền thống dân tộc, mà là do mua bán, do những kẻ “buôn người” thời đại dàn dựng, thu xếp.
Tất cả những vấn đề hậu hôn nhân với người nước ngoài đều do các cô dâu tự chịu trách nhiệm. Nhiều cuộc hôn nhân không những không hạnh phúc mà những người phụ nữ phải đối mặt với nguy cơ trở thành nô lệ tình dục, bị đe dọa về nhân phẩm thậm chí cả tính mạng nhưng các trung tâm môi giới hôn nhân hoàn toàn vô can trong tất cả những vấn đề nảy sinh sau khi cô dâu Việt về nơi xứ người. Sự vô trách nhiệm và làm việc chụp giật, tất cả vì lợi nhuận này của các trung tâm môi giới hôn nhân chính là thủ phạm của câu chuyện tang thương khi những cô gái Việt Nam làm dâu trên những quốc gia khác.

Hàng loạt những câu chuyện đau lòng xảy ra trong thời gian qua đã gióng lên một hồi chuông cảnh tỉnh: Không thể để tình trạng những người phụ nữ Việt Nam làm dâu xứ người bị chà đạp về danh dự và nhân phẩm, bị coi như những món hàng hóa để trao đổi, bị đe dọa cả về tính mạng được nữa. Việc chúng ta có thể làm ngay bây giờ, đó là: Cấm toàn bộ những trung tâm buôn bán người trá hình được ngụy trang dưới cái tên: Trung tâm môi giới hôn nhân. Nếu không kiểm soát được tình trạng kết hôn với người nước ngoài chỉ vì tiền thì những nỗi đau của những cô dâu Việt như Huỳnh Mai, Kim Đồng sẽ còn tiếp tục tái diễn.

******************************************************************************

Để một cuộc hôn nhân bền vững, ngoài tình yêu giữa hai người khác giới thì còn có những nhân tố khác hết sức quan trọng như sự tương đồng về thể trạng, sức khỏe, điều kiện kinh tế, hòa hợp tâm hồn và hiểu biết về ngôn ngữ và văn hóa của đối tác. Những cuộc hôn nhân giữa người nước ngoài với cô dâu Việt không hề có được những nhân tố này nên không thể có hạnh phúc.

 

Thế nhưng, các Trung tâm môi giới hôn nhân đã bất chấp tất cả. Vì lợi nhuận họ sẵn sàng đẩy các cô gái Việt Nam sang xứ người mà không trang bị cho họ bất kỳ một kỹ năng gì. Bên cạnh những cô dâu như Huỳnh Mai, Kim Đồng bỏ mạng nơi xứ người là những tấm gương nhỡn tiền còn có biết bao cô gái khác đang phải trả giá với hôn nhân mai mối. Đã đến lúc dẹp bỏ những Trung tâm buôn bán phụ nữ trá hình dưới mĩ từ “Môi giới hôn nhân”.

Nhà văn Lê Minh Khuê: “Tôi phản đối hôn nhân với người nước ngoài qua môi giới”

Nhà văn Lê Minh Khuê – Ảnh: Tuấn Hải

Theo ý kiến của tôi thì để tiến tới hôn nhân không cần nhiều lắm đến tình yêu, thế nhưng, quan trọng là chọn được người bạn đời mà mình phải cảm thấy yên tâm khi ở bên cạnh họ. Đó là những người có tính tình ôn hòa, không có sự phiêu lưu, báo hiệu cho sự đổ vỡ sau này. Như vậy có thể khẳng định: Nền tảng để đi tới hôn nhân chính là sự hiểu biết lẫn nhau giữa hai người khác giới. Thứ nữa là sức khỏe, khả năng tài chính, việc làm. Hôn nhân hiện đại nó thế, chúng ta phải có tất cả những thứ đó để có thể đảm bảo hạnh phúc được lâu bền. Quan trọng nhất là sự bình tĩnh trước đời sống để có thể xử lý tình huống. Đời sống hiện đại nó khủng khiếp lắm, nếu mà người ta không bình tĩnh thì nó sẽ đổ vỡ hết. Điều này đặc biệt quan trọng ở phía những người đàn ông.
Ngày xưa các cụ nhà mình “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” nhưng hôn nhân vẫn bền vững bởi vì khi mai mối họ đã có những hiểu biết nhất định về nhau, sự tương đồng về kinh tế mà các cụ hay dùng từ “môn đăng hộ đối”, còn nhiều cuộc hôn nhân vì tình yêu nhưng khi lấy nhau rồi vẫn đổ vỡ. Nghĩa là để một cuộc hôn nhân có thể tồn tại thì không cần nhiều tình yêu lắm. Để sống với nhau miễn là không chối quá. Không cần lệ thuộc quá vào chuyện yêu đương. Trong đời sống hôn nhân quan trọng nhất là sự nhường nhịn. Một cuộc môi giới hôn nhân giữa hai người trong cùng một quốc gia hoàn toàn có thể có hạnh phúc là vì người ta có cơ sở để hiểu biết về nhau và có những sự tương đồng về điều kiện kinh tế và lối sống.
Để hai người có thể sống với nhau ổn định và lâu dài thì sự cân bằng giữa hai người có một vai trò quyết định. Người chồng kiếm được tiền, người vợ cũng kiếm được tiền là điều hết sức cơ bản. Nếu như một người phụ thuộc vào người khác thì nó sẽ là gánh nặng cho cả hai người và như thế thì rất không tốt cho một cuộc hôn nhân. Để có được cuộc sống hạnh phúc thì hai bên phải cân bằng nhau và độc lập với nhau một cách tương đối.

Hai yếu tố ngôn ngữ và văn hóa rất quan trọng để một cuộc hôn nhân có thể bền vững. Các cô gái Việt Nam đi lấy chồng nước ngoài cần phải hiểu được ngôn ngữ và văn hóa của nước đó nếu không thì nguy hiểm lắm. Nếu như hai nền văn hóa khác nhau rồi thì phải có ngôn ngữ để chinh phục nhau, cuộc hôn nhân nó mới có thể bền vững được. Không có cả hai yếu tố này thì thực sự là đáng lo ngại.

Môi giới hôn nhân với người nước ngoài theo tôi là hết sức nguy hiểm, một cô gái nông thôn, tiếng thì không biết, không hiểu một tý gì về truyền thống và văn hóa thế mà các trung tâm lại có thể đưa họ sang làm dâu ở một nước xa lạ. Môi giới hôn nhân kiểu vô trách nhiệm như thế có khác gì đẩy người ta ra biển, nếu mà hôn nhân kiểu như thế người ta chỉ cần mình về làm cái máy đẻ và người giúp việc. Những bậc cha mẹ cho con đi lấy chồng kiểu ấy thì có khác gì bán con?

Nếu muốn người phụ nữ Việt Nam có thể lấy chồng ngoại quốc và đảm bảo cho cuộc hôn nhân ấy yên ổn trước hết là phải chuẩn bị cho người ta cái phao: Ít nhất là cái văn hóa và ngôn ngữ để người ta có thể thích nghi với cuộc sống ở một gia đình xa lạ, một đất nước xa lạ không có người thân bên cạnh mà điều này thì những người phụ nữ lấy chồng thông qua môi giới hôn nhân không có.

Tôi không tán thành những trung tâm môi giới hôn nhân vô trách nhiệm, họ không chuẩn bị cho những cô gái hành trang: Ngôn ngữ, văn hóa, cách ứng xử với những tình huống trong đời sống và thậm chí là cách để tự cứu lấy bản thân khi những nguy cơ bị xâm hại xảy ra.

Những người đàn ông ngoại quốc lấy vợ Việt Nam thông qua những trung tâm môi giới hôn nhân thường lại là những người không có đủ khả năng kinh tế để lấy vợ ở quốc gia mà họ sinh sống hoặc họ là những người không khỏe mạnh về mặt tâm lý nên họ mới chọn lấy vợ ở một quốc gia khác. Vì thế xác suất của việc xảy ra xung đột sẽ cao hơn các cặp vợ chồng cùng quốc tịch rất nhiều. Những người phụ nữ lấy chồng kiểu ấy là bán mình vì tiền chứ còn gì nữa. Mà đã bán mình thì phải nhẫn nhục, phải chịu ở thế yếu so với người ta.

Các cô ấy xuất thân từ nông thôn, chỉ ra ra thành phố lớn còn bỡ ngỡ nữa là sang một quốc gia khác. Phải có sự chuẩn bị kỹ cho người ta chứ? Nếu anh đã môi giới anh phải có trách nhiệm với những cuộc hôn nhân đó chứ “đem con bỏ chợ” thế thì không chấp nhận nổi. Những sự việc đau lòng xảy ra gần đây cũng là hậu quả tất yếu của những cuộc hôn nhân như thế. Nhưng giá như các cô gái ấy biết một chút ngôn ngữ để có thể tự cứu bản thân mình thì đâu đến nỗi?
Tôi nghĩ rằng nếu muốn tiến tới hôn nhân thì cả người nước ngoài kia và vả cô gái Việt Nam cần phải có những sự hiểu biết nhất định về nhau, về ngôn ngữ, văn hóa và lối sống của nhau. Lấy vợ chứ có phải lấy người làm thuê đâu, mà ngay lấy người làm thuê người ta cũng còn phải tìm hiểu. Chuyện hôn nhân đại sự, chuyện hạnh phúc của cả một đời người không thể lấy ra làm trò cá cược như thế. Số phận của một người con gái cũng không thể coi như một món hàng để đổi chác như thế.

Muốn hạn chế tối đa tình trạng những cô dâu Việt lấy chồng ngoại quốc bị giết, bị hành hạ hoặc bị bán thì cần nâng cao trình độ hiểu biết cho chính những gia đình ở nông thôn để họ nhận ra rằng: Lấy chồng nước ngoài không phải là con đường dễ dàng để có thể đổi đời như bấy lâu họ vẫn lầm tưởng, hạn chế tối đa được những cuộc hôn nhân với người ngoại quốc chỉ vì tiền. Đó là biện pháp lâu dài, còn cái trước mắt chúng ta có thể làm ngay đó là cấm những trung tâm môi giới hôn nhân vô trách nhiệm đang hoạt động hiện nay.

Còn những người phụ nữ Việt muốn kết hôn với người nước ngoài họ phải có sự hiểu biết nhất định về ngôn ngữ, văn hóa và truyền thống của quốc gia mà họ sắp về làm dâu. Kể cả những người đàn ông nước ngoài cũng phải có sự hiểu biết nhất định về cô gái mà anh ta chuẩn bị kết hôn.

Nếu các tổ chức đoàn thể của mình như Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Đại sứ quán của mình có thể phối hợp chặt chẽ với nhau hơn thì có lẽ những chuyện đau lòng như thế sẽ ít xảy ra hơn. Các tổ chức ấy người thì đông chả thấy họ làm gì. Chỉ cần họ làm đúng chức năng thôi đã quá tốt rồi. Mấy đoàn thể không lo cho đồng bào mình, không bảo vệ đồng bào mình thì để làm gì nữa. Công việc của họ là gì? Họ chỉ làm việc ấy thôi chứ? Họ phải bảo vệ quyền lợi của phụ nữ chứ, chứ không họ làm gì? Đại sứ quán của mình phải có trách nhiệm với đồng bào của mình bên ấy. Chính quyền là cha mẹ của dân, gả con gái của mình thì phải có trách nhiệm với hạnh phúc của con cái chứ đừng “đem con bỏ chợ”.

Trang bị những thứ tối thiểu cho các cô gái như ngôn ngữ, lối sống để ít nhất họ có thể kêu cứu nếu xảy ra chuyện không may. Biết tiếng rồi còn gặp những sự bỡ ngỡ nữa là không biết gì. Các đoàn thể của Việt Nam cũng phải bảo vệ cho các cô gái. Phải có cam kết, anh lấy con tôi thì anh phải cam kết anh lấy nó về làm vợ chứ không phải anh mua nó như một món hàng để về làm cái máy đẻ hay làm nô lệ cho anh. Nếu còn tình trạng lấy chồng nước ngoài vì tiền thì những chuyện đáng tiếc còn tiếp tục xảy ra. Họ mua vợ, về làm dâu mà sống phụ thuộc vào gia đình họ, chênh lệch ngôn ngữ, văn hóa rất dễ xảy ra xung đột. Nếu con gái tôi muốn lấy một người nước ngoài tôi sẽ không muốn chứ đừng nói tới việc qua môi giới hôn nhân.

PGS – TS Lương Quỳnh Khuê – Trưởng khoa Văn hóa xã hội chủ nghĩa – Học viện Báo chí và Truyên truyền: “Cần phải cấm toàn bộ những trung tâm môi giới hôn nhân vô trách nhiệm”

PGS.TS Lương Quỳnh Khuê

Theo tôi thời nào cũng vậy, cái gốc của hôn nhân phải là tình yêu. Sự quan trọng quyết định đến sự tồn tại của hôn nhân sau này phải là có tình yêu hay không. Tất nhiên là có những trường hợp yêu nhau nhưng sau này vẫn đổ vỡ. Nhưng nếu hôn nhân không dựa trên tình yêu trước sau thế nào nó cũng nảy sinh vấn đề. Hoặc là hai người sẽ chán nhau, kinh lẫn nhau, không tôn trọng nhau bởi vì anh cần cái thể xác trẻ trung của tôi, ngược lại tôi cần túi tiền của anh.

Tôi thấy lớp trẻ bây giờ, dựa trên tình yêu để dẫn tới hôn nhân nhưng họ có điều kiện tốt hơn về kinh tế để chuẩn bị cho đời sống hôn nhân sau này. Hôn nhân không có tình yêu, hôn nhân vì tiền. Những cô dâu Việt bị sát hại ở Hàn Quốc gần đây và những cô gái lấy chồng thông qua môi giới hôn nhân rõ ràng không xuất phát từ tình yêu. Đúng là một sự đánh bạc kinh khủng, đưa cả cuộc đời của mình ra đánh bạc, lấy cả những người đàn ông bằng tuổi bố mình, ông mình. Tôi thấy thương vô cùng. Nhiều bậc bố mẹ lại thấy đây là con đường để cứu cả gia đình mà họ không ý thức được những vấn đề khác, khi đã lấy chồng như thế trong tâm của người nước ngoài họ đã coi thường. Và cái điều buồn của mình là họ không chỉ coi thường một cô gái ấy mà họ còn coi thường cả những cô gái Việt Nam, phụ nữ Việt Nam trước cộng đồng quốc tế.
Những trường hợp lấy nhau do môi giới hôn nhân có thể có hạnh phúc không? Tôi nhớ một bộ phim của Trung Quốc tôi xem khi còn rất nhỏ là “Cầu phúc” dựa trên truyện ngắn của Lỗ Tấn. Chuyện phim kể về một chị nông dân Trung Quốc được gả bán cho một anh nông dân Trung Quốc, về sau họ sinh một đứa con. Khi anh ấy đứng nhìn cô ấy chăm sóc và âu yếm đứa con thì có một lời bình của phim là “duyên ép hóa duyên lành”.

Nhưng đấy là hai người Trung Quốc, họ cùng ngôn ngữ và văn hóa cộng thêm rất nhiều sự tương đồng khác về thể chất, tình yêu nó khó nói lắm, họ có một sự đồng cảm mà người khác không hiểu được. Hôn nhân với người nước ngoài không thể có tình yêu, rất ít trường hợp may mắn để những cuộc hôn nhân như thế hạnh phúc. Tôi phản đối hôn nhân với người nước ngoài thông qua môi giới.

Sự khác nhau về ngôn ngữ và văn hóa của nhau sẽ cản trở rất lớn tới hôn nhân thế nên nếu muốn tiến tới hôn nhân thì phải tìm hiểu ngôn ngữ và nền văn hóa của nhau để tự điều chỉnh. Phải tìm hiểu và có ý thức tự điều chỉnh. Nhập gia phải tùy tục, nếu hai người sống với nhau có ý thức để tiếp thu nền văn hóa của nhau thì dù anh có hơi vụng về nhưng người ta vẫn chấp nhận. Lối sống, chuẩn giá trị đạo đức. Hai người phải có ý thức để tìm hiểu lẫn nhau để vượt qua rào cản ngôn ngữ và văn hóa nhưng theo tôi cái gốc nhất vẫn phải là tình yêu.

Theo tôi tốt nhất là nên xóa bỏ sự tồn tại của những trung tâm môi giới hôn nhân với người nước ngoài. Nhưng mà nếu như các cô gái vẫn tiếp tục lấy chồng nước ngoài thì cần có phải có biện pháp để ngăn chặn những trung tâm môi giới chui nếu không còn tai hại hơn. Tốt nhất là mình thành lập những câu lạc bộ kiểu mà mình quản lý được. Nếu bỏ được thì tốt theo nghĩa mình có cái khác. Chứ cái tình trạng môi giới hôn nhân như hiện nay, tự nhiên đến nhìn mặt nhau, anh ta chỉ việc đưa ít tiền rồi ba ngày hôm sau cưới.

Tôi không thể tưởng tượng được nếu như là mình tại sao mình lại dấn thân vào con đường như thế, gửi cả cuộc đời mình, con cái mình cho một người đàn ông xa lạ ở một đất nước xa lại như thế, thực sự là phiêu lưu. Hôn nhân kiểu gì mà đến nhìn rồi còn sờ, nắn xem là người ấy có khỏe mạnh hay không. Tôi cho đó là một sự xúc phạm và sỉ nhục ghê gớm, coi người phụ nữ như những món hàng. Người Việt Nam mình lấy nhau có phải đôi nào cũng hạnh phúc đâu, nữa là lấy người nước ngoài.

Độ an toàn trong hôn nhân, về tính mạng con người cao hơn nhiều so với lấy chồng nước ngoài, nhất là qua môi giới hôn nhân. Họ chỉ muốn các cô gái Việt làm cái máy đẻ thuê, người ở cho họ chứ có phải lấy để làm vợ đâu. Một trong những cái mất của hội nhập tôi nghĩ cũng là cái này.

Chẳng có người mẹ nào gả con mà không muốn con hạnh phúc, không có người phụ nữ nào lấy chồng mà không muốn mình có một gia đình hạnh phúc nhưng mà cái trung tâm môi giới cho các cô dâu lại thường vô trách nhiệm, họ chỉ làm xong việc thu tiền rồi lặn mất tăm mà không có tý trách nhiệm nào với những khách hàng của họ. Những người phụ nữ ấy không biết trông cậy vào đâu.

Chúng ta cần phải kiểm tra trình độ ngôn ngữ và hiểu biết văn hóa lẫn nhau của cả cô dâu và chú rể trước khi đồng ý cho họ kết hôn. Phải bảo vệ những người phụ nữ Việt Nam Vừa rồi chỉ vì chúng ta không bảo vệ được người phụ nữ Việt Nam nên mới để xảy ra những câu chuyện đáng buồn như của Huỳnh Mai và Kim Đồng và trước đó là rất nhiều cô gái khác.

Không thể để xảy ra tình trạng một cô gái sang phải làm vợ của mấy người trong gia đình hay bị bán vào các động mại dâm, bị bóc lột đến kiệt quệ. Tôi thấy thật là khủng khiếp. Cần phải cấm toàn bộ những trung tâm môi giới hôn nhân vô trách nhiệm. Và càng giảm thiểu được bao nhiêu những chuyện hôn nhân vì tiền với người nước ngoài thì càng tốt bấy nhiêu.

Lưu Thủy – Sơn Khê (VieTimes)

*********************************************************************************

NGHÈO + VĂN HÓA VÙNG MIỀN = LIỀU MẠNG LẤY CHỒNG … HÀN QUỐC

Chuyện các cô gái Việt lấy chồng Đài Loan, Hàn Quốc…(trong số đó, các cô gái miền Tây Nam Bộ chiếm phần lớn) thông qua hình thức môi giới hôn nhân, nhất là các đường dây môi giới bất hợp pháp lại một lần nữa được đem ra bàn luận: “Tại sao miền Tây được thiên nhiên đặc biệt ưu đãi, điều kiện tự nhiên vào loại thuận lợi nhất nước mà con gái lấy chồng ngoại lại cũng nhiều nhất nước?” – VieTimes đã đem vấn đề này trao đổi cùng GS.VS.TSKH Trần Ngọc Thêm, Trưởng bộ môn Văn hóa học – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Ông khẳng định cái nghèo, sự hạn chế tri thức, đặc điểm văn hoá vùng miền chính là lý do khiến nhiều cô gái miền Tây quyêt ý lấy chồng Hàn Quốc, Đài Loan…

Nghèo, trình độ dân trí thấp và bối cảnh văn hóa vùng

GS.VS.TSKH Trần Ngọc Thêm

Ông cho biết: “Trước hết, tôi phải khẳng định ngay rằng đúng là miền Tây Nam Bộ có điều kiện thuận lợi, thiên nhiên ưu đãi nhất nước, nhưng để từ đó suy ra rằng cuộc sống của người dân ở đây sung sướng nhất nước thì điều đó đã trở thành quá khứ. Đó là thời của văn hóa Nông nghiệp. Còn hiện nay, thời đại của công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì những ưu đãi của thiên nhiên không phải là tất cả.

Xưa, miền Tây giàu nhất nước. Địa chủ ở đây có đất đai thẳng cánh cò bay, thóc lúa đầy nhà. Khác với các vùng đất khác, con người nơi đây phân hóa rất sâu sắc. Tổ tiên của họ – những người đi vào khai hoang vùng đất mới, chia làm hai loại rõ rệt. Thứ nhất là lớp dân dưới đáy – đó là những người nghèo túng không mảnh đất cắm dùi, những người sống bằng nghề trộm cướp, những người trốn tù vượt ngục… vào vùng đất mới với hy vọng thay đổi số phận. Bên cạnh đó là những người trí thức bất đắc chí, không hợp tác được với triều đình hoặc không được triều đình trọng dụng nên mới phải bỏ đi. Họ là những trí thức cực đoan mang theo một nền giáo dục Nho giáo cũng rất cực đoan.

Ở giai đoạn trước đây, khi công nghiệp chưa tràn vào thì với điều kiện rất thuận lợi như đất đai màu mỡ, lại được phù sa bồi đắp, hệ thống kênh rạch, sông ngòi chằng chịt đem lại nguồn lợi thủy sản dồi dào, bước chân ra đồng là có cá, có tôm…, cái gì cũng sẵn. Chính vì vậy mà người dân miền Tây luôn hài lòng với cuộc sống của mình, không cần học nhiều, làm nhiều vẫn có thể đủ ăn, không cần chắt chiu tằn tiện như người miền Bắc hay miền Trung, làm được bao nhiêu là tiêu bấy nhiêu. Với cuộc sống dễ chịu như vậy, dễ hiểu là họ không có ham muốn thay đổi cuộc sống hiện tại – đó là cái trạng thái mà ta hay gọi là “không có chí tiến thủ”. Sang thời đại công nghiệp, vùng đất vốn phụ thuộc hoàn toàn vào nông nghiệp bỗng như bị “khớp”. Sản phẩm nông nghiệp làm ra không nâng được giá. Trong khi đó, đồng ruộng bị ảnh hưởng bới hóa chất, bởi thiên tai… không cho năng suất cao như trước. Mảnh đất vốn sống chung với lũ, nhờ lũ để bồi đắp phù sa giờ lại đắp đê ngăn lũ. Thuỷ sản gần như không còn. Người thì đông lên. Trong khi công nghiệp thì lại chưa vươn được tới. Hệ quả tất yếu là cái nghèo bao trùm lêm một bộ phận lớn dân cư.

Cũng phải nói thẳng rằng, trình độ dân trí của người dân nơi đây còn thấp. Lý do đơn giản là trước kia họ luôn bằng lòng với cuộc sống hiện tại nên không thấy cần học hành cao, không cần đỗ đạt cao. Ở đây, những gia đình có con học lên đến cấp 3 (phổ thông trung học) là đã hài lòng lắm rồi. Số chịu khó vươn lên học tới đại học hoặc cao hơn thì rất ít. Trình độ dân trí thấp, cuộc sống quen đơn giản, nên việc họ suy nghĩ đơn giản, ít đắn đo cân nhắc trước sau là chuyện dễ hiểu.

Trong khi đó, con cái đều có phẩm chất của văn hoá truyền thống Việt Nam là yêu thương, hiếu thảo với cha mẹ. Thấy ba má nghèo, muốn giúp đỡ. Nhiều cô gái chọn cách lấy chồng ngoại để có tiền giúp bố mẹ, để bố mẹ mở mày mở mặt với chòm xóm. Ý định, mong muốn này của các cô gái khi thể hiện ra lại được bố mẹ chấp thuận dễ dàng. Bố mẹ và con cái gặp nhau ở cùng một kiểu suy nghĩ. Nhiều người như thế, nhiều gia đình như thế tạo nên một bối cảnh văn hoá hoàn toàn khác hẳn với miền Bắc và miền Trung, nơi mà con người bị bị tác động rất nhiều bởi dư luận xã hội, mà dư luận xã hội thì rất chặt chẽ, khắt khe.

Trong khi đó, những thông tin về mặt trái của hôn nhân với người nước ngoài qua các công ty môi giới bất hợp pháp lại khó đến được những nơi này. Họ ít đọc báo, nghe đài, vào mạng internet… Nếu có đọc báo, nghe đài, xem truyền hình thì cũng quan tâm nhiều đến những chương trình giải trí, tin tức… mà thôi. Những gia đình có gốc Nho giáo, có truyền thống giáo dục con cái kỹ lưỡng thì do số lượng ít nên không đủ tạo nên một luồng dư luận xã hội ảnh hưởng tới xung quanh.

Tóm lại, nghèo, trình độ văn hóa thấp cùng bối cảnh văn hóa vùng là những nguyên nhân sâu xa khiến cho con gái miền Tây lấy chồng ngoại qua các công ty môi giới hôn nhân nhiều đến vậy, nhiều nhất cả nước.”

Phóng viên (PV): Như vậy, người miền Tây, đặc biệt là phụ nữ quan niệm như thế nào về tình yêu, hôn nhân và gia đình ạ?

GS.TSKH Trần Ngọc Thêm (TNT): Như đã nói, người miền Tây Nam Bộ thường quan niệm, nhìn nhận mọi vấn đề khá đơn giản. Tâm lý này bắt nguồn từ việc thời xưa họ được thiên nhiên rất ưu đãi. Phụ nữ miền Tây quan niệm về tình yêu, hôn nhân và gia đình có khác so với phụ nữ miền Bắc và miền Trung. Ở miền Bắc và miền Trung, vai trò của người phụ nữ trong gia đình tương đối lớn, tương đối bình đẳng hơn trong quan hệ với nam giới. Nếu người chồng lo việc xã hội, việc nước thì người vợ là nội tướng trong gia đình, một tay quán xuyến tất cả mọi việc tề gia nội trợ. Họ luôn có ý thức chăm lo, vun vén cho gia đình, từ việc cắt đặt việc nhà đến việc nuôi dạy, giáo dục con cái… Đồng thời, họ cũng đòi hỏi khá nhiều phẩm chất ở người chồng như tu chí làm ăn, công danh sự nghiệp sáng láng… Phụ nữ miền Tây thì dễ dãi hơn. Họ rất chiều chuộng chồng, dễ dàng chấp nhận chuyện chồng nhậu nhẹt, say xỉn, thậm chí đánh đập mình. Trong khi đó, họ cũng ít lo vun vén cho gia đình như phụ nữ miền Trung, miền Bắc. Chồng mang bao nhiêu tiền về là xài hết bấy nhiêu, trưng diện cho bản thân trong khi nhà cửa có thể vẫn dột nát. Đối với con cái, cách giáo dục của họ cũng dễ dãi hơn rất nhiều. Con cái muốn học đến đâu thì học, không định hướng, không ép buộc…

PV: Tâm lý này, quan niệm này liệu có thể lý giải thêm một thực tế cũng rất nhức nhối ở nhiều tỉnh miền Tây là bên cạnh hiện tượng con gái lấy chồng ngoại nhiều, còn có hiện tượng không ít người vào thành phố làm gái mại dâm, thưa giáo sư?

TNT: Đúng là từ tâm lý dễ dãi ấy đã sinh ra một quan niệm dễ dãi là cứ nghề gì kiếm ra tiền, có lợi thì làm. Tuy vậy, chỉ một lý do đó thôi thì chưa đủ. Lý giải thực tế này còn phải nói đến quan niệm về vấn đề trinh tiết của người phụ nữ.

Khái niệm trinh tiết chỉ hình thành khi chế độ sở hữu xuất hiện. Trong xã hội phụ quyền, người đàn ông coi vợ là một vật sở hữu – giống như tài sản – của mình, vì vậy trinh tiết được chọn làm một dấu hiệu của sự sở hữu đó. Xã hội nào phân hóa sớm thì quan niệm đó xuất hiện sớm. Nền văn hóa nào coi đàn ông là tối thượng thì quan niệm đó là quan trọng. Còn nơi nào ý thức sở hữu không mạnh, ảnh hưởng văn hóa bên ngoài đến chậm thì quan niệm về chữ trinh cũng nhẹ nhàng hơn.

Miền Tây Nam Bộ với bối cảnh văn hóa vùng có nhiều điểm riêng biệt chính là một nơi như thế. Thiên nhiên ưu đãi khiến ý thức sở hữu không mạnh. Trong khi miền Bắc chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi Nho giáo với quan niệm nặng nề về chữ trinh, và sự ảnh hưởng này là rộng khắp, phổ biến, đồng đều do đặc điểm sống quần cư trong các làng xóm nhỏ, thì ở miền Tây, đạo Nho chỉ ảnh hưởng trong một bộ phận nhỏ dân cư (là những trí thức gốc Nho giáo). Tầng lớp dân cư còn lại (dân dưới đáy, dân nghèo) ít bị chi phối bởi hệ tư tưởng này. Bên cạnh đó, việc các gia đình sống cách xa nhau (sống trong các bưng biền, chia cách bởi sông ngòi, kênh rạch) khiến cho mối quan hệ trong cộng đồng làng xã lỏng lẻo hơn nhiều so với miền Trung và miền Bắc. Điều đó đồng nghĩa với việc áp lực xã hội không mạnh, dư luận xã hội không khắt khe, khiến cho ngay cả những việc như phụ nữ vào thành phố làm gái mại dâm cũng dễ được chấp nhận hơn.

PV: Trở lại câu chuyện về các cô dâu Hàn Quốc, qua cái chết của Huỳnh Mai và Kim Đồng, chúng ta cũng đặt ra rất nhiều câu hỏi về vai trò của các công ty môi giới hôn nhân. Giáo sư có nhận xét gì về vấn đề này?

TNT: Sự tồn tại của các công ty môi giới hôn nhân bất hợp pháp là không thể chấp nhận được. Thật là quá tệ. Như báo chí đưa tin, đám cưới tổ chức xong, bên nhà trai đưa cho nhà gái 400 đô thì môi giới ăn chặn mất một nửa. Còn có 200 đô, nhà gái không đủ tiền trang trải chi phí và thuê xe trở về quê. Không những thế, họ còn “đem con bỏ chợ”. Cưới xong là hết trách nhiệm. Chả cần biết con người ta bên xứ người sống chết thế nào… Nhưng cũng cần phải nói thêm rằng, luật pháp của chúng ta có quá nhiều kẽ hở. Chính những kẻ hỡ này đã bị họ khai thác triệt để và kiếm tiền trên phẩm giá, sinh mạng của những cô gái ước ao lấy chồng ngoại để mong đổi đời…

PV: Còn vai trò của các Đại sứ quán, các hiệp hội tại các nước có người Việt làm dâu thì sao?

TNT: Thật sự là khó có thể quan tâm đến tất cả mọi người với số lượng đông như thế. Song cũng phải thừa nhận rằng các cơ quan chức năng, các tổ chức của người Việt ở các nước này chưa làm hết trách nhiệm của mình, chưa chủ động hợp tác với các cơ quan, tổ chức của nước sở tại để tìm cách hạn chế, khắc phục tình trạng môi giới hôn nhân bất hợp pháp và trở thành chỗ dựa tin cậy cho các cô dâu.

Với câu chuyện của các cô dâu như Huỳnh Mai và Kim Đồng lâu nay báo chí Việt Nam đã có vai trò rất lớn, tạo nên một làn sóng dư luận. Hẳn là qua việc này, nhiều cô gái muốn lấy chồng ngoại, các ông bố bà mẹ cũng phải suy nghĩ kỹ trước khi quyết định.

PV: Dưới góc nhìn của giáo sư, chúng ta nên làm gì để chấm dứt tình trạng lấy chồng ngoại quốc thông qua môi giới hôn nhân bất  hợp pháp như vậy?

TNT: Sự thực là một bộ phận dân chúng có nhu cầu nên các công ty môi giới mới sống được. Việc gì xã hội có nhu cầu thì trách nhiệm của nhà nước là phải đáp ứng. Tôi nghĩ rằng cái cần phải cấm chỉ là toàn bộ các trung tâm môi giới hôn nhân bất hợp pháp. Tất nhiên là phải quản lý thật chặt những người muốn lấy chồng ngoại quốc hoặc muốn lấy vợ Việt Nam. Họ phải hội đủ những điều kiện về sức khỏe, kinh tế và hiểu biết về người mà họ chuẩn bị kết hôn thì mới được phép chứ không để như hiện nay được…

Mặt khác, chúng ta cần xem xét lại hoạt động, vai trò, trách nhiệm của cơ quan phụ trách vấn đề này, tại sao lại có thể để những trung tâm môi giới hôn nhân bất hợp pháp có thể ngang nhiên hoạt động như thế. Cần đặt những câu hỏi như tại sao chúng vẫn hoạt động được? Luật pháp đã kín kẽ chưa? Chế tài xử phạt có đủ sức răn đe không?

Nói tóm lại, việc cần làm là phải có pháp luật, quy định chặt chẽ với các hình thức chế tài đủ sức răn đe và các cơ quan chức năng cần quản lý để các công ty cũng như dân chúng thực hiện đúng theo pháp luật. Nếu vi phạm, cứ chiếu theo luật mà xử. Muốn thế, luật phải đáp ứng các tiêu chí: đầy đủ (bao quát hết), rộng khắp (để ai cũng biết) và thật sự nghiêm minh.

Tôi chắc rằng phía chính phủ Hàn Quốc, Đài Loan… sẵn sàng hợp tác bởi đây là việc có lợi cho chính họ. Người có nhu cầu lấy vợ nước ngoài qua môi giới ở các nước này là những thanh niên ở nông thôn, nơi mà con gái đã đi hết ra thành phố. Vấn đề là ở phía bên ta hành động như thế nào.

Bên cạnh đó, cũng cần tăng cường các biên pháp giáo dục, tuyên truyền. Tăng cường đưa những câu chuyện thực tế lên các phương tiện thông tin đại chúng, để người dân cũng bàn luận… Từ đấy, thay đổi dần quan điểm, nhận thức của họ. Có rất nhiều con đường để thoát nghèo chứ không phải chỉ có cách lấy chồng ngoại. Ở những vùng kinh tế khó khăn, Nhà nước phải có nhiều chính sách hỗ trợ, giúp họ nâng cao đời sống, như thay đổi cơ cấu ngành, đầu tư cơ sở hạ tầng… Khi đời sống khá lên thì chẳng việc gì họ lại phải đi đâu.

PV: Xin cảm ơn giáo sư về cuộc trao đổi này!
Minh Tâm (VieTimes)

CÔNG VĂN CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO SỐ 112/2001/KHXX NGÀY 14 THÁNG 9 NĂM 2001 VỀ VIỆC XÁC ĐỊNH THỜI ĐIỂM THỤ LÝ VỤ ÁN VỀ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Kính gửi :

– Các Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương – Các Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh.

Thời gian qua Toà án nhân dân tối cao nhận được công văn của một số Toà án nhân dân địa phương đề nghị hướng dẫn việc xác định thời điểm thụ lý vụ án về hôn nhân và gia đình trong một số trường hợp cụ thể. Sau khi trao đổi ý kiến và có sự thống nhất của Viện kiểm sát nhân dân tối cao tại Công văn số 2337/CV-VKSTC ngày 12 tháng 9 năm 2001, Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn như sau:

1. Khi giải quyết vụ án về hôn nhân và gia đình thuộc một trong các trường hợp sau đây thì thời điểm thụ lý vụ án được xác định là trước ngày 01 tháng 01 năm 2001 và áp dụng Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 để giải quyết có xem xét, tham khảo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 về vấn đề mà Toà án đang giải quyết như hướng dẫn tại điểm c mục 4 Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 03/01/2001 hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 35/2000/QHl0 ngày 9/6/2000 của Quốc hội "Về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình".

a. Vụ án được Toà án cấp sơ thẩm thụ lý trước ngày 01/01/2001 mà từ ngày 01/01/2001 trở đi mới xét xử sơ thẩm;

b. Vụ án được Toà án cấp sơ thẩm thụ lý trước ngày 01/01/2001, nhưng bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật của Toà án cấp sơ thẩm bị kháng cáo kháng nghị mà từ ngày 01/01/2001 trở đi mới xét xử phúc thẩm;

c Vụ án được Toà án cấp sơ thẩm thụ lý trước ngày 01/01/2001, nhưng bản án, quyết định của Toà án cấp sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật hoặc bản án, quyết định của Toà án cấp phúc thẩm bị kháng nghị mà từ ngày 01/01/2001 trở đi mới xét xử giám đốc thẩm hoặc tái thẩm;

d. Vụ án được Toà án cấp sơ thẩm thụ lý trước ngày 01/01/2001, nhưng bản án, quyết định phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm bị huỷ để xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm lại mà từ ngày 01/01/2001 trở đi mới xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm lại.

2. Trong trường hợp khi xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm vụ án về hôn nhân và gia đình mà Toà án cấp phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm huỷ toàn bộ các bản án hoặc quyết định về vụ án và giao hồ sơ vụ án cho Toà án có thẩm quyền (có thể chính Toà án đã giải quyết sơ thẩm vụ án đó; có thể là Toà án khác cùng cấp; có thể là Toà án trên một cấp hoặc dưới một cấp) giải quyết lại vụ án từ giai đoạn sơ thẩm theo thủ tục chung, thì thời điểm thụ lý vụ án là ngày Toà án có thẩm quyền giải quyết sơ thẩm lại nhận được hồ sơ vụ án. Nếu từ ngày 01/01/2001 trở đi mới thụ lý, thì áp dụng Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết.

3. Đối với vụ án về hôn nhân và gia đình quy định tại khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội "Về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình", thì trong mọi trường hợp đều áp dụng Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết.

Trong quá trình thực hiện, nếu có gì vướng mắc, đề nghị phản ánh cho Toà án nhân dân tối cao để có hướng dẫn sửa đổi hoặc bổ sung.

Đặng Quang Phương

(Đã ký)