NHỮNG TẬP TỤC ĐẶC BIỆT TRONG HÔN NHÂN CỦA NGƯỜI GIẺ TRIÊNG

DƯƠNG THỦY

Người Giẻ Triêng là một dân tộc thiểu số sống tập trung ở phía Bắc tỉnh Kon Tum. Tộc người này cư trú chủ yếu ở vùng núi cao hiểm trở, giao thông đi lại khó khăn, kinh tế tự túc, tự cấp là chủ yếu. Vì vậy người Giẻ Triêng vẫn giữ được những nét văn hoá hết sức độc đáo trong đó có các nghi lễ trong hôn nhân.

Trong hôn nhân người Giẻ Triêng cấm kết hôn với người cùng dòng họ nhưng ý thức lấy vợ lấy chồng lại rất sớm. Trước đây, tuổi kết hôn của tộc người này từ 15 – 16 tuổi. Hôn nhân chủ yếu do bố mẹ “đặt đâu con ngồi đấy” và vẫn yêu cầu “môn đăng hậu đối”. Đôi trai gái khi yêu nhau, nếu được bố mẹ đồng ý thì hai gia đình chuẩn bị lễ cưới. Lễ cưới phải giữ bí mật với người ngoài. Theo phong tục thì lễ đính hôn được tổ chức bất ngờ bao nhiêu thì đôi vợ chồng trẻ hạnh phúc bấy nhiêu. Tuy nhiên, hiện nay lớp trẻ có phần chủ động hơn trong hôn nhân của mình.

Trong hôn nhân của người Giẻ Triêng có hai tập tục hết sức độc đáo đó là: Bó củi hứa hôn và trao vòng cầu hôn.

Ngoài các tiêu chuẩn phải biết đan chiếu, dệt vải, các cô gái còn phải chuẩn bị cho mình các bó củi hứa hôn. Đây là việc làm rất quan trọng mà các bà mẹ thường dạy con gái.

Trước đây quy định là 100 bó, mỗi bó phải một người vác nặng thì cô gái mới bắt được chồng. Đây là loại củi dài khoảng 80cm, thẳng đẹp, cháy phải đượm. Khi chặt cây các cô phải dùng dao sắc để chặt . Điều này chứng tỏ cô gái có sức khoẻ và khéo léo. Để có đủ số củi quy định các cô gái phải chuẩn bị củi trong khoảng từ hai đến ba năm. Ngày nay, củi được chẻ từ các cây gỗ to và bó thành từng bó, xếp lại trông rất đẹp mắt. Trong trường hợp không chuẩn bị kịp thì có thể nhờ các bạn gái trong làng giúp đỡ.

Continue reading

THẨM QUYỀN HỦY BỎ CHỨNG NHẬN KẾT HÔN KHI CÓ VI PHẠM

NGUYỄN THANH XUÂN

Bộ Tư pháp đang lấy ý kiến về dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 76/2006/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp. Theo đó, đối với việc đăng ký kết hôn, tăng mức xử phạt tối đa lên đến 10 triệu đồng khi các bên đăng ký kết hôn có mục đích trục lợi, mua bán, xâm phạm tình dục, bóc lột sức lao động đối với phụ nữ. Tuy nhiên, biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm này chưa thống nhất.

Hiện nay, công dân khi đăng ký kết hôn phải tuân thủ các quy định của pháp luật hôn nhân gia đình, thủ tục trình tự đăng ký kết hôn theo Nghị định 158/2005/NĐ-CP về đăng ký và quản lý hộ tịch. Nếu có hành vi vi phạm các quy định về đăng ký kết hôn thì người đăng ký kết hôn có thể bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vi phạm quy định đăng ký kết hôn theo Nghị định 76/2006/NĐ-CP. Ví dụ, đối tượng sử dụng giấy tờ tùy thân của em ruột để đăng ký kết hôn, khi bị phát hiện thì bị xử phạt vi phạm hành chính và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là đề nghị TAND có thẩm quyền hủy bỏ giấy chứng nhận kết hôn đã cấp theo Nghị định 76. Vấn đề đặt ra trong thực tiễn giải quyết và áp dụng các quy định của pháp luật hiện hành là sự bất nhất về thẩm quyền hủy bỏ giấy chứng nhận kết hôn giữa Toà án và UBND cấp huyện khi công dân vi phạm các quy định về đăng ký kết hôn.

Khi chỉ có Nghị định 158 được áp dụng thì UBND cấp huyện là cơ quan có thẩm quyền ra Quyết định việc thu hồi, hủy bỏ những giấy tờ hộ tịch do UBND cấp xã cấp trái với quy định, trong đó có giấy chứng nhận kết hôn. Nhưng khi Nghị định 76 được ban hành thì thẩm quyền hủy bỏ giấy chứng nhận kết hôn lại chuyển cho Tòa án, dẫn đến vướng mắc khi áp dụng. Theo quy định, cơ quan nào cấp giấy chứng nhận kết hôn trái pháp luật thì cơ quan đó có trách nhiệm thu hồi, hủy bỏ. Tòa án không cấp giấy kết hôn nên không có thẩm quyền thu hồi hủy bỏ khi giấy kết hôn được đăng ký trái pháp luật. Trên thực tế, Toà án chỉ giải quyết các yêu cầu về hôn nhân và gia đình, như huỷ việc kết hôn trái pháp luật, ly hôn, công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn…Sự chồng chéo và bất nhất về thẩm quyền thu hồi, hủy bỏ giấy chứng nhận kết hôn giữa hai cơ quan Nhà nước, do các quy định của Nghị định 158 và Nghị định 76 không thống nhất dẫn đến vướng mắc khi các cơ quan có thẩm quyền áp dụng giải quyết.

Continue reading

CÔNG CỤ PHÁP LÝ BỊ LÃNG QUÊN

PHẠM THÁI QUÍ

Công tác xét xử, giải quyết các vụ, việc về hôn nhân và gia đình của ngành Toà án cho thấy, tình trạng vi phạm chế độ một vợ một chồng xảy ra tương đối nhiều, đặc biệt là ở vùng nông thôn, miền núi nhưng rất ít khi bị xử lý.

Kết hôn chưa được bao lâu thì vợ chồng anh T, chị H phát sinh mâu thuẫn. Do suy nghĩ nông nổi nên chị H đã bỏ về nhà mẹ đẻ sinh sống. Tuy giận chồng bỏ đi, nhưng chị vẫn mong anh T đến đón về sum họp gia đình. Nào ngờ, anh T không đoái hoài đến chị nữa. Biết đã lỡ bước ra đi thì rất khó quay trở về nên chị H làm đơn yêu cầu TAND huyện TH giải quyết cho chị được ly hôn anh T. Sau khi thụ lý vụ án, TAND huyện TH đã triệu tập anh T đến để hoà giải, nhưng anh T cố tình vắng mặt. Toà án phải cử cán bộ về địa phương để xác minh và phối hợp với các tổ chức, đoàn thể tiến hành hoà giải. Khi nhóm cán bộ của Toà án đến trụ sở UBND xã thì được biết, anh T. đã cưới vợ khác và sắp sinh con.

Trường hợp của anh S và chị L còn tệ hơn. Trong thời gian chị L về nhà mẹ đẻ sinh con, anh S đã quen biết rồi phát sinh tình cảm với chị V. Bỏ qua tình nghĩa vợ chồng, vượt cả rào cản pháp luật, anh S đã quyết định đến chung sống như vợ chồng với chị V mà không quan tâm đến mẹ con chị L nữa. Khi đứa con chung của anh S và chị V đến tuổi đi học, anh S đưa con đến đăng ký nhập học thì nhà trường không chấp nhận, vì cháu không có giấy khai sinh. Lúc này anh S mới làm đơn yêu cầu Toà án giải quyết việc ly hôn với chị L để được kết hôn với chị V…

Trên đây chỉ là hai trong số rất nhiều trường hợp vi phạm chế độ một vợ một chồng. Nguyên nhân xảy ra tình trạng vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình, trước hết là do hiểu biết và ý thức chấp hành pháp luật của người dân còn hạn chế nhưng không được các tổ chức, đoàn thể tuyên truyền, giải thích để họ chấm dứt hành vi vi phạm. Trong khi đó, những người vợ hợp pháp lại luôn quan niệm không nên “vạch áo cho người xem lưng”, do đó cam chịu mà không lên tiếng. Một nguyên nhân quan trọng nữa là do thiếu trách nhiệm, nên chính quyền địa phương đã làm ngơ, không xử lý kịp thời để răn đe giáo dục đối tượng vi phạm. Cán bộ địa phương vẫn coi việc chung sống không hợp pháp là chuyện tình cảm riêng tư nên ít quan tâm, xử lý.

Continue reading

NHIỀU SAI SÓT TRONG VIỆC ĐĂNG KÝ KẾT HÔN Ở CƠ SỞ

NGUYỄN THANH XUÂN

Trình tự, thủ tục đăng ký kết hôn của công dân hiện nay được thực hiện theo Nghị định 158 về đăng ký và quản lý hộ tịch. Theo đó, UBND cấp xã là cơ quan duy nhất có thẩm quyền giải quyết việc đăng ký kết hôn cho công dân trong nước. Tuy nhiên, kiểm tra việc đăng ký và quản lý hộ tịch cho thấy, vẫn còn nhiều sai sót trong quá trình giải quyết đăng ký kết hôn cho người dân, dẫn đến nhiều hệ lụy pháp lý phát sinh sau này.

Điều 18 Nghị định 158 quy định, khi đến đăng ký kết hôn tại UBND cấp xã- nơi cư trú của bên nam hoặc bên nữ thì hai bên nam, nữ phải nộp tờ khai theo mẫu quy định và xuất trình chứng minh nhân dân. Trong trường hợp, một người cư trú tại xã, phường, thị trấn này nhưng đăng ký kết hôn tại xã, phường, thị trấn khác thì phải có xác nhận của UBND cấp xã, nơi cư trú về tình trạng hôn nhân của người đó. Quy định như vậy, nhưng qua kiểm tra, có nhiều hồ sơ một trong các bên nam, nữ không tiến hành xác nhận tình trạng hôn nhân theo quy định, hoc có xác nhận tình trạng hôn nhân nhưng đã quá hạn 6 tháng mà UBND cấp xã vẫn giải quyết cho đăng ký kết hôn. Lẽ ra, trong trường hợp này phải yêu cầu xác nhận lại tình trạng hôn nhân, nhưng cán bộ hộ tịch cơ sở vẫn giải quyết cho đương sự đăng ký kết hôn là không đúng luật. Ngược lại, chỉ yêu cầu các bên nam, nữ xuất trình chứng minh nhân dân để đối chiếu với tờ khai đăng ký kết hôn theo thủ tục, nhưng nhiều cán bộ hộ tịch vẫn yêu cầu người dân phải photo nộp cả chứng minh nhân dân, gây phiền phức cho người dân.

Thời hạn giải quyết việc đăng ký kết hôn, nhiều UBND cấp xã giải quyết chưa đúng quy định. Theo luật định, để UBND cấp xã giải quyết yêu cầu đăng ký kết hôn cho người dân là 5 ngày, kể từ ngày nhận đủ các giấy tờ, thủ tục hợp lệ; nếu xác minh các vấn đề nào khác thì thời hạn được kéo dài thêm không quá 5 ngày. Nhưng thực tế vẫn có nhiều hồ sơ gần 1 tháng vẫn chưa giải quyết, gây nhiều phiền hà cho người dân.

Continue reading

THÁO GỠ VƯỚNG MẮC CHO NGƯỜI LY HÔN VỚI NGƯỜI MẤT TÍCH

PHẠM THỊ LIÊN

Có một thực trạng khá phổ biến trong quan hệ hôn nhân hiện nay, đó là khi xảy ra tình trạng “cơm không lành, canh không ngọt”, một bên vợ hoặc chồng thường bỏ đi mất tích. Để chấm dứt quan hệ hôn nhân, người có yêu cầu ly hôn với người mất tích phải khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết. Quy định như vậy, nhưng trên thực tế, khi giải quyết việc ly hôn với người mất tích lại phát sinh vướng mắc.

Khoản 1 Điều 78 Bộ luật Dân sự quy định về việc tuyên bố một người mất tích. Theo đó: Khi một người biệt tích 2 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích. Khoản 2 của điều luật này quy định: Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

Trước đây, theo Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, để ly hôn với người mất tích, trước hết phải thực hiện thủ tục tuyên bố người đó mất tích, sau đó giải quyết việc ly hôn trong cùng một vụ án. Nghị quyết số 03/HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Pháp lệnh nêu rõ: Khi nhận được đơn khởi kiện của đương sự, Tòa án yêu cầu đương sự đến cơ quan báo chí, phát thanh, truyền hình của tỉnh và trung ương nhắn tin tìm người vắng mặt và lấy giấy xác nhận của cơ quan đó về việc đã nhắn tin tìm người vắng mặt nộp cho Tòa án để Tòa án thụ lý vụ án. Tòa án cũng có quyền yêu cầu người khởi kiện nộp tiền tạm ứng cho việc thông báo tìm người vắng mặt trên báo chí, đài phát thanh, đài vô tuyến truyền hình của tỉnh và Trung ương để Tòa án thụ lý vụ án và thông báo tìm người vắng mặt. Người khởi kiện phải chịu phí tổn về việc thông báo tìm người vắng mặt. Như vậy, Nghị quyết 03 không quy định cụ thể cần phải đăng báo hoặc phát sóng thông báo tìm người vắng mặt trên đài, báo là bao nhiêu lần. Do vậy, thực tiễn giải quyết vụ án này trong những năm qua thường là Tòa án chỉ gửi thông báo tìm người vắng mặt cho cơ quan báo chí đăng báo hoặc đài phát thanh phát sóng 1 lần. Chi phí cho việc này hết khoảng vài ba trăm ngàn đồng.

Continue reading

QUYẾT ĐỊNH NGƯỜI NUÔI DƯỠNG TRONG CÁC VỤ ÁN LY HÔN

PHẠM ĐỨC THÀNH

Trong một vụ án ly hôn, ngoài vấn đề phân chia tài sản, việc giao con cho ai nuôi dưỡng là một trong những nội dung quan trọng nhất Tòa án phải quyết định. Bởi vì, khi cha mẹ ly hôn, người bị tổn thương nhiều nhất vẫn là những đứa con, nhất là khi đang ở lứa tuổi chưa thành niên – lứa tuổi rất cần sự chăm sóc của cả cha và mẹ để có thể phát triển toàn diện.

Về nguyên tắc, việc ai là người nuôi con sau khi ly hôn có thể được các bên đương sự (vợ, chồng) tự thỏa thuận với nhau và được Tòa án ghi nhận trong bản án. Sau khi ly hôn, vợ, chồng vẫn có nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con khi chưa thành niên (dưới 18 tuổi) hoặc đã thành niên nhưng bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng (mức cấp dưỡng tùy theo điều kiện kinh tế hoặc theo thỏa thuận) để người kia chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi trưởng thành. Nếu hai bên không thể tự thỏa thuận được với nhau, Tòa án sẽ xem xét, giao quyền nuôi con cho một bên vợ hoặc chồng.

Cụ thể hóa nguyên tắc nêu trên, tại khoản 2 Điều 92 Luật Hôn nhân và Gia đình (Luật HN và GĐ) năm 2000 quy định: “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; nếu không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 9 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Trong Công văn số 62/2002/KHXX, Tòa án nhân dân tối cao cũng hướng dẫn: “Trước khi ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn mà không hỏi ý kiến của con chưa thành niên là điều tra chưa đầy đủ”. Như vậy, theo quy định, trong một vụ án ly hôn, việc hỏi ý kiến của con từ 9 tuổi trở lên có ý nghĩa bắt buộc, làm cơ sở để Tòa án xem xét, quyết định giao con cho ai nuôi. Quy định này nhằm bảo đảm tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ.

Continue reading

“HẬU LY HÔN VÀ THÂN PHẬN NGƯỜI PHỤ NỮ”: DƯỚI GÓC NHÌN CỦA HAI NỮ LUẬT SƯ *

LS. TRẦN THỊ PHỤNG

Nhưng cũng có nhiều cặp vợ chồng, với những lý do hết sức… lãng xẹt, chỉ có chút mâu thuẫn không đáng, cũng đòi cho bằng được “Thôi, chia tay nhau từ đây!”. Thế mới biết, khi yêu nhau họ tự động trói đời vào nhau, đến khi hết yêu thì cũng sẵn lòng tự cởi trói cho nhau. Trăn trở trước thực trạng ly hôn nên nói bóng, nói gió như thế, nhưng ai cũng biết, trong lòng mỗi người vợ hoặc chồng, ai mà không canh cánh một nỗi buồn khi chia tay nhau. Đành là thế, thực ra khi không còn cơ hội cứu vãn để mãi là “bạn tốt “ của nhau đến “răng long đầu bạc”, thì ly hôn là một cứu cánh an toàn cho cả hai phía.

Thế nhưng, đằng sau các vụ ly hôn phần lớn lại xuất hiện những bi kịch mới cho thân phận người phụ nữ, với nhiều tổn thương từ tinh thần đến cuộc sống vật chất. Trong khi đối với các quý ông chồng thì sao? “Dường như họ cảm thấy được tháo cũi sổ lồng như chim bay xa giữa đồng xanh quê hương bao la!” Chị T.M một người phụ nữ vừa mới ly hôn với chồng chưa đầy một tháng, đã mỉm cười chua xót nói với tôi như vậy.

Nguyên nhân ly hôn: Tại anh, tại ả!

Chồng chị T.M là giảng viên đại học ở một thành phố miền Trung. Tại phiên tòa giải quyết yêu cầu  thuận tình ly hôn, anh đã  trình bày trước tòa một trong những nguyên nhân khiến hai vợ chồng ly hôn bằng một câu nói gây sốc : “Nhà tôi không có lửa – lửa tình yêu , lửa lòng và cả lửa… bếp !”.

Chị T.M cũng là một giảng viên như chồng, công việc trường lớp đã không cho họ có thời gian dành cho nhau, rồi mâu thuẫn lặng lẽ hình thành trong đời sống gia đình của họ, và không ai chịu mình sai, nên cuối cùng họ đành quyết định đường ai nấy đi. Họ thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng là một ngôi biệt thự đồ sộ trong một khu đô thị mới. Trách nhiệm nuôi bé gái bốn tuổi được thống nhất giao cho người vợ. Sau khi chia tay, anh rời khỏi mái nhà chung, đến sống một mình ở một chung cư cao cấp. Còn chị? Hàng ngày, khoảng sáu giờ sáng chị đưa con đến trường. Đến chín giờ tối đi dạy thêm về, sang nhà bà ngoại đón con gái về nhà, liêu xiêu bóng mẹ, bóng con trải dài trên đoạn đường vắng tanh không người qua lại… Chị M lặng lẽ dừng ngang câu chuyện với tôi rồi khóc thật ngon lành, làm tôi cũng cảm thấy chạnh lòng.

Continue reading

NHỨC NHỐI NẠN TẢO HÔN

BIÊN THÙY

Tiếp nối tập tục xưa, rất nhiều đứa trẻ ở huyện miền núi A Lưới, tỉnh Thừa Thiên- Huế vẫn kết hôn sau tuổi lên 10. Vấn nạn tảo hôn vừa là nguyên nhân của sự nghèo đói và những cái chết đau lòng tại đây.

Ông Hồ Văn Liên, Bí thư Đảng ủy xã Hồng Thủy, huyện A Lưới, cho biết hầu như năm nào ở xã cũng có 10 cặp tảo hôn. Đây chỉ là số trường hợp mà xã nắm được, vì các cặp vợ chồng trẻ con đều không đăng ký kết hôn.

Lấy chồng từ thuở 13

Chúng tôi ghé thăm đôi vợ chồng nhí Hồ Văn Chùn -15 tuổi và Hồ Thị Lài – 14 tuổi mới cưới hồi đầu năm. Căn nhà của vợ chồng Chùn trống hoác nép mình sau vách núi Trường Sơn.
Một cô bé người hơi thấp, da đen sạm, bụng mang thai sắp sinh vừa bước ra chào khách vừa lau vội những giọt nước mắt. Tiếp chúng tôi, hai cô cậu lộ rõ vẻ mất tự nhiên.

Continue reading

ĐẠO ĐỨC GIA ĐÌNH TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

NGUYỄN THỊ KHOA

Đạo đức gia đình là toàn bộ những quan niệm về giá trị và quy phạm về hành vi của con người trong vấn đề hôn nhân và gia đình. Mọi cử chỉ, hành vi, thái độ của mỗi người về hôn nhân và gia đình vừa thể hiện bản chất đạo đức cá nhân, vừa cho biết bản chất đạo đức của mối quan hệ trong gia đình. Sự hình thành đạo đức gia đình không chỉ dựa trên những quy định của pháp luật, của phong tục tập quán và truyền thống dân tộc, mà còn dựa trên niềm tin và dư luận xã hội.

Ở nước ta, từ xa xưa, "tam tòng tứ đức”, “chung thuỷ”, "trinh tiết" đã từng là quy định của đạo đức gia đình đối với người phụ nữ, hiếu đễ đã từng là quy định của đạo đức gia đình về quan hệ cha mẹ – con cái, anh chị em. Cùng với sự phát triển của đất nước, tự do kết hôn, hôn nhân một vợ một chồng, tình yêuchung thuỷ đối với cả hai vợ chồng hay mối quan hệ giúp đỡ lẫn nhau giữa các thành viên trong gia đình… cũng đã được coi là những quy định của đạo đức gia đình mới.

Một số biểu hiện lệch chuẩn của đạo đức gia đình hiện nay

Continue reading

LUẬT TỤC NÚI RỪNG

ĐINH THỊ NGA – QUẾ HÀ

Bên cạnh những tục lệ của đồng bào các dân tộc thiểu số ngày nay đã trở thành những nét văn hóa đặc sắc mang yếu tố truyền thống đa dạng, thì nhiều hủ tục lạc hậu vẫn còn dai dẳng đeo bám, không chỉ cản trở nếp sống văn minh mà còn là những nguyên nhân trực tiếp đẩy không biết bao nhiêu thân phận nam nữ thanh niên vào bi kịch.

1. Bắt chồng

Có mặt ở nhiều bản làng, PV Thanh Niên chứng kiến nhiều hủ tục đáng sợ: Từ thách cưới đến việc kết hôn cùng huyết thống; từ chuyện tảo hôn đến thân phận chàng rể trong chế độ mẫu hệ…

Bắt chồng là một nét văn hóa đặc thù không chỉ của người Chu Ru ở Đơn Dương (Lâm Đồng) mà hiện còn tồn tại ở rất nhiều tộc người khác ở vùng dọc Trường Sơn – Tây Nguyên nhưng “giá” của các chàng trai ở đây cao ngất ngưởng đã đẩy không biết bao nhiêu gia đình bên vợ vào bước đường cùng.

Huyện Đơn Dương chỉ cách Đà Lạt khoảng 40 km, nhưng khi tìm hiểu về tục “bắt chồng” ở đây, chúng tôi cảm tưởng như mình đang lạc vào một thế giới khác…

Lễ vật lấy chồng

Xã Ka Đơn có 538 hộ người Cơ Ho, 215 hộ người Chu Ru vẫn đang lưu giữ tục “bắt chồng”. Theo đó, người con gái đến tuổi lấy chồng sẽ được cha, mẹ hoặc người mai mối “tia” cho một tấm chồng. Tất cả việc đám hỏi, đám cưới do nhà gái lo liệu. Sau khi cưới, chàng rể về sống bên nhà vợ. Continue reading

QUYỀN NHÂN THÂN CỦA CÁ NHÂN: XÁC NHẬN LƠ MƠ, NGƯỜI KẾT HÔN GẶP KHÓ

PHAN NHÂN

Nhiều UBND xã chưa làm rõ tình trạng hôn nhân hoặc chưa xác định đương sự đã ly hôn theo bản án nào. Để đăng ký kết hôn, đương sự phải được cơ quan thẩm quyền xác nhận hiện tại không có vợ hoặc không có chồng. Việc xác nhận có thể bằng tờ giấy riêng rẽ hoặc trong tờ khai đăng ký kết hôn. Nhưng nhiều UBND xã lại xác nhận chưa đầy đủ hoặc không chính xác về việc này, gây khó cho người muốn kết hôn lẫn các cơ quan chức năng.

Không nêu căn cứ

Thông tư 01 ngày 2-6-2008 của Bộ Taư pháp hướng dẫn: Nội dung xác nhận tình trạng hôn nhân phải ghi rõ đương sự hiện tại chưa đăng ký kết hôn với ai (Ví dụ: Anh Nguyễn Văn A, hiện đang cư trú tại…, hiện tại chưa đăng ký kết hôn với ai); đối với người đã có vợ/chồng nhưng đã ly hôn hoặc người kia đã chết thì cũng phải ghi rõ điều đó (Ví dụ: Anh Nguyễn Văn A, hiện đang cư trú tại… đã đăng ký kết hôn nhưng đã ly hôn theo Bản án ly hôn số… ngày… tháng… năm… của TAND…, hiện tại chưa đăng ký kết hôn với ai).

Tuy nhiên, nhiều xã của tỉnh Đồng Tháp đã chứng như thế này: “Nguyễn Thị Thùy Dung, đang cư trú tại…, đăng ký kết hôn lần thứ hai là đúng sự thật”; “Nguyễn Thị Bé Lan… chưa đăng ký kết hôn lần hai tại địa phương. Nay đăng ký kết lần hai là đúng”; “Phạm Kim Nga… trước năm 2007 đã kết hôn, sau năm 2007 ly hôn, sống độc thân. Nay kết hôn lần thứ hai”. Các xác nhận này đều chưa thể hiện được đương sự đã ly hôn theo bản án nào, do TAND nào xét xử.

Không đúng sự thật

Không chỉ thiếu sót, nhiều xác nhận còn sai hoàn toàn. Như bà N. (tỉnh Đồng Tháp) kết hôn với một người có quốc tịch Trung Quốc (Đài Loan), đã ly hôn theo bản thuận tình ly hôn do Phòng Hộ chính huyện Miêu Lật (Đài Loan) cấp năm 2004 và được Sở Ngoại vụ TP.HCM hợp pháp hóa lãnh sự năm 2005. Đầu năm 2009, bà N. đến UBND xã xác nhận tình trạng hôn nhân của mình để chuẩn bị nộp hồ sơ đăng ký kết hôn với một người Đài Loan khác.

Continue reading

ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP XÃ XÁC NHẬN TÌNH TRẠNG HÔN NHÂN KHÔNG CHÍNH XÁC

PHAN NHÂN

Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân được cấp cho cá nhân là nhằm chứng minh tình trạng hôn nhân của đương sự trong thời điểm hiện tại để sử dụng vào việc đăng ký kết hôn hoặc thực hiện vào các mục đích khác và thẩm quyền xác nhận là do UBND cấp xã nơi cư trú của đương sự. Thời gian qua, một số UBND cấp xã đã xác nhận tình trạng hôn nhân không rõ ràng, thiếu chính xác, không thể hiện được tình trạng hôn nhân của đương sự. Do đó, cơ quan tiếp nhận không thể biết tình trạng “hôn nhân thực” của đương sự.

Thực hiện theo Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 về đăng ký và quản lý hộ tịch (Nghị định 158), Thông tư số 01/2008/TT-BTP ngày 02/6/2008 của Bộ Tư pháp hướng dẫn một số quy định của Nghị định số 158 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch (Thông tư số 01) thì việc xác nhận tình trạng hôn nhân của một người được thể hiện bằng hai hình thức: xác nhận trực tiếp vào tờ khai đăng ký kết hôn trong nước và có yếu tố nước ngoài (dùng cho kết hôn) hoặc cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân theo mẫu quy định (dùng cho kết hôn và mục đích khác). Thực tế thời gian qua địa phương đã thực hiện tốt vai trò này và giúp cho người dân thực hiện các thủ tục, giao dịch của mình được thuận lợi hơn cũng như thể hiện vai trò quản lý Nhà nước. Tuy nhiên dù đã được Sở Tư pháp nhiều lần hướng dẫn thông qua công tác kiểm tra, các bài viết đăng trên chuyên mục của Bản tin Tư pháp… nhưng vẫn còn tình trạng nhiều cán bộ Tư pháp lúng túng trong việc tham mưu cho UBND cùng cấp xác nhận sai, chưa đầy đủ trong nội dung xác nhận này.

1. Xác nhận tình trạng hôn nhân, mỗi nơi một kiểu!

Qua việc tiếp nhận và thẩm tra hồ sơ đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài tại Sở Tư pháp, phát hiện hơn 90% các nội dung xác nhận tình trạng hôn nhân của UBND cấp xã thực hiện chưa chính xác, chưa đầy đủ, không đúng với tình trạng hôn nhân thực tế của đương sự, không thống nhất với nhau, sai quy định và không căn cứ vào hướng dẫn của Thông tư số 01 mà mỗi nơi có “sáng kiến” riêng. Sau đây chúng tôi “giới thiệu” một số nội dung xác nhận sai để cán bộ Tư pháp hộ tịch rút kinh nghiệm.
“Nguyễn Thị Thùy Dung sinh năm 15/01/1982 HKTT: ấp 1, xã TK-TM-ĐT đăng ký kết hôn lần thứ hai là đúng sự thật”; “Đ/s Nguyễn Thị Bé Lan SN: 1979 ngụ ấp ĐH, xã TTĐ, thành phố C – Đồng Tháp chưa đăng ký kết hôn lần 2 tại địa phương. Nay đăng ký kết lần hai là đúng”; “Đ/s Phạm Kim Nga SN 1984 cư trú ấp Bình Hòa xã BT, LV, Đồng Tháp từ trước 2007 đã kết hôn, sau năm 2007 ly hôn sống độc thân. Nay kết hôn lần thứ hai”; “Công dân Trần Thị Kim Phượng, SN 1981 có HKTT ấp An Hòa, xã MAHB, huyện LV tỉnh Đồng Tháp đăng ký kết hôn lần 2 là đúng”; “Đ/s Hà Thị Nhung, SN 29/9/1972, HKTT ấp Hòa Trung, xã HT, huyện CT-ĐT. Đã ly hôn nay đăng ký kết hôn lần 2 là đúng”… Qua đây, ta thấy rằng nội dung các xác nhận trên chưa thể hiện việc đương sự đã kết hôn và ly hôn theo Bản án ly hôn số…, ngày…, tháng…năm… của Tòa án nhân dân…., hiện tại chưa đăng ký kết hôn với ai. Do đó, cơ quan tiếp nhận, nhất là Sở Tư pháp từ chối nhận hồ sơ đăng ký kết hôn vì nội dung xác nhận tình trạng hôn nhân của đương sự “không đảm bảo” và không biết tình trạng hôn nhân hiện tại của đương sự như thế nào. Và “đương nhiên” đương sự phải xác nhận lại (có UBND xã xác nhận đến… 3 lần vẫn không đúng). Dù lỗi này của UBND cấp xã và cán bộ Tư pháp hộ tịch, người trực tiếp tham mưu cho UBND cùng cấp xác nhận “không chuẩn” nhưng gây phiền hà cho người dân phải đi lại nhiều lần. Việc này trái với các quy đinh tại khoản 2, Mục I của Thông tư số 01.

Continue reading

THẢM QUYỀN HUY BỎ GIẤY CHỨNG NHẬN KẾT HÔN KHI CÓ VI PHẠM

NGUYỄN THÀNH XUÂN

Bộ Tư pháp đang lấy ý kiến về dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 76/2006/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp. Theo đó, đối với việc đăng ký kết hôn, tăng mức xử phạt tối đa lên đến 10 triệu đồng khi các bên đăng ký kết hôn có mục đích trục lợi, mua bán, xâm phạm tình dục, bóc lột sức lao động đối với phụ nữ. Tuy nhiên, biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm này chưa thống nhất.

Hiện nay, công dân khi đăng ký kết hôn phải tuân thủ các quy định của pháp luật hôn nhân gia đình, thủ tục trình tự đăng ký kết hôn theo Nghị định 158/2005/NĐ-CP về đăng ký và quản lý hộ tịch. Nếu có hành vi vi phạm các quy định về đăng ký kết hôn thì người đăng ký kết hôn có thể bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vi phạm quy định đăng ký kết hôn theo Nghị định 76/2006/NĐ-CP. Ví dụ, đối tượng sử dụng giấy tờ tùy thân của em ruột để đăng ký kết hôn, khi bị phát hiện thì bị xử phạt vi phạm hành chính và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là đề nghị TAND có thẩm quyền hủy bỏ giấy chứng nhận kết hôn đã cấp theo Nghị định 76. Vấn đề đặt ra trong thực tiễn giải quyết và áp dụng các quy định của pháp luật hiện hành là sự bất nhất về thẩm quyền hủy bỏ giấy chứng nhận kết hôn giữa Toà án và UBND cấp huyện khi công dân vi phạm các quy định về đăng ký kết hôn.

Khi chỉ có Nghị định 158 được áp dụng thì UBND cấp huyện là cơ quan có thẩm quyền ra Quyết định việc thu hồi, hủy bỏ những giấy tờ hộ tịch do UBND cấp xã cấp trái với quy định, trong đó có giấy chứng nhận kết hôn. Nhưng khi Nghị định 76 được ban hành thì thẩm quyền hủy bỏ giấy chứng nhận kết hôn lại chuyển cho Tòa án, dẫn đến vướng mắc khi áp dụng. Theo quy định, cơ quan nào cấp giấy chứng nhận kết hôn trái pháp luật thì cơ quan đó có trách nhiệm thu hồi, hủy bỏ. Tòa án không cấp giấy kết hôn nên không có thẩm quyền thu hồi hủy bỏ khi giấy kết hôn được đăng ký trái pháp luật. Trên thực tế, Toà án chỉ giải quyết các yêu cầu về hôn nhân và gia đình, như huỷ việc kết hôn trái pháp luật, ly hôn, công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn…Sự chồng chéo và bất nhất về thẩm quyền thu hồi, hủy bỏ giấy chứng nhận kết hôn giữa hai cơ quan Nhà nước, do các quy định của Nghị định 158 và Nghị định 76 không thống nhất dẫn đến vướng mắc khi các cơ quan có thẩm quyền áp dụng giải quyết.

Continue reading

QUAN ĐIỂM CỦA SINH VIÊN VỀ SỐNG CHUNG TRƯỚC HÔN NHÂN

LÊ HỒNG NHẬT

Trong vài thập niên gần đây, rất nhiều những nghiên cứu đã chỉ ra rằng, hiện tượng liên quan đến tình dục của giới trẻ như “sống thử”, nạo thai, đang ngày càng phổ biến. Và điều đáng nói là cơn sốt “tình yêu” đó cũng đã ảnh hưởng tới giới sinh viên. Nên nhìn nhận vấn đề này thế nào? Đó chính là chủ đề nghiên cứu thu hút sự chú ý của nhóm các bạn sinh viên Khoa Kinh tế, ĐHQG TP HCM, gồm Hải Yến, Phương Hà, Ánh Hồng, Đan Thanh, và Lệ Thủy.

Dựa trên những nghiên cứu xã hội học và tâm lý học, các bạn đã phân chia các yếu tố chi phối ý muốn có quan hệ tình dục trong sinh viên thành hai nhóm chính sau: Thứ nhất là giáo dục và nhận thức. Điều này bao gồm các yếu tố chính như quan điểm cá nhân về tình dục trước hôn nhân và sự quan tâm của gia đình. Và thứ hai là điều kiện cá nhân. Bao gồm các điểm chính như hoàn cảnh kinh tế, điều kiện nhà ở, quan hệ yêu đương, giới tính, và nỗ lực học tập.

Đối với nhóm nhân tố thứ nhất, nổi lên rõ rệt nhất là nhận thức hay quan điểm của sinh viên về vấn đề sống chung và quan hệ tình dục trước hôn nhân. Trong xã hội Việt nam, khi mà việc cha mẹ chỉ bảo con cái về quan hệ yêu đương, và việc giảng dạy trên học đường về hôn nhân, gia đình, còn có phần nào hạn chế, thì giới trẻ tự trang bị cho mình kiến thức về lĩnh vực đó qua nghe nhạc, đọc tiểu thuyết, xem phim ảnh, tạp chí về yêu đương và gia đình, và cả các trang web về tình dục. Và cũng như ở mọi xã hội, quan điểm của giới trẻ chia thành 3 cấp độ: cho rằng đó là việc không nên làm, bình thường – không phê phán, cũng không hùa theo, và cuối cùng là có cái nhìn thoáng. Ngay ở điểm cuối cùng này cũng phức tạp hơn chúng ta nghĩ. Cái nhìn thoáng có thể là do bạn trẻ tò mò, hoặc thả mình theo kiểu thích “sống thử”, để sau này khỏi phải bị nhầm khi sống thật. Cũng có thể xuất phát từ sự nhận thức khá chín chắn. Chẳng hạn như một số sinh viên cho rằng, “sống chung là một cách thử nghiệm hội nhập vợ chồng, là sự trải nghiệm và học cách hòa nhập trong các mối quan hệ của nhau, cùng quyết định chi tiêu, cùng nhượng bộ chấp nhận lẫn nhau và bày tỏ mong muốn của mình, quan hệ tình dục, vân vân, khi mà trinh tiết người con gái không phải là cái gì giữ ngọc gìn vàng" [theo tamlyhoc.net]. Thật sự, nếu với ý nghĩa như thế thì "sống thử" không hẳn là đáng chê trách mà còn có các khía cạnh tốt. Và tình dục ở đây chỉ là một điểm, dù là rất quan trọng, nhưng không phải là tất cả của việc sống thử. Điều này càng có ý nghĩa hơn, nếu ta nhìn nhận được rằng đó là một hành động có ý thức, bao hàm cả việc giữ gìn cái vô giá của tình yêu – sự hy sinh, và sự tự chủ bản thân, chứ không phải là một sự thỏa mãn, lợi dụng nhau về xác thịt hay tiền bạc.

Continue reading

THỰC TRẠNG TẢO HÔN Ở VÙNG TÂY BẮC: CHUYỆN BUỒN "BẮT VỢ"

Untitled-1.psd BÙI HƯƠNG

Trời Tây Bắc xầm xì, dòng sông Đà bắt đầu mùa lũ. Xuôi theo sông, chúng tôi tìm về các bản Mông cao tút hút. Vẳng trong không gian, trên các sườn núi, lời hát tìm bạn của các chàng trai Mông ngân lên: Cú cò, nhỉa cò, cú nhỉa cò… (anh và em, anh và em yêu nhau) báo hiệu cho một mùa “bắt vợ”, “kéo vợ” bắt đầu…

Làm vợ từ thuở… 12

Tập tục “kéo vợ” của người Dao hay “bắt vợ” của người Mông vốn là một tập tục có từ lâu đời. Thông thường, vào những ngày rỗi việc, thóc, ngô đã về yên trong bồ, các chàng trai Mông, Dao thường nhờ cánh bạn cùng lứa đi “bắt”, “kéo” vợ về cho mình. Khi chàng trai người Mông, Dao nào đó để ý đến một cô gái bất cứ ở lứa tuổi nào mà anh ta thích, anh ta sẽ tổ chức đi “bắt” hay “kéo” về nhà mình để cúng trình ma, dù cô gái kia có yêu anh ta hay không. Đã bị bắt về nhà, cúng trình ma rồi thì cô gái kia đã trở thành vợ, thành dâu nhà người. Cô gái sẽ phải ở vậy suốt đời, không ai nhòm ngó nếu không lấy chàng trai đó. Vùng đất Tây Bắc – thượng nguồn sông Đà mỗi mùa “bắt vợ” qua đi, người ta không thể thống kê được có bao nhiêu thiếu nữ người Dao, người Mông đẹp như bông tớ dầy đã có người yêu trở thành nạn nhân của tập tục này.

Continue reading

SỐNG CHUNG NHƯNG… KHÔNG PHẢI VỢ CHỒNG

TS TÂM LÝ. ĐINH PHƯƠNG DUY

Đồng thuận đi tìm hạnh phúc là hiện tượng đang xảy ra ở một số người, không phải là một “thử nghiệm” theo nghĩa “sống thử” mà là chuyện “sống thật” như vợ chồng nhưng chưa vội kết hôn. Phần lớn các cặp này có quan điểm sống cụ thể và cũng công khai sống thật, có trách nhiệm với nhau và với cả hai bên gia đình như là đã từng được công nhận vợ chồng nhưng vẫn không tuyên bố là chồng là vợ.

Nhiều người khẳng định cách họ sống chung là hoàn toàn tự nguyện và không hề “thua kém” gì kiểu sống của vợ chồng thật, chỉ có điều họ không có những ràng buộc về nghĩa vụ tình cảm và pháp lý.

Điều khá bất ngờ và thú vị là có không ít người thành đạt lại cảm thấy hợp với “gu” sống chung này. Họ có học, có tiền, có nghề nghiệp ổn định nhưng lại thích hình thức “hợp tác” kiểu như thế, xem nó như một giải pháp hợp lý khi chuyện lập gia đình có vẻ không còn quá hấp dẫn đối với họ nữa.

Anh Trần Đ., kỹ sư đang làm việc cho một công ty cổ phần hào hứng kể về chuyện của mình như một hiện tượng đột phá khi cho rằng, chuyện sống chung giữa hai người độc thân là hoàn toàn bình thường vì họ không hề phạm luật cũng như không hề “đánh cắp” tình cảm hoặc phá tan hạnh phúc của bất kỳ ai. Họ thoả thuận sống với nhau theo những quy tắc riêng và hoàn toàn thoải mái nếu cả hai thống nhất việc chấm dứt hay tiếp tục mối quan hệ.

Continue reading

SỐNG CHUNG TRƯỚC HÔN NHÂN: VUI ÍT, BUỒN NHIỀU

cohabitation1 copy KIM ANH

Theo kết quả điều tra từ đề tài khoa học “Hiện tượng chung sống trước hôn nhân của giới trẻ độc thân tại TP.HCM trong mối quan hệ với độ ổn định của gia đình trẻ” (Sở Khoa học công nghệ TP.HCM quản lý), có đến 45,2% đối tượng phỏng vấn thừa nhận cuộc sống chung của họ đang có nhiều nỗi lo và không loại trừ khả năng có thể chia tay (7,9%)…

Ngay từ khi mới tiến hành đề tài nhóm phỏng vấn đã rất khó khăn để tìm ra đối tượng ở địa bàn cư trú và thuyết phục họ tham gia cuộc phỏng vấn. Vì thế nhóm phỏng vấn đã tìm đến các… bệnh viện phụ sản, nơi có những văn phòng tư vấn cho các cô gái trẻ trước khi tiến hành các ca phẫu thuật nạo phá thai, để có thể tiếp cận với đối tượng.

Sự chia tay được dự báo

Một nam công nhân sinh năm 1980, đang sống chung với người yêu lớn hơn hai tuổi tại quận Gò Vấp (TP.HCM) cho biết: “Lúc đầu còn thấy vui, 2-3 tháng đầu còn đi chơi, sau đó thấy cuộc sống không thoải mái và nhàm chán. Càng sống với nhau lâu càng chán”.

Họ chán chường vì nhiều lẽ. “Không gian của tình yêu”, theo nghiên cứu, chủ yếu là những phòng trọ có diện tích khoảng 18m2, với mái tôn thấp, nóng bức về mùa hè, ẩm thấp về mùa mưa. Tất cả sinh hoạt: nấu ăn, nghỉ ngơi, giải trí đều gói gọn trong đó… Phương tiện sinh hoạt của các “gia đình trẻ” thường là một tivi cũ, nồi cơm điện và chiếc quạt bàn.

Continue reading

MỘT SỐ SUY NGHĨ VỀ THI HÀNH ÁN CẤP DƯỠNG NUÔI CON

LÊ LANH

Thi hành án dân sự về cấp dưỡng là một trong những loại việc khó thi hành, mất nhiều thời gian công sức và không đơn giản để kết thúc nhanh một vụ việc thi hành án. (Trừ trường hợp hai bên đương sự tự nguyện thoả thuận thi hành trực tiếp với nhau). Loại việc này, đòi hỏi chúng ta phải kiên trì, chịu khó và rèn luyện kỹ năng thuyết phục hai bên đương sự hoặc theo dõi thi hành dần hàng tháng, hàng quí…

Có những vụ việc phải thi hành mãi cho đến khi nghĩa vụ cấp dưỡng chấm dứt mới kết thúc được hồ sơ. Một chuỗi thời gian khá dài phải tính đến hàng năm để thuyết phục hai bên đương sự tự nguyện thi hành với nhau . Bởi vì, thi hành án dân sự về cấp dưỡng đa số là loại việc thi hành dần trong một số vụ án về “ Vi phạm… an toàn giao thông; hôn nhân và gia đình…” số tiền cấp dưỡng chỉ từ 100.000đ đến 300.000đ/ tháng/ một cháu. Nếu đối tượng phải thi hành án không tự nguyện thi hành và điều kiện thi hành án của đối tượng đó vẫn có đủ đi chăng nữa, thì cơ quan thi hành án đôi khi cũng không thể áp dụng biện pháp cưỡng chế để kê biên tài sản nhanh được. Bỡi lẽ số tiền đưa ra thi hành rất ít so với giá trị tài sản kê biên.

Continue reading

NGƯỜI CHUYỂN ĐỔI GIỚI TÍNH SẼ ĐƯỢC PHÉP KẾT HÔN?

THANH HẢI

Những trường hợp đã chuyển đổi có thể xem xét cho sửa hộ tịch. Nếu “hình thức” và “nội dung” không trùng nhau thì cho dù đã chuyển đổi cũng không được sửa hộ tịch và đương nhiên sẽ không được phép kết hôn.

Cách đây chưa lâu, những trường hợp đi chuyển đổi giới tính tại nước ngoài như ca sĩ Cát Tuyền, Cindy Thái Tài từng nhiều lần than thở về việc họ gặp rắc rối khi làm các giấy tờ, thủ tục liên quan đến giới tính sau khi chuyển đổi.

Nghị định số 88/2008/NĐ-CP ngày 5/8/2008 về xác định lại giới tính cho phép những người bị khiếm khuyết về giới tính được chuyển đổi giới tính, kèm theo đó họ sẽ được chuyển đổi hộ tịch và các giấy tờ tùy thân theo giới tính mới. Tuy nhiên, có phải mọi trường hợp lỗi đều được xác định lại giới tính? Sau khi chuyển đổi họ có đầy đủ các quyền dân sự theo giới tính mới không?

Sẽ được kết hôn

Theo ông Nguyễn Quốc Cường – Phó Vụ trưởng Vụ Pháp luật Hành chính tư pháp, Bộ Tư pháp, những người chuyển đổi giới tính phải là những người phiếm khuyết về bộ phận sinh dục, về gien (nhiễm sắc thể), mà có thể xác định được bằng phương pháp y học, chứ không phải theo sở thích, mong muốn cảm tính của cá nhân. Do đó, sau khi xác định lại giới tính bằng phương pháp y học đồng thời về pháp lý cũng cho phép họ đăng ký lại hộ tịch. Các quyền dân sự khác liên quan đến hộ tịch (như quyền kết hôn, nuôi con…) sẽ được thực hiện bình thường.

Continue reading