PHONG TỤC CƯỚI HỎI, HÔN NHÂN CỦA MỘT SỐ ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM

1. Tục cưới hỏi của người Thái – Sơn La

Những gì được coi là văn hoá truyền thống, nó đều có sự biến đổi theo thời gian và không gian. Qua sự biến đổi ấy nó đã tự gạn đục khơi trong để có giá trị văn hoá đích thực phù hợp với thời đại mà con người đang sống, làm ra nó, hưởng thụ nó và tôn vinh để nó trường tồn, bất diệt. Tục cưới hỏi của một số tộc người cũng vậy, không có một hương ước hay quy ước hay một văn bản nào quy định hay thay đổi một cách nhanh chóng được tục lệ cưới hỏi của họ vì nó đã in sâu thành nền nếp bao đời. Chỉ qua một quá trình đi lên của xã hội, những tục lệ không còn phù hợp đời sống văn hoá tinh thần mới. Tục cưới hỏi, lấy vợ của người Thái – Sơn La là một minh chứng.

Tuy niên mỗi dòng họ, mỗi vùng miền có đôi chỗ hoặc tên gọi khác nhau. Xưa kia con trai, con gái trưởng thành, nếu con trai muốn lấy vợ thì họ phải chăm lao động, đặc biệt là đan lát, sau là học thổi khèn bè, thổi sao nói được tình yêu với cô gái… Người con gái muốn có chồng, ngoài nết na phải học được thêu thùa khăn Piêu, dệt vải khuýt và luyện cái tai tinh tường để “nghe tình yêu qua khèn bè”; đâu là tiếng khèn bạn tình, đâu là tiếng khèn họ đang trèo cầu thang lên nhà, đâu là tiếng khèn gọi mình ra ngồi đầu sàn nói chuyện cùng họ đêm ttrăng; đâu là tiếng khèn tình không lành mạnh… Khi đôi nam nữ đã nhờ phần lớn là tiếng khèn, ánh mắt nói thay lời yêu thương, khi muốn lấy cô gái làm vợ, người con trai nhờ mẹ đẻ và một vài bà trong họ đến nhà cô gái làm một vài thủ tục gọi là Lòng Luông.

Lòng Luông: là mấy bà chưa mang lễ vật, chỉ đến nhà cô gái xin cho con trai mình được đi về (mà ngày nay gọi là xin đi lại) để tìm hiểu. Sau một thời gian, họ nhà trai tổ chức một đòn có lễ vật: gà, lợn, rượu, gạo… đến nhà cô gái, đoàn này do một ông mối (làm) dẫn đầu và giao tiếp gọi là pay đu, có dòng họ gộp hai giai đoạn này làm một gọi là Lòng luông đu châu.

Continue reading

GIÁ TRỊ NHÂN VĂN TRONG GIA ĐÌNH VIỆT NAM TRƯỚC THÁCH THỨC CỦA TOÀN CẦU HÓA

THS. HUỲNH THANH SINH – Trường Cán bộ TPHCM

Gia đình là một khái niệm mà các nhà xã hội học rất khó định nghĩa, tuy bề ngoài có vẻ đơn giản nhưng để tìm ra được khái niệm mang tính toàn diện cho gia đình là rất khó. Tuy nhiên ta có thể định nghĩa nó trong một hoàn cảnh cụ thể. Chẳng hạn ở những nước Châu Á xem gia đình là tế bào xã hội, thì ngược lại ở các nước Châu Âu gia đình chỉ được xem như là một nhóm xã hội, một đơn vị cơ sở của xã hội thuộc một trong năm thiết chế cơ bản là: Nhà nước, kinh tế, giáo dục, tôn giáo, gia đình.

Trong lịch sử, gia đình với quan hệ hôn nhân hình thành sau khi chế độ thị tộc tan rã do sự tác động của lực lượng sản xuất và các yếu tố xã hội khác. Từ đó đến nay, lịch sử xã hội loài người cả phương Đông lẫn phương Tây đã trải qua nhiều cuộc thăng trầm, sự chuyển đổi của một vương triều, sự chuyển đổi hoặc giao thoa giữa các nền văn minh. Nhưng gia đình vẫn tồn tại và liên tục phát triển, nó khẳng định được giá trị bất biến như là một nền tảng xã hội, cơ sở tiệm tiến của xã hội qua mọi thời đại. Điều này, giúp chúng ta cần tìm hiểu rõ hơn bản chất, chức năng của gia đình, nhằm phát huy giá trị của nó trong điều kiện hiện nay.

Khác với phương Tây, kết cấu gia đình Việt Nam là một thành phần rộng lớn bao gồm những người cùng huyết thống như cha mẹ, ông bà, thuộc hàng trên; con cái, cháu chắt thuộc hàng dưới; gia đình theo chế độ phụ hệ, người đàn ông đóng vai trò chủ đạo, có trách nhiệm chính trong việc gìn giữ trật tự, nề nếp gia phong. Có một khoảng thời gian dài, nó được coi là môi trường thu nhỏ nhằm vào mục đích giáo dục con cái từ lúc lọt lòng đến khi trưởng thành.

Continue reading

TỪ ĐẠO HIẾU TRUYỀN THỐNG, NGHĨ VỀ ĐẠO HIẾU NGÀY NAY

THS. NGUYỄN THỊ THỌ – Đại học Sư phạm Hà Nội

“Hiếu” được hình thành từ xa xưa, gắn liền với phong tục thờ cúng tổ tiên, về sau được Nho giáo phát triển và thể chế hoá thành chuẩn mực đạo đức. Về cơ bản, nội dung phạm trù “hiếu” mang một ý nghĩa tích cực, đó là bổn phận làm con phải có hiếu với cha mẹ. Trong việc thực hành đạo hiếu, người Việt Nam chịu nhiều ảnh hưởng của Nho giáo, song đạo hiếu ở Việt Nam vẫn có nét đặc sắc riêng, không hà khắc và cứng nhắc như trong quan niệm của Nho giáo. Đặc biệt, truyền thống “hiếu” của dân tộc được kế thừa và nâng cao trong tư tưởng và nhân cách Hồ Chí Minh. Ở Người, phạm trù“hiếu” được chuyển đổi mang tính cách mạng. Trong điều kiện hiện nay, tác giả cho rằng, chúng ta cần tiếp tục khẳng định vai trò của chữ “hiếu” trong gia đình cũng như ngoài xã hội; kế thừa, phát triển “hiếu” theo tinh thần Hồ Chí Minh, gắn với yêu cầu của xây dựng gia đình văn hoá mới.

Đã từ lâu, cha ông ta hết sức coi trọng việc giáo dục đạo lý làm người cho con cháu, mà trước hết là phải lấy chữ hiếu làm đầu:

“Làm trai nết đủ trăm đường,

Trước tiên điều hiếu đạo thường xưa nay”.

Bởi lẽ, một con người mà không có hiếu đối với ông bà, cha mẹ, không biết yêu thương, kính trọng những người sinh thành dưỡng dục mình, thì khi ra ngoài xã hội, con người ấy khó trở thành người có tình cảm, biết yêu thương những người xung quanh.

Trách nhiệm, nghĩa vụ đối với ông bà, cha mẹ được cô đúc trong khái niệm hiếu. Hiếu không những được xem là đứng đầu của đức hạnh, mà còn là cội nguồn để có được phúc thiện:

“Điều hiếu đứng vững,

Muôn điều thiện theo.

Phúc thiện đúng đạo,

Phúc lành được gieo”.

(Xuân đình gia huấn)

Continue reading

VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA TỰ DO VÀ TRÁCH NHIỆM TRONG HÔN NHÂN

GS. LÊ THI

Bài viết đề cập tới hai quan niệm về hôn nhân đang tồn tại phổ biến trong xã hội ta: quan niệm hôn nhân là sự liên kết giữa hai gia đình (nội, ngoại) và quan niệm coi hôn nhân là sự kiện có tính chất cá nhân của đôi nam nữ. Từ đó, bài viết bàn về mối quan hệ giữa tự do và trách nhiệm trong hôn nhân như là sự hoá giải hai quan niệm đối lập trên. Cụ thể, cha mẹ phải tôn trọng sự  lựa chọn của con cái trong việc kết hôn, không đem lợi ích gia đình đè bẹp lợi ích riêng của con cái trong hôn nhân. Đồng thời, con cái cần xem trọng ý kiến của cha mẹ trong việc hôn nhân của mình. Nghĩa là, từng cá nhân – cha, mẹ, con cái – bên cạnh yếu tố tình cảm, cần có trách nhiệm trong việc xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc.

Trong xu hướng của hôn nhân hiện đại, chúng ta ngày càng thấy nhiều đôi bạn trẻ nam nữ yêu nhau, lấy nhau theo sở thích cá nhân, theo tình yêu mà không tính đến sự đồng thuận của cha mẹ hai bên nội, ngoại. Đây là một sự tiến bộ so với những cuộc kết hôn bị cha mẹ áp đặt trước đây. Đồng thời, điều này cũng đặt ra nhiều thách thức đối với quá trình xây dựng hạnh phúc lâu dài của đôi vợ chồng trẻ.

Chúng ta đang chứng kiến nhiều vụ ly hôn mà chủ yếu ở lớp trẻ, tuổi từ 25 – 35, có khi chỉ lấy nhau độ 1 năm đ ã đưa nhau ra Toà xin ly hôn, với lý do chung chung là tính tình không hợp nhau. Lý do này chứa đựng bên trong nó rất nhiều nguyên cơ công khai và che dấu, đẩy cuộc hôn nhân đến chỗ khủng hoảng, tan rã và đưa nhau ra Toà.

Trong bài viết này, chúng tôi muốn đề cập tới hai quan niệm về hôn nhân: quan niệm coi hôn nhân là sự liên kết giữa hai gia đình (nội, ngoại) và quan niệm coi hôn nhân là sự kiện có tính chất cá nhân của đôi nam nữ dường như là hai quan niệm đối lập nhau hiện đang tồn tại phổ biến trong xã hội ta để từ đó, đưa ra giải pháp cho vấn đề này.

1. Trước hết, chúng ta phân tích quan niệm hôn nhân là sự liên kết mới giữa hai gia đình nội và ngoại, gắn với sự đồng ý của hai họ.

Đối với cha mẹ, hôn nhân của con cái là sự kiện quan trọng, đánh dấu bước phát triển mới trong sự kế tục dòng dõi của hai gia đình nội, ngoại. Từ đây, bức hoạ đồ gia phả dòng họ của mỗi bên đã nảy sinhmột nhánh mới, nhánh đó liên kết với một gia đình khác, dẫn tới sự ra đời của thế hệ thứ 3, so với thế hệ xuất phát là bố mẹ. Do đó, theo họ, hôn nhân của con cái, trước hết, cần được sự đồng ý của cha mẹ đôi bên nội, ngoại vì nó khởi đầu cho sự ra đời thế hệ kế tiếp của dòng họ; thế hệ này có tương lai hay không, có phát huy được truyền thống của gia đình gốc hay không v.v. cũng phụ thuộc một phần vào cuộc hôn nhân này.

Continue reading

Về mối quan hệ giữa tự do và TRÁCH NHIỆM TRONG HÔN NHÂN

GS. LÊ THI

Bài viết đề cập tới hai quan niệm về hôn nhân đang tồn tại phổ biến trong xã hội ta: quan niệm hôn nhân là sự liên kết giữa hai gia đình (nội, ngoại) và quan niệm coi hôn nhân là sự kiện có tính chất cá nhân của đôi nam nữ. Từ đó, bài viết bàn về mối quan hệ giữa tự do và trách nhiệm trong hôn nhân như là sự hoá giải hai quan niệm đối lập trên. Cụ thể, cha mẹ phải tôn trọng sự  lựa chọn của con cái trong việc kết hôn, không đem lợi ích gia đình đè bẹp lợi ích riêng của con cái trong hôn nhân. Đồng thời, con cái cần xem trọng ý kiến của cha mẹ trong việc hôn nhân của mình. Nghĩa là, từng cá nhân – cha, mẹ, con cái – bên cạnh yếu tố tình cảm, cần có trách nhiệm trong việc xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc.

Trong xu hướng của hôn nhân hiện đại, chúng ta ngày càng thấy nhiều đôi bạn trẻ nam nữ yêu nhau, lấy nhau theo sở thích cá nhân, theo tình yêu mà không tính đến sự đồng thuận của cha mẹ hai bên nội, ngoại. Đây là một sự tiến bộ so với những cuộc kết hôn bị cha mẹ áp đặt trước đây. Đồng thời, điều này cũng đặt ra nhiều thách thức đối với quá trình xây dựng hạnh phúc lâu dài của đôi vợ chồng trẻ.

Chúng ta đang chứng kiến nhiều vụ ly hôn mà chủ yếu ở lớp trẻ, tuổi từ 25 – 35, có khi chỉ lấy nhau độ 1 năm đ ã đưa nhau ra Toà xin ly hôn, với lý do chung chung là tính tình không hợp nhau. Lý do này chứa đựng bên trong nó rất nhiều nguyên cơ công khai và che dấu, đẩy cuộc hôn nhân đến chỗ khủng hoảng, tan rã và đưa nhau ra Toà.

Trong bài viết này, chúng tôi muốn đề cập tới hai quan niệm về hôn nhân: quan niệm coi hôn nhân là sự liên kết giữa hai gia đình (nội, ngoại) và quan niệm coi hôn nhân là sự kiện có tính chất cá nhân của đôi nam nữ dường như là hai quan niệm đối lập nhau hiện đang tồn tại phổ biến trong xã hội ta để từ đó, đưa ra giải pháp cho vấn đề này.

1. Trước hết, chúng ta phân tích quan niệm hôn nhân là sự liên kết mới giữa hai gia đình nội và ngoại, gắn với sự đồng ý của hai họ.

Đối với cha mẹ, hôn nhân của con cái là sự kiện quan trọng, đánh dấu bước phát triển mới trong sự kế tục dòng dõi của hai gia đình nội, ngoại. Từ đây, bức hoạ đồ gia phả dòng họ của mỗi bên đã nảy sinhmột nhánh mới, nhánh đó liên kết với một gia đình khác, dẫn tới sự ra đời của thế hệ thứ 3, so với thế hệ xuất phát là bố mẹ. Do đó, theo họ, hôn nhân của con cái, trước hết, cần được sự đồng ý của cha mẹ đôi bên nội, ngoại vì nó khởi đầu cho sự ra đời thế hệ kế tiếp của dòng họ; thế hệ này có tương lai hay không, có phát huy được truyền thống của gia đình gốc hay không v.v. cũng phụ thuộc một phần vào cuộc hôn nhân này.

Continue reading

GIA ĐÌNH VIỆT NAM HIỆN NAY: TRUYỀN THỐNG HAY HIỆN ĐẠI?

 TS. NGUYỄN THỊ THƯỜNG – Đại học Sư phạm Hà Nội

Gia đình là một tế bào của xã hội, là một nhóm xã hội cơ sở kiến tạo nên xã hội rộng lớn. Do đó, sự trường tồn của quốc gia, dân tộc phụ thuộc rất nhiều vào sự tồn tại và phát triển của mỗi gia đình. Gia đình phải là điểm xuất phát và trở về của mọi chính sách xã hội.

Gia đình là một môi trường quen thuộc với hầu hết mọi người. Đó là lĩnh vực mà ai cũng có thể tham gia với tư cách là người trong cuộc. Mặt khác, đó cũng là lĩnh vực tinh tế, phong phú, phức tạp, đầy mâu thuẫn và biến động.

Có thể nói gia đình là vấn đề của mọi dân tộc và thời đại. Đặc biệt trong vài năm trở lại đây, vấn đề gia đình nổi lên như một tiêu điểm trọng yếu được cả giới hàn lâm và giới chính trị quan tâm. ở châu á và Đông Nam á nói riêng, người ta nói nhiều đến gia đình, văn hóa gia đình như một giải pháp để ngăn trở sự xâm lăng của văn hóa phương Tây. Và không chỉ có thế. Các quốc gia châu á trong đó có Việt Nam đang trải nghiệm trong một cuộc chuyển mình vĩ đại: thực hiện công nghiệp hóa – đô thị hóa với quy mô và tốc độ ngày càng gia tăng. Đồng thời với quá trình này ở Việt Nam là sự chuyển đổi sang cơ chế kinh tế thị trường. Cố nhiên, những biến chuyển kinh tế – xã hội mạnh mẽ đó không thể không tác động sâu sắc đến thiết chế gia đình, một thiết chế lâu đời và bền vững song cũng hết sức nhạy cảm với mọi biến đổi xã hội.

Gia đình là một xã hội thu nhỏ, trong đó hiện diện đầy đủ các quan hệ xã hội như quan hệ kinh tế, quan hệ giáo dục, quan hệ văn hóa, quan hệ tổ chức, v.v… Những biến chuyển xã hội đã và đang dội vào gia đình trên mọi phương diện và đưa đến những hệ quả đa chiều. Thiết chế có tính bền vững này cũng đang vận động, đổi mới và thích ứng với nhu cầu của thời đại.

Continue reading

BẠO HÀNH GIA ĐÌNH NHÌN TỪ GÓC ĐỘ ĐẠO ĐỨC

THS. NGUYỄN THỊ THỌ – Đại học Sư phạm Hà Nội

Bài viết khẳng định gia đình là tế bào của xã hội, đồng thời chỉ ra một hiện tượng đang diễn ra khá phổ biến trong xã hội là nạn bạo hành gia đình. Từ góc độ đạo đức học, bài viết đã chỉ ra và phân tích một số nguyên nhân chủ yếu dẫn tới sự gia tăng của bạo hành gia đình. Qua đó, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm khắc phục bạo hành gia đình trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay.

Gia đình là tế bào của xã hội, là nơi con người sinh ra và lớn lên, là nơi thế hệ trẻ được chăm lo cả về thể chất, trí tuệ lẫn đạo đức, nhân cách để hội nhập vào cuộc sống cộng đồng và xã hội. “Gia đình là một tập hợp người cùng chung sống với nhau dựa trên quan hệ hôn nhân được chính thức thừa nhận bởi pháp luật hay luật tục và quan hệ huyết thống – đó là các quan hệ vợ – chồng, cha mẹ – con cái, anh chị em ruột”(1). Các thành viên trong gia đình có trách nhiệm đạo đức với nhau, có chung tài sản và cùng có trách nhiệm đối với thế hệ mai sau. Gia đình là một cộng đồng tự nhiên và sơ đẳng của mỗi con người. Trong gia đình, những đứa trẻ lớn lên, dần được hình thành và thấm sâu nhu cầu “thuộc về một cái gì đó lớn hơn và tốt hơn bản thân mình”. Cũng trong gia đình, lần đầu tiên, những đứa trẻ biết quý trọng tình nghĩa, biết kính trọng và yêu thương.

Từ lâu, gia đình đã trở thành một giá trị xã hội có tầm quan trọng bậc nhất của dân tộc Việt Nam. Sự bền vững của gia đình Việt Nam trong truyền thống được duy trì bằng sự hài hoà tình nghĩa; đó là sự độ lượng của người cha, lòng nhân từ của người mẹ, sự thảo hiền của con cái. Sức mạnh trường tồn của quốc gia, dân tộc phụ thuộc rất nhiều vào sự tồn tại và phát triển của gia đình. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, xã hội tốt thì gia đình càng tốt, gia đình tốt thì xã hội mới tốt. Hạt nhân của xã hội là gia đình. Chính vì muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội mà phải chú ý hạt nhân cho tốt”(2).

Continue reading

HẠNH PHÚC KHÔNG CẦN ĐÁM ĐÔNG

TRANG HẠ

Trước ngưỡng cửa ba mươi, có phụ nữ chọn chồng để được làm mẹ, có phụ nữ chọn làm mẹ ngoài ra không chọn gì khác. Cả hai đều dũng cảm như nhau. Thậm chí người ta vẫn nói làm mẹ một mình là những phụ nữ dũng cảm, mạnh mẽ. Tôi lại thấy những phụ nữ chọn chồng để được làm mẹ mới thật sự là dũng cảm. Chỉ vì muốn làm mẹ, phải rước cả một ông chồng vào đời mình.

Tôi vẫn bảo với những cô bạn đơn thân muốn tìm lời khuyên, rằng, hãy xem, tôi chỉ hơn bạn có mỗi một tờ giấy thôi, đó là tờ đăng ký kết hôn, nhưng tôi thua kém bạn tất cả: cơ hội phát triển trong sự nghiệp, quyền tự quyết, thời gian chăm sóc bản thân, sự tự chủ trong đời, sự độc lập về tinh thần, và thậm chí không có nhiều cơ hội được ngủ dang tay chân trên một chiếc giường lớn không vướng víu.

Sự thực là trong những năm sống một mình, tôi cũng vẫn luôn luôn thèm được ngủ dang tay chân trên một chiếc giường lớn không vướng víu (thay vì chiếc giường đơn phủ chăn đơn trên một chiếc gối đơn). Tuy nhiên sự độc lập của người phụ nữ rất rõ ràng, khi bạn kết hôn so với khi bạn độc thân.

Vì khi độc thân, bạn có quyền chọn bố cho con, bất cứ lúc nào. Tôi có gặp một trường hợp, sẵn sàng ra nước ngoài thụ tinh nhân tạo để đứa con tóc vàng mắt xanh, đẹp như tranh vẽ, như mơ ước. Hoặc như tôi, quay trở về Việt Nam vì quyết định đứa con của mình phải là người Việt Nam từ trong dòng máu, để nó biết yêu nước từ trong bụng mẹ bằng một bản năng của người Việt.

Khi bạn kết hôn, hãy thú thật đi, có bao nhiêu phần trăm người kết hôn vì muốn con mình sẽ có nhan sắc và tính tình như người đàn ông đang đeo nhẫn cưới cho mình? Hay bạn kết hôn vì lỡ có bầu, vì bố mẹ giục, vì yêu, vì đã yêu, vì cần một chỗ dựa, vì đã yêu nhau quá lâu, vì không còn sự lựa chọn nào tốt hơn, vì tiền, vì những lý do khác không sao giải thích nổi? Tôi có người bạn lấy chồng vì quá hâm mộ chồng, nhưng kết cuộc, chồng cô lại không hâm mộ cô được như cô mong, họ đã chia tay rồi, không con cái.

Continue reading

LÀM THỦ TỤC CHO TRẺ BỊ BỎ RƠI: NHIỀU QUI ĐỊNH CÒN HÌNH THỨC

BÌNH AN

Mặc dù Nghị định số 158/2005/NĐ-CP về đăng ký và quản lý hộ tịch được coi là một bước tiến mới trong việc đơn giản hóa thủ tục hành chính trong lĩnh vực hộ tịch nói chung tuy nhiên sau gần 04 năm thi hành, đã phát sinh nhiều vấn đề mới cần điều chỉnh.

Tìm cha mẹ đẻ: có được thông báo trên loa truyền thanh xã?

Một trong những thủ tục quan trọng khi phát hiện trẻ bị bỏ rơi theo Nghị định số 158/2005/NĐ-CP là người phát hiện ra trẻ phải thông báo cho cơ quan Công an, UBND cấp xã nơi trẻ bị bỏ rơi để lập biên bản xác định tình trạng bị bỏ rơi cho trẻ. Tuy nhiên, thực tế nhiều trường hợp đã tự ý đem trẻ về nuôi mà không thông báo cho cơ quan có thẩm quyền. Hậu quả là khi làm thủ tục đăng ký khai sinh hầu hết không thực hiện được vì không có chứng cứ xác định nguồn gốc của trẻ.

Liên quan đến xác định tình trạng bị bỏ rơi của trẻ em, theo Bộ Tư pháp, những trường hợp đã làm thủ tục thì lại có sai sót về kỹ thuật như thiếu thông tin về người phát hiện ra trẻ trong bản tường trình và xác nhận tình trạng trẻ em bị bỏ rơi, đặc điểm đồ vật khi phát hiện trẻ bị bỏ rơi, biên bản bàn giao không đúng quy định… trong khi đó, đây là những giấy tờ hết sứ c quan trọng trong hồ sơ cho nhận con nuôi sau này.

Cũng theo quy định, việc tìm cha mẹ đẻ cho trẻ bị bỏ rơi được thực hiện trên Đài phát thanh hoặc truyền hình nhưng không quy định cụ thể nên có nơi thông báo trên… loa truyền thanh của xã, thông báo vào lúc 5h sáng nên hạn chế cơ hội tiếp cận thông tin.

Mới đây, trong cuộc làm việc giữa Sở Tư pháp Hà Nội với đại diện Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, Phòng quản lý xuất nhập cảnh, PC14 và các Trung tâm bảo trợ xã hội, Trung tâm nuôi dưỡng người già và trẻ tàn tật trên địa bàn thành phố,  Sở  Tư pháp cũng đã thừa nhận một trong những lỗi mà các Trung tâm thường mắc phải là chưa thực hiện nghiêm các quy trình thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng về việc tìm cha mẹ đẻ (thông báo không đủ hoặc không đúng quy định)

Continue reading

Nâng cao trách nhiệm của gia đình và xã hội trong BẢO VỆ, CHĂM SÓC, GIÁO DỤC TRẺ EM

PGS.TS. CAO DUY HẠ –    Học viện Chính trị-Hành chính QG Hồ Chí Minh

Trẻ em là niềm hạnh phúc của gia đình, là tương lai của dân tộc. Bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em là trách nhiệm của Nhà nước, của toàn xã hội và của mọi gia đình. Khẩu hiệu “Trẻ em hôm nay là thế giới ngày mai” đã và đang trở thành phương châm hành động của nhiều quốc gia trên thế giới và của Việt Nam.

Việc quan tâm, chăm sóc, bồi dưỡng thế hệ trẻ ở Việt Nam được Đảng và Nhà nước ta chú ý từ rất sớm. Đã có nhiều chỉ thị, nghị quyết của Đảng đề cập tới vấn đề này, trong đó đều thống nhất khẳng định đây là trách nhiệm to lớn của Đảng, toàn dân, đồng thời thể hiện tính ưu việt của xã hội ta. Trên thực tế, từ khi đổi mới tới nay, công tác bảo vệ chăm sóc, giáo dục trẻ em đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng.

Tuy nhiên, hiện nay trong xã hội vẫn còn xảy ra nhiều hiện tượng đau lòng khi nạn bạo hành trẻ em diễn ra ở không ít gia đình, ở một số nơi thuê mướn việc làm, thậm chí ngay cả trong lớp học và cơ sở nuôi dạy trẻ. Một khảo sát vào tháng 3-2006 do Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em và tổ chức Plan tại Việt Nam thực hiện ở 5 địa điểm: Hà Nội, Bắc Giang, Phú Thọ, Thái Nguyên và Quảng Bình cho thấy có đến 58,3% số trẻ em nói rằng, người lớn dùng các phương pháp quát mắng, chửi, sỉ nhục, đánh tát, phạt úp mặt vào tường… để răn dạy khi các em mắc lỗi, thật là không văn hóa và không có tác dụng giáo dục trẻ thơ. Trong các năm 2006, 2007 và đầu năm 2008, các vụ bạo lực, xâm hại đối với trẻ em được phát hiện và phản ảnh trên các phương tiện thông tin đại chúng không ít, khiến cho xã hội không thể không quan tâm và lo ngại.

Continue reading

NÂNG CAO TRÁCH NHIỆM CỦA GIA ĐÌNH VÀ XÃ HỘI BẢO VỆ, CHĂM SÓC, GIÁO DỤC TRẺ EM

PGS.TS. CAO DUY HẠ -    Học viện Chính trị-Hành chính QG Hồ Chí Minh

Trẻ em là niềm hạnh phúc của gia đình, là tương lai của dân tộc. Bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em là trách nhiệm của Nhà nước, của toàn xã hội và của mọi gia đình. Khẩu hiệu “Trẻ em hôm nay là thế giới ngày mai” đã và đang trở thành phương châm hành động của nhiều quốc gia trên thế giới và của Việt Nam.

Việc quan tâm, chăm sóc, bồi dưỡng thế hệ trẻ ở Việt Nam được Đảng và Nhà nước ta chú ý từ rất sớm. Đã có nhiều chỉ thị, nghị quyết của Đảng đề cập tới vấn đề này, trong đó đều thống nhất khẳng định đây là trách nhiệm to lớn của Đảng, toàn dân, đồng thời thể hiện tính ưu việt của xã hội ta. Trên thực tế, từ khi đổi mới tới nay, công tác bảo vệ chăm sóc, giáo dục trẻ em đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng.

Tuy nhiên, hiện nay trong xã hội vẫn còn xảy ra nhiều hiện tượng đau lòng khi nạn bạo hành trẻ em diễn ra ở không ít gia đình, ở một số nơi thuê mướn việc làm, thậm chí ngay cả trong lớp học và cơ sở nuôi dạy trẻ. Một khảo sát vào tháng 3-2006 do Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em và tổ chức Plan tại Việt Nam thực hiện ở 5 địa điểm: Hà Nội, Bắc Giang, Phú Thọ, Thái Nguyên và Quảng Bình cho thấy có đến 58,3% số trẻ em nói rằng, người lớn dùng các phương pháp quát mắng, chửi, sỉ nhục, đánh tát, phạt úp mặt vào tường… để răn dạy khi các em mắc lỗi, thật là không văn hóa và không có tác dụng giáo dục trẻ thơ. Trong các năm 2006, 2007 và đầu năm 2008, các vụ bạo lực, xâm hại đối với trẻ em được phát hiện và phản ảnh trên các phương tiện thông tin đại chúng không ít, khiến cho xã hội không thể không quan tâm và lo ngại.

Continue reading

TỪ NGÀY 1/7/2009: ÁN PHÍ HÔN NHÂN TĂNG GẤP 4 LẦN

LS. HUỲNH MINH VŨ (Đoàn Luật sư TP.HCM)

Từ ngày 1/7/2009, Pháp lệnh số 10/2009/PL-UBTVQH12 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí tòa án có hiệu lực thi hành. Đáng lưu ý là theo quy định mới, lệ phí, án phí bình quân tăng gấp bốn lần so với quy định cũ.

Xin giới thiệu những quy định mới về án phí, lệ phí trong các vụ, việc về HNGĐ.

* Những trường hợp được miễn nộp toàn bộ án phí, lệ phí:

– Người khởi kiện yêu cầu cấp dưỡng, xin xác định cha, mẹ cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự.

– Cơ quan, tổ chức yêu cầu tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật.

* Những yêu cầu về HNGĐ (còn gọi là việc dân sự) thuộc diện phải nộp lệ phí, mức thu 200.000đ/việc bao gồm:

– Cá nhân yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật.

– Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn.

– Yêu cầu công nhận sự thỏa thuận về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

– Yêu cầu hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên hoặc quyền thăm nom con sau khi ly hôn.

– Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi …

Continue reading

MỐI QUAN HỆ CÁ NHÂN – GIA ĐÌNH TRONG BỐI CẢNH VIỆT NAM ĐI VÀO TOÀN CẦU HÓA

LÊ THI

Đi vào hội nhập và toàn cầu hóa, xã hội Việt Nam đang chịu những tác động tích cực và tiêu cực, cả về mặt kinh tế và văn hóa xã hội. Gia đình, tế bào cơ sở của xã hội, tất yếu có những biến động khi xã hội đang thay đổi, có những đổi mới trong quan hệ giữa các thành viên gia đình, giữa cá nhân và gia đình. Vậy cần giữ gìn, phát huy vai trò gia đình như thế nào trong điều kiện mới?

I. Sự phát triển của kinh tế thị trường, toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và cuộc sống của gia đình Việt Nam hiện nay.

Cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường, Việt Nam đang trong quá trình hội nhập quốc tế, ký kết hợp tác làm ăn với nhiều nước trên thế giới, với các nước ASEAN, các nước châu Á, EU, Mỹ, … Vì vậy, đang diễn ra nhiều sự thay đổi, nhiều tiến bộ trong hoạt động kinh tế của nhân dân ta. Vậy những thay đổi này ảnh hưởng đến cuộc sống của các gia đình như thế nào?

1/ Có sự giao lưu hợp tác về kinh tế rộng rãi giữa các gia đình ở thành phố và nông thôn, kể cả với nước ngoài. Thu thập của các gia đình tăng lên, tiêu dùng cũng tăng theo, không chỉ trong ăn uống mà nhiều nhu cầu giải trí, văn hóa của những gia đình có điều kiện cũng được thỏa mãn tốt hơn trước. Đối với con cái, việc đào tạo nghề nghiệp đa dạng hơn, kể cả du học ở nước ngoài.

Trong cơ chế thị trường với quy luật cạnh tranh khốc liệt, các gia đình phải tìm mọi cơ hội, điều kiện kinh doanh có lợi nhất, tốt nhất để kiếm được lợi nhuận tối đa; thậm chí, có một số trường hợp còn bất chấp cả luật pháp nhà nước và chà đạp lên đạo đức thông thường. Đồng thời, cạnh tranh cũng làm nảy sinh nhiều sáng kiến ở người lao động, nhà kinh doanh để đáp ứng yêu cầu sản xuất và thị trường tiêu thụ. Sự thay đổi về công việc, về nghề nghiệp của một bộ môn bộ phận lao động diễn ra liên tục, kịp thời tạo điều kiện cho họ và gia đình có thể sống và làm việc có hiệu quả nhất.

Continue reading

ĐẠO ĐỨC GIA ĐÌNH TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

NGUYỄN THỊ KHOA

Đạo đức gia đình là toàn bộ những quan niệm về giá trị và quy phạm về hành vi của con người trong vấn đề hôn nhân và gia đình. Mọi cử chỉ, hành vi, thái độ của mỗi người về hôn nhân và gia đình vừa thể hiện bản chất đạo đức cá nhân, vừa cho biết bản chất đạo đức của mối quan hệ trong gia đình. Sự hình thành đạo đức gia đình không chỉ dựa trên những quy định của pháp luật, của phong tục tập quán và truyền thống dân tộc, mà còn dựa trên niềm tin và dư luận xã hội.

Ở nước ta, từ xa xưa, "tam tòng tứ đức”, “chung thuỷ”, "trinh tiết" đã từng là quy định của đạo đức gia đình đối với người phụ nữ, hiếu đễ đã từng là quy định của đạo đức gia đình về quan hệ cha mẹ – con cái, anh chị em. Cùng với sự phát triển của đất nước, tự do kết hôn, hôn nhân một vợ một chồng, tình yêuchung thuỷ đối với cả hai vợ chồng hay mối quan hệ giúp đỡ lẫn nhau giữa các thành viên trong gia đình… cũng đã được coi là những quy định của đạo đức gia đình mới.

Một số biểu hiện lệch chuẩn của đạo đức gia đình hiện nay

Continue reading

QUYỀN CON NGƯỜI VỀ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH

NGUYỄN HỒNG HẢI

Lời dẫn

Từ thời cổ đại, hôn nhân và gia đình (sau đây gọi chung là gia đình) luôn đóng một vai trò quan trọng trong hình thành, nuôi dưỡng và phát triển nhân cách con người, là nơi hội tụ các giá trị đạo đức, phong tục, tập quán truyền thống và hiện đại. Bất kỳ một cá nhân nào với tư cách là chủ thể cơ bản của xã hội đều mang dấu ấn từ gia đình.

Gia đình hình thành, tồn tại và phát triển vì nó mang những chức năng tự nhiên và xã hội riêng biệt mà các thiết chế xã hội khác không có. Các chức năng của gia đình hình thành gắn liền với sự phát triển của loài người và được chính con người xã hội hóa chúng. Về cơ bản, gia đình có ba chức năng: sinh đẻ (tái sản xuất con người), giáo dục và kinh tế, các chức năng này là cơ sở để hình thành các quyền tự nhiên của con người về gia đình và được xã hội hóa thành các quyền cơ bản của công dân:

– Chức năng sinh đẻ hay tái sản xuất con người là chức năng quyết định trong việc đảm bảo duy trì, phát triển các thế hệ tương lai – một trong những yếu tố quyết định sự tồn vong của một dân tộc, một quốc gia và của loài người. Từ chức năng này, quyền được sinh con, quyền được thừa nhận là cha, mẹ, con, quyền nuôi con nuôi, quyền được hưởng các chế độ phúc lợi về thai sản… đã được hình thành và được công nhận và bảo vệ;

– Chức năng giáo dục là chức năng rất quan trọng của gia đình trong hình thành, phát triển nhân cách của các thế hệ trong gia đình, đặc biệt thế hệ trẻ. Ngoài ra, nó còn giúp nuôi dưỡng, kế thừa và phát huy các giá trị truyền thống trong gia đình và xã hội. Nhân cách, khả năng ứng xử và khả năng thích ứng của mỗi cá nhân đều chịu ảnh hưởng lớn từ giáo dục gia đình. Từ chức năng giáo dục đã xác lập các quyền được chăm sóc, giáo dục, đại diện và bảo vệ của các thành viên trong gia đình….; Continue reading

TỔNG HỢP VĂN BẢN PHÁP LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2000

Văn bản hướng dẫn

1.Nghị quyết 35/2000/QH10 ngày 09-06-2000 Về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình

2. Quyết định Về chính sách trợ giúp kinh phí cho gia đình, cá nhân nhận nuôi dưỡng trẻ em mồ côi và trẻ em bị bỏ rơi

3. Quyết định Về việc phê duyệt Chiến lược xây dựng Gia đình Việt Nam giai đoạn 2005 – 2010

4. Nghị định Về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình

5. Nghị định Quy định chi tiết về đăng ký kết hôn theo Nghị quyết số 352000QH10 của Quốc hội về việc thi hành Luật Hôn nhân và gia đình

6. Nghị định Quy định việc áp dụng Luật Hôn nhân và Gia đình đối với các dân tộc thiểu số

7. Nghị định Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

8. Nghị định Quy định chi tiết thi hành Luật Hôn nhân và gia đình

9. Nghị định Về tổ chức và hoạt động của Thanh tra Dân số, Gia đình và Trẻ em

10. Nghị định Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 682002NĐ-CP ngày 10072002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

11. Quyết định Ban hành Quy chế thực hiện Hiệp định hợp tác về nuôi con nuôi giữa nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hoà Pháp

12. Nghị định Về sinh con theo phương pháp khoa học

13. Nghị định Về đăng ký và quản lý hộ tịch

=================================================================

LUẬT BÌNH ĐẲNG GIỚI NĂM 2006

Văn bản hướng dẫn

1. Nghị định số 70/2008/NĐ-CP  ngày 4/6/2008 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bình đẳng giới

=================================================================

CÁC VĂN BẢN CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

1. Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao số 02/2000/NĐ-HĐTP ngày 23 tháng 12 năm 2000 hướng dẫn áp dụng một số qui định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000

2. Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP NGÀY 10/8/2004 Hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình

3. Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐTP NGÀY 16/4/2003 Hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết một số loại tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình

4. Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐTP NGÀY 16/4/2003 Hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết một số loại tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình

=================================================================

CÁC VĂN BẢN KHÁC

=================================================================

VĂN BẢN MỚI CẬP NHẬT

1. Nghị định số 88/2008/NĐ-CP ngày 5/8/2008 của Chính phủ về xác định lại giới tính

(SOURCE: CIVILLAWINFOR TỔNG HỢP)

KINH NGHIỆM BẢO VỆ TRẺ EM CỦA THỤY ĐIỂN

ĐẶNG NAM

Trong lĩnh vực bảo vệ trẻ em của Thuỵ Điển đã đạt được nhiều thành quả. Vấn đề này, nước ta và Thuỵ Điển đã hợp tác và mở ra triển vọng khả quan. Tháng 5/2004, Việt Nam và Thụy Điển đã kí hiệp định song phương về con nuôi. Trung tâm nhận con nuôi quốc tế Adotion Centre (AC) của Thuỵ Điển đã mở văn phòng đại diện Dự án tại thành phố Hồ Chí Minh, có cộng tác viên tại Hà Nội, và hợp tác với 10 tỉnh. Con nuôi Việt Nam đầu tiên đến Thụy Điển vào năm 1990, đến nay tại Thuỵ Điển đã có 1.200 trẻ em các nước được nhận làm con nuôi.

AC đang hợp tác với Việt Nam thông qua các dự án được triển khai 15 năm qua: a) Phòng ngừa trẻ em bị tách khỏi cha mẹ; b) Giáo dục trẻ em và thanh niên đang sống tại các Trung tâm (dự án 5 năm về dạy nghề cho 100 trẻ em tại Trung tâm Ba Vì); c) Cải thiện điều kiện sống tại các trung tâm nuôi trẻ tập trung (tập huấn cán bộ, hỗ trợ thức ăn, xây nhà, nâng cấp cơ sở vật chất, khám xét nghiệm HIV/AIDS, chăm sóc sức khoẻ).

AC phối hợp với Hội Liên hiệp Phụ nữ ở một số địa phương trong các hoạt động: Dạy nghề, giáo dục, làm kinh tế, đào tạo lãnh đạo phụ nữ. Đã có 38.000 phụ nữ được đào tạo trực tiếp và gián tiếp, 300.000 trẻ em được hưởng lợi, 15 trẻ em tìm được việc làm. Dưới đây xin giới thiệu một số điều luật, biện pháp và mô hình bảo vệ trẻ em của Thuỵ Điển.

Tư pháp người chưa thành niên

Trẻ dưới 12 tuổi gây lỗi, gây hại thì bố mẹ không phải bồi hoàn nếu đã đóng bảo hiểm. Nếu không có bảo hiểm, trẻ bị ghi lỗi và phải bồi hoàn khi trưởng thành. Trẻ dưới 15 tuổi không bị xét xử tại toà. Thuỵ Điển có các toà Hình sự, Dân sự  (2 toà có quyền ra bản án) và toà Hành chính (không ra bản án mà ra các quyết định). Không có thẩm phán chuyên trách từng vấn đề mà họ được luân chuyển về các toà sau thời gian nhất định. Không có toà án chuyên về trẻ em nhưng có các thẩm phán chuyên biệt về các vụ trẻ em. Với trẻ em dưới 12 tuổi, các hành vi phạm pháp chỉ coi là các hành vi xã hội và sử dụng biện pháp giáo dục nên cảnh sát không tham gia quá trình điều tra mà do cán bộ xã hội thực hiện. Họ tìm hiểu những vấn đề liên quan đến trẻ (gia đình, xã hội, nhà trường) và đưa ra kế hoạch giáo dục để điều chỉnh hành vi của đứa trẻ.

Có hai bộ luật xã hội cơ bản, chiểu theo 2 luật này không có các bản án mà chỉ ra các quyết định: a) Luật về hệ thống dịch vụ xã hội, áp dụng cho trẻ em, người già, người khuyết tật. Biện pháp áp dụng là các kế hoạch và các quyết định điều chỉnh liên quan đến nhiều đối tượng thi hành và nhiều biện pháp được áp dụng. Ví dụ, chăm sóc thay thế cho trẻ em, giám sát quá trình chăm sóc thay thế… b) Luật chăm sóc trẻ em và người trẻ tuổi.

Continue reading

XUẤT HIỆN NHIỀU HÌNH THÁI GIA ĐÌNH MỚI

LAN HƯƠNG

Cuộc điều tra toàn quốc về gia đình Việt Nam lần đầu tiên được công bố đã cho những kết quả bất ngờ. Đáng chú ý là đã có một tỷ lệ không nhỏ ông bố, bà mẹ không quan tâm đến các con, bạo lực gia đình vẫn chiếm tỷ lệ cao…

Mức độ bình đẳng giới ngày càng tăng

Đây là cuộc điều tra do Vụ Gia đình của Uỷ ban Dân số, gia đình và trẻ em trước đây, nay trực thuộc Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, phối hợp với Tổng cục thống kê, Viện nghiên cứu gia đình của Australia và Viện nghiên cứu gia đình và giới tiến hành từ năm 2006 với sự hỗ trợ của Unicef.

Cuộc điều tra đã phỏng vấn 9.300 hộ gia đình, gồm các đối tượng người lớn, trẻ vị thành niên và các bậc cao tuổi ở tất cả 64 tỉnh, thành. Kết quả chỉ ra rằng chủ hộ của các gia đình hiện đại ở Việt Nam giờ đây là người vợ, người chồng hay cả hai.

Điều đó cho thấy mức độ bình đẳng giới trong mỗi gia đình ngày càng tăng. Đại đa số những người trả lời phỏng vấn phản đối quan hệ tình dục ngoài hôn nhân. Đặc biệt nhóm người cao tuổi và vị thành niên phản đối nhiều nhất, chỉ có dưới 2% tán thành.

Nhưng song song với tín hiệu tốt lành đó thì tình trạng bạo lực gia đình vẫn là vấn đề nghiêm trọng, nó chiếm tỷ lệ trên 20% trong các gia đình.

Các hình thức bạo lực đó là: đánh, mắng chửi, nhục mạ và bị ép quan hệ tình dục ngoài ý muốn. Có 3,4% số nam giới đánh vợ trong khi có 0,6% phụ nữ đánh chồng. 15,1% người chồng chửi mắng vợ trong khi tỷ lệ vợ mắng chửi chồng là 8,5%.

Nạn nhân chủ yếu là người phụ nữ và con cái trong gia đình. Theo ý kiến của những người được phỏng vấn thì say rượu ở nam giới, các quyết định kinh doanh sai lầm, mâu thuẫn trong sinh hoạt, vấn đề tiền bạc, ngoại tình và cờ bạc là nguyên nhân của mâu thuẫn và xung đột.

Continue reading

BẠO LỰC GIA ĐÌNH – S0S

TIENPHONG- Qua diễn biến phiên tòa sơ thẩm vụ án bạo lực gia đình (BLGĐ) ở Hà Nam, có thể thấy Luật Phòng chống BLGĐ tuy có hiệu lực thi hành, song để nó thực sự đi vào cuộc sống không dễ. Ba luật sư của Đoàn luật sư TP Hà Nội bảo vệ miễn phí cho bị hại trong vụ án ở Hà Nam đều là tình nguyện viên của CSAGA (Trung tâm Nghiên cứu & Ứng dụng Khoa học về Giới – Gia đình – Phụ nữ & Vị thành niên, tổ chức phi chính phủ chuyên tư vấn, bảo vệ miễn phí cho các nạn nhân BLGĐ).

Để tìm hiểu tình trạng BLGĐ ở Việt Nam hiện nay, sau phiên tòa, PV Tiền Phong có cuộc trao đổi với các chuyên gia tư vấn của CSAGA, cũng như các luật sư nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực phòng chống BLGĐ.

Kể mãi không hết…

Trên các tỉnh thành trong toàn quốc, trung bình cứ ba ngày có một phụ nữ chết vì BLGĐ. Số vụ án ly hôn có nguyên nhân từ nạn BLGĐ chiếm 61 phần trăm tổng số án ly hôn hiện nay.
Chị Phạm sống tại một huyện miền núi phía tây Nghệ An (vì nhiều lý do, các nạn nhân BLGĐ trong bài viết này đều được đổi tên, các địa chỉ là có thực), lấy chồng 20 năm nay, có ba con.

Chồng chị cục cằn thô lỗ, thêm tật nghiện rượu. Những hôm anh ta nhậu say, chị Thúy khó thoát một trận đòn vô cớ. Ba lần chị Thúy đưa đơn ra tòa, rồi lại rút đơn. Bởi những khi tỉnh rượu, chồng chị tỏ ra ăn năn hối hận, cầu xin chị tha thứ, hứa sẽ sửa chữa.

Chị Phạm gọi điện đến trung tâm tư vấn, hỏi về việc có nên đưa đơn ra tòa lần thứ tư không. Nếu không, trung tâm có thể khuyên chị cách nào để ngăn chặn được những trận đòn của chồng mà chị vẫn đang phải chịu đựng…

Chị Nguyễn ở Cầu Giấy – Hà Nội, lấy chồng 16 năm nay, có ba con, chồng không nghiện rượu nhưng có nhóm máu “D”, từng quan hệ bất chính với cả… chị dâu mình. Anh ta còn cao hứng quay video clip. Khi biết vợ đã xem cái “clip” đó, anh ta tặng luôn chị Nguyễn một trận đòn thừa sống thiếu chết, dọa sẽ… giết nếu để lộ chuyện.

Continue reading