LUẬT BỎ NGỎ VIỆC CÔNG NHẬN CHUYỂN ĐỔI GIỚI TÍNH "CHUI"

ĐỨC MINH

ĐỌC DỰ THẢO NGHỊ ĐỊNH VỀ XÁC ĐỊNH LẠI GIỚI TÍNH TẠI ĐÂY

Hà Vy (tạm gọi tên này) vừa chi 7.000 USD phẫu thuật chuyển đổi giới tính. Việc xác định lại giới tính trong gấy tờ hộ tịch của Hà Vy tùy thuộc vào việc được tổ chức y tế xác định có lệch lạc giới tính hay không.

Nếu có khuyết tật về giới tính, được tổ chức y tế chứng nhận thì giải phẫu trong hay ngoài nước, trước hay sau Nghị định 158 vẫn được cải chính hộ tịch.

Sở Tư pháp TP.HCM vừa có Công văn hướng dẫn Phòng tư pháp quận Gò Vấp thực hiện việc xác định lại giới tính từ nữ sang nam theo đơn yêu cầu của một công dân. Đây là trường hợp hy hữu được phép cải chính giới tính. Pháp Luật TP.HCM đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quốc Cường, Phó Vụ trưởng Vụ Hành chính – Tư pháp (Bộ Tư pháp).

. Thưa ông, theo pháp luật hiện nay trường hợp nào được cải chính về giới tính?

+ Vấn đề xác định lại giới tính được quy định tại Bộ luật Dân sự 2005 và được cụ thể hóa tại Nghị định 158. Xác định lại giới tính, bản chất là cải chính, có hai góc độ. Một là xác định lại giới tính cho một người trong trường hợp giới tính của người đó bị khuyết tật bẩm sinh hoặc chưa định hình chính xác mà cần có sự can thiệp của y học nhằm xác định rõ về giới tính. Thứ hai, giới tính của đứa trẻ là nam thật hoặc nữ thật, không có gì bất bình thường nhưng khi đăng ký, do tắc trách của cán bộ tư pháp, của bố mẹ… mà đăng ký nhầm giới tính của đứa trẻ.

. Trong trường hợp đầu tiên, điều kiện để được xác định lại giới tính là gì, thưa ông?

+ Việc thay đổi không phải là miễn cưỡng mà là hết sức tự nhiên, do sự phát triển không bình thường, nay trả lại “giá trị đích thực” cho họ bằng một tác động y học. Nghị định 158 quy định rõ, trường hợp xác định lại giới tính, thì phải có văn bản kết luận của tổ chức y tế đã tiến hành can thiệp để xác định lại giới tính làm căn cứ cho việc xác định lại giới tính.

. Kết luận đó là của cơ quan, tổ chức y tế nước ngoài thì có được chấp nhận không?

+ Nghị định 158 chỉ quy định chung, không nói rõ là trong nước hay nước ngoài, như vậy về nguyên tắc là không có sự phân biệt. Trường hợp này sẽ quay lại nguyên tắc chung là đương sự phải chứng minh được tổ chức y tế đã tiến hành can thiệp để xác định lại giới tính cho họ có chức năng làm việc này hay không. Các giấy tờ có liên quan phải được hợp pháp hóa lãnh sự, được dịch ra tiếng Việt, bản dịch phải được công chứng theo quy định của pháp luật Việt Nam.

. Trường hợp đương sự đã thực hiện việc can thiệp xác định lại giới tính trước khi Nghị định 158 có hiệu lực thì có được pháp luật thừa nhận hay không?

+ Không có ảnh hưởng gì cả. Nếu họ có những giấy tờ chứng minh được họ đáp ứng đủ các điều kiện quy định tại Nghị định 158 thì đều có thể làm thủ tục xác định lại giới tính.

. Thưa ông, với trường hợp không có cơ sở xác định việc lệch lạc giới tính nhưng họ đã đi nước ngoài chuyển đổi giới tính do nhu cầu tâm lý, họ có được làm thủ tục xác định lại giới tính hay không?

+ Thực tế, có nhiều người đã ra nước ngoài thực hiện việc phẫu thuật, chuyển đổi giới tính và có nguyện vọng cải chính lại giới tính. Những trường hợp đó hiện nay pháp luật chưa cho phép. Cá nhân tôi cho rằng, về một mặt nào đó, đây là quyền của cá nhân.

Cần có một nghiên cứu cụ thể về vấn đề này, thực tế diễn ra như vậy thì hướng xử lý như thế nào, có chấp nhận hay không chấp nhận? Tôi chưa được tham dự cuộc hội thảo nào về vấn đề này, nhưng đúng là hiện nay có một nhu cầu thực sự như thế. Có không ít trường hợp chúng ta vẫn quen gọi là pêđê, họ là nam nhưng để tóc dài, nói năng như con gái… và muốn chuyển thành nữ thì như thế nào? Hay hiện nay cũng có không ít trường hợp dở khóc dở cười, họ đã thực hiện việc chuyển đổi giới tính, hình thức là nữ đấy nhưng giấy tờ hộ tịch vẫn là nam… Đây là vấn đề pháp luật còn “bỏ ngỏ” nhưng tương lai cũng sẽ phải tính đến…

. Thủ tục xác định lại giới tính ra sao, thưa ông?

+ Theo Nghị định 158, người yêu cầu xác định lại giới tính phải nộp tờ khai (theo mẫu quy định), xuất trình bản chính giấy khai sinh của người cần xác định lại giới tính và các giấy tờ liên quan để làm căn cứ cho xác định lại giới tính. Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ, nếu việc xác định lại giới tính có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật, cán bộ Tư pháp hộ tịch cấp xã hoặc cán bộ Tư pháp của Phòng Tư pháp cấp huyện ghi vào sổ đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch và quyết định cho phép xác định lại giới tính. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện ký và cấp cho đương sự một bản chính Quyết định cho phép xác định lại giới tính. Bản sao Quyết định được cấp theo yêu cầu của đương sự.

Trường hợp cần phải xác minh, thì thời hạn nói trên được kéo dài thêm không quá năm ngày.

. Xin cảm ơn ông!

Xác định giới tính ngay sau khi sinh

Bác sĩ Ngô Minh Xuân, Trưởng khoa Sơ sinh Bệnh viện Từ Dũ, cho biết như sau: Sau khi sản phụ sinh, các bác sĩ tiếp nhận em bé và khám kỹ về phần sinh dục ngoài và xác định giới tính của em bé để ghi vào bệnh án. Khi có bất thường về bộ phận sinh dục ngoài sẽ siêu âm để xác định em bé là trai hay gái. Nếu là bé trai thường thì có tinh hoàn, còn em bé gái thì thấy tử cung, buồng trứng bên trong. Tuy nhiên cần phải lấy máu của em bé để xem nhiễm sắc thể đồ của bé là trai hay gái. Khi nhiễm sắc đồ của đứa bé có bệnh rối loạn như về gen và di truyền thì phát hiện được. Các bác sĩ sẽ xem mức độ của em bé như thế nào để giúp đỡ, giới thiệu để khám chuyên khoa. Xác suất của việc này không cao, một năm chỉ khoảng vài ca.

DUY TÍNH

SOURCE: BÁO PHÁP LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

VỤ ÁN: BỖNG NHIÊN CHỒNG CŨ ĐÒI CHIA ĐẤT

VĂN ĐOÀN

Sau 16 năm bỏ đi sống với những người phụ nữ khác, ông chồng lù lù quay về, đòi bà vợ chia tài sản…

TAND quận Ninh Kiều (TP Cần Thơ) vừa hoãn phiên xử sơ thẩm lần hai vụ chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân giữa ông T. và bà Đ. theo yêu cầu của phía ông T.

Đòi chia đất sau 16 năm xa cách

Năm 1976, vợ ông T. mất, để lại cho ông năm người con. Trong cảnh gà trống nuôi con vất vả, ông T. tìm được người ý hợp tâm đầu là bà Đ. và hai bên kết hôn với nhau.

Trước đó, bà Đ. có một căn nhà riêng. Lấy ông T., bà đã để cho ông và các con ông về ở cùng, cho ông cùng đứng tên chung trên giấy tờ căn nhà này. Thế rồi, sau vài năm chăm chỉ làm lụng, tích cóp, hai vợ chồng mua thêm được một mảnh vườn rộng hơn 3.000 m2 tại quận Ninh Kiều.

Năm 1987, sau khi đã có với bà Đ. ba mặt con, ông T. cương quyết dứt áo bỏ bà, ra đi theo “tiếng gọi con tim” và xuống Bạc Liêu sống với “bà ba”. Khi đi, ông làm giấy ủy quyền cho bà Đ. được toàn quyền sử dụng, mua bán ngôi nhà và mảnh vườn mà không cần có chữ ký của ông. Năm 1999, sau khi có thêm hai người con với “bà ba” ở Bạc Liêu, lại một lần nữa ông T. dứt áo bỏ “bà ba” mà ra đi về chung sống với “bà tư”.

Suốt thời gian này, một mình bà Đ. cặm cụi làm ăn, nuôi dưỡng tám người con nên người (ba con ruột và năm con riêng của ông T.). 16 năm xa cách biền biệt, mẹ con bà những tưởng ông T. đã an phận với các “bà ba” và “bà tư”, nào ngờ đầu năm 2003, ông T. từ đâu lù lù xuất hiện, gửi đơn lên tòa kiện đòi bà phải chia cho ông 1/3 mảnh vườn (1.000 m2) với lý do đây là tài sản chung của hai người.

Mỗi tòa một nhận định

Tháng 4-2006, TAND quận Ninh Kiều đã đưa vụ kiện ra xử sơ thẩm, nhận định ông T. không có công sức đóng góp gì trong khối tài sản chung với bà Đ. Cụ thể là ông đã bỏ mặc vợ con để đi chung sống với người khác. Vì thế, công sức tạo lập duy trì, phát triển khối tài sản chung này do bà Đ. bỏ ra, ông T. chỉ có tên trên cơ sở pháp lý nguồn gốc đất mà thôi. Vì thế, tòa quyết định chỉ chấp nhận một phần yêu cầu của ông T. là buộc bà Đ. phải chia lại cho ông hơn 300 m2 đất.

Sau phiên sơ thẩm, cả ông T. lẫn bà Đ. đều không hài lòng và làm đơn kháng cáo. Ông T. thì muốn bà Đ. chia cho ông 1/3 mảnh vườn để có tiền dưỡng già (năm nay ông đã 77 tuổi). Ngược lại, bà Đ. bảo ông T. bỏ bà lao đao, cực khổ để đi tìm hạnh phúc mới bao năm trời nay thì làm gì có chuyện chia đất. Hơn nữa, theo bà trước khi bỏ đi, ông có làm giấy cho bà toàn quyền định đoạt nhà đất nên bây giờ xem như ông đã mất quyền đòi được chia gia sản.

Tháng 7-2006, TAND TP Cần Thơ đã xử phúc thẩm vụ án. Theo tòa, cấp sơ thẩm đã giải quyết chưa chuẩn xác, chưa triệt để việc chia tài sản chung của vợ chồng ông T. trong thời kỳ hôn nhân.

Trước hết, về mảnh vườn rộng hơn 3.000 m2, nếu cấp sơ thẩm đã xác định đây là tài sản chung thì giả sử bà Đ. đã “bán” xong theo ủy quyền của ông T., số tiền “bán” đất đó cũng vẫn là tài sản chung của hai người. Cạnh đó, khi giải quyết quan hệ chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, cấp sơ thẩm cũng cần phải tính toán dứt điểm những tài sản khác của họ. Cụ thể là với căn nhà, theo tòa phúc thẩm, trong giấy tờ chủ quyền có cả tên ông T. nên nó cũng phải được coi là tài sản chung. Ngoài ra, còn những tài sản khác như xe cộ, giường tủ… cũng chưa được cấp sơ thẩm xét đến.

Từ các phân tích trên, TAND TP Cần Thơ đã tuyên hủy toàn bộ bản án sơ thẩm của quận Ninh Kiều để xét xử lại. Chúng tôi sẽ tiếp tục thông tin đến bạn đọc khi có diễn tiến mới.

SOURCE: BÁO PHÁP LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

MỘT CÔ DÂU VIỆT CÓ THỂ KHÔNG ĐÒI ĐƯỢC HAI CON

THƯ VIỆN PHÁP LUẬT cập nhật: Thứ ba, 24/07/2007

——————————————————————————-

Chuyện của Hà

Ngày 9-7-2007, báo điện tử www.hani.co.kr đăng bài của tác giả Kim Nam Il “Bản tố cáo của một cô dâu Việt”, viết về trường hợp một cô gái VN lấy chồng Hàn Quốc, sau khi sinh hai con mới phát hiện mình chỉ là công cụ đẻ thuê.

Đau đớn vì mất con, vì bị lừa gạt, không chốn nương thân giữa xứ người, cô tìm đến Trung tâm Hỗ trợ người lao động nước ngoài ở Seoul. Tại đó, luật sư So Ra Mi đã nhận lời giúp cô tìm lại con của mình. Nhà báo Kim Nam Il gọi cô gái là Thu Hà (đã được đổi tên).

Chồng Hà là một người đàn ông HQ đã 47 tuổi, có một đời vợ nhưng không có con cái. Kết hôn được một tháng Hà có thai. Hai lần sinh hai đứa con chồng Hà đều giấu đi. Sau đó ông ta ép Hà ly hôn và từ bỏ quyền làm mẹ.

Sau khi bài báo về thân phận của Hà được đăng tải, dư luận HQ rất phẫn nộ, họ cho rằng đây là vụ lừa đảo đầu tiên và người phụ nữ đã bị coi như một thứ công cụ sinh sản.

———————————————————————————–

– Cuộc gặp dự kiến diễn ra ngày 19-7 giữa cô dâu Thu Hà bị lấy mất con với người chồng lừa đảo đã không được tổ chức. Theo bà So Ra Mi, luật sư của Đoàn luật sư công ích Gonggam, cuộc gặp không còn cần thiết vì người chồng đã thú nhận sắp đặt mọi chuyện để sử dụng nạn nhân Thu Hà như công cụ đẻ thuê.

CTV báo Tuổi Trẻ tại Seoul (Hàn Quốc) đã có cuộc gặp luật sư So Ra Mi – người đang đại diện cho quyền lợi

Luật sư So Ra Mi tại văn phòng – Ảnh: Kiều Oanh

của Thu Hà.

* Với diễn tiến như vậy, xin luật sư cho biết bao giờ mới mở phiên tòa?

– Thông thường sau khi đã nhận đơn và thu thập các bằng chứng thì để phán xử cũng phải mất mấy tháng.

* Bà đã đảm nhận giúp đỡ về mặt pháp lý cho Hà trong hoàn cảnh nào?

– Chính từ Trung tâm Hỗ trợ người nước ngoài. Hà đã đến đó nhờ can thiệp, họ liên hệ đoàn luật sư Gonggam và tôi đã nhận bảo vệ Hà.

* Theo luật sư, có bao nhiêu phần trăm khả năng Hà đòi lại được con?

– Đòi lại con không phải là chuyện dễ mặc dù chồng Thu Hà thú nhận đã lừa cô để có con. Bởi vì về điều kiện nuôi dưỡng con cái thì anh ta có lợi thế hơn.

Thứ nhất: Luật pháp sẽ xem xét khía cạnh việc nuôi con là vấn đề quan trọng, ai là người nuôi những đứa trẻ thì tốt hơn cho chúng. Nếu xét hoàn cảnh bây giờ, người đang nuôi đứa bé sẽ nuôi tốt hơn vì tình trạng kinh tế của Hà không ổn định, hơn nữa cô ấy không biết tiếng Hàn Quốc (HQ), chưa phải là công dân HQ. Hai đứa trẻ đã có quốc tịch HQ và cũng chính là con của chồng Hà nên điều kiện chăm sóc sẽ tốt hơn.

Thứ hai: Những đứa bé này đang ở trong môi trường ổn định như vậy, nếu đột nhiên lại thay đổi hoàn cảnh chúng có thể bị sốc hoặc stress. Ví dụ nếu Hà không đòi được con thì cô ấy vẫn có thể đòi quyền thăm nom con định kỳ và sẽ được bồi thường về mặt dân sự.

Tuy nhiên, đó chỉ là những phỏng đoán về phía luật sư thôi. Còn tất cả phải đợi vào sự phán xử của luật pháp.

* Theo luật HQ, chồng Hà có thể bị hình phạt nào?

– Luật pháp HQ hiện nay chưa có khung hình phạt nào với chồng Hà. Tuy nhiên anh ta sẽ phải bồi thường cho Hà về mặt dân sự khi đem ra tòa xử.

* Bà có cảm thấy như thế là bất công cho Hà không?

– Vì tòa án vẫn chưa xử nên tôi không thể nói gì hơn được.

* Là luật sư chuyên bảo vệ phụ nữ, bà mong muốn điều gì trong trường hợp của Hà?

– HQ nên có thêm nhiều luật mới để đưa ra hình phạt đối với những đối tượng như chồng của Hà nhằm ngăn chặn tổn hại cho các cô dâu nước ngoài. Tôi mong rằng Chính phủ HQ và VN hợp tác với nhau nhiều hơn nữa nhằm giúp các cô dâu Việt biết nhiều thông tin về HQ hơn để khỏi bị sốc trước đời sống văn hóa xã hội mới. Và một điều rất quan trọng là cả hai bên phải đứng ra ngăn chặn tình trạng môi giới hôn nhân bất hợp pháp. Ở đây nó gần như là lừa đảo: chẳng hạn như vị hôn phu HQ tâm thần có vấn đề nhưng trung tâm môi giới hôn nhân lại ém nhẹm, rồi vị hôn phu không có công ăn việc làm ổn định nhưng lại nói là có việc làm tốt. Đại loại như là nói tốt quá sự thật về các ông chồng Hàn khiến các cô dâu Việt tin là thật dẫn đến những trường hợp đau lòng như của Hà.

Qua vấn đề của Hà cần phải cho dư luận VN biết nhiều hơn nữa về việc lấy chồng nước ngoài để có những cảnh báo cho các cô gái. Trường hợp của Hà là trường hợp cô dâu Việt đầu tiên ở HQ mà tôi đảm nhiệm và cũng là trường hợp đặc biệt ở chỗ cô dâu Việt bị lừa thành công cụ đẻ thuê.

* Bà có thể cho biết tình trạng của Hà hiện nay ra sao?

– Tình trạng của Hà khi tôi gặp là rất nghiêm trọng. Hà kể chuyện cho tôi nghe và khóc suốt. Tinh thần của cô ấy vô cùng yếu đuối. Cô rất nhớ các con của mình. Chồng Hà cũng là người đàn ông đầu tiên của cô ấy. Hà không muốn phải chia tay nhưng chồng Hà đã đẩy Hà vào tình trạng bi đát này. Hiện tại, nếu bên cạnh Hà có gia đình hay bạn bè thường xuyên thăm hỏi, động viên giúp đỡ cô sẽ nhanh bình phục hơn.

* Bà suy nghĩ như thế nào về các cô dâu VN hiện đang sinh sống tại HQ? Bà có lời khuyên nào cho họ?

– Các cô dâu VN hay các cô dâu nước ngoài khác khi lựa chọn lấy chồng HQ đều mong muốn cuộc sống tốt hơn, tìm được hạnh phúc. Tuy nhiên việc lấy chồng và sống ở HQ không phải là điều dễ dàng. Nếu lấy được một người chồng tốt biết chăm lo sẽ đỡ khổ. Nhưng nếu không may lấy phải người chồng như trường hợp của Hà thì chắc chắn sẽ khổ hơn so với ở nhà. Chính vì vậy các cô dâu VN phải cố gắng gấp nhiều lần so với hồi sống ở trong nước và sẽ phải chịu rất nhiều thiệt thòi. Chẳng hạn như nếu nhỡ xảy ra việc khó khăn sẽ không có nơi nương tựa, không có ai để giúp đỡ.

Lời khuyên cho các cô dâu Việt trước khi lấy chồng Hàn phải suy nghĩ thật kỹ càng. Bình thường nếu lấy chồng trong nước phải suy nghĩ một lần thì lấy chồng Hàn phải suy nghĩ tới 10 lần. Thứ hai nữa là phải vô cùng cố gắng, nếu bản thân mình không cố gắng, mạnh mẽ lên trong mọi trường hợp thì việc sống ở HQ quả là một khó khăn. Và đặc biệt các cô dâu Việt cần phải biết nhiều thông tin về luật hôn nhân gia đình hơn để chẳng may nếu có xảy ra vấn đề như trường hợp của Hà, sự am hiểu về luật pháp sẽ giúp các cô dâu tránh khỏi những thiệt thòi.

Nguồn: HOÀNG ĐIỆP – KIỀU OANH (thực hiện từ Seoul) – BÁO TUỔI TRẺ

NHÌN LẠI MỘT NĂM THỰC HIỆN NGHỊ ĐỊNH SỐ 158/2005/ND-CP CỦA CHÍNH PHỦ VỀ ĐĂNG KÝ HỘ TỊCH

Ngày 27/12/2005 Chính phủ đã ban hành Nghị định 158/2005/NĐ-CP (có hiệu lực ngày 01/4/2006) thay thế cho Nghị định 83/1998/NĐ-CP về đăng ký và quản lý hộ tịch. Qua hơn 1 năm thực hiện đã được được một số kết quả bước đầu. Công tác đăng ký, quản lý hộ tịch từng bước ổn đinh và đi vào nề nếp. Cơ sở vật chất bước đầu được cải thiện. Người dân đã nhận thức tầm quan trọng của giấy tờ hộ tịch nên không tùy tiện sữa chữa, thêm, bớt. Tự giác thực hiện đi đăng ký các sự kiện hộ tịch. Không còn tình trạng “sinh không khai, tử không báo” như trước đây.

Cán bộ hộ tịch cấp xã đã xác định được tầm quan trọng của công tác này nên đã tuân thủ trình tự, thủ tục của Nghị định. Nghiệp vụ được nâng cao nên thụ lý giải quyết nhanh chóng, hướng dẫn rõ ràng cho dân nên không có khiếu nại về hộ tịch.

Kết quả một năm thực hiện công tác đăng ký, quản lý hộ tịch của thành phố Đồng Hới thể hiện qua số liệu cụ thể sau: UBND thành phố đã thực hiện cấp lại bản chính giấy khai sinh cho144 trường hợp; Thay đổi CCHT cho116 trường hợp. UBND xã, phường: đăng ký khai sinh 2852 ­­trường hợp; kết hôn: 990 tr­­ường hợp; Đăng ký tử: 560 trư­­ờng hợp. Đăng ký lại: 8 trường hợp và thay đổi cải chính hộ tịch: 156  tr­ường hợp.

So với Nghị định 83/CP thì Nghị định 158 đã tháo gỡ những vướng mắc trên thực tế mà Nghị định 83 chưa giải quyết được. Đó là: đơn giản thủ tục, rút ngắn thời gian giải quyết công việc phù hợp với tinh thần cải cách hành chính, thuận tiện cho người dân.

Để thực hiện tốt công tác đăng ký và quản lý hộ tịch, trước hết phải làm cho cán bộ và nhân dân hiểu biết về mục đích, ý nghĩa của công tác đăng ký, quản lý hộ tịch; quyền và nghĩa vụ công dân về đăng ký hộ tịch… Xác định công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về hộ tịch có vai trò và ý nghĩa quan trọng hàng đầu đối với công tác hộ tịch. Vì thế trước ngày Nghị định có hiệu lực phòng Tư pháp thành phố Đồng Hới đã tham m­ưu cho Uỷ ban nhân dân thành phố tổ chức hội nghị triển khai và tổ chức lớp tập huấn cho lãnh đạo UBND, cán bộ Tư pháp-Hộ tịch cấp xã, đồng thời tổ chức tuyên truyền sâu rộng cho nhân dân trên địa bàn thành phố.

Nghị định 158 có nhiều điểm mới, đặc biệt việc phân cấp cho UBND các xã, phường  thực hiện việc thay đổi, cải chính hộ tịch cho công dân dưới 14 tuổi. UBND cấp huyện thực hiện việc cấp bản chính giấy khai sinh và thay đổi, cải chính hộ tịch cho công dân từ 14 tuổi trở lên.  Đây là việc mới, lần đầu thực hiện lại chưa có hướng dẫn cụ thể nên khi thực hiện còn gặp phải vướng mắc:

Nhiều tr­ường hợp cải chính họ tên, chữ đệm và các nội dung khác trong Giấy khai sinh là để hợp pháp hóa hồ sơ hiện tại do công tác đăng ký và quản lý hộ tịch trước đây còn lỏng lẻo, do người dân chưa hiểu biết quy định pháp luật về hộ tịch. Không thụ lý giải quyết thì công dân rất khó khăn trong việc phải thay đổi tất cả các loại giấy tờ tuỳ thân. Nếu cho phép cải chính thì không đảm bảo nguyên tắc của Nghị định 158/ 2005/ NĐ-CP: “ Mọi giấy tờ đều phải phù hợp giấy khai sinh”.

.           Sổ đăng ký hộ tịch hiện đang lưu trữ ghi chép không đầy đủ, rõ ràng, thiếu nhiều nội dung như: mục phần khai về cha mẹ trong sổ đăng ký khai sinh có đơn vị chỉ ghi về cha hoặc mẹ; cấp giấy khai sinh không ghi số, quyển số hoặc cấp bản chính nhưng không vào sổ hộ tịch. Số gốc và bản chính giấy khai sinh  không trùng nhau…

Việc cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho công dân có nhiều nơi tạm trú khác nhau còn gặp nhiều khó khăn do không đủ điều kiện, thời gian để xác minh.

Nghị định 158/ 2005/ NĐ-CP chưa quy định cụ thể như:  Được cấp lại mấy lần bản chính Giấy khai sinh, nội dung xác nhận thay đổi, cải chính hộ tịch…

Về trách nhiệm phối hợp trong việc giải quyết những vấn đề liên quan đến hộ tịch tại khoản 2 Điều 99 chỉ mới quy định Bộ Nội vụ, Bộ Công an, Bộ Ngoại giao phối hợp với Bộ Tư pháp mà bỏ sót Bộ Giáo dục-Đào tạo trong khi trên thực tế việc điều chỉnh văn bằng, chứng chỉ cho phù hợp với giấy tờ hộ tịch là rất lớn. Do quy chế quản lý văn bằng chỉ cấp một lần nên khi có sai sót hoặc cần đính chính thì chưa được thụ lý giải quyết do chưa có văn bản hướng dẫn của ngành. Khó khăn cho công dân trong trường hợp có sai lệch giữa văn bằng, chứng chỉ với giấy tờ hộ tịch.

Việc đăng ký lại việc sinh theo quy định tại Đ 46 NĐ: chỉ giải quyết trong trường hợp sổ hộ tịch và bản chính giấy tờ bị mất hoặc hư hỏng không sử dụng được. Về thủ tục: trong trường hợp xuất trình được bản sao khai sinh hợp lệ thì không cần phải có xác nhận của UBND cấp xã nơi đăng ký khai sinh trước đây. Như vậy, nếu công dân xin đăng ký lại tại nơi thường trú hiện tại để đảm bảo đúng nguyên tắc quy định tại Đ 46 NĐ thì cán bộ tư pháp phải trực tiếp đi xác minh hoặc gửi công văn đề nghị xác minh sẽ không đảm bảo về thời gian và kinh phí thực hiện. Bên cạnh những vướng mắc thì công tác đăng ký, quản lý hộ tịch công gặp phải một số khó khăn:

Khó khăn về con người thực hiện nhiệm vụ: Cán bộ t­­ư pháp ngoài nhiệm vụ đăng ký hộ tịch còn phải thực hiện chứng thực theo Nghị định 79/2007/ NĐ-CP trong khi hầu hết chỉ có 1 cán bộ t­ư pháp, đặc biệt có đơn vị Bắc Lý thành phố Đồng Hới có trên 13.000 dân vẵn chỉ có 01 cán bộ tư pháp trong khi Nghị định quy định trên 10.000 dân bố trí 02 cán bộ.

Cơ sở vật chất, phương tiện làm việc: phòng còn chật hẹp, thiếu bàn, ghế, máy vi tính nên ch­ưa đáp ứng kịp thời yêu cầu của người dân và còn ảnh hưởng đến chất lượng công tác này.

Về thời hạn giải quyết: Việc cấp bản sao hộ tịch quy định phải thực hiện trong ngày nhưng trên thực tế không đáp ứng được do điều kiện công tác của lãnh đạo địa phương. Mặt khác việc cấp bản chính giấy khai sinh từ Sổ lư­u đăng ký hộ tịch còn khó khăn do nhận chuyển giao Sổ l­ưu hộ tịch  từ Sở Tư­ pháp chỉ có từ năm 1995 đến nay, vì vậy đối với  nhu cầu cấp lại bản chính Giấy khai sinh từ năm 1995 trở về tr­ước thì phải mất nhiều thời gian xác minh, yêu cầu UBND cấp xã cung cấp thông tin và xác nhận mới cấp đư­ợc bản chính. Sổ l­ưu đăng ký hộ tịch ở một số đơn vị  từ năm1965 đến 1980 do l­ưu trữ không cẩn thận, bảo quản  không tốt nên hiện nay nhiều sổ rách nát, nhiều trang không sử dụng đ­ược nên nhiều trường hợp chưa đáp ứng được yêu cầu cấp giấy tờ hộ tịch cho công dân.

Về kinh phí phục vụ cho công tác đăng ký quản lý hộ tịch: Do chưa có quy định về đầu tư kinh phí cho công tác này nên lứng túng khi thực hiện. Các địa phương chưa cấp kinh phí ban đầu cho việc mua sổ, biểu mẫu hộ tịch nên còn luẩn quẩn trong việc nhận và thanh toán biều mẫu (Sở nợ nhà xuất bản, Phòng nợ Sở và UBND cấp xã nợ phòng). Nhận trước và thanh toán sau để kịp thời phục vụ, khi có tiền thu lệ phí biểu mẫu thì mới thanh toán do vậy cán bộ tư pháp phải mở sổ  theo dõi việc nhận và thanh toán biều mẫu, mất nhiều thời gian trong khi cả cán bộ phòng và cán bộ tư pháp cơ sở không có nghiệp vụ kế toán…

 Trước yêu cầu cần thiết của việc xây dựng một nền hành chính hiệu lực, hiệu quả, nâng cao tính  chuyên nghiệp của đội ngũ cán bộ tư pháp và đẩy mạnh hiệu quả công tác hộ tịch; Trước những khó khăn, vướng mắc qua hơn một năm thực hiện Nghị định 158 xin mạnh dạn đề xuất, kiến nghị:

Bộ Tư pháp sớm ban hành Thông tư hướng dẫn thực hiện Nghị định 158/2005/NĐ-CP và kịp thời ban hành công văn hướng dẫn tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc thực tế của địa phương trong quá trình thực hiện.

Chỉ đạo các địa phương  bổ sung biên chế, bố trí cán bộ đủ tiêu chuẩn đảm nhiệm công tác tư pháp.

 Hàng năm có kế hoạch tổ chức tập huấn chuyên sâu cho đội ngũ cán bộ cấp huyện, cấp xã. Tổ chức tọa đàm tại cơ sở, lắng nghe ý kiến cơ sở để kịp thời điều chỉnh những vấn đề phát sinh trong thực tiễn.

            Phối hợp với các Bộ có liên quan ban hành Thông tư liên tịch để giải quyết các trường hợp liên quan đến hộ tịch ( phối hợp thực hiện việc điều chỉnh hồ sơ công dân theo Giấy khai sinh đối với những trường hợp không thuộc phạm vi cải chính hộ tịch) như Bộ Công an, Bộ nội vụ, Bộ Ngoại giao, Bộ Giáo dục-Đào tạo và Bộ Tài chính để công tác này được thực hiện thống nhất, chất lượng cao trên phạm vi toàn quốc./.

Hoàng Hồng

 HTTP://WWW. MOJ.GOV.VN

BÀN THÊM VỀ CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN THEO PHÁP LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH HIỆN HÀNH

THS. NGUYỄN HỒNG HẢI – Khoa Luật Dân sự – Đại học Luật Hà Nội

Chế độ tài sản chung của vợ chồng được qui định tại các điều 27, 28 Luật HN&GĐ năm 2000 là chế độ tài sản pháp định với hình thức chế độ cộng đồng tạo sản (tài sản mà vợ, chồng có được trong thời kỳ hôn nhân được xác định là tài sản chung, trừ những tài sản theo qui định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng). Về nguyên tắc, khi hôn nhân còn tồn tại thì tài sản chung cũng vẫn còn tồn tại, chế độ tài sản này chỉ chấm dứt khi hôn nhân chấm dứt về mặt pháp lý (ly hôn; một bên vợ, chồng chết hoặc bị Toà án tuyên bố là đã chết)

Tuy nhiên, trên thực tế nhiều cặp vợ chồng muốn được chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân (có thể xuất phát từ mâu thuẫn giữa vợ chồng trong quản lý sử dụng, định đoạt tài sản chung xuất phát từ mâu thuẫn về tình cảm, song họ không muốn ly hôn nhưng muốn được độc lập về tài sản để tránh phát triển mâu thuẫn và được độc lập trong cuộc sống…)

Xuất phát từ thực tế trên, Luật HN&GĐ năm 2000 trên cơ sở kế thừa Luật HN&GĐ năm 1986 (Điều 18 ) tiếp tục qui định chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân (Điều 29 và Điều 30), các qui định này được hướng dẫn từ Điều 6 đến Điều 11 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 3/10/2001 của Chính phủ qui định chi tiết thi hành Luật HN&GĐ năm 2000 (sau đây gọi chung là Nghị định số 70).

Theo qui định của pháp luật HN&GĐ hiện hành, trong trường hợp có lý do chính đáng, việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân có thể được thực hiện thông qua thoả thuận bằng văn bản giữa vợ và chồng, hoặc bản án, quyết định của Toà án. Khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng không thay đổi. Đây chính là điểm khác biệt cơ bản nhất của chế định này so với chế định ly thân được qui định trong pháp luật của một số nước phương Tây(1). Tuy nhiên, quan hệ sở hữu giữa vợ và chồng đối với tài sản đã có sự thay đổi rất nhiều. Theo Điều 30 Luật HN&GĐ và theo Điều 8 Nghị định số 70, phần tài sản mà vợ, chồng được chia, hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ, chồng sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của mỗi bên trừ khi vợ chồng có thoả thuận khác.

Trong bài viết này, chúng tôi không đi sâu vào phân tích các điều kiện và hậu quả pháp lý của chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân theo tinh thần của pháp luật thực định, mà chúng tôi muốn đưa ra một số vướng mắc cần có sự qui định hoặc hướng dẫn cụ thể hơn(2).

1. Việc pháp luật HN&GĐ chỉ công nhận vợ, chồng hoặc cả hai vợ chồng có quyền yêu cầu Toà án chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, quyền khởi kiện của người thứ ba trong trường hợp này không được thừa nhận (Điều 29 Luật HN&GĐ năm 2000), là hoàn toàn phù hợp về mặt nguyên tắc. Tuy nhiên, nếu áp dụng qui định này vào thực tiễn vẫn còn vấn đề bất cập cần phải có sự vận dụng linh hoạt hơn. Theo luật hiện hành, khi vợ, chồng có nghĩa vụ tài sản riêng thì nghĩa vụ tài sản đó được thực hiện bằng tài sản riêng của họ, tài sản chung của vợ chồng không sử dụng cho việc thanh toán các khoản nợ này trừ khi vợ chồng có thoả thuận (Điều 33 Luật HN&GĐ năm 2000). Vấn đề đặt ra là, rất có thể người có nghĩa vụ tài sản không có hoặc không đủ tài sản riêng để thanh toán các khoản nợ và vợ chồng đã không có thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa án chia tài sản chung để trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản. Trong trường hợp này, nếu không thừa nhận quyền yêu cầu của người có quyền (chủ nợ) về chia tài sản chung của vợ chồng để lấy phần tài sản của người có nghĩa vụ thanh toán nợ, thì quyền lợi của họ được đảm bảo như thế nào?

Theo chúng tôi, pháp luật cần qui định rõ: Trong trường hp người có quyn có đủ chng c cho rng, v chng không có tho thun hoc không yêu cu Tòa án chia tài sn chung trong thi k hôn nhân nhm mc đích trn tránh thc hin nghĩa v v tài sn, thì người có quyn có th yêu cu Toà án chia tài sn chung ca v chng trong thi k hôn nhân để ly phn tài sn ca người v hoc người chng có nghĩa v thc hin thanh toán các khon n. Yêu cu ca người có quyn s không được Toà án công nhn, nếu vic chia tài sn chung nh hưởng nghiêm trng đến li ích gia đình ca người có nghĩa v hoc bn thân v, chng có nghĩa vđủ tài sn riêng để thanh toán các khon n.

2. Khoản 1 Điều 29 Luật HN&GĐ qui định, vợ, chồng có thể yêu cầu Toà án giải quyết việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân nếu không có hoặc không thoả thuận được. Tuy nhiên, Luật HN&GĐ và các văn bản hướng dẫn có liên quan chưa qui định cụ thể nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân khi việc chia tài sản chung đó thuộc thẩm quyền của Toà án. Do đó, trong thực tiễn áp dụng, Toà án sẽ gặp khó khăn khi vận dụng căn cứ pháp lý để giải quyết các tranh chấp phát sinh. Trước đây, Điều 18 Luật HN&GĐ năm 1986 đã qui định: “Khi hôn nhân còn tn ti, nếu mt bên yêu cu và có lý do chính đáng, thì có th chia tài sn chung ca v chng theo qui định Điu 42 (nguyên tắc chia tài sản khi ly hôn) ca Lut này”. Trên cơ sở kế thừa qui định trên của Luật HN&GĐ năm 1986, theo chúng tôi cần thiết phải qui định một giải pháp như sau:

Khi chia tài sn chung, Toà án căn c vào lý do, mc đích chia tài sn chung để quyết định phm vi tài sn chung được chia. Vic chia tài sn chung căn c vào các nguyên tc chia tài sn khi ly hôn qui định ti Điu 95 ca Lut HN&GĐ; nếu tài sn là nhà và quyn s dng đất thì áp dng các qui định ti các điu 97, 98 và 99 ca Lut HN&GĐ.

3. Qui định trong thời kỳ hôn nhân, nếu có lý do chính đáng vợ chồng có thể thỏa thuận chia tài sản chung bằng văn bản mà không qui định trách nhiệm của họ đối với gia đình sau khi chia tài sản chung là một qui định quá “m”. Giả sử, ngay sau khi kết hôn với lý do kinh doanh riêng, vợ chồng có thoả thuận toàn bộ tài sản chung được chia, tài sản của ai làm ra thuộc về người đó, thì khi đó lợi ích gia đình được đặt ở vị trí nào? Nếu thoả thuận này được thực hiện thì quan hệ hôn nhân chỉ còn tồn tại về mặt nhân thân, còn quan hệ tài sản giữa vợ chồng đã được dân sự hóa, bản chất của hôn nhân XHCN vì thế không được thực hiện.

Theo chúng tôi, để phát huy được mục đích, ý nghĩa của chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân cần bổ sung vào khoản 1 Điều 6 Nghị định số 70 một nội dung bắt buộc trong văn bản thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng là: Tài sn bo đảm cho các nhu cu chung ca gia đình.

Ngoài ra cũng cần qui định cụ thể: Trong trường hp v chng không tho thun được vic bo đảm các nhu cu chung ca gia đình, thì có th yêu cu Tòa án gii quyết. Toà án quyết định mc đóng góp ca các bên trên cơ s nhu cu thc tế ca gia đình và kh năng kinh tế ca các bên hoc quyết định không chia toàn b tài sn chung, phn tài sn chung không chia được s dng cho nhu cu ca gia đình.

4. Luật HN&GĐ năm 2000 và Nghị định số 70 qui định các trường hợp chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân mà không có lý do chính đáng thì bị Toà án tuyên bố là vô hiệu. Tuy nhiên, Luật HN&GĐ lại không qui định ai là người có thể yêu cầu Toà án hủy bỏ thoả thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân trong trường hợp thoả thuận này vi phạm các điều kiện được qui định tại Điều 29 Luật HN&GĐ hoặc gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống gia đình, đến việc trông nom, nuôi dưõng, chăm sóc, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
Mặt khác, Luật HN&GĐ cũng chưa qui định hậu quả pháp lý của việc Tòa án tuyên bố vô hiệu đối với thoả thuận chia tài sản chung. Theo chúng tôi, cần qui định rõ: Trong trường hp tho thun chia tài sn chung trong thi k hôn nhân b Toà án tuyên b vô hiu, chế độ tài sn chung ca v chng được khôi phc li tình trng trước khi có tho thun chia tài sn chung.

5. Theo Điều 9 và Điều 10 Nghị định số 70 trong trường hợp vợ chồng có thoả thuận bằng văn bản về khôi phục chế độ tài sản chung, thì kể từ ngày văn bản thoả thuận khôi phục chế độ tài sản chung có hiệu lực, việc xác định phần tài sản thuộc sở hữu riêng của mỗi bên, phần tài sản thuộc sở hữu chung căn cứ vào sự thoả thuận của vợ chồng. Theo chúng tôi, qui định này đã trao cho vợ chồng một quyền hạn quá rộng. Việc vợ chồng có quyền chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, đồng thời có quyền khôi phục chế độ tài sản chung mà không cần có sự xem xét của Toà án đã đưa Điều 27 Luật HN&GĐ năm 2000 trở thành hình thức, chế độ tài sản pháp định không đảm bảo đúng bản chất pháp lý của nhà làm luật đề ra. Theo quan điểm của chúng tôi, việc khôi phục chế độ tài sản chung có nghĩa là khôi phục chế độ tài sản pháp lý được qui định tại Điều 27 Luật HN&GĐ năm 2000, do đó khi thoả thuận khôi phục chế độ tài sản chung của vợ chồng có hiệu lực, những tài sản có nguồn gốc được qui định tại Điều 27 phải được xác định là tài sản chung của vợ chồng. Pháp luật chỉ nên trao cho vợ, chồng quyền thoả thuận về tài sản chung đối với những tài sản riêng được qui định tại Điều 32 Luật HN&GĐ năm 2000(3).

6. Việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân theo qui định của pháp luật không làm thay đổi quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng và quan hệ giữa cha mẹ và con. Thực tế, việc vợ chồng áp dụng chế định này đã phản ánh những mâu thuẫn tồn tại trong quan hệ giữa họ. Sự độc lập về tài sản sau khi chia tài sản chung, có thể dẫn đến vợ chồng sống ly thân hoặc một trong các bên lại lẩn tránh trách nhiệm đối với gia đình, từ đó có tranh chấp về việc chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chưa thành niên hoặc con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động, không có thu nhập, không có tài sản để tự nuôi mình. Để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các con, theo chúng tôi, pháp luật cần qui định rõ: Trong trường hp sau khi chia tài sn chung, v chng có tranh chp v chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dc con chưa thành niên, con đã thành niên mt năng lc hành vi dân s, không có kh năng lao động, không có thu nhp và không có tài sn để t nuôi mình, thì Toà án quyết định theo yêu cu ca v, chng hoc ca các cá nhân, cơ quan, t chc có thm quyn. Vic gii quyết tranh chp liên quan đến con áp dng tương t qui định v quyn và nghĩa v gia cha m và con khi ly hôn.

===============================

(1) Một trong các đặc trưng về hậu quả pháp lý của ly thân trong pháp luật HN&GĐ của một số nước phương Tây là vợ chồng phải sống riêng – “Biệt cư”;

(2) Xem: Nguyễn Văn Cừ, “Một số suy nghĩ về Điều 18 Luật HN&GĐ năm 1986”, Tạp chí Luật học, số 1/1995, tr. 24; Nguyễn Phương Lan, “Hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân”, Tạp chí Luật học số 6/2002, Tr. 22;

(3) Về vấn đề này, xem thêm Nguyễn Phương Lan, “Hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân”, Tạp chí Luật học số 6/2002, Tr. 22.


TẠP CHÍ LUẬT HỌC 5/2003 – ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

MỘT VÀI Ý KIẾN VỀ KHÁI NIỆM VÀ BẢN CHẤT PHÁP LÝ CỦA HÔN NHÂN

NGUYỄN  HỒNG HẢI

1. Khái nim v hôn nhân

Trong khoa học pháp lý nói chung và khoa học Luật HN & GĐ nói riêng, việc đưa ra một khái niệm đầy đủ về hôn nhân có ý nghĩa quan trọng. Nó phản ánh quan điểm chung nhất của Nhà nước về hôn nhân; tạo cơ sở lý luận cho việc xác định bản chất pháp lý của hôn nhân; xác định nội dung, phạm vi điều chỉnh của các qui phạm pháp luật HN & GĐ.

Trong thực tiễn khoa học Luật HN & GĐ ở Việt Nam và nước ngoài, nhiều khái niệm hôn nhân đã được các nhà làm luật, các nhà nghiên cứu luật học đưa ra, chẳng hạn: Continue reading

TÒA ÁN NEWYORK NÓI “KHÔNG” VỚI HÔN NHÂN ĐỒNG GIỚI

Tòa án tối cao New York hôm qua đã ra phán quyết không chấp nhận đưa hôn nhân đồng giới vào luật của bang, bác bỏ lỹ lẽ của các cặp đồng tính cho rằng luật này vi phạm quyền trong hiến pháp của họ.

Theo tòa, luật kết hôn của New York là phù hợp với hiến pháp và việc cho phép hôn nhân đồng giới rõ ràng làm hạn chế việc kết hôn giữa một người nam và một người nữ. Theo thẩm phán Robert Smith, bất kỳ thay đổi nào trong luật này đều phải đến từ Cơ quan lập pháp nhà nước.

Trước đó, tòa án tối cao Massachusetts đã cho phép các cặp đồng giới có quyền kết hôn như những cặp bình thường khác.

*******************************

T.VY (Theo Xinhua)

Việt Báo (Theo_TuoiTre)

ANH: VỢ SINH CON – CHỒNG ĐƯỢC NGHỈ 6 THÁNG

Theo một dự luật mới ở Anh, khi một đứa trẻ chào đời, người cha có quyền nghỉ làm 6 tháng không ăn lương một cách hợp pháp.

Dự kiến dự luật sẽ vấp phải sự chống đối kịch liệt từ giới chủ các công ty, vốn cho rằng nó làm gián đoạn quy trình làm việc và quá tốn kém. Tuy nhiên, Bộ trưởng Thương mại và Công nghiệp A.Johnson – cha đẻ của dự luật – có một quan điểm khác: “Có con là một trong những sự kiện trọng đại nhất đời người. Chúng ta phải tạo điều kiện giúp đỡ những ông bố bà mẹ vất vả có thể cân bằng giữa công việc và gia đình để con cái họ có một khởi đầu tốt đẹp nhất”.

Nhiều quan chức khác thì cho rằng dự luật sẽ giúp các ông bố có trách nhiệm hơn với con cái. Một cuộc nghiên cứu trước đó của Đại học Cambridge cho thấy trẻ nhỏ thường xuyên tiếp xúc với bố sẽ tự tin hơn trong cuộc sống sau này. Hiện nay, các ông bố chỉ được nghỉ “hộ sản” 2 tuần với số tiền trợ cấp nghỉ việc 370 USD do chính phủ trả nhưng 50% các công ty vẫn trả lương đầy đủ cho họ trong khoảng thời gian ngắn ngủi này. Dự luật mới cũng quy định các bà mẹ được tăng thời gian nghỉ hộ sản được trả lương từ 6 tháng lên 9 tháng vào năm 2007 và 1 năm vào 2009.

**************************

Theo Thanh niên

Việt Báo

MEXICO HỢP THỨC HÓA HÔN NHÂN ĐỒNG GIỚI

Với 43 phiếu thuận và 17 phiếu chống, Hội đồng thành phố Mexico City hôm nay đã thông qua một dự luật thừa nhận các cặp đồng tính nam. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử nước này, đồng tính nam được hợp pháp hóa.

Luật này cho phép các cặp đồng tính nam có quyền kết hôn. Họ cũng có quyền thừa kế và quyền trợ cấp lương hưu. Luật chỉ được áp dụng cho khoảng 9 triệu dân của Mexico City. Theo dự đoán, thị trưởng Mexico City gần như chắc chắn sẽ thông qua dự luật này.

Dự luật đã gặp phải sự phản đối quyết liệt từ Đảng hành động quốc gia của Tổng thống vừa thắng cử Felipe Calderon. Luật này cũng bị các chính trị gia bảo thủ và nhà thờ Thiên chúa giáo phản đối.

Việc hợp pháp hóa đồng tính nam hiện vẫn chưa được các nhà làm luật địa phương ở các bang khác của Mexico chấp thuận. Một luật tương tự đang gây tranh cãi tại bang Coahuila, miền bắc Mexico, giáp ranh bang Texas của Mỹ.

***************************************

T.VY (Theo BBC, AP)

Việt Báo (Theo_TuoiTre)