GIA ĐÌNH VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

image LÊ THẢO

"Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng cả đời người, là môi trường quan trọng trong giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách". Từ bao đời nay, gia đình Việt Nam luôn là chỗ dựa vững chắc, nơi nuôi dưỡng, ươm mầm và gắn kết những giá trị văn hóa tinh thần của dân tộc. Thế nhưng, trước những đổi thay nhanh chóng của thời đại, những biến chuyển của xã hội trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, gia đình Việt Nam có còn giữ được những nét đẹp truyền thống như xưa?

Gia đình Việt Nam truyền thống – nơi bảo tồn những giá trị văn hóa của dân tộc

Từ xưa đến nay, ở khắp nơi trên thế giới, quan niệm về gia đình hầu như luôn có điểm tương đồng. Gia đình đó là nơi tập hợp những người có cùng chung quan hệ huyết thống gắn bó với nhau. Trong xã hội Việt Nam truyền thống, gia đình là một đơn vị cơ sở rất quan trọng trong đời sống của mỗi con người từ khi sinh ra, trưởng thành cho đến lúc qua đời.

Khác với xã hội phương Tây, nơi mà gia đình kiểu mẫu bao giờ cũng chỉ duy nhất tồn tại một thế hệ chung sống với nhau, khi con cái đến tuổi trưởng thành thì việc ra ở riêng, tách khỏi cha, mẹ đã trở thành truyền thống, gia đình Việt Nam theo "chuẩn mực" truyền thống bao giờ cũng là gia đình"tam, tứ đại đồng đường" với nhiều thế hệ cùng tụ họp bên nhau. Đời sống kinh tế theo kiểu cùng làm, cùng hưởng, cùng sinh sống dưới một mái nhà.

Hình ảnh gia đình tập trung nhiều thế hệ như thế có thể nói là một dấu ấn riêng, tạo nên bản sắc đặc trưng cho tinh thần cố kết cộng đồng và lối sống trọng tình, trọng nghĩa của người Việt, có nguồn gốc từ truyền thống nông nghiệp trồng lúa nước. Nghề nông trồng lúa theo thời vụ rất cần có sự đoàn kết giúp đỡ nhau nên con người sống rất gắn bó, gia đình nào đông người thì càng tăng thêm sức lao động, hỗ trợ lẫn nhau trong công việc đồng áng để thu hoạch nhanh chóng. Có thể nói gia đình chính là nơi nảy sinh mọi giá trị tốt đẹp coi trọng truyền thống của người Việt: tinh thần yêu thương, gắn bó, giúp đỡ lẫn nhau trong cơn hoạn nạn hay những lúc khó khăn. Không chỉ có sự gắn bó mật thiết giữa mọi thành viên trong nhà, gia đình truyền thống của người Việt cũng giữ một mối quan hệ thân thiết với hàng xóm láng giềng để tương trợ lẫn nhau mỗi khi "tắt lửa tối đèn".

Continue reading

TẾT VÀ NHỮNG GIÁ TRỊ GIA ĐÌNH THỜI HỘI NHẬP

image TRẦN THỊ TRƯỜNG

Xuân đến Tết về không chỉ là ngày, là mùa đón khí mới mà còn là dịp con người tri ân tổ tiên, nguồn cội, biểu tỏ tình yêu thương với gia đình, người thân, bạn bè…

Tết thời hội nhập

Cứ nhìn dòng người ngược xuôi hối hả trong những ngày áp Tết đủ thấy người Việt lo và thích sắm Tết như thế nào. Ngày xưa, của cải vật chất chưa dồi đào, sắm Tết cơ bản để có thực phẩm dùng trong những ngày Tết, khoảng thời gian chợ không họp, mọi người nghỉ ngơi đi chơi. “Dửng dừng dưng bánh chưng ngày Tết” là câu để nói ngày Tết người ta không mấy ăn uống. Không mấy ăn uống nhưng vẫn sắm Tết. Hơn nữa sắm Tết không chỉ cho mình, gia đình mình mà còn cho người khác. Tết anh em, bè bạn, ân nhân, sắm quần áo mới, giày dép mới, đồ dùng mới cho con cái, cháu chắt…

Những phong tục Tết tốt đẹp như sắm Tết, xông nhà, chúc Tết, mừng tuổi… có vẻ như để chú trọng nuôi dưỡng tình cảm và các mối quan hệ giữa con người với con người nhất là quan hệ gia đình, dòng tộc. Nhờ giữ gìn phong tục người ta trở nên gần gũi, thân thiết hơn, các giá trị trở nên thiêng liêng hơn, gắn bó sâu sắc với nhau hơn và trở thành bản sắc văn hóa, dấu ấn tinh thần của mỗi cá thể và mỗi dân tộc.

Không ít người có công việc phái xa quê hương bản quán nhưng mỗi khi Tết đến dù bận đến mấy cũng thu xếp trở về là bởi cái nỗi nhớ những phong tục đó. Lại có những người Tết đến là dịp du xuân Thông thường, tùy năm tùy tuổi người ta chọn hướng xuất hành, chọn nơi thăm viếng, thưởng ngoạn, khám phá. Hội nhập bây giờ chuyện du xuân càng thêm tấp nập. Đi đề biết đó biết đây, biết mình giống ai, ai giống mình và khác nhau như thế nào để hiểu thêm phong tục vừng đất khác, dân tộc khác…

Continue reading

QUÁ TRÌNH XÃ HỘI HÓA TẠI GIA ĐÌNH VÀ TẦNG LỚP XÃ HỘI

image LÂM THỊ ÁNH QUYÊN – Đại học Mở Bán công TPHCM

Theo nguyên tắc giáo dục, mỗi đứa trẻ, khi bước vào nhà trường đều có một sự khởi đầu như nhau. Trong thực tế, sự khởi đầu của mỗi đứa trẻ hoàn toàn khác nhau. Sự khởi đầu đó phụ thuộc vào vị trí của cha mẹ chúng, vị trí đó nằm ở thang bậc nào trong hệ thống cơ cấu xã hội. Cơ cấu xã hội là một khái niệm xã hội học để chỉ rằng vào một thời điểm lịch sử nhất định trong một xã hội có sự phân chia dân cư vào những vị trí xã hội, vốn được xem là những yếu tố ảnh hưởng đến những cơ may trong đời sống.

Cơ may trong đời sống được phân bố không đồng đều theo những vị trí xã hội mà con người ta đảm nhận, góp phần phát triển cá nhân, thực hiện những khả năng, những mong muốn và những hy vọng. Và những đứa trẻ mà cha mẹ chúng nằm ở bậc thang dưới về thu nhập, quyền lực, giáo dục và uy thế sẽ bị cản trở trên con đường tiếp cận những nguồn tài nguyên của xã hội. Vì vậy mà các chính sách xã hội, chính sách về giáo dục được đưa ra nhằm để tạo một sự khởi đầu tốt đẹp cho mọi trẻ em trong xã hội. Ví dụ để “hướng đến một thế hệ công dân tự tin, thông minh” (tựa bài báo trong Sài Gòn Giải Phóng, 1/8/2005), chính phủ Thái Lan đã đề ra biện pháp tặng quà cho các bé sơ sinh. Theo đó, các bậc cha mẹ khi sinh con sẽ được tặng một bộ sách và đĩa CD bao gồm các bài hát ru, được các chuyên gia soạn thảo riêng với mục đích khuyến khích tư duy, vận động não bộ cho trẻ. Chính phủ cũng đang xem xét khả năng tặng sách miễn phí cho trẻ em.

Nhưng một sự khởi đầu tốt đẹp, lại phụ thuộc rất nhiều vào quá trình xã hội hóa tại gia đình. Nói đến xã hội hóa tại gia đình tức là nói đến:

– Hành vi kiểm soát của các bậc cha mẹ,

–  Mối quan hệ cảm xúc giữa cha mẹ và con,

–  Nhấn mạnh đến sự độc lập và thành tích,

– Loại hình truyền thông giữa cha mẹ và con cái.

Continue reading

VĂN HÓA GIA ĐÌNH VÀ XÂY DỰNG GIA ĐÌNH VĂN HÓA TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP

image THS. TRẦN THỊ TUYẾT MAI – Cục Văn hóa – Thông tin cơ sở, Bộ Văn hóa, thông tin và Du lịch

Trải qua nhiều thế hệ, gia đình Việt Nam được hình thành và phát triển với những chuẩn mực giá trị tốt đẹp góp phần xây dựng bản sắc văn hóa dân tộc. Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế tạo ra nhiều cơ hội và điều kiện để gia đình Việt Nam phát triển, đồng thời cũng đặt gia đình và công tác gia đình trước nhiều khó khăn, thách thức. Do đó, xây dựng văn hóa gia đình và xây dựng gia đình văn hóa là vấn đề quan trọng trong công tác xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở, đòi hỏi sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội.

1 – Vai trò của gia đình và văn hóa gia đình

Khi nói về vai trò của gia đình, cụ Phan Bội Châu đã khẳng định: Nước là một cái nhà lớn, nhà là một cái nước nhỏ. Trong bài nói chuyện tại Hội nghị thảo luận dự thảo Luật Hôn nhân – Gia đình (tháng 1-1959), Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Rất quan tâm đến gia đình là đúng và nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, xã hội tốt thì gia đình càng tốt, gia đình tốt thì xã hội mới tốt. Hạt nhân của xã hội là gia đình”(1). Nhiều thập kỷ qua, cơ cấu xã hội có sự biến đổi, nhưng tổ chức của gia đình không biến đổi nhiều. Gia đình tế bào của xã hội, do đó, văn hóa gia đình đóng vai trò quan trọng trong vấn đề giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống dân tộc.

Continue reading

VĂN HÓA GIA ĐÌNH và xây dựng gia đình văn hoá trong thời kỳ hội nhập

image THS. TRẦN THỊ TUYẾT MAI – Cục Văn hóa – Thông tin cơ sở, Bộ Văn hóa, thông tin và Du lịch

Trải qua nhiều thế hệ, gia đình Việt Nam được hình thành và phát triển với những chuẩn mực giá trị tốt đẹp góp phần xây dựng bản sắc văn hóa dân tộc. Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế tạo ra nhiều cơ hội và điều kiện để gia đình Việt Nam phát triển, đồng thời cũng đặt gia đình và công tác gia đình trước nhiều khó khăn, thách thức. Do đó, xây dựng văn hóa gia đình và xây dựng gia đình văn hóa là vấn đề quan trọng trong công tác xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở, đòi hỏi sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội.

1 – Vai trò của gia đình và văn hóa gia đình

Khi nói về vai trò của gia đình, cụ Phan Bội Châu đã khẳng định: Nước là một cái nhà lớn, nhà là một cái nước nhỏ. Trong bài nói chuyện tại Hội nghị thảo luận dự thảo Luật Hôn nhân – Gia đình (tháng 1-1959), Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Rất quan tâm đến gia đình là đúng và nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, xã hội tốt thì gia đình càng tốt, gia đình tốt thì xã hội mới tốt. Hạt nhân của xã hội là gia đình”(1). Nhiều thập kỷ qua, cơ cấu xã hội có sự biến đổi, nhưng tổ chức của gia đình không biến đổi nhiều. Gia đình tế bào của xã hội, do đó, văn hóa gia đình đóng vai trò quan trọng trong vấn đề giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống dân tộc.

Continue reading

HÔN NHÂN MÉO MÓ: CÓ HƠN KHÔNG

4GC_Wedding_Dove DANIEL MCGINN (Thu Linh Dịch từ tạp chí Newsweek)

Một kết quả nghiên cứu mới của trường Đại học Harvard và Yale cho rằng những người phụ nữ da trắng, tốt nghiệp đại học mà không lập gia đình khi họ ở độ tuổi 20 trở ra sẽ trở nên rất khó tính và tự bó buộc mình. Cũng theo nghiên cứu này, một phụ nữ 30 tuổi vẫn còn độc thân thì chỉ còn 20% cơ hội để lập gia đình. Đến khi 35, thì khả năng này hạ xuống chỉ còn 5%. Trong một dòng tin gây giật gân của một bài báo, tờ NEWSWEEK nêu lên rằng một người phụ nữ 40 tuổi độc thân có “khả năng bị khủng bố ám sát nhiều hơn” là khả năng lập gia đình.

Khi Laurie Aronson 29 tuổi, mỗi khi có ai đó vô tình hỏi lý do tại sao cô vẫn chưa lấy chồng thì cô luôn cảm thấy rất khó chịu. Cô nói: “Tôi đâu phải là một bà cô không chồng khó chịu chỉ biết ngồi ở nhà vào mỗi buổi tối thứ 6 mà khóc lóc thương thân đâu cơ chứ”. Tuy nhiên, đến khi bước qua tuổi 35, khi mối quan hệ này tiếp nối những mối quan hệ khác đều thất bại, không đi đến kết quả gì thì cô ấy bắt đầu thấy lo lắng thực sự. “Tôi cảm thấy mọi thứ xung quanh trở nên lạnh lẽo”, cô thổ lộ. Và rồi, quan hệ của cô với một người bạn thân của anh trai cô, người đàn ông đã ly hôn mà cô biết từ lâu dần dần phát triển thành một thứ tình cảm lãng mạn hơn. Aronson kết hôn với người đàn ông này khi cô 39 tuổi, trở thành bà Laurie Aronson Starr và là mẹ kế của 3 đứa con chồng. Sau 5 năm chữa trị bệnh hiếm muộn, cô đã mang bầu, sinh được một cậu con trai và cậu bé đã tròn 4 tuổi vào tháng 7 vừa qua. Starr bây giờ đã 49 tuổi và cô tâm sự: “Bố mẹ tôi đã từng cảm thấy rất lo lắng nhưng bây giờ thì mọi người đều thấy nhẹ nhõm rồi. Ước gì tôi có thể tìm được một người nào đó phù hợp với mình sớm hơn và sinh được nhiều con cái hơn. Nhưng giờ đây tôi thấy mình thế này là hạnh phúc lắm rồi”.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 81/2002/TANDTC NGÀY 10 THÁNG 6 NĂM 2002 VỀ VIỆC GIẢI ĐÁP CÁC VẤN ĐỀ NGHIỆP VỤ TRONG GIẢI QUYẾT HÌNH SỰ, DÂN SỰ, HÔN NHÂN – GIA ĐÌNH, TỐ TỤNG DÂN SỰ, HÀNH CHÍNH VÀ LAO ĐỘNG

Kính gửi: – Các Toà án nhân dân và Toà án quân sự các cấp
– Các đơn vị thuộc Toà án nhân dân tối cao

Trong thời gian chuẩn bị Hội nghị và tại Hội nghị triển khai công tác ngành Toà án năm 2002 và tập huấn nghiệp vụ (từ ngày 28 đến ngày 30-12-2001) cũng như trong thời gian vừa qua nhiều Toà án nhân dân địa phưng và Toà án quân sự các cấp đề nghị Toà án nhân dân tối cao giải đáp một số vấn đề nghiệp vụ. Sau đây là giải đáp của Toà án nhân dân tối cao về các vấn đề đó; cụ thể là:

(Trích phần dân sự, hôn nhân – gia đình, tố tụng dân sự, hành chính và lao động)

II. Về dân sự

1. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 627 Bộ luật dân sự được xác định như thế nào?

a. khoản 2 Điều 627 Bộ luật dân sự quy định về chủ thể phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra. Trước đây Toà án nhân dân tối cao tạm hướng dẫn là: “Nếu chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, hoặc giao cho người khác sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ, thì chủ sở hữu và người chiếm hữu hoặc người sử dụng phải chịu trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra” (Xem Cuốn giải đáp một số vấn đề về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính và tố tụng; Toà án nhân dân tối cao xuất bản năm 1999; trang 111). Nay Toà án nhân dân tối cao thống nhất hướng dẫn như sau:

Continue reading

THÔNG TƯ SỐ 01/2008/TT-BTP HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN MỘT SỐ QUI ĐỊNH CỦA NGHỊ ĐỊNH SỐ 158/2005/NĐ-CP CỦA CHÍNH PHỦ VỀ ĐĂNG KÝ HỘ TỊCH

Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch quy định khá chi tiết về thẩm quyền, trình tự, thủ tục đăng ký các sự kiện hộ tịch trên tinh thần không ban hành Thông tư hướng dẫn.

Tuy nhiên, do Nghị định số 158/2005/NĐ-CP thực hiện việc phân cấp mạnh mẽ cho Ủy ban nhân dân cấp huyện và Ủy ban nhân dân cấp xã trực tiếp đăng ký một số sự kiện hộ tịch (mà theo quy định của Nghị định số 83/1998/NĐ-CP ngày 10/10/1998 của Chính phủ về đăng ký hộ tịch là thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh), nên khi tiếp nhận nhiều công việc mới, các địa phương đã gặp không ít vướng mắc. Để hướng dẫn rõ hơn các quy định của Nghị định số 158/2005/NĐ-CP, ngày 02/6/2008 Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 01/2008/TT-BTP Hướng dẫn thực hiện một số quy định của Nghị định số 158/2005/NĐ-CP.

Continue reading

NGĂN CHẶN BẠO LỰC GIA ĐÌNH: LUẬT CẦN ĐI VÀO THỰC TẾ

HƯƠNG GIANG

Bạo lực gia đình (BLGĐ) và ngăn chặn BLGĐ một vấn đề xã hội mang tính toàn cầu và cũng là mối quan tâm lớn ở nước ta. Bên cạnh việc thay đổi nhận thức của cộng đồng về phòng chống BLGĐ, Việt Nam còn cần một hệ thống các qui định pháp luật phù hợp với thực tiễn để giải quyết hiệu quả vấn nạn này.

Xử lý nghiêm khắc hành vi BLGĐ

Theo số liệu thống kê của các cơ quan cảnh sát điều tra tại 51/64 tỉnh thành phố trực thuộc TƯ về tình hình tội phạm có liên quan đến BLGĐ đã thụ lý giải quyết trong giai đoạn 2001 – 2005 cho thấy, những năm gần đây, tình hình tội phạm BLGĐ diễn ra rất phức tạp, có chiều hướng gia tăng về số lượng và ngày càng nghiêm trọng hơn về tính chất, mức độ, chủ yếu là các hành vi giết người, cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ người khác, hiếp dâm trẻ em. Các nghiên cứu qui mô nhỏ của Viện Xã hội học cũng cho thấy, có khoảng từ 5-10% số phụ nữ có chồng đã từng bị bạo hành về thân thể (mặc dù con số thực tế có thể cao hơn).

Continue reading

PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA GIA ĐÌNH VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

LÊ QUÍ ĐỨC – VŨ THỊ HUỆ

Gia đình có vai trò to lớn mang tính đặc thù trong việc duy trì nòi giống và là môi trường nuôi dưỡng nhân cách của con người, không một thiết chế xã hội nào có thể thay thế được. Để hình thành nhân cách con người Việt Nam hôm nay, cùng với việc phát huy vai trò của xã hội, chúng ta cần phát huy vai trò của gia đình.

Gia đình – “hạt nhân của xã hội”

Gia đình sẽ còn tồn tại mãi mãi trong đời sống xã hội, trong các cộng đồng người, nên cần nâng cao nhận thức về vai trò của gia đình và giáo dục của gia đình đối với con người và xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Rất quan tâm đến gia đình là đúng và nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, xã hội tốt thì gia đình càng tốt, gia đình tốt thì xã hội mới tốt. Hạt nhân của xã hội là gia đình. Chính vì muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội mà phải chú ý đến hạt nhân cho tốt”[1]. Nếu xét từ chiều sâu tư tưởng, đạo đức, tinh thần thì gia đình là hạt nhân của xã hội. Gia đình bao chứa những quan hệ nhân bản, sâu nhất của con người, gắn với bản chất của con người – tính người. Continue reading

GIA ĐÌNH, DÒNG HỌ – NHỮNG GIÁ TRỊ CƠ BẢN CỦA VĂN HÓA LÀNG, XÃ VIỆT NAM

Mai Văn Hai

Những mâu thuẫn, xung đột gia đình, dòng họ xảy ra ở nhiều nơi dưới sự tác động của mặt trái nền kinh tế thị trường và quá trình đô thị hóa đặt ra câu hỏi: liệu gia đình, dòng họ có còn là những giá trị cơ bản trong đời sống làng, xã hay sẽ bị mai một dần, thậm chí tan rã?

1- Quan niệm về gia đình, dòng họ

Trong điều kiện kinh tế – xã hội hiện nay, các giá trị cơ bản của văn hóa làng, xã như gia đình, dòng họ đang giảm dần ý nghĩa đối với một bộ phận người dân. Nhiều quan niệm cho rằng, cuộc sống gia đình với sự lo toan cơm áo gạo tiền làm tiêu hao nhiều thời gian, sức lực; các chuẩn mực gia đình gò bó, cản trở tự do cá nhân, từ đó hạ thấp, thậm chí phủ định hoàn toàn vai trò của gia đình. Với dòng họ, tư tưởng “gia trưởng, ngôi thứ”, sự ganh đua, hiện tượng cục bộ, bè phái… cũng góp phần tạo ra những quan niệm tiêu cực, làm giảm bớt vai trò của dòng họ.

Tuy nhiên, gia đình, dòng họ trong quan niệm của đa số người dân vẫn có vai trò quan trọng. Điều này thống nhất ở các nhóm đối tượng khác nhau về giới, lứa tuổi, mức sống, nghề nghiệp… Nghiên cứu tại hai địa phương Tam Sơn và Đồng Kỵ (Bắc Ninh) cho thấy, trong tổng số 420 hộ gia đình được phỏng vấn, có 97 – 99,6% khẳng định hiện nay gia đình, dòng họ vẫn rất quan trọng.

Người dân đánh giá cao vai trò của gia đình hiện nay vì họ cho rằng, gia đình là nơi không chỉ đáp ứng nhu cầu tình cảm và tái sản sinh giống nòi mà còn là nơi tốt nhất cho việc di dưỡng tuổi già, sự phát triển của trẻ em… Trong tâm tưởng của người dân, dòng họ cũng có vai trò không kém. Gần 100% số người được hỏi cho rằng đến nay, các câu nói theo khẩu ngữ dân gian như: “một giọt máu đào hơn ao nước lã” hay “xảy cha còn chú, xảy mẹ bú dì” là “vẫn đúng”; số người phủ định chỉ có từ 0,5% đến 3,5%. Thậm chí, quan niệm của đa số người dân còn khẳng định gia đình, dòng họ hiện nay có vai trò lớn hơn trong quá khứ và ở tương lai vai trò đó vẫn sẽ vẫn tiếp tục được phát huy.

2 – Những hành vi thực tiễn sống động

– Gia đình

Từ góc nhìn văn hóa, những quan niệm trên rất quý báu. Tuy nhiên, trong điều kiện gia đình và dòng họ đang chịu nhiều biến động mạnh mẽ dưới tác động của nền kinh tế thị trường và quá trình đô thị hóa, không ít băn khoăn đặt ra: liệu sự đánh giá như trên có lạc quan quá hay không? Giải đáp nỗi băn khoăn này đòi hỏi không chỉ dừng lại ở việc xem xét quan niệm mà còn phải tìm hiểu về hành vi của người dân. Nói rộng ra là phát hiện cơ sở xã hội nào đã bảo đảm cho sự đánh giá của người dân là đúng với những gì họ nghĩ.

Nhiều công trình nghiên cứu gần đây đã chỉ ra, sau 20 năm đổi mới, gia đình ở Việt Nam đã có nhiều biến đổi. Hai địa phương Tam Sơn và Đồng Kỵ được nghiên cứu như đã nêu cũng không là ngoại lệ. Về mặt kinh tế, từ chỗ chỉ có chức năng tiêu thụ dưới thời hợp tác xã bao cấp, khi đổi mới, gia đình trở thành một đơn vị kinh tế có quyền tự chủ trong sản xuất và kinh doanh nên ngành nghề phát triển, mức sống cao hơn, điều kiện sống được cải thiện… Trong quan hệ gia đình, nếu trước đây những bất cập nổi bật là sự bất bình đẳng, sự thủ tiêu lợi ích cá nhân, cá tính, thì ngày nay – sau nhiều cuộc cải cách xã hội – quan hệ giữa vợ và chồng, bố mẹ và con cái có tính dân chủ hơn, vị thế người phụ nữ được nâng lên, quyền tự do của mỗi cá nhân được coi trọng.

Xét theo cơ cấu, ở mỗi gia đình, số con đã giảm xuống, việc sinh con trai để “nối dõi tông đường” không còn là nguyên tắc bất di bất dịch, tỷ lệ ly hôn ở hai địa phương này cũng chỉ chiếm chưa đến 1%. Từ góc độ văn hóa tinh thần, các hình thức hưởng thụ văn hóa mới như: xem truyền hình, nghe ra-đi-ô, đọc sách báo… đã chiếm tỷ lệáp đảo. Nếp sống mới khuyến khích việc đưa các cháu nhỏ tới lớp mẫu giáo để bố mẹ, ông bà có thêm thời gian lao động, nghỉ ngơi cũng được hầu hết các nhóm xã hội ủng hộ…

Rõ ràng, những biến đổi theo chiều hướng ngày càng no đủ, bình đẳng, dân chủ và văn minh như trên đang làm tăng thêm vai trò và củng cố vị trí vững chắc của gia đình.

Nhưng mặt khác, bên cạnh những yếu tố động, các biến đổi trong gia đình cũng có yếu tố tĩnh ít biến đổi hơn. Lối sống gia đình ở hai địa phương được xem xét vẫn bảo lưu nhiều nét của gia đình cổ truyền. Chẳng hạn, ở Đồng Kỵ, mặc dù là nơi có mức sống rất cao với nguồn thu từ các sản phẩm đồ gỗ thủ công mỹ nghệ của nhiều hộ mỗi năm hàng trăm triệu, người dân vẫn không xa rời với truyền thống nông nghiệp. Hầu hết các gia đình vẫn giữ đất canh tác, số hộ không còn đất chỉ chiếm 5,6%. Họ vẫn tự sản xuất – kinh doanh trên phần ruộng của mình, số cho thuê, cho mượn không đáng kể. Trong sinh hoạt hằng ngày, gần 100% các gia đình ở cả hai làng đều giữ thói quen ăn chung cho tất cả mọi người trong nhà. Giữa các thế hệ luôn có mối liên hệ chặt chẽ và ấm áp. Nếp sống cổ truyền trong đó bố mẹ ở với con trai trưởng vẫn được giữ…

Như vậy, không chỉ những yếu tố động mà cả những yếu tố tĩnh đều góp phần củng cố sự bền vững của gia đình, với tư cách là một giá trị trong hệ giá trị văn hóa làng.

– Dòng họ

Ở thời điểm chuyển giao giữa thời kỳ bao cấp sang giai đoạn đổi mới, với việc hợp tác xã nông nghiệp kiểu cũ bị giải thể, các hộ gia đình nông thôn phải tự chủ trong sản xuất kinh doanh trên phần ruộng được giao khoán lâu dài của mình. Trong điều kiện đó, để có thể tồn tại và phát triển, người nông dân đã quay trở về tìm chỗ dựa trong các mối quan hệ của họ hàng thân tộc nhằm khắc phục những khó khăn của buổi đầu tự lập như: công cụ, sức lao động, vốn liếng, kỹ thuật… Hầu hết các gia đình khi gặp khó khăn đã nhờ vả, nương tựa vào họ hàng nội ngoại, nhất là các mối quan hệ cận huyết. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay, công việc kinh doanh ở các địa phương như đã nêu vẫn có sự đan xen đậm nét của các quan hệ họ hàng, làng mạc, thể hiện rõ nét nhất ở việc thuê mướn lao động ưu tiên cho những người thuộc họ tộc thân thích và người làng. Những biểu hiện trên mặc dù không phải là cách giải quyết tối ưu song nó càng khẳng định vai trò của dòng họ trong điều kiện hiện nay.

Về mặt quản lý và quyền lực, người ta thường nói đến tệ kéo bè kéo cánh của dòng họ. Nhưng điều đó hiện nay không còn mang tính phổ biến và ảnh hưởng tiêu cực của nó không lớn. Ngay trước đây ở nông thôn, sự đan xen của nguyên lý tập hợp nhiều người khác nhau như lớp tuổi (giáp), địa vực (xóm, ngõ), sự tự nguyện (phe, phường, hội) và nhất là về kinh tế (giai cấp, tầng lớp) đã làm cho dòng họ không phải là một đơn vị thống nhất và duy nhất để có thể khuynh loát mọi điều. Ngày nay, với sự bổ sung của các nhân tố mới như chính quyền, đoàn thể, các quan hệ dòng họ càng không thể giữ vai trò quyết định trong đời sống chính trị – xã hội làng, xã. Việc “kéo bè kéo cánh” trong các dòng họ dẫn đến tình trạng mất đoàn kết xóm làng thực sự không phải trầm trọng và mang tính phổ biến như nhiều người vẫn lầm tưởng. Điều đó góp phần nâng cao nét đẹp hình ảnh dòng họ trong đời sống ở nông thôn hiện nay.

Về mặt văn hóa tinh thần, nhờ việc tạo ra niềm cộng cảm dựa trên huyết thống, dòng họ từ xưa đến nay vẫn là một chỗ dựa vững chắc đối với mỗi cá thể trong cộng đồng. Không chỉ dừng lại ở quan niệm, việc đề cao dòng họ về phương diện văn hóa tinh thần còn được thể hiện trong các hành vi cụ thể của mỗi người, như sự tham dự của họ vào các ngày giỗ tổ, trong việc sửa sang từ đường, xây cất mồ mả tổ tiên, cưới xin, ma chay, khuyến học, khuyến tài trong dòng họ. Sự tham gia nhiệt thành và tâm huyết của người dân vào các hoạt động trên khẳng định vai trò của dòng họ vẫn còn quan trọng trong đời sống cộng đồng dân cư làng, xã.

Vai trò của gia đình và dòng họ không chỉ được bảo lưu bền vững ở các làng, xã sống chủ yếu bằng nông nghiệp mà còn ở cả những nơi có nghề phụ phát triển, hòa nhập và chịu tác động sâu vào nền kinh tế thị trường với quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ. Đồng Kỵ là một làng sản xuất và kinh doanh đồ gỗ mỹ nghệ phát triển với lối sống của người dân đã có phần đô thị hóa, nhưng các giá trị cổ truyền làng, xã vẫn được gìn giữ và phát huy đậm nét. Đó là việc duy trì các bữa ăn chung hằng ngày, việc tổ chức các ngày lễ, tết trong năm, thăm nom cha mẹ, mối quan hệ chặt chẽ giữa ông bà, cha mẹ và con cái trong phạm vi gia đình, việc liên kết làm ăn kinh tế trong dòng họ, giỗ tổ họ… Đây là những nét đẹp và biểu hiện khẳng định sức sống bền vững của gia đình, dòng họ trong lối sống thôn làng của người Việt.

Vai trò của gia đình và dòng họ với những giá trị tốt đẹp và đặc trưng trong nếp sống không những không bị mai một mà còn thích ứng, biến đổi, tạo ra các giá trị mới và có khả năng trường tồn cùng với đời sống làng, xã Việt Nam.

SOURCE: TẠP CHÍ CỘNG SẢN SỐ 18 (138) NĂM 2007

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN LƯU Ý KHI ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH TẠI CHƯƠNG CÁC TỘI XÂM PHẠM CHẾ ĐỘ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH TRONG BLHS NĂM 1999

TRỊNH TIẾN VIỆT –  Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

I. Về MộT Số ĐIểM MớI SửA ĐổI, Bổ SUNG:

Trong công tác đấu tranh phòng và chống tội phạm nói chung, các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình nói riêng, cũng như bảo vệ, giữ gìn, phát huy truyền thống và những phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc, đồng thời bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các thành viên trong gia đình nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, dân chủ và hạnh phúc, Chương XV trong BLHS Việt Nam năm 1999 quy định về các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình đã có một số điểm mới sửa đổi, bổ sung so với BLHS năm 1985 cũng quy định về vấn đề này. Cụ thể như sau:

1. Điểm mới đầu tiên trong chương này là việc BLHS năm 1999 đã có sự điều chỉnh phạm vi bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình theo hướng thu hẹp lại – có nghĩa chương XV chỉ bao gồm các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình, còn các tội phạm đối với người chưa thành niên (đặc biệt là trẻ em) được chuyển sang các chương khác phù hợp hơn. Cụ thể, Tội bắt trộm, mua bán hoặc đánh tráo trẻ em được chuyển sang Chương XII – Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người (Điều 120); Tội dụ dỗ hoặc chứa chấp người chưa thành niên phạm pháp được chuyển sang chương XIX – Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng (Điều 252) để phù hợp với yêu cầu thực tiễn đấu tranh phòng và chống tội phạm, về khách thể bị xâm hại, về đường lối xử lý đối với các hành vi phạm tội, cũng như đảm bảo sự hợp lý về kỹ thuật lập pháp và tính logíc của BLHS năm 1999.

2. Thứ hai, trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn đấu tranh phòng và chống tội phạm nói chung, các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình nói riêng, Chương XV – BLHS năm 1999 cũng đã bổ sung thêm hai tội danh mới, đó là Tội đăng ký kết hôn trái pháp luật (Điều 149) và Tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng (Điều 152). Tội đăng ký kết hôn trái pháp luật được bổ sung vào BLHS năm 1999 với mục đích góp phần bảo đảm thực hiện nghiêm chỉnh Luật hôn nhân và gia đình, đồng thời đề cao trách nhiệm của những người làm công tác hộ tịch ở UBND xã, phường, thị trấn trong việc đăng ký kết hôn cho người xin đăng ký kết hôn cũng như xử lý những người vi phạm nghĩa vụ của mình. Tương tự như vậy, việc bổ sung Tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng vào BLHS năm 1999 cũng có vai trò quan trọng nhằm đề cao, giáo dục các thành viên trong gia đình Việt Nam về các chuẩn mực, giá trị đạo đức. Bởi lẽ, thời gian vừa qua cho thấy đạo đức xã hội ở một bộ phận không nhỏ trong cộng đồng xã hội đang bị xuống cấp, ảnh hưởng nghiêm trọng đến truyền thống đạo đức của gia đình và dân tộc Việt Nam. Mặt khác, việc bổ sung tội danh này còn phù hợp với Luật hôn nhân và gia đình nước ta năm 1986 (và năm 2000) cũng đã quy định về nghĩa vụ cấp dưỡng giữa các thành viên trong các gia đình1.

3. Ngoài việc bổ sung hai tội phạm mới, tại Chương XV – BLHS năm 1999 còn bổ sung, sửa đổi cấu thành một số tội phạm theo hướng hạn chế bớt khả năng xử lý hình sự đối với các loại tội này. Trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình – lĩnh vực riêng tư và đặc biệt, thì chủ yếu là áp dụng các biện pháp giáo dục, thuyết phục và xử lý hành chính để giải quyết. Chỉ xử lý bằng biện pháp hình sự trong những trường hợp thật cần thiết khi mà các biện pháp giáo dục, phòng ngừa, xử lý hành chính không có hiệu quả và khả năng ngăn chặn. Trong chương XV này, một số tội phạm được sửa đổi, bổ sung bao gồm bốn tội: Tội cưỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ (Điều 146); Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng (Điều 147); Tội tổ chức tảo hôn, tội tảo hôn (Điều 148) và Tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình (Điều 151). Cụ thể các tội phạm đó được sửa đổi, bổ sung như sau:

a. Về Tội cưỡng ép hôn nhân hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ (Điều 146) thì về cơ bản vẫn được giữ nguyên như BLHS năm 1985, chỉ bổ sung thêm yếu tố định tội đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm nhằm thu hẹp phạm vi xử lý về hình sự đối với tội phạm này. Điều này hoàn toàn phù hợp với thực tiễn đấu tranh phòng và chống các tội xâm phạm hôn nhân và gia đình đó là chỉ khi xử lý bằng các biện pháp giáo dục, thuyết phục và xử phạt hành chính không có tác dụng và hiệu quả, thì mới áp dụng biện pháp nghiêm khắc hơn – biện pháp hình sự.

b. Về Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng (Điều 147) thì được bổ sung, sửa đổi theo hướng bổ sung thêm chủ thể của tội phạm này và các yếu tố định tội. Cụ thể, theo quy định trong BLHS năm 1985 thì chủ thể là người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác thì mới phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này. Tuy nhiên, trong thực tế còn rất nhiều trường hợp người chưa có vợ, có chồng lại kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có vợ, có chồng. Đây cũng là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến nguyên tắc cơ bản của Luật hôn nhân và gia đình – nguyên tắc hôn nhân một vợ, một chồng 2, đồng thời nó còn phá hoại hạnh phúc gia đình của người khác mà vẫn chưa bị pháp luật nghiêm trị. Do vậy, xuất phát từ yêu cầu thực tiễn nói trên, Chương XV – BLHS năm 1999 quy định bổ sung thêm chủ thể của tội phạm là người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ. Ngoài ra, Điều luật cũng bổ sung thêm hai yếu tố định tội mới nhằm hạn chế khả năng xử lý tràn lan về hình sự đối với tội phạm này. Đó là chỉ xử lý về hình sự nếu hành vi nói trên gây hậu quả nghiêm trọng thì mặc dù là vi phạm lần đầu hoặc cũng bị xử lý về hình sự nếu người phạm tội đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn tiếp tục vi phạm.

c. Về Tội tổ chức tảo hôn, tội tảo hôn (Điều 148) thì về cơ bản vẫn giữ nguyên cấu thành tội phạm như trong BLHS năm 1985 nhưng có bổ sung thêm một yếu tố định tội là đã bị xử phạt hành chính mà còn vi phạm nhằm hạn chế phạm vi xử lý về hình sự đối với tội này. Tinh thần chung là giải quyết bằng các biện pháp mang tính giáo dục, phòng ngừa hoặc các biện pháp tác động xã hội là chính. Chỉ trong trường hợp người phạm tội không chịu sửa chữa mà vẫn cố tình tiếp tục vi phạm thì mới xử lý hình sự.

d. Về Tội ngược đãi nghiêm trọng hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình (Điều 151) có bổ sung thêm đối tượng bị hành hạ, ngược đãi và các yếu tố định tội. Bởi lẽ, trong xã hội thực tế cho thấy còn xảy ra nhiều trường hợp hành hạ, đối xử ngược đãi không chỉ giữa cha mẹ, vợ chồng, con cái, mà còn cả giữa những người thân thích khác trong gia đình như giữa cháu với ông bà, giữa cháu với cô, dì, chú, bác…, thậm chí có người còn ngược đãi, hành hạ, đối xử tệ bạc với chính người đã có công nuôi dưỡng mình. Đây là những hành vi vi phạm nghiêm trọng pháp luật, xâm phạm thô bạo đến đạo đức xã hội, thuần phong mỹ tục và đạo lý của gia đình truyền thống Việt Nam. Tuy nhiên, BLHS năm 1985 chỉ mới trừng trị hành vi của những người là cha mẹ, vợ chồng, con cái, còn hành vi của những người khác trong gia đình như đã nêu trên thì bị xử lý quy định tại Điều 111 BLHS năm 1985 trước đây về tội hành hạ người khác. Điều này chưa hợp lý vì cũng là một loại chủ thể phạm tội nhưng lại bị xử lý ở các chương, điều khác nhau về cùng một hành vi phạm tội. Vì vậy, BLHS năm 1999 đã có sửa đổi, bổ sung, cụ thể bổ sung thêm đối tượng bị ngược đãi, hành hạ là ông bà, cháu và người có công nuôi dưỡng người phạm tội; đồng thời bổ sung thêm các yếu tố định tội

gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

e. Về Tội loạn luân (Điều 150) vẫn giữ nguyên như trong BLHS năm 1985 do nó vẫn phù hợp với thực tiễn đấu tranh chống loại tội phạm này.

4. Về kỹ thuật lập pháp trong Chương này, khác với BLHS năm 1985, BLHS năm 1999 quy định hình phạt bổ sung ngay trong từng điều luật. Việc quy định như vậy đã tạo thuận lợi cho việc áp dụng hình phạt bổ sung đối với người phạm tội, tránh việc bỏ quên không áp dụng hoặc áp dụng không chính xác hình phạt bổ sung đối với người phạm tội.

II. MộT Số VấN Đề CầN LƯU Ý KHI ÁP DụNG CÁC QUY ĐịNH TạI CHƯƠNG CÁC TộI XÂM PHạM CHế Độ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH:

Để có sự thống nhất về nhận thức và áp dụng pháp luật trong công tác điều tra, truy tố và xét xử các hành vi phạm tội thuộc Chương XV – Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình trong BLHS năm 1999, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an và Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 25 tháng 09 năm 2001, hướng dẫn một số điểm trong Chương các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình. Nội dung của Thông tư đã hướng dẫn cụ thể một số điểm như sau:

1. Thứ nhất, về tình tiết “đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm” trong cấu thành tội phạm các Điều 146, 147, 148, 151 và 152 cần chú ý bị coi là “đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm” nếu trước đó người nào đã bị xử phạt hành chính về một trong những hành vi được liệt kê trong một điều luật nói trên, nhưng chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính mà lại thực hiện chính hành vi đó (ví dụ: trước đó A bị xử phạt hành chính về hành vi cưỡng ép kết hôn, chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị xử phạt hành chính mà lại thực hiện hành vi cưỡng ép kết hôn…) hoặc thực hiện một trong những hành vi được liệt kê trong điều luật tương ứng đó (ví dụ: trước đó A bị xử phạt hành chính về hành vi cưỡng ép kết hôn, chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị xử phạt hành chính mà lại thực hiện hành vi cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ…). Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình là một năm kể từ ngày vi phạm hành chính được thực hiện 3. Như vậy, nếu quá một năm, kể từ ngày thi hành xong quyết định xử phạt hoặc từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt mà không tái phạm thì được coi là chưa bị xử phạt hành chính.

2. Ngoài ra, trong Thông tư này cũng đã hướng dẫn cụ thể các quy định trong từng điều luật tại Chương này bằng việc giải thích các cụm từ, các biểu hiện của hành vi khách quan trong các cấu thành tội phạm, chủ thể của tội phạm, đối tượng bị xâm hại, điều kiện để một người có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm đó v.v… Tuy nhiên, đối với từng tội phạm cụ thể trong Chương này, chúng ta cần lưu ý một số vấn đề sau:

a. Về hành vi dùng “thủ đoạn khác” trong Tội cưỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ (Điều 146) cần được hiểu là buộc một bên hoặc cả hai bên đi xa nhằm chia rẽ họ, bắt cóc người không muốn lấy mình làm vợ hoặc làm chồng để buộc họ kết hôn trái ý muốn; một bên gia đình tiến hành dựng vợ, gả chồng cho người thân của mình với người khác trái ý muốn của người đó nhằm chia rẽ người thân đó với người mà họ tự nguyện kết hôn v.v…

b. Về hành vi “chung sống như vợ chồng” trong Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng (Điều 147) cần được hiểu là người đang có vợ, có chồng chung sống với người khác hoặc người chưa có vợ, có chồng mà lại chung sống với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ một cách công khai hoặc không công khai nhưng cùng sinh hoạt chung như một gia đình. Việc chung sống như vợ chồng thường được minh chứng bằng việc có con chung, được xã hội và hàng xóm chung quanh coi như vợ chồng, có tài sản chung đã được gia đình, cơ quan, đoàn thể giáo dục mà vẫn tiếp tục duy trì quan hệ đó… Ngoài ra, cũng cần lưu ý là trong trường hợp đã có quyết định của Tòa án tiêu hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó, thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 147 BLHS mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự thêm về tội không chấp hành án theo Điều 304 BLHS năm 1999.

c. Về Tội tảo hôn (Điều 148) thì điều kiện để một người có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi có đầy đủ các dấu hiệu sau đây:

– Người vi phạm cố ý duy trì quan hệ vợ chồng trái pháp luật với người chưa đến tuổi kết hôn.

– Đã có quyết định của Tòa án buộc chấm dứt quan hệ đó.

– Đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

d. Về Tội đăng ký kết hôn trái pháp luật (Điều 149) thì chủ thể là người có trách nhiệm trong việc đăng ký kết hôn, cụ thể là:

– Người đại diện chính quyền hoặc người đại diện của cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của nước ta ở nước ngoài có thẩm quyền ký giấy chứng nhận kết hôn;

– Cán bộ hộ tịch làm thủ tục đăng ký kết hôn ở UBND xã, phường, thị trấn hoặc cán bộ của Sở Tư pháp đối với trường hợp đăng ký kết hôn có nhân tố nước ngoài;

– Cán bộ làm thủ tục đăng ký kết hôn ở các cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài.

e. Để truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội loạn luân (Điều 150) cần phải xác định rõ hành vi giao cấu là thuận tình, không có dấu hiệu dùng vũ lực hoặc cưỡng ép và được thực hiện với người từ đủ 16 tuổi trở lên. Trong trường hợp tuy hành vi giao cấu giữa những người nói trên là thuận tình, nhưng nếu hành vi đó được thực hiện đối với trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, thì không truy cứu trách nhiệm hình sự về tội loạn luân mà phải truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giao cấu với trẻ em (điểm c khoản 2 Điều 115 BLHS năm 1999). Ngoài ra, trong trường hợp hành vi loạn luân kèm theo dấu hiệu dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác, thì tùy trường hợp người thực hiện hành vi đó phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội hiếp dâm (điểm e khoản 2 Điều 111 BLHS năm 1999) hoặc tội hiếp dâm trẻ em (điểm a khoản 2 Điều 112 BLHS năm 1999). Nếu hành vi loạn luân kèm theo dấu hiệu quan hệ lệ thuộc khiến bên kia phải miễn cưỡng cho giao cấu, thì tùy trường hợp người thực hiện hành vi đó phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cưỡng dâm (điểm d khoản 2 Điều 113 BLHS năm 1999) hoặc tội cưỡng dâm trẻ em (điểm a khoản 2 Điều 114 BLHS năm 1999). Trong mọi trường hợp hành vi loạn luân được thực hiện đối với trẻ em dưới 13 tuổi, thì người thực hiện hành vi loạn luân phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội hiếp dâm trẻ em (điểm a khoản 2 Điều 112 BLHS năm 1999).

f. Về Tội ngược đãi, hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình (Điều 151) thì một người có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi có hành vi khách quan thuộc một trong hai trường hợp:

– Trường hợp thứ nhất, người đó có hành vi ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình gây hậu quả nghiêm trọng tức là làm cho người bị ngược đãi, hành hạ luôn luôn bị giày vò về mặt tình cảm, bị tổn thất về danh dự, đau khổ về tinh thần hoặc bị thương tích, tổn hại đến sức khỏe. Hậu quả thương tích hay tổn hại đến sức khỏe là do lỗi vô ý; nếu dẫn đến chết người thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội vô ý làm chết người (Điều 98 BLHS năm 1999). Trong trường hợp gây thương tích, tổn hại sức khỏe hoặc chết người xảy ra do lỗi cố ý, thì tùy trường hợp cụ thể mà bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo các khoản tương ứng của Điều 104 về Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác (thương tích hoặc tổn hại sức khỏe từ 11% trở lên) hoặc về Tội giết người – Điều 93. Nếu làm cho nạn nhân bị uất ức mà tự sát, thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội bức tử theo Điều 100 BLHS năm 1999.

– Trường hợp thứ hai, người đó có hành vi ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con cháu, người có công nuôi dưỡng mình mặc dù không gây hậu quả nghiêm trọng nhưng đã bị cơ quan Nhà nước hoặc cấp có thẩm quyền xử phạt hành chính về hành vi này 4 mà còn vi phạm, tức là vẫn tiếp tục ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con cháu, người có công nuôi dưỡng mình.

Ngoài ra, cũng cần lưu ý là, chỉ những trường hợp hành hạ, ngược đãi các đối tượng nêu trên mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội danh này. Nếu hành vi hành hạ, ngược đãi được thực hiện đối với người không thuộc những đối tượng nêu trên, thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Hành hạ người khác” theo Điều 110 BLHS năm 1999. Trường hợp hành vi hành hạ, ngược đãi chỉ là thủ đoạn của tội “Cưỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ” thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Cưỡng ép hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ” theo quy định tại Điều 146 BLHS năm 1999.

g. Về chủ thể của Tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng (Điều 152) là người có nghĩa vụ, trách nhiệm cấp dưỡng cho người khác theo quy định của pháp luật (có thể là cha mẹ đối với con nhỏ, con đối với cha mẹ già yếu, giữa vợ và chồng sau khi ly hôn…) được quy định tại Chương VI Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, đồng thời người đó có khả năng về kinh tế (khả năng thực tế) để thực hiện công việc cấp dưỡng. Trên thực tế, phải chứng minh được rằng người được yêu cầu có đủ điều kiện thực tế để thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng (dựa vào căn cứ nào đó như: tài sản hay mức thu nhập bình quân hàng tháng) mà họ cố ý từ chối hoặc trốn tránh thì mới phạm tội. Trong trường hợp mặc dù có yêu cầu cấp dưỡng và thực tế do không được cấp dưỡng nên đã xảy ra hậu quả nghiêm trọng nhưng lại cũng chứng minh được rằng bản thân người được yêu cầu hoàn toàn không có khả năng thực hiện được nghĩa vụ này (ví dụ bản thân họ cũng không kiếm ra tiền để đủ nuôi sống mình) thì họ cũng không phạm tội v.v…

Mặt khác, cần phân biệt tội phạm này với Tội không chấp hành án (Điều 304). Theo đó, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử về tội phạm này cần lưu ý nếu đã có bản án, quyết định của Tòa án buộc người có nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ của mình mà người đó vẫn cố tình không chấp hành, mặc dù đã bị áp dụng biện pháp cưỡng chế cần thiết, thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 304 BLHS năm 1999 về Tội không chấp hành án.

III. MộT Số KếT LUậN VÀ Đề XUấT NHằM HOÀN THIệN CHƯƠNG CÁC TộI XÂM PHạM CHế Độ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH TRONG BLHS NĂM 1999:

1. Như vậy, các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình trong BLHS năm 1999 đã và đang góp phần không nhỏ trong việc bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình mới, dân chủ, bình đẳng, tiến bộ, đồng thời xây dựng các chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử của các thành viên trong gia đình, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên trong gia đình, xử lý kịp thời, công minh các hành vi vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình.

2. Một số sửa đổi, bổ sung tại Chương XV – Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình trong BLHS năm 1999 đã đánh dấu sự hoàn thiện của pháp luật trong việc bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình mới, tiến bộ, dân chủ và bình đẳng trong giai đoạn hiện nay. Tuy nhiên, một khi trong xã hội những phong tục lạc hậu chưa được xóa bỏ triệt để, những luồng tư tưởng ngoại nhập vẫn tràn lan, sự suy đồi, xuống cấp đạo đức của một bộ phận trong xã hội, thì các vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình vẫn còn tiếp tục xảy ra. Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình thuộc nhóm tội phạm mà tính nguy hiểm cho xã hội không cao nhưng dưới góc độ đạo đức xã hội thì chúng lại có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống hôn nhân và gia đình. Cụ thể trong nhiều trường hợp việc xử lý bằng các chế tài pháp lý khác chưa đủ sức ngăn chặn và phòng ngừa nên trong những trường hợp mà người phạm tội gây ra hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử lý hành chính, xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm thì cần thiết phải xử lý bằng biện pháp hình sự. Chính vì thế, để phòng chống, ngăn chặn và xử lý kịp thời đối với loại tội phạm này đạt hiệu quả cần tiến hành đồng bộ với nhiều biện pháp hành chính, dân sự và trong một số trường hợp cần thiết phải áp dụng pháp luật hình sự. Mặt khác, việc tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật nói chung, pháp luật về hôn nhân và gia đình nói riêng cần được triển khai rộng khắp, liên tục, đồng bộ và trên tất cả mọi vùng, mọi miền của đất nước.

3. Bên cạnh đó, để áp dụng đúng đắn và thống nhất các quy định tại Chương XV “Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình” của BLHS Việt Nam năm 1999, Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã ban hành Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-BTP- BCA-TANDTC-VKSNDTC hướng dẫn áp dụng các quy định cụ thể từng điều luật tại Chương này. Ngoài ra, Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định số 87/2001/NĐ-CP ngày 21-11-2001 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình nhằm mục đích giáo dục cá nhân vi phạm nhận thức được sai phạm, tự nguyện sửa chữa, thực hiện nghĩa vụ mà pháp luật quy định hoặc chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật, đồng thời răn đe và phòng ngừa chung. Như vậy, cùng với việc hoàn thiện Chương XV – Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình trong BLHS năm 1999, văn bản hướng dẫn và văn bản xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực này đã hình thành một hệ thống văn bản hoàn thiện giúp cho Tòa án và các cơ quan bảo vệ pháp luật có thể áp dụng đồng bộ, thống nhất trong thực tiễn.

4. Qua nghiên cứu Chương các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình trong BLHS năm 1999 hiện hành, chúng tôi có một số kiến nghị cần bổ sung thêm các đối tượng bị ngược đãi, hành hạ là anh, chị, em của người phạm tội vào tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con cháu, người có công nuôi dưỡng (Điều 151). Bởi lẽ, cả BLHS năm 1985 và BLHS năm 1999 mới chỉ trừng trị hành vi của những người là cha mẹ, vợ chồng, con cái, ông bà, cháu và người có công nuôi dưỡng người phạm tội, còn đối với những người khác trong gia đình thì bị xử lý theo quy định tại Điều 110 BLHS năm 1999 (Điều 111 BLHS năm 1985 trước đây) về tội hành hạ người khác. Đây là điều chưa hợp lý vì cùng một loại chủ thể phạm tội, có cùng hình thức thực hiện hành vi phạm tội và cùng xâm hại đến một loại đối tượng có mối quan hệ hôn nhân và gia đình thì cần phải bị xử lý như nhau tại cùng một Điều luật với cùng một tội danh, không nên xử lý một hành vi theo các Chương, Điều khác nhau. Mặt khác, Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 và Bộ luật dân sự Việt Nam năm 1995 cũng đã quy định nghĩa vụ và quyền của anh, chị, em trong trường hợp không còn cha mẹ không có điều kiện trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con

5, cũng như quy định về người giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên mà không còn cha mẹ, không xác định được cha mẹ hoặc cả cha lẫn mẹ đều bị mất năng lực hành vi dân sự, hạn chế năng lực hành vi dân sự và hàng thừa kế thứ hai theo pháp luật trong đó có đối tượng là anh ruột, chị ruột và em ruột của người chết

6. Như vậy, mối quan hệ giữa anh chị em ruột là mối quan hệ thân thiết, gần gũi và gắn bó trong gia đình. Việc vi phạm nghĩa vụ đạo lý này nếu gây hậu quả nghiêm trọng hoặc không gây ra hậu quả nghiêm trọng nhưng đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì theo chúng tôi cần thiết phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo cùng một tội danh.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Xem cụ thể hơn: Chương VI Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 (Điều 50 đến Điều 62).

2 Xem: Điều 2 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000.

3 Xem: Điều 3 Nghị định số 87/2001/NĐ-CP ngày 21-11-2001 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình.

4 Xem: Điều 11 Nghị định số 87/2001/NĐ-CP ngày 21-11-2001 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình.

5 Xem cụ thể hơn: Điều 48 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000.

6 Xem: Khoản 1 Điều 70 và điểm a khoản 1 Điều 679 Bộ luật dân sự năm 1995.

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ 1/2003

GIA ĐÌNH VIỆT NAM – BIẾN ĐỔI VÀ TRIỂN VỌNG

NGUYỄN LINH KHIẾU

Những biến đổi của gia đình Việt Nam thời gian qua đang tạo ra những băn khoăn, lo lắng cho không ít người về sự tác động của toàn cầu hóa đối với gia đình và văn hóa gia đình. Tuy nhiên, các nghiên cứu về gia đình cho thấy, mặc dù có những vấn đề cần đặc biệt quan tâm và sớm có giải pháp điều chỉnh, nhưng những biến đổi của gia đình Việt Nam hiện nay vẫn trong khung cảnh tôn vinh và làm mới những giá trị văn hóa truyền thống dân tộc, tiếp nhận một cách chủ động những giá trị văn hóa của gia đình hiện đại.

Vào những năm đầu đổi mới, “mở cửa”, với sự tác động mạnh mẽ của cơ chế thị trường và sự du nhập ồ ạt lối sống, phương thức sinh hoạt của xã hội phương Tây vào nước ta, trên các phương tiện thông tin đại chúng và diễn đàn khoa học, không ít người đã lên tiếng báo động về nguy cơ “khủng hoảng” của gia đình Việt Nam. Sự lo ngại ở thời điểm ấy không phải không có cơ sở. Tuy nhiên, cho đến nay, sau 20 năm đổi mới, gia đình Việt Nam không những không bị khủng hoảng mà ngày càng được củng cố và phát triển. Đó là một thành tựu quan trọng của công cuộc đổi mới do Đảng ta lãnh đạo.

Vào thời điểm hiện nay, con người Việt Nam vẫn coi hôn nhân là sự kiện trọng đại, thiêng liêng và gia đình là phương thức sinh sống quan trọng nhất của hầu như tất cả mọi người. Gia đình là một thiết chế xã hội. Nó là sản phẩm của lịch sử. Vì thế, gia đình bị quy định bởi điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và tôn giáo… của một xã hội nhất định. Qua gia đình, chân dung của xã hội hiện ra một cách sinh động và toàn diện cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học, tư tưởng, tôn giáo, lối sống, phong tục, tập quán và tín ngưỡng… Gia đình là một nhóm xã hội đặc biệt được hình thành một cách tự nhiên bởi quan hệ hôn nhân và huyết thống, mọi thành viên cùng chung sống và có chung ngân sách.

Mặc dù chịu tác động nhiều chiều của cơ chế thị trường và toàn cầu hóa, nhưng hiện tại, gia đình Việt Nam vẫn là một giá trị bền vững và có sức sống mạnh mẽ. Nó vẫn là nền tảng, là tế bào của xã hội. Với tư cách là đơn vị kinh tế, đơn vị tiêu dùng của xã hội, một mặt, gia đình trực tiếp tham gia thúc đẩy sự phát triển của các quá trình sản xuất, phân phối, lưu thông của đời sống kinh tế; mặt khác, là nơi nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, nương tựa của mỗi con người trong suốt cuộc đời. Gia đình cũng là nơi lưu giữ, truyền thụ, chuyển giao và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống quý báu của dân tộc từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Gia đình Việt Nam đang trong bước chuyển đổi từ truyền thống sang hiện đại trên nhiều phương diện và xu hướng khác nhau, cả tích cực và tiêu cực. Đó là sự biến đổi mang tính toàn diện cả về cơ cấu, các quan hệ, các chức năng và vai trò của người phụ nữ trong gia đình.

Sự biến đổi của gia đình Việt Nam hiện nay, trước hết, được thể hiện trong biến đổi cơ cấu gia đình. Loại hình gia đình rất phong phú, nhưng gia đình hạt nhân – loại hình gia đình tiên tiến, phù hợp với xã hội hiện đại – mang tính phổ biến. Quy mô của gia đình rất đa dạng, nhưng số gia đình hai thế hệ chiếm tỷ lệ cao nhất với số người trong gia đình trung bình là trên/dưới 4 người. Trong các mối quan hệ gia đình, quan hệ hôn nhân về cơ bản do tình yêu của đôi nam – nữ quyết định. Hôn nhân được sự đồng ý của cha mẹ, sự công nhận của pháp luật và được tổ chức cưới theo nghi thức đời sống mới. Tuổi kết hôn của cả nam và nữ đều có xu hướng tăng cao và sau khi kết hôn, đôi vợ chồng thường có nơi ở riêng và số con của mỗi cặp vợ chồng đa số chỉ là trên/dưới 2 con. Mặc dù trong gia đình người đàn ông vẫn thường được đề cao và cha mẹ vẫn có nhiều quyền uy với con cái nhưng nhìn chung, các mối quan hệ trong gia đình hiện nay đã mang tính chất tự do, dân chủ và bình đẳng.

Gia đình Việt Nam hiện nay, về cơ bản, vẫn là mô hình gia đình truyền thống đa chức năng. Các chức năng cơ bản của gia đình như: chức năng kinh tế; chức năng tái sản xuất con người và sức lao động; chức năng giáo dục – xã hội hóa; chức năng tâm – sinh lý, tình cảm… được phục hồi, có điều kiện thực hiện tốt hơn và có vai trò đặc biệt quan trọng không chỉ đối với từng thành viên gia đình mà còn tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của đời sống kinh tế – xã hội đất nước. Chức năng của gia đình được đề cao cũng có nghĩa gia đình đang có vai trò và vị thế quan trọng trong đời sống kinh tế – xã hội của đất nước trong giai đoạn hiện nay.

Bình đẳng giới trong gia đình là một nét mới trong biến đổi của gia đình Việt Nam và đã thu hút sự quan tâm, đồng tình thực hiện của cả xã hội. Đó là người phụ nữ ngày càng có vai trò quan trọng trong sản xuất, tái sản xuất, tiếp cận các nguồn lực phát triển, các quyết định, các sinh hoạt cộng đồng và thụ hưởng các lợi ích, phúc lợi gia đình; đồng thời, các thành viên gia đình và các dịch vụ xã hội cũng từng bước chia sẻ gánh nặng công việc nội trợ gia đình đối với người phụ nữ, góp phần thiết thực tạo điều kiện và cơ hội giúp phụ nữ phát huy mọi tiềm năng của mình trong hội nhập và phát triển.

Trong bối cảnh đổi mới và toàn cầu hóa hiện nay, gia đình Việt Nam đã biến đổi một cách toàn diện và ngày càng trở thành một thực thể hoàn thiện – năng động phù hợp với những điều kiện kinh tế – xã hội có nhiều biến động. Sự biến đổi ấy chính là một quá trình liên tục bảo tồn, truyền thụ, phát huy những giá trị của gia đình truyền thống; đồng thời, tiếp thu có chọn lọc và cải biến những giá trị tiên tiến, những tinh hóa của gia đình hiện đại. Có thể nói, gia đình Việt Nam hiện nay chính là sản phẩm của sự hiện đại hóa các giá trị cao quý của gia đình Việt Nam truyền thống và truyền thống hóa những giá trị, tinh hoa gia đình của các xã hội hiện đại.

Những giá trị truyền thống quý báu của gia đình Việt Nam truyền thống vẫn được bảo tồn và phát huy như: tình yêu lứa đôi trong sáng; lòng chung thủy, tình nghĩa vợ chồng; trách nhiệm và sự hy sinh vô tận của cha mẹ với con cái; con cái hiếu thảo với cha mẹ; con cháu kính trọng, biết ơn và quan tâm tới ông bà, tổ tiên; tình yêu thương, chăm lo và đùm bọc anh em, họ hàng; đề cao lợi ích chung của gia đình; tự hào truyền thống gia đình, dòng họ. Đồng thời, gia đình Việt Nam cũng tiếp thu nhiều tinh hoa, giá trị tiên tiến của gia đình hiện đại như: tôn trọng tự do cá nhân; tôn trọng quan niệm và sự lựa chọn của mỗi người; tôn trọng lợi ích cá nhân; dân chủ trong mọi quan hệ; bình đẳng nam nữ; bình đẳng trong nghĩa vụ và trách nhiệm; bình đẳng trong thừa kế; không phân biệt đối xử đẳng cấp, thứ bậc giữa con trai và con gái, giữa anh và em… Đó chính là cùng với những đặc trưng của gia đình truyền thống được phát huy, gia đình Việt Nam hiện nay đang được củng cố và xây dựng theo xu hướng hiện đại hóa: dân chủ, bình đẳng, tự do và tiến bộ.

Tuy nhiên, cùng với những cơ hội và những điều kiện thuận lợi thúc đẩy sự phát triển tiến bộ, gia đình Việt Nam cũng đang đứng trước nhiều nguy cơ và thách thức trong bối cảnh toàn cầu hóa nhiều biến động và bất trắc: đó là tình trạng ly hôn có xu hướng tăng cao; sống chung không kết hôn; tình trạng trẻ em nghiện hút; tệ nạn mại dâm; tình dục đồng giới; trẻ em lang thang; buôn bán phụ nữ qua biên giới; bạo lực trong gia đình; bất bình đẳng giới; ngoại tình; xu hướng đề cao tiền bạc trong quan hệ giữa người và người… đang tấn công vào gia đình từ nhiều phương diện khác nhau.

Trong bối cảnh đó, để gia đình Việt Nam ngày càng giữ gìn và phát huy được những giá trị cao quý vốn có của mình, chủ động, tích cực tiếp thu được những tinh hoa, giá trị của gia đình các xã hội hiện đại; đồng thời, ngăn chặn một cách có hiệu quả sự tấn công của tệ nạn xã hội, những nguy cơ dẫn đến tan rã gia đình… Cần tập trung vào một số vấn đề sau: có hệ giải pháp thiết thực để thực hiện tốt nhất Chiến lược củng cố và xây dựng gia đình; có hệ chính sách hữu hiệu hỗ trợ phát triển kinh tế hộ gia đình; phát triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí; có chính sách tích cực tạo điều kiện để đoàn tụ gia đình, gắn bó các thành viên gia đình; đẩy mạnh công tác xóa đói giảm nghèo; tăng cường thực hiện công tác dân số – kế hoạch hóa gia đình; đẩy mạnh việc thực hiện nghiêm chỉnh hệ thống chính sách xã hội đối với các gia đình chính sách; tiếp tục mở rộng tuyên truyền, phổ biến kiến thức về giới góp phần thiết thực tạo lập sự bình đẳng giới trong gia đình và xã hội.

Thực hiện tốt những vấn đề trên, chúng ta sẽ tạo ra những điều kiện tốt nhất để gia đình Việt Nam ngày càng được củng cố và phát triển theo xu hướng ấm no, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc. Gia đình Việt Nam hiện nay và trong tương lai vẫn sẽ thực sự là tế bào của xã hội, là một thiết chế cơ bản của xã hội, là tổ ấm, nơi nương tựa quan trọng nhất của mỗi người. Gia đình Việt Nam là một nhân tố quan trọng để phát triển kinh tế – xã hội của đất nước trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đối với xã hội Việt Nam, gia đình bao giờ cũng gắn liền với xã hội, vì lẽ đó không thể có một xã hội phát triển nếu các gia đình bị suy sụp, khủng hoảng. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “…nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, xã hội tốt thì gia đình càng tốt, gia đình tốt thì xã hội mới tốt”. Xã hội ta đang trên đà phát triển mạnh mẽ và toàn diện, đó là cơ sở để khẳng định gia đình Việt Nam cũng đang bước vào kỷ nguyên phát triển mới.

SOURCE: TẠP CHÍ CỘNG SẢN SỐ 19 (139) NĂM 2007

GIA ĐÌNH HÀN QUỐC: TRUYỀN THỐNG VÀ HIỆN ĐẠI

TRẦN VĂN THẮNG – Ths, Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh

Từng là một nước nông nghiệp nghèo, nhưng sau chưa đầy bốn thập kỷ, đất nước Hàn Quốc đã đạt được những thành tựu kinh tế được cả thế giới biết đến như “kỳ tích trên sông Hàn”. Tuy nhiên, quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa đã kéo theo sự di chuyển liên tục của những người dân từ nông thôn ra thành thị và các khu công nghiệp; phá vỡ cơ cấu tổ chức xã hội truyền thống, trong đó có gia đình.

Từ truyền thống …

Trong xã hội Hàn Quốc truyền thống, một gia đình điển hình thường bao gồm các thành viên thuộc ba, bốn thế hệ sống cùng trong một mái nhà; một gia đình lớn đông thành viên thường được xem như có nhiều phúc lộc.

Do chịu ảnh hưởng của đạo Khổng, nên gia đình truyền thống Hàn Quốc theo chế độ gia trưởng. Sau khi người cha qua đời, người con trai cả sẽ là người điều hành và là trụ cột trong gia đình; đương nhiên sẽ hưởng kế thừa phần lớn các tài sản có giá trị như đất đai, nhà cửa… do người cha để lại. Những người con trai thứ cũng được hưởng thừa kế nhưng chỉ là một phần so với người con trai cả. Với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, người Hàn Quốc tin vào cuộc sống ở thế giới bên kia sau khi chết. Theo quan niệm của người Hàn Quốc, con người sau khi chết sẽ không đoạn tuyệt, rời bỏ thế giới này mà sẽ đầu thai trở lại nơi nào đó, sẽ sống cùng con cháu, hậu duệ. Do đó, các thế hệ con cháu, nhất là những người có nhiều may mắn trong cuộc sống càng cần phải làm tròn bổn phận với những người đã mất, thực hiện những nghi lễ giỗ tết hằng năm.

Mục đích lớn nhất, nhiệm vụ quan trọng của hôn nhân trong gia đình Hàn Quốc là duy trì hậu duệ và thờ cúng tổ tiên với biểu hiện cụ thể là sinh ra những người con trai để nối dõi, thừa kế gia sản, chăm sóc cha mẹ lúc già yếu. Chính vì thế mới có chuyện bao nhiêu thế hệ phụ nữ phải chịu đau khổ vì không thực hiện được “nghĩa vụ” của mình là sinh được con trai cho nhà chồng. Hôn nhân thường do cha mẹ hoặc thông qua mối lái sắp đặt. Cô dâu chỉ biết mặt chú rể vào ngày cưới là chuyện bình thường theo luật tục hôn nhân thời trước.

Hệ thống dòng họ, thân tộc truyền thống của người Hàn Quốc được xác định chủ yếu trong mối quan hệ thờ cúng tổ tiên rất phức tạp. Theo đánh giá của các nhà dân tộc học Hàn Quốc, tục thờ cúng tổ tiên có bốn cấp độ, bắt đầu từ phạm vi hộ gia đình và cao nhất là phạm vi thị tộc.

Trong xã hội Hàn Quốc truyền thống, một gia đình điển hình thường bao gồm các thành viên thuộc ba, bốn thế hệ sống cùng trong một mái nhà; một gia đình lớn đông thành viên thường được xem như có nhiều phúc lộc.

Hộ gia đình, chỉ bao gồm vợ, chồng và con cái của họ. Trong trường hợp hộ gia đình đó là của người con trai cả, thì bao gồm cả cha, mẹ của người con trai cả. Hộ gia đình người con trai cả được người Hàn Quốc gọi là hộ gia đình lớn, đó là hộ gia đình gốc, còn những hộ gia đình của những người con trai thứ gọi là gia đình nhỏ, gia đình nhánh. Thông qua hộ gia đình người con trai cả, sự kế thừa về quyền lợi và trách nhiệm thờ cúng tổ tiên được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Cấp độ thứ hai trong hệ thống thân tộc của người Hàn Quốc là nhóm những người để tang nhau, bao gồm tất cả những con cháu của ông bà tổ tiên tính theo dòng cha trong phạm vi bốn đời. Vai trò của nhóm những người để tang nhau được thể hiện rõ nhất trong việc tổ chức và thực hiện những nghi lễ ở “khu vực chôn cất” hoặc ở các nhà thờ của dòng họ. Người đàn ông đứng đầu của từng nhóm sẽ thay mặt tất cả các thành viên đọc những lời khấn và thỉnh cầu đối với ông bà, tổ tiên.

Cấp độ thứ ba trong hệ thống thân tộc của người Hàn Quốc cũng giống cấp độ thứ hai, những nghi lễ thờ cúng tổ tiên cũng được con cháu trong cấp độ thứ ba thực hiện nhưng trong phạm vi năm đời. Chi phí trong việc thờ cúng tổ tiên dòng họ được thực hiện dựa trên những khoản thu hoạch mùa màng trên mảnh đất chung. Ngoài ra, những người trong quan hệ thân tộc ở cấp độ thứ ba còn giúp đỡ lẫn nhau trong trường hợp nghèo khó, túng thiếu và giám sát các thành viên về mặt đạo đức.

Cấp độ thứ tư trong hệ thống thân tộc của người Hàn Quốc đó là thị tộc, nó bao trùm tất cả các cấp độ quan hệ họ hàng, gồm họ của những nhóm người có chung nguồn gốc (những người có chung dòng họ và nguồn gốc từ thời xa xưa). Lẽ đương nhiên, tính cố kết của các thành viên ở cấp độ thứ tư không chặt chẽ so với các thành viên của cấp độ thứ ba. Do những quy định luật lệ cứng nhắc về hôn nhân được thiết lập theo chế độ hôn nhân ngoại tộc, những người trong một thị tộc không được phép lấy nhau. Do đó, một chức năng quan trọng của thị tộc trong hệ thống thân tộc ở cấp độ thứ tư này là xác định rõ các nhóm tộc người để cho phép họ có thể thiết lập quan hệ hôn nhân với nhau hay không. Những quy định này mãi tới tận những năm đầu của thế kỷ XX mới được sửa đổi. Luật Hôn nhân và Gia đình Hàn Quốc chỉ cấm nam, nữ trong cùng dòng họ lấy nhau trong phạm vi ba đời.

Sự phát triển kinh tế Hàn Quốc do quá trình công nghiệp hóa đất nước khiến cho đời sống gia đình của người Hàn Quốc trở nên sôi động, phức tạp hơn. Cơ cấu xã hội truyền thống của người Hàn Quốc, trong đó có cơ cấu gia đình Hàn Quốc đã có sự thay đổi và bị phá vỡ. Những đôi vợ chồng trẻ mới thành hôn tách khỏi đại gia đình và bắt đầu cuộc sống riêng. Ngày nay, mô hình gia đình hạt nhân với trung tâm là một cặp vợ chồng đang là phổ biến ở Hàn Quốc.

“Tình yêu In-tơ-nét”, lấy vợ, lấy chồng qua In-tơ-nét đã được sử dụng nhiều trong xã hội hiện đại. Thay vì phải ra khỏi nhà tìm kiếm cơ hội gặp gỡ, In-tơ-nét đã có thể giúp cho việc tìm hiểu, làm quen với nhau, thậm chí sắp xếp, “tác thành” những cuộc hôn nhân.

… Đến hiện đại

Giai đoạn chuyển đổi từ gia đình truyền thống sang gia đình hiện đại ở Hàn Quốc được thực hiện trong đầu những năm 90 của thế kỷ XX. Nguyên nhân sâu xa của sự chuyển đổi này bắt nguồn từ sự phát triển kinh tế, là quá trình đô thị hóa và theo đó là sự gia tăng dân cư ở đô thị. Biểu hiện đầu tiên dễ nhận thấy của sự chuyển đổi từ gia đình truyền thống sang gia đình hiện đại đó là: các mối quan hệ dòng họ phức tạp trong gia đình truyền thống bị suy yếu và bị thay thế bằng một cấu trúc gia đình giản đơn. Gia đình hiện nay ở Hàn Quốc là gia đình hạt nhân một thế hệ (gia đình không có con cái hoặc gia đình độc thân) và gia đình hai thế hệ (bố mẹ và con cái). Đây là mô hình gia đình chủ yếu hiện nay trong xã hội Hàn Quốc, trong đó vợ chồng là trung tâm của gia đình. Một biểu hiện khác trong gia đình hiện đại đó là sự đấu tranh mạnh mẽ cho quyền bình đẳng của phụ nữ trong gia đình cũng như ngoài xã hội.

Một nét đặc biệt có liên quan đến quan hệ gia đình ở Hàn Quốc đó là việc kết hôn. Theo các nhà nghiên cứu, phải đến những năm 80 của thế kỷ XX, những cuộc hôn nhân do nam, nữ tự tìm hiểu, tự lựa chọn mới bắt đầu gia tăng. Trước đó, các cuộc hôn nhân ở Hàn Quốc phần lớn là do mai mối. Các quán cà phê ở Xơ-un và các thành phố khác là nơi hò hẹn, gặp nhau của các chú rể, cô dâu tương lai trong những ngày nghỉ cuối tuần. Trong giai đoạn chuyển đổi từ xã hội truyền thống sang hiện đại, nhiều đôi nam nữ thông qua các công ty mai mối đã trở thành vợ chồng.

Quan niệm hôn nhân cũng có sự thay đổi, biểu hiện là sự gia tăng các cuộc hôn nhân giữa những người đàn ông trẻ tuổi với phụ nữ đã có tuổi hoặc giữa những người đàn ông mới lấy vợ lần đầu với những người phụ nữ đã từng lấy chồng trước đó. Giải thích hiện tượng này, nhiều nhà nghiên cứu lý giải bởi nguyên nhân kinh tế, do sức mạnh về kinh tế cũng như địa vị xã hội từ người phụ nữ mà người đàn ông có được sau khi kết hôn. Những hiện tượng này đã loại bỏ quan niệm cũ cho rằng người đàn ông phải lấy vợ trẻ tuổi hơn hoặc vợ hai phải là người lấy chồng lần đầu.

Một nguyên nhân được đưa ra cho sự biến đổi trong quan hệ hôn nhân ở gia đình Hàn Quốc hiện đại đó chính là tập tục sinh con trai để nối dõi tông đường. Việc mỗi gia đình Hàn Quốc phải cố gắng có con trai đã làm mất cân bằng giới tính, số lượng nam giới nhiều hơn nữ giới, đặc biệt là những người trong độ tuổi kết hôn. Chính vì lý do này, các cuộc hôn nhân giữa cô dâu đã lấy chồng một lần trước đó với các chú rể mới lấy vợ lần đầu là điều không tránh khỏi và đang có xu hướng tiếp tục tăng.

Đặc biệt, với sự phát triển của In-tơ-nét, quan hệ hôn nhân trong gia đình các nước nói chung và gia đình hiện đại Hàn Quốc nói riêng đã có sự thay đổi. “Tình yêu In-tơ-nét”, lấy vợ, lấy chồng qua In-tơ-nét đã được sử dụng nhiều trong xã hội hiện đại. Thay vì phải ra khỏi nhà tìm kiếm cơ hội gặp gỡ, In-tơ-nét đã có thể giúp cho việc tìm hiểu, làm quen với nhau, thậm chí sắp xếp, “tác thành” những cuộc hôn nhân. Ngày nay, những người trẻ tuổi Hàn Quốc không chỉ sử dụng In-tơ-nét để kinh doanh, học tập, giải trí… mà còn sử dụng In-tơ-nét trong việc tìm kiếm bạn đời, cho việc hình thành gia đình.

Tất cả những tác động trên đã làm cho gia đình Hàn Quốc hiện nay thực sự thay đổi về quy mô và cơ cấu. Hầu hết các gia đình Hàn Quốc là gia đình hạt nhân, phần còn lại là gia đình mở rộng. Gia đình ba, bốn thế hệ chiếm tỷ lệ không đáng kể trong xã hội Hàn Quốc hiện đại. Quá trình công nghiệp hóa đất nước, với việc xây dựng nhà máy, xí nghiệp ở khắp nơi, đặc biệt là ở các khu đô thị đã làm gia tăng dòng người di cư từ nông thôn ra thành thị tìm kiếm công ăn việc làm. Những người di cư này chủ yếu là thanh niên và trung niên. Như vậy, gia đình nông thôn bị xé lẻ, những thành viên trẻ ở thành thị sẽ tìm kiếm việc làm và định cư tại đó, sau khi lấy vợ, lấy chồng sẽ tạo nên những gia đình hạt nhân. Các cặp vợ chồng ở các khu đô thị thời kỳ công nghiệp hóa do nhiều nguyên nhânkhác nhau chỉ sinh một hoặc hai con. Do vậy, số gia đình hạt nhân ở Hàn Quốc gia tăng nhưng quy mô thành viên trong gia đình hiện đại lại giảm. Hiện nay, quy mô gia đình Hàn Quốc ngày càng thu nhỏ, 3,2 người/gia đình.

SOURCE: TẠP CHÍ CỘNG SẢN SỐ 18 NĂM 2007

CÔNG VIỆC VÀ TRÁCH NHIỆM TRONG CHÍNH SÁCH GIA ĐÌNH Ở CHÂU ÂU

Nguyễn Thu Phương

TẠP CHÍ CỘNG SẢN SỐ 22 NĂM 2007

Thực hiện chính sách gia đình, các nước châu Âu hướng tới xây dựng gia đình phát triển toàn diện, chú trọng tới vai trò của gia đình trong việc nuôi dạy con cái nhằm bảo đảm cho xã hội tương lai. Đây là trọng trách đòi hỏi nỗ lực từ những bậc cha mẹ, nhất là khi xã hội ngày càng phát triển, việc dung hòa giữa công việc và trách nhiệm gia đình càng trở nên khó khăn.

1. Mục tiêu của chính sách gia đình

Những nhà hoạch định chính sách gia đình ở châu Âu đã nhìn nhận các quyền cơ bản trong cuộc sống gia đình đồng nghĩa với quyền được tôn trọng cuộc sống riêng, quyền kết hôn và bảo vệ gia đình, quyền dung hòa giữa trách nhiệm gia đình và công việc, quyền của con cái. Những “giá trị gia đình” được khẳng định thông qua những mục tiêu cụ thể:

Một là, củng cố vai trò của cha mẹ trong chức năng giáo dục, nuôi dạy con trẻ nhằm tránh những hành vi đáng tiếc xảy ra, dẫn đến sự đổ vỡ trong gia đình.

Hai là, tăng cường hỗ trợ chính sách nhà ở, chính sách tài chính đối với những gia đình gặp khó khăn khi số lượng thành viên tăng, sinh con hay có nhu cầu đặc biệt khi có con ở lứa tuổi vị thành niên.

Ba là, kết hợp hài hòa giữa cuộc sống gia đình với nghề nghiệp thông qua việc tăng quỹ thời gian nghỉ phép cho các bậc cha mẹ và thành viên gia đình, đồng thời cải thiện chế độ sinh đẻ, chế độ nhận trông trẻ.

Bốn là, phát triển chính sách gia đình về quỹ thời gian rảnh rỗi thực sự dành cho trẻ em và cha mẹ.

Trong những mục tiêu trên, chính sách gia đình đặc biệt chú ý tới mục tiêu thứ 3 vì đây đang là vấn đề bức xúc đối với đa số gia đình châu Âu khi áp lực công việc ngày càng nhiều, thời gian dành cho gia đình bị thu hẹp. Điều này dẫn đến tình trạng kết hôn muộn phổ biến ở giới trẻ châu Âu. Ngoài ra, các bậc cha mẹ khó có thể làm tròn trách nhiệm với con cái; các thành viên trong gia đình ít điều kiện gần gũi nhau. Như vậy, sự liên kết gia đình trở nên lỏng lẻo, dẫn tới xã hội phát triển không bền vững. Không những thế, các quốc gia châu Âu đứng trước nguy cơ lão hóa dân số do tỷ lệ sinh những năm gần đây giảm mà nguyên nhân chính là do vấn đề bất bình đẳng giới trong cơ hội việc làm cùng những khó khăn mà các gia đình gặp phải trong công việc khi quyết định sinh con.

2. Bối cảnh thực tế

Đại bộ phận giới trẻ châu Âu hiện nay vừa muốn lập gia đình, vừa muốn thành công trong nghề nghiệp. Tuy nhiên, những kế hoạch, dự định đã khiến giới trẻ bị cuốn theo nhịp sống hối hả mà quên đi hạnh phúc cá nhân. Những khóa học kéo dài cùng lối sống hiện đại đã khiến tình trạng kết hôn muộn trở thành xu hướng điển hình ở châu Âu.

Tình trạng sinh con muộn hoặc không muốn có con của các cặp vợ chồng trẻ hiện nay ở châu Âu đã gây hậu quả nghiêm trọng đối với phát triển xã hội. Tại châu Âu, số lượng người trẻ tuổi ít đi, số người già tăng lên do tuổi thọ ngày càng cao. Sự lão hóa dân số trở thành mối quan ngại về khả năng cạnh tranh của thị trường lao động trong khu vực.

Xã hội hiện đại đòi hỏi chất lượng công việc cao, quy luật đào thải trở nên khắc nghiệt khiến người lao động ở cả hai giới phải nỗ lực, phấn đấu. Số lượng nam giới theo đuổi sự nghiệp, không có con cái cao hơn nữ giới. Nhóm người này sống theo phong cách thỏa mãn những nhu cầu cá nhân và vai trò của họ trong gia đình cũng dần mất đi. Tuy nhiên, theo một số liệu điều tra xã hội học, hơn một nửa nam giới độ tuổi dưới 44 mong muốn có một mái ấm và vai trò trụ cột trong gia đình. Song, những người đàn ông này phải đối mặt với thực tế trớ trêu khi họ biết rằng thực hiện mong muốn này bao giờ cũng đi liền với những khó khăn gặp phải trong công việc.

Việc phân chia quỹ thời gian, trách nhiệm gia đình giữa hai giới còn thiếu công bằng. Điều này dễ nhận thấy khi chủ yếu vẫn là phụ nữ phải hy sinh công việc và cơ hội thăng tiến trong nghề nghiệp vì gia đình. Đây là nhân tố ảnh hưởng mạnh tới sự tham gia của nữ giới vào thị trường lao động và việc thực hiện các chính sách, dự án về gia đình.

Trên thực tế, mặc dù tại châu Âu cũng như các châu lục khác, vai trò của người phụ nữ vẫn là “nội tướng”, là cầu nối giữa các thành viên trong gia đình, nhưng, nếu như 30 năm trước, ở châu Âu chỉ có 1/4 số phụ nữ đăng ký tham gia các khóa học cao đẳng hay đại học, thì ngày nay, trong xã hội hiện đại, hơn một nửa số sinh viên trong các trường đại học là nữ giới. Số phụ nữ tham gia thị trường lao động hay công tác xã hội ở độ tuổi từ 25 đến 45 chiếm tới 80%. Độ tuổi trung bình hiện nay của nữ giới khi có con đầu lòng là 30. Ở tuổi này, phần lớn họ đều đã có công việc ổn định. Do vậy, việc đảm nhiệm công việc xã hội và trách nhiệm trong gia đình lúc này trở thành gánh nặng khiến người phụ nữ buộc phải lựa chọn hoặc một trong hai, hoặc phải kết hợp giữa việc nhà và công việc, và khi đó con đường sự nghiệp sẽ bị gián đoạn. Song, điều mà người phụ nữ mong muốn nhất là có thể đảm nhiệm cả hai trọng trách trên.

3. Những giải pháp thiết thực

Bàn về việc phân quỹ thời gian dành cho công việc và gia đình, chính sách gia đình châu Âu xem xét đến hai khía cạnh: Thứ nhất, vấn đề bình đẳng giới trong cơ hội tìm kiếm việc làm. Thứ hai, hỗ trợ tài chính nhằm khuyến khích, nâng cao tỷ lệ sinh đẻ trong các gia đình.

Chính sách gia đình chú trọng tới việc đáp ứng nguyện vọng về quỹ thời gian cho người lao động, đặc biệt là nữ giới. Ngày nay, vấn đề không còn là nữ giới có tham gia hoạt động xã hội hay không, mà là thay đổi cách nhìn nhận khi họ là thành phần đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế. Chính sự bấp bênh trong công việc và nguy cơ thất nghiệp sẽ dẫn đến tình trạng gia đình mất ổn định. Yếu tố tự chủ và việc làm của nữ giới góp phần ổn định tổng thu nhập của gia đình, khắc phục được tình trạng khó khăn, nhất là đối với các gia đình mà cuộc sống phụ thuộc chủ yếu vào một lương do nạn thất nghiệp. Do tỷ lệ ly hôn ở châu Âu ngày càng cao (cứ 3 cặp thì có 1 cặp ly hôn) và 70% gánh nặng gia đình rơi vào đôi vai người phụ nữ, nên người phụ nữ càng cần tự chủ trong công việc cũng như về tài chính. Giải pháp được đưa ra đó là cơ hội làm việc bán thời gian hay thời gian linh hoạt đặc biệt dành cho các bà mẹ có con nhỏ. Ngoài ra, chính phủ các nước châu Âu cũng kêu gọi nam giới đảm nhiệm tốt hơn chức năng làm cha nhằm giảm thiểu gánh nặng cho nữ giới.

Chế độ nghỉ sau khi sinh con đối với cả 2 vợ chồng là giải pháp điển hình trong chính sách hỗ trợ bình đẳng giới, phân chia trách nhiệm gia đình. Chính phủ Đan Mạch cho phép thời gian nghỉ sau khi sinh con là một năm; ở Đức, luật nghỉ sau khi sinh con được áp dụng linh hoạt đối với cả hai vợ chồng (nghỉ phép cùng một lúc, hoặc có thể luân phiên nghỉ..). Hà Lan, Lúc-xăm-bua áp dụng chính sách lao động tính đến yếu tố trợ giúp, nhất là với nữ giới, những khả năng tối ưu về thời gian để chăm sóc con cái, nhất là trẻ sơ sinh, trẻ nhỏ, trẻ vị thành niên. Các nước Ai-len, Anh, Đức và Hy Lạp thực hiện chính sách hỗ trợ lương trong thời gian nghỉ đẻ của cả vợ và chồng nhằm tránh tình trạng bấp bênh về tài chính gia đình.

Việc lập gia đình và sinh con là quyền hợp pháp của mỗi cá nhân nên chính phủ các nước châu Âu không thể hoặc không muốn đưa ra những chính sách can thiệp. Mỗi quốc gia châu Âu đều có cách nhìn nhận về vấn đề khuyến khích xây dựng gia đình và sinh đẻ tùy theo bối cảnh của từng nước. Tuy nhiên, định hướng chung vẫn là tạo môi trường thuận lợi, ổn định cho việc xây dựng gia đình, trong đó mọi cá nhân có thể sắp xếp quỹ thời gian hợp lý giữa sự nghiệp và hạnh phúc gia đình để đầu tư hiệu quả cho các thế hệ tương lai.

Phần đông các cặp vợ chồng trẻ trì hoãn thời gian sinh con với lý do công việc. Nhưng theo các chuyên gia nghiên cứu vấn đề gia đình, những quốc gia nào ở châu Âu tạo điều kiện cho các cặp vợ chồng có cơ hội kết hợp giữa công việc và gia đình hợp lý thì ở đó tỷ lệ sinh đẻ sẽ cao hơn so với các quốc gia khác.

Ngoài công việc ổn định, điều kiện nhà ở, hệ thống cung cấp dịch vụ ưu đãi như trông trẻ, hệ thống trường học có chất lượng cũng là những yếu tố hỗ trợ thiết thực. Trợ giúp của chính phủ đối với nhu cầu tối thiểu của các gia đình không chỉ là trợ cấp tài chính trước mắt mà là cả quá trình lâu dài nhằm đầu tư cho xã hội tương lai.

GIÁO TRÌNH ĐIỆN TỬ LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH. TẬP 1:Gia đình

Tác giả:

TS. Nguyễn Ngọc Điện

Chuyên ngành: Khoa học xã hội / Luật

Nguồn phát hành:

 Trường ĐH Cần Thơ

Sơ lược:

Trong chừng mực nào đó, có thể định nghĩa luật hôn nhân và gia đình như là tập hợp các quy tắc chi phối sự thành lập và sự vận hành của gia đình. Có ba dữ kiện cơ bản liên quan đến gia đình mà từ việc phân tích ba dữ kiện ấy, người làm luật đề ra các quy tắc của mình: sự phối hợp giữa một người đàn ông và một người đàn bà, nhằm xây dựng cuộc sống chung; sự sinh con và việc giáo dục con. Vai trò của luật trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình được xác định tùy theo kết quả xác định mối quan hệ giữa Nhà nước và gia đình, hay đúng hơn, tùy theo mức độ tự chủ của gia đình đối với Nhà nước, trong quá trình hình thành và phát triển của các dữ kiện ấy. 

  Với tầm quan trọng như vậy, luật hôn nhân và gia đình đã trở thành một phần cơ bản, không thể thiếu trong hệ thống luật của Việt Nam.Giáo trình được chia thành hai phần, phần đầu tiên là luật gia đình.

 ISBN: Chưa xác định

 Tài liệu tham khảo:
 –  Bénabent A., Droit civil – La famille (gia đình), Litec, 1998. 
 – Bùi Tường Chiểu, La polygamie en droit annamite (chế độ đa thê trong luật Việt Nam), luận án Paris, 1933.
 – Comité consultatif de jurisprudence, Recueil des avis sur les coutumes des Annamites au Tonkin en matière de droit de famille, de successions et de biens cultuels (tập ý kiến về tục lệ của người Việt Nam tại Bắc Kỳ trong các lĩnh vực gia đình, thừa kế và tài sản thờ cúng), Hà Nội, 1930. 
 – Cornu G., Droit civil-La famille (gia đình), Montchrestien, 
 – Hồ Đắc Diệm, La puissance paternelle dans le droit annamite (phụ quyền trong luật Việt Nam), luận án Paris, 1928.
 – Lê Văn Hổ, La mère de famille en droit annamite (người mẹ trong luật Việt Nam), luận án Paris, 1932.
 – Malaurie Ph. và Aynès L., Droit civil – La famille (gia đình), Cujas, 1995.
 – Nguyễn Phú Đức, La veuve en droit vietnamien (người vợ goá trong luật Việt Nam), luận án Hà Nội, 1952. 
 – Nguyễn Thế Giai, Luật hôn nhân và gia đình, trả lời 120 câu hỏi, nxb Pháp lý, 1991. 
 – Nguyễn Văn Thông, Hỏi đáp về Luật hôn nhân và gia đình, nxb Tổng hợp Đồng Nai, 2001.
 – Phan Đăng Thanh. Trương Thị Hoà, Pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam xưa và nay, nxb Trẻ-TPHCM, 2000. 
 – Philastre P.-L.-F., Code annamite (Bộ luật Gia Long), Leroux, 1909. 
 – Sicé E., Le mariage en Pays d’Annam (hôn nhân ở Việt Nam), Dijon, 1906. 
 – Trần Quang Dung, Tìm hiểu Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, nxb Tổng Hợp Đồng Nai, 2000.
 – Trịnh Đình Tiêu, La femme mariée en droit vietnamien (người đàn bà có chồng trong luật Việt Nam), Toulouse, 1958. 
 – Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, Hà Nội, 1994.
 – Viện Sử học Việt Nam, Bộ Quốc triều hình luật, nxb Pháp lý, 1991.
 – Vũ Văn Hiền, Chế độ tài sản trong gia đình Việt Nam, Bộ quốc gia giáo dục, Sài Gòn, 1960, t. 1 và 2. 
 – Vũ Văn Mẫu, Dân luật Việt Nam lược khảo, quyển thứ nhất – Gia đình, Sài Gòn, 1962
 –  Vũ Văn Mẫu, Cổ luật Việt Nam lược khảo, quyển thứ nhất, Sài Gòn, 1971.

*****************************

TẢI GIÁO TRÌNH TẠI ĐÂY: http://www.mediafire.com/?8mgh2zgnomk  (Đọc bằng phần mềm Adobe Reader)

GIÁO TRÌNH ĐIỆN TỬ LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH. TẬP 2: CÁC QUAN HỆ TÀI SẢN GIỮA VỢ CHỒNG

 Tác giả:

 TS. Nguyễn Ngọc Điện

 Chuyên ngành: Khoa học xã hội / Luật

 Nguồn phát hành:

 Trường ĐH Cần Thơ

Sơ lược:
Đây là phần tiếp theo của giáo trình Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam. Phần hai của giáo trình sẽ trình bày tập trung vào mối quan hệ tài sản giữa vợ và chồng. 

Quan hệ tài sản giữa vợ và chồng là một loại quan hệ đặc biệt ràng buộc hai người, vốn đã gắn bó với nhau do hiệu lực của hôn nhân, nghĩa là có đăng ký kết hôn, liên quan đến tài sản, nói chung là đến các lợi ích vật chất có giá trị tiền tệ. Trong khung cảnh của luật thực định Việt Nam, sự tồn tại của quan hệ tài sản giữa vợ và chồng lệ thuộc vào sự tồn tại của quan hệ hôn nhân. Quan hệ tài sản của vợ chồng không tồn tại giữa hai người chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn . Quan hệ tài sản giữa vợ chồng bị thủ tiêu, trong trường hợp hai người chung sống với nhau có đăng ký kết hôn, nhưng sau đó hôn nhân bị hủy theo một bản án hoặc quyết định của Toà án. Quan hệ tài sản giữa vợ chồng chấm dứt, trong trường hợp hai người chung sống với nhau có đăng ký kết hôn, nhưng sau đó hôn nhân chấm dứt do ly hôn hoặc do có một người chết.   

ISBN: Chưa xác định

Tài liệu tham khảo:
 – Bénabent A., Droit civil – La famille (gia đình), Litec, 1998. 
 – Bùi Tường Chiểu, La polygamie en droit annamite (chế độ đa thê trong luật Việt Nam), luận án Paris, 1933.
 –  Colomer A., Droit civil – Régimes matrimoniaux ( Các chế độ tài sản của vợ và chồng), Litec, 1998. 
 –  Comité consultatif de jurisprudence, Recueil des avis sur les coutumes des Annamites au Tonkin en matière de droit de famille, de successions et de biens cultuels (tập ý kiến về tục lệ của người Việt Nam tại Bắc Kỳ trong các lĩnh vực gia đình, thừa kế và tài sản thờ cúng), Hà Nội, 1930. 
 – Cornu G., Droit civil-La famille (gia đình), Montchrestien, 1993.
 – Cornu G., Droit civil – Les régimes matrimoniaux (Các chế độ tài sản của vợ và chồng), Presse Universitaire de France-Thémis, 1997.
 – Hồ Đắc Diệm, La puissance paternelle dans le droit annamite (phụ quyền trong luật Việt Nam), luận án Paris, 1928.
 – Malaurie Ph. và Aynès L., Droit civil – La famille (Gia đình), Cujas, 1995.
 – Malaurie Ph. và Aynès L., Droit civil – Les Régimes matrimoniaux (Các chế độ tài sản của vợ và chồng), Cujas, 1999. 
 – Nguyễn Huy Lai, Les régimes matrimoniaux dans le droit annamite (Các chế độ tài sản của vợ và chồng trong luật Việt Nam), luận án Paris 1934.
 – Nguyễn Ngọc Điện, Bình luận khoa học Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, Tập I – Gia đình, nxb Trẻ-TP Hồ Chí Minh, 2002. 
 – Phú Đức, La veuve en droit vietnamien (người vợ goá trong luật Việt Nam), luận án Hà Nội, 1952. 
 – Nguyễn Thế Giai, Luật hôn nhân và gia đình, trả lời 120 câu hỏi, nxb Pháp lý, 1991. 
 – Nguyễn Văn Thông, Hỏi đáp về Luật hôn nhân và gia đình, nxb Tổng hợp Đồng Nai, 2001.
 – Philastre P.-L.-F., Code annamite (Bộ luật Gia Long), Leroux, 1909. 
 – Sicé E., Le mariage en Pays d’Annam (hôn nhân ở Việt Nam), Dijon, 1906. 
 – Trần Quang Dung, Tìm hiểu Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, nxb Tổng Hợp Đồng Nai, 2000.
 – Trịnh Đình Tiêu, La femme mariée en droit vietnamien (người đàn bà có chồng trong luật Việt Nam), Toulouse, 1958. 
 – Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, Hà Nội, 1994.
 – Viện Sử học Việt Nam, Bộ Quốc triều hình luật, nxb Pháp lý, 1991. 
 – Vũ Văn Hiền, Chế độ tài sản trong gia đình Việt Nam, Bộ quốc gia giáo dục, Sài Gòn, 1960, t. 1 và 2. 
 – Vũ Văn Mẫu, Dân luật Việt Nam lược khảo, quyển thứ nhất – Gia đình, Sài Gòn, 1962
 – Vũ Văn Mẫu, Cổ luật Việt Nam lược khảo, quyển thứ nhất, Sài Gòn, 1971.

***************************

TẢI GIÁO TRÌNH TẠI ĐÂY: http://www.mediafire.com/?ctdw0tmp4ue (Đọc bằng phần mềm Adobe Reader)

VỀ SỰ BIẾN ĐỔI CỦA KHUÔN MẪU GIA ĐÌNH VIỆT NAM HIỆN ĐẠI

TRỊNH HÒA BÌNH

Gia đình là phạm trù xuất hiện rất sớm trong lịch sử loài người; là một thiết chế xã hội quan trọng, liên quan đến hoạt động của toàn xã hội và mỗi cá nhân. Theo quan điểm hệ thống, mỗi thiết chế ấy biến đổi sẽ dẫn đến cả hệ thống biến đổi và ngược lại, những thiết chế xung quanh gia đình trong hệ thống xã hội nói chung (như kinh tế, pháp luật, văn hóa…) biến đổi cũng khiến cho gia đình biến đổi theo. Gia đình Việt Nam không nằm ngoài quy luật này. Vậy khuôn mẫu gia đình Việt Nam hiện nay đã có những biến đổi gì trong bối cảnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập? Nhân Ngày Gia đình Việt Nam (28.6), Tạp chí xin giới thiệu một số phân tích, lý giải về vấn đề này.

Biến đổi gia đình Việt Nam từ sau đổi mới và những kiến giải khoa học

Trên bình diện quản lý xã hội, qua sự thay đổi trong các nội dung điều, khoản của Luật Hôn nhân và gia đình sửa đổi năm 2000 so với nội dung trước khi sửa đổi có thể thấy được những biến đổi trong thiết chế xã hội đặc biệt này trước và sau đổi mới. Căn cứ vào Luật Hôn nhân và gia đình mới, người ta nhận thấy đã có những biến đổi sau: Thứ nhất, quan niệm về gia đình, vấn đề sở hữu, các mối quan hệ trong gia đình có nhiều biến đổi. Thứ hai, gia đình biến đổi theo hướng có nhiều yếu tố cá nhân hơn. Thứ ba, các vấn đề trong gia đình ngày càng đa dạng và trở nên phức tạp1. Đây là một thực tế không thể phủ nhận được trong bối cảnh đất nước có nhiều thay đổi trên các mặt kinh tế, văn hoá, xã hội…

Từ cách tiếp cận xã hội học, xét về bản chất, gia đình có 4 chức năng cơ bản (sinh sản, giáo dục, kinh tế và tâm lý – tình cảm). Cả 4 chức năng này đã và đang xuất hiện những yếu tố mới. Điều này đã được nhiều nghiên cứu chuyên sâu về gia đình chỉ ra. Tuy nhiên, song hành cùng sự biến đổi về kinh tế, xã hội ở nước ta, chức năng nào biến đổi nhiều nhất, tạo được dấu ấn rõ nét cho khuôn mẫu mới của gia đình trong xã hội hiện đại vẫn đang là vấn đề có nhiều bàn cãi. Một số nhà nghiên cứu cho rằng: “Nếu có gì gọi là mới trong gia đình Việt Nam hiện đại thì có lẽ là sự tăng cường yếu tố dân chủ trong cái tổ chức rất đáng yêu, cần phải yêu này. Xã hội mới tạo điều kiện cho mỗi người có giá trị tự thân. Thêm một nhân tố nữa để bảo đảm sự bình đẳng trong các tương quan và chức năng của mỗi thành viên trong gia đình. Không có áp bức, thống trị ở đây – xét về mặt khái quát”2.

Nhiều học giả khác lại cho rằng, vấn đề giáo dục gia đình đang có xu hướng thay đổi trong xã hội hiện đại bởi những vấn đề mà giới trẻ hiện nay đang gặp phải như các tệ nạn xã hội có xu hướng gia tăng, sự tôn kính đối với ông bà cha mẹ có xu hướng giảm sút… hay sự chuyển giao, phó mặc chức năng này của gia đình cho các thiết chế xã hội khác như trường học, dịch vụ xã hội (dịch vụ chăm sóc trẻ, giúp việc tại nhà)… Sự biến đổi về quy mô, kiểu loại gia đình, những biến đổi trong đời sống hôn nhân, tâm lý – tình cảm và sự lựa chọn trong kết hôn cũng được quan tâm đáng kể trong những nghiên cứu về gia đình trong thời gian qua.

Rõ ràng, rất nhiều khía cạnh khác nhau của gia đình đều đang có những biến đổi trong điều kiện xã hội biến đổi, điều đó đã tạo nên sự biến đổi khuôn mẫu gia đình nói chung. Vì thế, việc xác định rõ ràng, chuẩn xác đặc trưng của gia đình Việt Nam hiện nay là một vấn đề không dễ dàng.

Về xu hướng biến đổi khuôn mẫu gia đình Việt Nam hiện nay

Với khái niệm “Tam giác gia đình”3 của tác giả Hồ Ngọc Đại: “Gia đình là một khái niệm mới được hình thành từ ba thành phần, gồm những “đại lượng khác tên” là bố, mẹ và con cái hình thành nên một tam giác gia đình” đặt trong bối cảnh gắn với tam giác đời sống xã hội mà ba đỉnh là cá nhân – gia đình – xã hội thì đây là một mối liên hệ khó có thể bóc tách được. Điều này cho thấy sự biến đổi của gia đình luôn gắn với sự biến đổi của các cá nhân và xã hội. Hiển nhiên, gia đình là hệ quả của mối tương tác giữa các cá nhân và xã hội đang sống. Gia đình với chức năng của nó sẽ cố gắng điều hoà các mối quan hệ này phù hợp với hoàn cảnh xã hội. Dưới đây xin đề cập hai chiều tác động (cá nhân và xã hội) đến gia đình dẫn đến việc biến đổi khuôn mẫu gia đình Việt Nam hiện đại.

Tác động cá nhân đến gia đình

Mặc dù chưa có khái niệm chuẩn và thống nhất về gia đình nhưng dường như có sự đồng thuận rộng rãi ở một điểm: Gia đình là tập hợp các cá nhân có mối quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng… trong đó nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa các thành viên (hay cá nhân). Có thể quy giản quan hệ này thành 3 mối quan hệ chủ yếu: Vợ – chồng, cha mẹ – con cái, anh chị – em (con cái với nhau). 3 mối quan hệ cơ bản này có ảnh hưởng lớn đến thiết chế gia đình. ở từng thời điểm lịch sử khác nhau thì các mối quan hệ này có những đặc trưng khác nhau. Ví dụ, trong xã hội truyền thống thì quan hệ vợ – chồng, cha – con, anh – em theo một tôn ti, trật tự chặt chẽ nhưng cho đến nay, sức nặng của tôn ti, trật tự đó không còn bao nhiêu nữa mà thay vào đó là sự bình đẳng hơn theo kiểu “trên kính dưới nhường”. Mỗi cá nhân trong gia đình đều xác lập một vị thế và không gian riêng cần các thành viên khác tôn trọng. Điều này có nghĩa là tự do cá nhân được đề cao. Vả chăng, trong bối cảnh xã hội hiện đại, sự ra đời của các phương tiện truyền thông mới (điện thoại di động, Internet…) càng làm cho xu hướng cá nhân hoá mạnh mẽ hơn… Phải chăng, những thực tiễn đó đã dẫn đến các mối quan hệ trong gia đình lỏng lẻo hơn, và đó cũng là nguyên nhân của sự rạn nứt trong gia đình ngày nay như nhiều nhà nghiên cứu đã đặt câu hỏi? Khó có thể khẳng định đó là mối quan hệ nhân – quả nhưng rõ ràng, khi mỗi cá nhân theo đuổi những lợi ích riêng của mình như học vấn, địa vị, kinh tế… thì các mối quan hệ trong gia đình bị “nhạt” đi. Và cái tôn ti, trật tự kia hầu như không còn sức mạnh để níu kéo các thành viên trong gia đình lại với nhau. Mô phỏng trong tam giác gia đình của Hồ Ngọc Đại thì diện tích của tam giác sẽ lớn hơn, do vậy các cạnh (thể hiện mối quan hệ) đó sẽ bị kéo dài ra. Theo quy luật của cơ học thì sức đàn hồi, hay “độ cứng” của vật thể tỷ lệ nghịch với chiều dài của vật thể đó. Vận dụng mô hình toán học và cơ học này vào trong quan hệ gia đình có thể thấy rằng các mối quan hệ đó “dễ” bị đứt gãy hơn so với khi các quan hệ đó còn “khép kín”. Sự lỏng lẻo trong quan hệ giữa các thành viên trong gia đình sẽ dẫn đến những hệ quả tích cực và tiêu cực nhất định

Về mặt tích cực, tính cơ động, hướng ngoại trong các thành viên trong gia đình càng lớn thì thiết chế đó càng phát triển trên bình diện kinh tế, giáo dục, vị thế xã hội… do các cá nhân đầu tư nhiều thời gian, tâm huyết hơn để giành các lợi ích đó cho riêng mình. Điều này ảnh hưởng rất tích cực đến sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước nói chung. Không chỉ vậy, nó còn là một chỉ báo cho bình quyền của các thành viên, đặc biệt là phụ nữ trong gia đình được giải phóng trong quá trình dân chủ hoá xã hội trở nên mạnh mẽ, thường xuyên, liên tục hơn, các thành viên có điều kiện phát huy hết năng lực của cá nhân mà không bị ràng buộc theo kiểu “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” hoặc “trên bảo dưới nghe”…

Tuy nhiên, những hệ lụy tiêu cực của mối quan hệ lỏng lẻo này là cái giá phải trả. Đó là sự rạn nứt trong gia đình, là nguồn gốc của những biểu hiện tiêu cực trong xã hội như tệ nạn xã hội, văn hoá ứng xử xuống cấp, đạo đức bị coi nhẹ hay tình trạng ly hôn, ly thân, sống độc thân gia tăng… mà xã hội đang cố gắng có những giải pháp kiềm chế.

Tác động xã hội đến gia đình

Sự biến đổi kinh tế, xã hội của nhân loại dẫn đến sự thay thế lẫn nhau của các hình thái gia đình. Việt Nam tiến hành công cuộc đổi mới đã và đang gặt hái nhiều thành tựu to lớn trên nhiều lĩnh vực, nhưng mặt trái của kinh tế thị trường cũng đã ảnh hưởng không nhỏ đến sự biến đổi khuôn mẫu của gia đình. Đây là một quy luật tất yếu, khôn cưỡng. Đánh giá một cách công bằng, những đổi thay về kinh tế, xã hội, tăng cường giao lưu văn hoá đã mang lại cho gia đình những luồng sinh khí mới như nâng cao thu nhập, mức sống, mức hưởng thụ, trình độ tiêu dùng, đời sống vật chất và tinh thần, thông tin của các thành viên. Chưa bao giờ trong lịch sử có những biến chuyển lớn đến như vậy diễn ra trong khung cảnh của gia đình. Những tiến bộ trong quan niệm về bình đẳng, bình quyền, loại bỏ những tập tục, chuẩn mực lạc hậu trong xã hội cũ cũng đã tạo điều kiện cho các thành viên trong gia đình, đặc biệt là nữ giới được phát triển và nâng cao vị thế xã hội.

Tuy nhiên, mặt trái của những biến đổi xã hội và giao lưu văn hoá, thông tin cũng ảnh hưởng rất lớn đến khuôn mẫu gia đình Việt Nam hiện nay, dẫn tới những hệ lụy nhất định. Ví dụ như, sự cám dỗ của vật chất hay sức ép của vấn đề nghèo đói, thu nhập, vị thế xã hội đã khiến cho gia đình biến đổi một số đặc trưng về chức năng và quy mô. ở không ít gia đình, do quá chú trọng vào việc kiếm tiền, tăng thu nhập, giành vị thế xã hội…, mà cha mẹ giảm đi sự quan tâm tới con cái, giữa các thành viên ít giao tiếp với nhau hơn. Có nhà nghiên cứu cho rằng, thậm chí trong một bộ phận gia đình, sự tồn tại của các thành viên bên cạnh nhau giống như sự gá lắp rời rạc, thưa vắng dần sự quan tâm, lo lắng, chăm chút cho nhau và các thành viên trong gia đình thì dường như “gặp nhau lần nào cũng vội”4. Khi đó, hầu như trường học và các thiết chế xã hội khác đã phải “làm thay” nhiều chức năng của gia đình. Có thể thấy sự biến đổi rất rõ ở các gia đình trong thời gian qua khi mà quá trình đô thị hoá diễn ra mạnh mẽ. Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá với tốc độ nhanh chóng, quy mô lớn đã, đang và sẽ làm cho quá trình mất đất nông nghiệp diễn ra ngày càng nhiều, tốc độ đô thị hoá ngày càng nhanh khiến cho nhiều gia đình nông thôn trở thành gia đình thành thị “cưỡng bức” trong điều kiện mất đất song chuyển đổi nghề nghiệp chậm, thiếu việc làm, gây ra tình trạng bất ổn định trong gia đình. Bên cạnh đó, tệ nạn xã hội như ma tuý, mại dâm, bệnh tật… lại có nguy cơ phát triển, làm tha hoá một bộ phận dân cư, nhất là giới trẻ. Những yếu tố ngoại cảnh này đã ảnh hưởng không nhỏ tới gia đình, làm thay đổi cả quy mô, cơ cấu, quan hệ và chất lượng gia đình5. Quan niệm về hôn nhân, gia đình hiện nay cũng đang dần dần thay đổi do hoàn cảnh xã hội tác động. Những hiện tượng như quan hệ tình dục trước hôn nhân, đồng tính luyến ái, sống thử, kết hôn muộn, sống độc thân, ly thân, ly hôn không ngừng tăng lên và có tính đột biến6. Đây là những biểu hiện vốn chưa xuất hiện trong gia đình Việt Nam truyền thống mà nó chính là sản phẩm của xã hội phương Tây du nhập vào nước ta trong quá trình mở cửa, hội nhập. Văn hoá phương Tây tràn vào một cách ồ ạt phần nào vượt qua sự kiểm soát của gia đình, nhà trường và xã hội, ảnh hưởng đến tính bền vững của gia đình và làm cho cấu trúc của gia đình dễ “vỡ” hơn. Với sự nâng cao tính cơ động kinh tế, xã hội thì gia đình tỏ ra là một thiết chế xã hội nhạy cảm và năng động đối với những thay đổi của môi trường kinh tế, xã hội. Điều đó dẫn đến những biến đổi về lượng cũng như về chất của gia đình theo bối cảnh xã hội.

Tựu chung lại, có thể khái quát một số xu hướng biến đổi đặc trưng khuôn mẫu từ gia đình truyền thống đến gia đình hiện đại như sau:

Thứ nhất, quy mô, kích cỡ gia đình Việt Nam đang dần dần “thu hẹp lại”, gia đình hạt nhân đang trở nên phổ biến, dần thay thế gia đình mở rộng nhiều thế hệ sống trong một mái nhà. Xu hướng này biểu hiện rõ nét hơn khi tốc độ đô thị hoá ngày càng gia tăng.

Thứ hai, chức năng giáo dục thế hệ trẻ và truyền thụ văn hoá đang ít nhiều bị xem nhẹ. Gia đình đang có xu hướng “giao phó” chức năng này cho thiết chế trường học và hệ thống các dịch vụ xã hội khác.

Thứ ba, chức năng kinh tế gia đình đang có xu hướng chuyển phần “sản xuất” sang “tiêu dùng”. Vẫn tồn tại với tư cách là một đơn vị kinh tế, song các thành viên trong gia đình lại theo đuổi các mục đích khác nhau, theo đó là các hoạt động kinh tế khác nhau, mỗi thành viên có một “tài khoản” riêng mà không cùng sản xuất và chung một “nguồn ngân sách” như trong gia đình truyền thống.

Thứ tư, các mối quan hệ trong gia đình trở nên lỏng lẻo, sợi dây liên kết các thành viên đang bị “nới rộng ra” theo hướng tự chủ, phát triển độc lập và cá nhân hoá. Khuynh hướng này có thể làm suy yếu tính cộng đồng, cộng cảm trong phạm vi gia đình.

Thứ năm, vai trò điều hoà đời sống tâm lý – tình cảm trong gia đình hiện nay cũng đang bị “xói mòn”. Người già và trẻ em đang phải đối mặt với sự cô đơn, sự thiếu quan tâm và chăm sóc từ các thành viên khác trong gia đình. Họ đang dần bị “đẩy” ra các nhà dưỡng lão, nhà trẻ, trung tâm chăm sóc sức khoẻ và các dịch vụ xã hội khác.

Thứ sáu, cấu trúc gia đình dễ biến động, thiếu tính bền vững hơn do sự thay đổi trong quan niệm về hôn nhân, hạnh phúc, trách nhiệm với gia đình của các thành viên cũng như trong các chuẩn mực giá trị, quy phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình.

Qua phân tích, có thể đi đến kết luận rằng, gia đình Việt Nam đã và đang biến đổi dưới sự tác động của những biến đổi về kinh tế, xã hội và giao lưu văn hoá toàn cầu. Sự biến đổi đó không tách rời hoàn toàn với những đặc trưng của gia đình truyền thống mà là sự điều chỉnh, thích nghi với những hoàn cảnh và điều kiện xã hội mới. Thực tế, gia đình Việt Nam đang phải đối mặt với rất nhiều thách thức và phải lựa chọn cho mình một khuôn mẫu phù hợp, trong đó có sự cân bằng giữa việc bảo lưu những yếu tố truyền thống bền vững với những thay đổi không ngừng của xã hội hiện đại. Với khả năng thích ứng cao trên nền tảng văn hoá truyền thống, gia đình Việt Nam vẫn hoàn toàn có khả năng gìn giữ được những nét bản sắc đặc trưng của nó ngay trong điều kiện phát triển của thế giới hiện đại.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Xem Phát triển Xã hội ở Việt Nam. Một tổng quan xã hội học năm 2000. Trịnh Duy Luân chủ biên. Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002.

2 Bài viết: Một tổ hợp đẹp, xinh xắn, cân đối và mạnh mẽ. Những nghiên cứu Xã hội học về gia đình Việt Nam. Nxb Khoa học Xã hội. Hà Nội, 1996.

3 Hồ Ngọc Đại. Tam giác gia đình. Tạp chí Xã hội học. Số 3.1990, trang 4.

4 Trịnh Hoà Bình. Chương trình thời sự Chào buổi sáng (VTV1). Nhân ngày Gia đình Việt Nam (28.6.2006).

5 Chính sách và giải pháp nhằm phát triển gia đình ở Hà Nội (Báo cáo tổng hợp). Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em và Trung tâm Xã hội học – Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh thực hiện tháng 3.2005.

6 Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 2.4.2007.

SOURCE:  TẠP CHÍ HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC 6/2006

TƯ TƯỞNG NHO GIÁO VỀ GIA ĐÌNH VÀ XÂY DỰNG GIA ĐÌNH MỚI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Minh Anh

Được ví như cái nước nh, Nho giáo cho rng, gia đình có v trí quan trng trong s n đnh ca xã hi. Vì vy, nhng hành vi ng x và giao tiếp ca mi thành viên trong gia đình được Nho giáo quy đnh cht ch, ph thuc vào danh phn mi người. Nhng quy đnh này, nếu loi b nhng yếu tô bo th, mt dân ch thì cho đến nay, vn còn có giá tr. Do đó, kế tha nhng tư tưởng tích cc ca Nho giáo v gia đình trong vic xây dng gia đình mi Vit Nam hin nay nhm thc hin thành công xây dng nn kinh tế th trường đnh hướng xã hi ch nghĩa, là vic làm cn thiết.

Khác với các học thuyết triết học Phương Tây, triết học phương Đông nói chung và đặc biệt là Nho giáo nói riêng, luôn xem xét con người trong tổng hòa các mối quan hệ xã hội. Ở Nho giáo, chúng ta thấy, không tồn tại một con người cá nhân, một cái tôi tách khỏi xã hội. Chính việc nhìn nhận con người trong các mối quan hệ xã hội đã giúp Nho giáo đề ra được những giải pháp bình ổn xã hội.

Theo quan niệm Nho giáo, mọi người trong xã hội đều bị trói buộc bởi năm mối quan hệ tự nhiên. Đó là quan hệ cha – con, vợ – chồng, anh – em, vua – tôi, bạn – bè. Năm mối quan hệ này phản ánh hai mặt của cuộc sống hiện thực là quan hệ gia đình và quan hệ xã hội. Trong xã hội phong kiến, mối quan hệ gia đình được củng cố bằng chế độ tông pháp và chế độ gia trưởng, còn các quan hệ xã hội thì được duy trì bởi chế độ chính trị đẳng cấp. Đi cùng với các mối quan hệ đó là những yêu cầu giao tiếp bắt buộc mà mỗi thành viên trong xã hội phải thực hiện.

Tương ứng với mỗi quan hệ, Nho giáo đặt ra những yêu cầu mang tính quy phạm đạo đức và được pháp luật ngầm bảo trợ. Tất cả những mối quan hệ trên và các phương thức ứng xử hội tương ứng với nó, theo Nho giáo, là cái trời đã định sẵn cho con người. Đã là gia đình thì phải có vợ – chồng, cha – con, anh – em. Trong gia đình thì vợ – chồng phải hòa thuận, phu xướng thì vợ phải tùy, là cha – con thì cha phải hiền từ biết thương yêu và nuôi dạy con cái, biết làm gương cho con cái học tập. Ngược lại, phận làm con phải biết ghi nhớ công ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ, biết hiếu thuận với cha mẹ. Đã là anh em thì phải biết đoàn kết, thương yêu đùm bọc lẫn nhau, là anh chị thì phải biết nhường nhịn, thương yêu, là em thì phải biết nghe lời và lễ phép với anh chị. Trong quan hệ xã hội, Nho giáo đòi hỏi trước hết phải có lòng trung thành trong quan hệ vua tôi và trên dưới. Người dưới phục vụ người trên phải lấy chữ trung làm đầu. Kẻ trên đối xử với kẻ dưới phải lấy chữ nhân làm đầu, phải biết giữ lễ và phải có lòng tín thật. Xét chung trong mọi mối quan hệ, Nho giáo yêu cầu mỗi cá nhân phải lấy mình làm mốc mà yêu cầu đối với người. Cái gì mình muốn thì cũng làm hết lòng cho người khác và ngược lại, cái gì mình ghét thì cũng đừng đem lại cho người khác.

Bên cạnh đó, Nho giáo còn quan niệm rằng, mọi sự bất ổn trong xã hội đều có nguyên nhân từ việc ứng xử không tốt các mối quan hệ xã hội. Để bảo đảm sự ứng xử được đúng, Nho giáo yêu cầu mỗi người phải làm tết vai trò của mình. Vai trò đó được xác định bởi danh phận của mỗi người do xã hội quy định. Đó là phận làm vua, phận làm tôi, phận làm cha, phận làm con…. Danh phận của mỗi người quy định cách ứng xử của họ. Cách ứng xử theo danh phận Nho giáo gọi là lễ. Theo Nho giáo, nếu trong xã hội mỗi người đều làm tất bổn phận của mình thì xã hội sẽ thái bình. Nếu xã hội thái bình thì mọi người ai cũng được an cư lạc nghiệp. Khi đó tất cả những người già cả, trẻ nhỏ và những người cô quả sẽ được mọi thành viên trong xã hội quan tâm giúp đỡ. Cảnh tranh giành và chém giết nhau vì cái lợi sẽ không còn. Để làm được điều đó, Nho giáo đặc biệt nhấn mạnh tới vai trò của gia đình.

Nho giáo cho rằng, gia đình chính là một cái nước nhỏ. Vì thế, nếu “một nhà nhân hậu thì cả nước nhân hậu. Một nhả lễ nhượng thì cả nước ăn ở đều có lễ nhượng. Một người tham lam thì cả nước bị rối loạn” (Đại học, chương IX). Do đó, một xã hội muốn thanh bình thì trước hết cần phải có những gia đình hòa thuận. Gia đình hòa thuận là gia đình mà mọi thành viên luôn quan tâm đến nhau, chăm lo cho nhau. Trong gia đình đó, vợ chồng sống hòa thuận thương yêu nhau, cùng nhau chăm lo nuôi dưỡng dạy dỗ con cái nên người. Cha mẹ phải luôn giữ gìn lời ăn tiếng nói cũng như tác phong làm việc của mình để làm tấm gương cho con cái noi theo. Ngược lại, con cái phải luôn hiếu kính với ông bà, cha mẹ, biết phụng dưỡng chăm sóc ông bà, cha mẹ, biết làm cho ông bà, cha mẹ được rạng rỡ và không làm việc gì khiến cho ông bà, cha mẹ phải tủi hổ với hàng xóm láng giềng. Một gia đình hoà thuận còn là một gia đình mà anh em biết bảo ban nhau cùng tiến bộ, biết thương yêu đùm bọc lẫn nhau, biết em ngã thì chị nâng.

Để làm được điều đó, Nho giáo đòi hỏi mỗi người trong gia đình phải biết giữ gìn và tuân theo lễ, bởi cho rằng, chỉ có lễ con người mới trở thành con người xã hội: “Chim anh vũ có thể biết nói nhưng vẫn thuộc loài chim, con tinh tinh có thể biết nói nhưng vẫn thuộc loài cầm thú. Làm người mà không có lễ thì tuy biết nói đấy nhưng có khác gì loài cầm thú? Chỉ có loài cầm thú là không có lễ, cho nên cha con ở lẫn lộn với nhau. Vì vậy việc làm của bậc thánh nhân là lấy lễ dạy người khiến người ta ai cũng biết lễ để tự phân biệt mình với cầm thú” (Kinh Lễ, Khúc lễ thượng). Nhờ có lễ, con người mới có thể biết được như thế nào là có hiếu với cha mẹ, là kính với người trên, là từ đễ với anh em thân thích, là bạn hiền của bằng hữu, là nhân với người chung quanh, là tín thực với thân thuộc. Theo lễ, người con có hiếu và biết lễ phép thì “Khi ở trước mặt cha mẹ ruột hoặc cha mẹ chồng, nếu có lệnh phải vâng dạ kính cẩn, tiến thoái phải chu toàn thận trọng, lên xuống ra vào phải cung kính, không dám ho hoẹ, đằng hắng hay ngáp dài, không được đứng dựa nghiêng ngả liếc ngang liếc dọc, không dám phun nước bọt chùi nước mũi… Nếu như cha mẹ có lỗi lầm gì, mình vẫn phải vui vẻ hoà nhã dùng lời nói ôn hoà mà can gián. Nếu can mà (cha mẹ) không nghe lại càng phải giữ thái độ hoà nhã cung kính hơn, đợi cha mẹ nguôi ngoai rồi lại can gián. Nếu cha mẹ không nghe để đến nổi phạm lỗi lầm có tội với bạn bè hàng xóm, ta vẫn phải ôn hòa khuyên can. Nếu cha mẹ nóng giận đánh ta đến chảy máu, ta vẫn không dám giận oán mà vẫn phải kính trọng hiếu thuận với cha mẹ” (Kinh Lễ, Chương XII, tiết 2). Ngược lại, ngay từ khi con cái đến tuổi biết ăn cơm, cha mẹ “cần thiết phải dạy nó biết sử dụng tay phải, con trai phải biết thưa dạ, con gái phải biết nhu hòa… Khi con lên sáu tuổi, hãy dạy chúng về số học và đếm số… Tám tuổi, dạy chúng khi ra vào hay khi ngồi vào bàn ăn, nhất nhất phải theo sau bậc trưởng thượng, bắt đầu dạy cho chúng biết nhường nhịn… Mười tuổi, cho ra ngoài học thêm sách vở khác… bắt đầu hướng dẫn chúng về lễ, sớm tối tuân theo nghi thức của trẻ nhỏ… Hai mươi tuổi là làm lễ đội mũ, bắt đầu học lễ… dạy chúng thuần hậu về hiếu lễ” (Kinh Lễ, Chương XII, tiết 3). Nho giáo khẳng định, nếu xây dựng được một gia đình hoà thuận, con cái biết hiếu đễ cha mẹ biết từ nhượng thì đó cũng là làm chính trị rồi. Bởi nước cũng chỉ là một cái nhà to. Các căn nhà nhỏ – gia đình mà hòa thuận thì căn nhà to cũng sẽ hòa thuận. Vì thế, làm chính trị không cứ là phải ra làm quan.

Những tư tưởng trên của Nho giáo, ở một mặt nào đó có thể nói rằng, phù hợp với Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của chúng ta. Chúng ta cũng coi “Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng cả đời người, là môi trường quan trọng trong giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách”. Vì thế, Đảng ta đòi hỏi “Các chính sách của nhà nước phải chú ý tới xây dựng gia đình no ấm, hoà thuận, tiến bộ. Nâng cao ý thức về nghĩa vụ gia đình đối với mọi lớp người”(1). Với tính cách tế bào xã hội, vườn ươm các nhân tài của đất nước, nơi nuôi dưỡng những công dân mới cho tương lai, gia đình có vai trò quan trọng trong việc xây dựng thành công nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Sự tốt xấu của mỗi gia đình đều có ảnh hưởng tới sự ổn định của xã hội, tới sự chuyển đổi nền kinh tế từ kế hoạch hoá sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN mà chúng ta đang tiến hành. Tất nhiên, gia đình mới mà chúng ta xây dựng là một gia đình hòa thuận dựa trên cơ sở dân chủ: vợ chồng, cha con anh em tôn trọng lẫn nhau, cùng nhau bàn bạc và quyết định những vấn đề lớn của gia đình. Gia đình mới mà chúng ta xây dựng cũng đòi hỏi vợ chồng phải có lòng chung thuỷ, làm cha, mẹ phải có đức nhân từ, làm con phải có đức hiếu kính, làm anh em phải có sự thương yêu nhường nhịn. Hạt nhân của mỗi gia đình ấy chính là vợ và chồng.

Có thể thấy rằng, gia đình mới hiện nay, trước hết, cần phải là một gia đình vợ chồng sống chung thuỷ, tôn trọng lẫn nhau, bình đẳng với nhau về quyền lợi và trách nhiệm. Vợ chồng cùng nhau chia sẻ trách nhiệm giáo dục con cái, phụng dưỡng cha mẹ, ông bà.

Thứ hai, là một gia đình con cái biết hiếu kính với cha mẹ, ông bà bởi đức hiếu kính của người làm con để thờ cha mẹ cũng là cái gốc của đức nhân. Nói tới đức nhân là nói tới lòng yêu thương người. Cái gốc của yêu thương người trước hết chính là yêu thương cha mẹ mình, anh em của mình. Người mà không biết yêu thương cha mẹ có công sinh thành, dưỡng dục mình thì cũng không thể có được lòng yêu thương đồng chí, đồng bào mình. Vì vậy, chúng ta ngày nay cũng yêu cầu người làm con cần phải biết phụng dưỡng cha mẹ. Khi phụng dưỡng cha mẹ phải kính cẩn và có lễ phép. Chúng ta cũng kiên quyết phê phán những hành động ngược đãi cha mẹ già, không muốn làm nghĩa vụ phụng dưỡng cha mẹ già mà đùn đẩy cho xã hội hoặc con cái đun đẩy trách nhiệm chăm sóc cha mẹ cho nhau, hoặc có nuôi cha mẹ thì như nuôi vật cảnh mà thiếu sự kính trọng lễ phép. Đức hiếu ngày nay cũng đòi hỏi người làm con trong hành động và việc làm phải làm sao để cho cha mẹ có thể được tự hào với bà con lối xóm. Việc lười lao động, ham cờ bạc rượu chè chỉ biết đến của cải, lo liệu cho vợ con mà không nghĩ đến cha mẹ, không phải chỉ Nho giáo mà ngày nay chúng ta cũng cần lên án là hành vi bất hiếu.

Thứ ba, anh em trong gia đình phải biết bảo ban nhau, yêu thương nhau trên tinh thần em ngã chị nâng. Là người anh, người chị thì phải biết bao bọc che chở cho em, nhường nhịn em. Là người em phải biết kính trọng anh chị, nghe lời anh chị dạy bảo. Xã hội xưa cũng như nay không chấp nhận việc anh em chỉ biết yêu thương nhau qua đồng tiền, nhìn tình cảm anh em dưới lăng kính vật chất thuần tuý.

Như vậy, gia đình mới là một gia đình mà mỗi người đều có trách nhiệm và nghĩa vụ đối với danh phận của mình. Do đó, việc xây dựng gia đình mới cần dược gắn liền với việc giáo dục trách nhiệm và nghĩa vụ của mỗi người theo đúng danh phận của họ. Đó là cha phải ra cha, con phải ra con, anh phải ra anh, em phải ra em. Cần kiên quyết lên án những người cha không còn ra cha bởi lối sống ích kỷ, thực dụng đã để lại tấm gương xấu cho con cháu, cũng cần lên án và có biện pháp nghiêm khắc đối với những người con không còn ra con, chỉ biết tiền mà không biết tình, chỉ biết tới quyền lợi mà không biết tới nghĩa vụ khiến cho cha mẹ phải tủi hổ.

Việc xây dựng thành công gia đình mới có một ý nghĩa quan trọng trong sự nghiệp xây dụng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta. Bởi gia đình mới chính là nền tảng của sự ổn định xã hội, tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế và bảo vệ Tổ quốc, là nơi phòng chống có hiệu quả nhất mọi tệ nạn xã hội đang làm phương hại đời sống tinh thần của con người. Gia đình mới còn là nơi có khả năng nhất trong việc bảo lưu giữ gìn những bản sắc truyền thống văn hoá của dân tộc. Ngoài ra, đây còn là nơi cung cấp những công dân mới có đức, có tài cho sự nghiệp xây dựng xã hội mới. Đặc biệt, trong điều kiện chúng ta tiến hành xây dựng một nền kinh tế thị trường cùng với sự mở cửa hội nhập với thế giới thì gia đình mới càng đóng vai trò quan trọng hơn bao giờ hết. Mô hình gia đình vợ chồng hoà thuận, cha từ con hiếu, anh em thương yêu đùm bọc nhau chính là thành trì để ngăn cản sự xâm hại những tư tưởng thực dụng, vị kỷ, lối sống gấp chỉ biết hôm nay mà không cần biết ngày mai. Như vậy, có thể nói rằng, nếu loại bỏ những tư tưởng bảo thủ, mất dân chủ thì việc kế thừa những giá trị luân lý tích cực của Nho giáo về gia đình để xây dựng gia đình mới nhằm đáp ứng được sự phát triển đất nước là điều nên làm. Gia đình mới chính là nơi kế thừa những tinh hoa của gia đình cũ kết hợp với những chuẩn mực đạo đức mới của xã hội mới. Những tinh hoa đó, trước hết, là tư tưởng vợ chồng hoà thuận, cha từ con hiếu, anh em thương yêu đùm bọc nhau… của Nho giáo.

Thực tế những lý tưởng nhân đạo, khát vọng hoà bình của Nho giáo cũng là lý tưởng và khát vọng của chúng ta hiện nay. Mặc dù bị hạn chế do lịch sử, song một số tư tưởng cũng như biện pháp mà Nho giáo đề ra cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Cũng giống như Nho giáo, hiện nay chúng ta đã và đang ra sức phấn đấu cho một thế giới hoà bình, cho sự bình đẳng của mọi dân tộc trên toàn thế giới. Vì vậy, chúng ta cần ngăn chặn được các tệ nạn xã hội, mọi thảm hoạ chiến tranh, chống lại được nạn khủng bố trên phạm vi toàn thế giới. Do đó, kế thừa các tư tưởng nhân văn trong ứng xử và giao tiếp giữa người với người của Nho giáo là một việc làm hết sức cần thiết.

(1) Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Nxb Sự thật, Hà Nội, 1991, tr.5.

Theo Tạp chí Triết học

Download here: http://www.mediafire.com/?3mytmnd2mwm