BÁO CÁO MỤC TIÊU, QUAN ĐIỂM VÀ trong xây dựng Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000

TÀI LIỆU (DỰ THẢO) CHÍNH THỨC TẠI HỘI NGHỊ TOÀN QUỐC TỔNG KẾT THI HÀNH LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2000

(Ngày 16/4/2013)

BỘ TƯ PHÁP

I. MỤC TIÊU, QUAN ĐIỂM XÂY DỰNG LUẬT

1. Mục tiêu

Xây dựng Luật hôn nhân và gia đình (Luật HN-GĐ) nhằm đáp ứng được các yêu cầu khách quan của thực tiễn hôn nhân và gia đình Việt Nam; công nhận, thực hiện và bảo vệ tốt hơn các quyền nhân thân và tài sản của cá nhân về hôn nhân và gia đình; nâng cao trách nhiệm của cá nhân đối với gia đình; vai trò của gia đình đối với xã hội; vai trò của nhà nước và xã hội đối với gia đình.

2. Các quan điểm xây dựng Luật

Thứ nhất, thể chế hóa yêu cầu của Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam về “xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, thật sự là tế bào lành mạnh của xã hội, là môi trường quan trọng, trực tiếp giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách”; cụ thể hoá Hiến pháp, Chiến lược của Chính phủ về xây dựng và phát triển Gia đình Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030;

Thứ hai, tôn trọng và bảo đảm thực hiện quyền con người trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình; bình đẳng giới; bảo vệ bà mẹ, trẻ em và những người yếu thế khác; quyền, lợi ích của cá nhân về hôn nhân và gia đình; lợi ích của gia đình; quyền, lợi ích của người khác;

Thứ ba, kế thừa và phát triển các quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình Việt Nam; các giá trị văn hóa, đạo đức truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam, đồng thời tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế về hôn nhân và gia đình. Trên cơ sở đó, đảm bảo cho pháp luật về hôn nhân và gia đình Việt Nam vừa thể hiện được các giá trị truyền thống của gia đình Việt Nam vừa phù hợp với các quy định pháp luật và các giá trị chung về HN-GĐ ở các nước trên thế giới, góp phần thúc đẩy hội nhập quốc tế của Việt Nam;

– Thứ tư, đảm bảo tính đồng bộ, khả thi của Luật HN-GĐ.

II. PHẠM VI SỬA ĐỔI VÀ MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG LỚN TRONG XÂY DỰNG LUẬT

1. Phạm vi sửa đổi Luật HN-GĐ năm 2000

Căn cứ vào thực trạng quy định của Luật HN-GĐ năm 2000 và các đề xuất, kiến nghị của các Bộ, ngành và địa phương, được thể hiện trong các Báo cáo tổng kết về thi hành Luật HN-GĐ năm 2000, Ban soạn thảo cho rằng việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật HN-GĐ sẽ không đáp ứng được các yêu cầu khách quan về xây dựng và hoàn thiện chế độ hôn nhân và gia đình Việt Nam trong giai đoạn phát triển kinh tế – xã hội hiện nay và các giai đoạn phát triển tiếp theo. Do đó, Ban soạn thảo đề xuất phạm vi sửa đổi, bổ sung Luật HN-GĐ lần này phải là cơ bản và toàn diện. Trên cơ sở quan điểm này, đề nghị đổi tên Luật sửa đổi một số điều của Luật HN-GĐ thành Luật HN-GĐ (sửa đổi).

Continue reading

BÁO CÁO MỤC TIÊU, QUAN ĐIỂM VÀ MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG LỚN TRONG XÂY DỰNG LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2000

TÀI LIỆU (DỰ THẢO) CHÍNH THỨC TẠI HỘI NGHỊ TOÀN QUỐC TỔNG KẾT THI HÀNH LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2000 – 16/4/2013

BỘ TƯ PHÁP

I. MỤC TIÊU, QUAN ĐIỂM XÂY DỰNG LUẬT

1. Mục tiêu

Xây dựng Luật hôn nhân và gia đình (Luật HN-GĐ) nhằm đáp ứng được các yêu cầu khách quan của thực tiễn hôn nhân và gia đình Việt Nam; công nhận, thực hiện và bảo vệ tốt hơn các quyền nhân thân và tài sản của cá nhân về hôn nhân và gia đình; nâng cao trách nhiệm của cá nhân đối với gia đình; vai trò của gia đình đối với xã hội; vai trò của nhà nước và xã hội đối với gia đình.

2. Các quan điểm xây dựng Luật

Thứ nhất, thể chế hóa yêu cầu của Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam về “xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, thật sự là tế bào lành mạnh của xã hội, là môi trường quan trọng, trực tiếp giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách”; cụ thể hoá Hiến pháp, Chiến lược của Chính phủ về xây dựng và phát triển Gia đình Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030;

Thứ hai, tôn trọng và bảo đảm thực hiện quyền con người trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình; bình đẳng giới; bảo vệ bà mẹ, trẻ em và những người yếu thế khác; quyền, lợi ích của cá nhân về hôn nhân và gia đình; lợi ích của gia đình; quyền, lợi ích của người khác;

Thứ ba, kế thừa và phát triển các quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình Việt Nam; các giá trị văn hóa, đạo đức truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam, đồng thời tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế về hôn nhân và gia đình. Trên cơ sở đó, đảm bảo cho pháp luật về hôn nhân và gia đình Việt Nam vừa thể hiện được các giá trị truyền thống của gia đình Việt Nam vừa phù hợp với các quy định pháp luật và các giá trị chung về HN-GĐ ở các nước trên thế giới, góp phần thúc đẩy hội nhập quốc tế của Việt Nam;

– Thứ tư, đảm bảo tính đồng bộ, khả thi của Luật HN-GĐ.

II. PHẠM VI SỬA ĐỔI VÀ MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG LỚN TRONG XÂY DỰNG LUẬT

1. Phạm vi sửa đổi Luật HN-GĐ năm 2000

Căn cứ vào thực trạng quy định của Luật HN-GĐ năm 2000 và các đề xuất, kiến nghị của các Bộ, ngành và địa phương, được thể hiện trong các Báo cáo tổng kết về thi hành Luật HN-GĐ năm 2000, Ban soạn thảo cho rằng việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật HN-GĐ sẽ không đáp ứng được các yêu cầu khách quan về xây dựng và hoàn thiện chế độ hôn nhân và gia đình Việt Nam trong giai đoạn phát triển kinh tế – xã hội hiện nay và các giai đoạn phát triển tiếp theo. Do đó, Ban soạn thảo đề xuất phạm vi sửa đổi, bổ sung Luật HN-GĐ lần này phải là cơ bản và toàn diện. Trên cơ sở quan điểm này, đề nghị đổi tên Luật sửa đổi một số điều của Luật HN-GĐ thành Luật HN-GĐ (sửa đổi).

Continue reading

BÁO CÁO TỔNG KẾT THI HÀNH LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2000

TÀI LIỆU (DỰ THẢO) CHÍNH THỨC TẠI HỘI NGHỊ TOÀN QUỐC TỔNG KẾT THI HÀNH LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2000 – 16/4/2013

BỘ TƯ PHÁP

Qua các thông tin, số liệu, đánh giá, nhận định được thể hiện trong Báo cáo tổng kết của 55 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương,[1]-[2] Báo cáo tổng kết của 7 Bộ, ngành và tổ chức có liên quan;[3] ý kiến bằng văn bản của 106 các cơ quan, tổ chức; Báo cáo kết quả của các tọa đàm, hội thảo khoa học, Bộ Tư pháp xây dựng Báo cáo này để tổng kết những kết quả đạt được và những bất cập, hạn chế của Luật hôn nhân và gia đình (Luật HN-GĐ) qua thực tiễn 12 năm thi hành như sau [4]:

I. NHỮNG KẾT QUẢ ĐÃ ĐẠT ĐƯỢC TRONG QUÁ TRÌNH THỰC THI LUẬT HN-GĐ NĂM 2000

1. Trong công tác xây dựng văn bản hướng dẫn thi hành Luật

Trong 12 năm qua, công tác xây dựng văn bản hướng dẫn thi hành Luật HN- GĐ đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Cụ thể là, bảo đảm Luật HN-GĐ thực sự đi vào cuộc sống, ngày 9/6/2000, Quốc hội khóa X đã ban hành Nghị quyết số 35/2000/QH10 về thi hành Luật này (Nghị quyết số 35/2000/QH10) trong đó đã quy định rõ trách nhiệm của Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, tự mình hoặc phối hợp tổ chức việc rà soát các quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình hiện hành để huỷ bỏ, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới, đề nghị Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội huỷ bỏ, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới cho phù hợp với quy định của Luật này, bảo đảm hiệu lực của Luật từ ngày 01 tháng 01 năm 2001; nguyên tắc áp dụng pháp luật đối với những trường hợp nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng trước thời điểm Luật HN-GĐ năm 2000 có hiệu lực.

Thực thi Luật HN-GĐ và Nghị quyết số 35/2000/QH10, Chính phủ đã ban hành nhiều Nghị định để hướng dẫn chi tiết, như: Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 03/10/2001 quy định chi tiết thi hành Luật HN-GĐ năm 2000; Nghị định số 77/2001/NĐ-CP ngày 22/10/2001 quy định chi tiết về đăng ký kết hôn theo Nghị quyết số 35/2000/QH10; Nghị định số 32/2002/NĐ-CP ngày 27/3/2002 quy định việc áp dụng Luật HN-GĐ đối với các dân tộc thiểu số; Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10/7/2002 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật HN-GĐ về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài; Nghị định số 69/2006/NĐ-CP ngày 21/7/2006 quy định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10/7/2002 về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài; Nghị định số 24/2013/NĐ-CP ngày 28/3/2013 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật HN-GĐ về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài … Bộ Tư pháp, Bộ Y tế, Bộ Ngoại giao cùng một số Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ ban hành nhiều thông tư, thông tư liên tịch hướng dẫn thi hành các Nghị định của Chính phủ về thi hành Luật HN-GĐ.

Continue reading

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH CỦA LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2000 QUA THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT CÁC VỤ VIỆC VỀ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH CỦA NGÀNH TÒA ÁN – NHỮNG BẤT CẬP, HẠN CHẾ VÀ ĐỀ XUẤT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG

THAM LUẬN CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HỘI NGHỊ TOÀN QUỐC TỔNG KẾT THI HÀNH LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2000 – 16/4/2013

Tòa án với tư cách là cơ quan duy nhất trong hệ thống các cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét xử, có vai trò quan trọng trong việc góp phần tuân thủ, chấp hành các quy định của pháp luật. Từ việc áp dụng các quy định của pháp luật trong công tác xét xử các vụ việc thuộc nhiệm vụ của mình, Tòa án góp phần tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật của Nhà nước đến nhân dân,… Qua đó, đóng góp quan trọng đến công tác tổng kết thực tiễn, kinh nghiệm xét xử, tác động đến chất lượng công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Tòa án nói riêng và Nhà nước ta nói chung.

Luật Hôn nhân và Gia đình (sau đây viết tắt là Luật HNGĐ) có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01-01-2001. Sau hơn mười hai năm thi hành, Luật HNGĐ đã góp phần quan trọng trong việc bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức. Bảo đảm ổn định cuộc sống gia đình trong xã hội phát huy truyền thống phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc Việt Nam nâng cao vai trò trách nhiệm của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong việc tôn trọng và chấp hành các quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình.

Tuy nhiên, qua quá trình giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình của ngành Tòa án cho thấy, một số quy định của Luật HNGĐ không phù hợp với thực tiễn, có những quy định mâu thuẫn với các văn bản quy phạm pháp luật khác, có những quy định chưa phù hợp (hoặc không còn phù hợp), có những quy định chưa đầy đủ, thiếu rõ ràng và còn có những cách hiểu khác nhau, có những quy định chưa bảo đảm được quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, có những vấn đề mới phát sinh trong xã hội chưa được pháp luật về hôn nhân và gia đình điều chỉnh,…

Trong phạm vi chuyên đề này, chúng tôi xin đề cập những vướng mắc, bất cập của một số quy định của Luật HNGĐ. Những vướng mắc bất cập này được tổng hợp nghiên cứu qua quá trình tổng kết thực tiễn thi hành Luật HNGĐ năm 2000 trong công tác xét xử các vụ việc hôn nhân và gia đình của ngành Tòa án các cấp trên phạm vi toàn quốc. Qua đó đưa ra một số kiến nghị đề xuất sửa đổi, bổ sung đối với Luật HNGĐ.

I. TÌNH HÌNH GIẢI QUYẾT CÁC VỤ VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH CỦA NGÀNH TÒA ÁN

Qua việc tổng hợp số liệu thống kê của Tòa án nhân dân tối cao, từ ngày 01-9-2000 đến ngày 30-9-2011, Tòa án nhân dân các cấp đã thụ lý 3.143.746 vụ việc dân sự, kinh doanh thương mại, lao động, hành chính, hôn nhân và gia đình. Trong đó số vụ việc về hôn nhân và gia đình là 875.282 (chiếm khoảng 30% tổng số vụ việc dân sự đã thụ lý). Ngành Tòa án đã thực hiện tốt quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình, hoàn thành tốt nhiệm vụ. Cụ thể như sau[1]:

Continue reading

Về tính khả thi trong thực tiễn áp dụng quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 ĐỐI VỚI ĐỒNG BÀO CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH GIA LAI

NGUYỄN THÀNH DUY

Gia Lai là tỉnh miền núi, biên giới nằm ở phía Bắc vùng Tây Nguyên, với dân số 1.213.750 người (số liệu thống kê năm 2008) bao gồm 34 cộng đồng dân tộc cùng sinh sống. Trong đó, người Việt (Kinh) chiếm 52% dân số. Còn lại là các dân tộc Jrai (33,5%), Bahnar (13,7%), Giẻ-triêng, Xơ-đăng, Thái, Mường… Cư dân Gia Lai có thể chia làm hai bộ phận: bộ phận cư dân bản địa đã sinh sống ở Gia Lai từ lâu đời gồm dân tộc dân tộc Jrai và Bahnar, bộ phận cư dân mới đến bao gồm người Việt và các dân tộc ít người khác. Đến cuối năm 2006, Gia Lai có 23.770 người là đồng bào các dân tộc ít người không thuộc bộ phận các cư dân bản địa, chiếm 2,04% dân số toàn tỉnh (1).

Mặc dù Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 đã có hiệu lực thi hành 12 năm, nhưng một bộ phận người dân, nhất là người đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh vẫn chưa nhận thức hoặc chưa nắm vững về chế độ hôn nhân và gia đình, quyền và nghĩa vụ cũng như các nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình. Công tác giáo dục, tuyên truyền, phổ biến pháp luật luôn được các cấp chính quyền quan tâm chú trọng nhưng với địa bàn rộng lớn, đại bộ phận người dân tộc ít người thường xuyên sinh sống ở vùng sâu, vùng xa, trình độ dân trí tương đối thấp, tập quán “du canh, du cư” vẫn tồn tại nên việc thi hành pháp luật về hôn nhân và gia đình đối với đồng bào dân tộc thiểu số trên thực tiễn vẫn là một “bài toán” hết sức nan giải. Trên địa bàn tỉnh vẫn còn tồn tại nhiều hủ tục lạc hậu trong việc kết hôn, ly hôn, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con hoặc bất bình đẳng nam nữ trong quan hệ hôn nhân…Các hủ tục lạc hậu này đã cản trở hôn nhân tiến bộ và cản trở hiệu lực, tính khả thi của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 cũng như Nghị định số 32/2002/NĐ-CP ngày 27/3/2002 của Chính phủ, quy định về việc áp dụng Luật hôn nhân và gia đình đối với các dân tộc thiểu số.

Một số người dân thuộc đồng bào dân tộc Jrai, Bahnar còn tồn tại nhiều hủ tục lạc hậu như: trường hợp người mẹ mới sinh con mà chết sớm thì người con phải chết theo mẹ; con sinh ra mà không có cha thì bị giết chết hoặc một số trường hợp sinh đôi thì phải giết một trong hai người con sinh đôi…Các hủ tục lạc hậu này, đã đi ngược lại với các quy định nhân văn, tiến bộ của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000. Do vậy, nguyên tắc bảo vệ trẻ em được quy định tại Điều 2 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 không được một bộ phận người dân tôn trọng, thực hiện.

Người Jrai, Bahnar theo chế độ Mẫu hệ nên con gái được coi trọng hơn con trai. Quyền hành trong nhà đều do người bà, người mẹ quyết định. Con gái đến tuổi, muốn kết hôn thì phải đi “bắt chồng”. Vì vậy, các quy định về bình đẳng trong quan hệ vợ chồng hoặc quy định về không phân biệt đối xử giữa các con, giữa con trai, con gái – là những nguyên tắc cơ bản của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 (quy định tại Điều 2) cũng bị xâm phạm và không được áp dụng ở một bộ phận người dân.

Continue reading

VỀ TÍNH KHẢ THI TRONG THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH VỦA LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2000 ĐỐI VỚI ĐỒNG BÀO CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH GIA LAI

http://pleiku.gialai.gov.vn/UploadFolder/images/Thanh%20Hien%202012/V%C4%83n%20h%C3%B3a/cong%20chieng2.jpgNGUYỄN THÀNH DUY

Gia Lai là tỉnh miền núi, biên giới nằm ở phía Bắc vùng Tây Nguyên, với dân số 1.213.750 người (số liệu thống kê năm 2008) bao gồm 34 cộng đồng dân tộc cùng sinh sống. Trong đó, người Việt (Kinh) chiếm 52% dân số. Còn lại là các dân tộc Jrai (33,5%), Bahnar (13,7%), Giẻ-triêng, Xơ-đăng, Thái, Mường… Cư dân Gia Lai có thể chia làm hai bộ phận: bộ phận cư dân bản địa đã sinh sống ở Gia Lai từ lâu đời gồm dân tộc dân tộc Jrai và Bahnar, bộ phận cư dân mới đến bao gồm người Việt và các dân tộc ít người khác. Đến cuối năm 2006, Gia Lai có 23.770 người là đồng bào các dân tộc ít người không thuộc bộ phận các cư dân bản địa, chiếm 2,04% dân số toàn tỉnh (1).

Mặc dù Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 đã có hiệu lực thi hành 12 năm, nhưng một bộ phận người dân, nhất là người đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh vẫn chưa nhận thức hoặc chưa nắm vững về chế độ hôn nhân và gia đình, quyền và nghĩa vụ cũng như các nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình. Công tác giáo dục, tuyên truyền, phổ biến pháp luật luôn được các cấp chính quyền quan tâm chú trọng nhưng với địa bàn rộng lớn, đại bộ phận người dân tộc ít người thường xuyên sinh sống ở vùng sâu, vùng xa, trình độ dân trí tương đối thấp, tập quán “du canh, du cư” vẫn tồn tại nên việc thi hành pháp luật về hôn nhân và gia đình đối với đồng bào dân tộc thiểu số trên thực tiễn vẫn là một “bài toán” hết sức nan giải. Trên địa bàn tỉnh vẫn còn tồn tại nhiều hủ tục lạc hậu trong việc kết hôn, ly hôn, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con hoặc bất bình đẳng nam nữ trong quan hệ hôn nhân…Các hủ tục lạc hậu này đã cản trở hôn nhân tiến bộ và cản trở hiệu lực, tính khả thi của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 cũng như Nghị định số 32/2002/NĐ-CP ngày 27/3/2002 của Chính phủ, quy định về việc áp dụng Luật hôn nhân và gia đình đối với các dân tộc thiểu số.

Một số người dân thuộc đồng bào dân tộc Jrai, Bahnar còn tồn tại nhiều hủ tục lạc hậu như: trường hợp người mẹ mới sinh con mà chết sớm thì người con phải chết theo mẹ; con sinh ra mà không có cha thì bị giết chết hoặc một số trường hợp sinh đôi thì phải giết một trong hai người con sinh đôi…Các hủ tục lạc hậu này, đã đi ngược lại với các quy định nhân văn, tiến bộ của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000. Do vậy, nguyên tắc bảo vệ trẻ em được quy định tại Điều 2 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 không được một bộ phận người dân tôn trọng, thực hiện.

Người Jrai, Bahnar theo chế độ Mẫu hệ nên con gái được coi trọng hơn con trai. Quyền hành trong nhà đều do người bà, người mẹ quyết định. Con gái đến tuổi, muốn kết hôn thì phải đi “bắt chồng”. Vì vậy, các quy định về bình đẳng trong quan hệ vợ chồng hoặc quy định về không phân biệt đối xử giữa các con, giữa con trai, con gái – là những nguyên tắc cơ bản của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 (quy định tại Điều 2) cũng bị xâm phạm và không được áp dụng ở một bộ phận người dân.

Continue reading

VĂN HÓA GIA ĐÌNH

LÊ NGỌC VĂN – Viện Gia đình và Giới, Viện Khoa học xã hội Việt Nam

Từ hướng tiếp cận xã hội học về văn hóa, tác giả bài viết đưa ra cách hiểu về khái niệm văn hóa gia đình: những đặc trưng, quy luật hình thành và phát triển; cấu trúc, chức năng; đối tượng và các nội dung nghiên cứu của văn hóa gia đình. Hướng tiếp cận xã hội học về văn hóa gia đình co thể giúp cho các nhà nghiên cứu xã hội học gia đình có thêm những cơ sở khoa học cho việc triển khai các công trình nghiên cứu văn hóa gia đình và sự biến đổi của văn hóa gia đình Việt Nam.

1. Đặt vấn đề

Văn hóa gia đình là một nội dung quan trọng trong lĩnh vực nghiên cứu gia đình. Nghiên cứu văn hóa gia đình giúp chúng ta có cơ sở khoa học để hiểu đúng bản chất và truyền thống của gia đình Việt Nam, thấy được những nét tương đồng và khác biệt giữa gia đình Việt Nam với gia đình các dân tộc khác trong khu vực và trên thế giới. Trên cơ sở đó chúng ta có thể tìm kiếm những giải pháp và chiến lược phát huy vai trò to lớn của gia đình trong việc giữ gìn truyền thống quý báu của dân tộc, góp phần củng cố sự bền vững của gia đình, giữ vững ổn định xã hội, phát triển kinh tế, nuôi dưỡng, giáo dục và cung cấp nguồn lực con người đáp ứng đòi hỏi của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nghiên cứu văn hóa gia đình còn giúp chúng ta hiểu được bản chất văn hóa Việt Nam, bởi vì gia đình Việt Nam là một thiết chế nền tảng của xã hội Việt Nam truyền thống, có chức năng lưu giữ và chuyển giao các giá trị văn hóa của dân tộc từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Để nghiên cứu văn hóa gia đình thì việc xác định khái niệm văn hóa gia đình, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của văn hóa gia đình đóng vai trò quan trọng.

Continue reading

HIỂU THẾ NÀO VỀ YẾU TỐ “HÔN” TRONG TỪ “HÔN NHÂN”

NGUYỄN TRUNG THUẦN

Vì “hôn nhân 婚姻” là một từ gốc Hán, nên ta thử tìm hiểu một cách lí giải về yếu tố “Hôn 婚” trong từ này của các tác giả Trung Quốc.

Hình thức cưới xin của loài người trong xã hội thời thượng cổ là như thế nào vẫn đang còn là một dấu hỏi đối với mỗi chúng ta. Một số học giả Trung Quốc trước đây cho rằng, trong lịch sử nước họ chỉ có hình thức hôn nhân “sính lễ ăn hỏi (“sính thú hôn”) theo lệnh của cha mẹ, theo lối của người làm mối mà thôi, còn thì không có hình thức hôn nhân nào khác. Họ không muốn đi sâu vào tìm hiểu diện mạo thật của nó, vì sợ làm mất thể diện của tổ tiên.

Sự thật là ngoài hình thức “sính thú hôn” ra, ở Trung Quốc còn có cả một vài hình thức khác nữa. Điều này đã được bộc lộ ra trong lời quẻ Truân của “Chu Dịch”, tức “Kinh dịch” – bộ sách ra đời cách đây khoảng 3000 năm. Lời quẻ Truân: “Thừa mã ban như, khấp huyết liên như, phỉ khấu hôn cấu”. Có nghĩa là: Tiếng vó ngựa vang lộp cộp, người con gái khóc nước mắt đầm đìa, kẻ cướp nàng làm cô dâu. Hiểu được câu này, thì nghĩa của từ “hôn” đã được giải đáp. “Bọn cướp” đi “cướp” cô dâu tất nhiên không thể “cướp” vào ban ngày được, mà dứt khoát phải là sau lúc hoàng hôn. Cho nên, trong các sách cổ của Trung Quốc, “hôn nhân” đều được viết là 昏姻 hoặc 昏因 (chữ “hôn 昏” này chính là “hôn” trong “hoàng hôn 黄昏” và có nghĩa “hoàng hôn”). Trong sách “Bạch hổ thông nghĩa. Giá thú thiên” ở đời Hán còn nói: “Hôn nhân là gì vậy”? Là hành lễ (cưới) vào lúc hoàng hôn, cho nên gọi là hôn vậy”. Cho đến nay, nghĩa này vẫn còn được bảo lưu. Chẳng hạn, khi một người nào đó vẫn còn chưa có “đối tượng”, nếu người khác đột nhiên hỏi anh ta đã kết hôn chưa, có thể anh ta sẽ dí dỏm mà đáp lại rằng: “kết hôn, kết hoàng hôn”. Qua đây có thể thấy, từ xưa đến nay ở Trung Quốc, giữa “kết hôn” và “hoàng hôn” luôn có mối liên hệ mật thiết với nhau.

Vì sao người xưa lại cứ phải đón dâu vào lúc tối trời? Lời quẻ Truân đã trả lời bằng “phỉ khấu hôn cấu”. Thì ra hình thức hôn nhân ở Trung Quốc thời thượng cổ là “hôn nhân cướp đoạt” (tức “lược đoạt hôn”). “Hôn nhân cướp đoạt” là chỉ bên nhà trai dùng phương thức cướp đoạt để cưỡng chiếm một người con gái làm vợ khi người con gái ấy cùng người thân của cô còn chưa có ý kiến gì. Mà đã là chuyện cướp đoạt phụ nữ thì chỉ có thể ra tay vào lúc nhập nhoạng tối tăm. (Tục “cướp vợ” tồn tại trong một vài dân tộc ít người ở Việt Nam chắc hẳn cũng là theo hình thức hôn nhân này). Việc kết hôn các đời sau đó vẫn diễn ra theo tập quán này, tức đều đón dâu vào lúc trời đã ngả tối. Chính vì thế mà khái niệm “hôn nhân” đã dần được hình thành, và lễ cưới được gọi là “hôn lễ”.

Continue reading

VẤN ĐỀ CHUNG SỐNG NHƯ VỢ CHỒNG KHÔNG CÓ ĐĂNG KÝ KẾT HÔN: ĐỊNH HƯỚNG SỬA ĐỔI, BỔ SUNG VÀ LỒNG GHÉP VẤN ĐỀ GIỚI

NGUYỄN HỒNG HẢI

1. Khái quát về việc chung sống như vợ chồng không có đăng ký kết hôn và quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình hiện hành

a. Trong thực tiễn xã hội, bên cạnh các quan hệ hôn nhân tuân thủ điều kiện kết hôn và thủ tục đăng ký kết hôn theo luật định cũng luôn tồn tại những quan hệ chung sống như vợ chồng không có đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Việc chung sống như vợ chồng có thể được nhìn nhận ở nhiều góc độ khác nhau hoặc cách tiếp cận khác nhau.

* Trên phương diện chủ thể, có thể hình thành việc chung sống như vợ chồng:

– Giữa nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn. Họ không thực hiện việc đăng ký kết hôn theo ý chí của họ hoặc hoặc vì một lý do chủ quan, khách quan nào đó không thực hiện được việc đăng ký (ví dụ, họ quan tâm đến tổ chức lễ cưới theo tập quán hơn là tổ chức theo nghi thức kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền…);

– Giữa nam, nữ vi phạm một trong các điều kiện kết hôn (ví dụ, người đang có vợ, chồng lại chung sống như vợ chồng với người khác…). Họ không thực hiện việc đăng ký theo ý chí của họ hoặc họ mong muốn được đăng ký nhưng không thể đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền do vi phạm điều kiện kết hôn;

– Giữa những người cùng giới tính. Họ không thực hiện việc đăng ký kết hôn theo ý chí của họ hoặc mong muốn được đăng ký kết hôn nhưng không thể đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền do vi phạm điều kiện về giới tính;

– Giữa người chuyển giới với người khác hoặc giữa những người chuyển giới với nhau. Họ không thực hiện việc đăng ký kết hôn theo ý chí của họ hoặc họ mong muốn được đăng ký nhưng không thể đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền vì việc chuyển giới của họ chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận.

* Trên phương diện công khai của quan hệ, việc chung sống có thể thuộc một trong các trường hợp sau:

– Có tổ chức lễ cưới theo tập quán hoặc dưới một hình thức công khai nhất định;

– Được gia đình một bên hoặc gia đình hai bên thừa nhận;

– Được tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền chứng kiến hoặc công nhận;

– Các bên thực hiện trên thực tế các hành vi coi nhau như vợ chồng.

Continue reading

MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ MỐI QUAN HỆ, TÁC ĐỘNG QUA LẠI GIỮA DỰ ÁN LUẬT HỘ TỊCH VỚI BỘ LUẬT DÂN SỰ, LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH TỪ GÓC ĐỘ GIỚI VÀ NHỮNG KHUYẾN NGHỊ LỒNG GHÉP GIỚI CỤ THỂ TRONG DỰ ÁN LUẬT

NGUYỄN HỒNG HẢI

I. Mối quan hệ, tác động qua lại giữa Dự án Luật Hộ tịch với Bộ luật Dân sự, Luật Hôn nhân và gia đình dưới góc độ giới

Dự án Luật Hộ tịch (dự án Luật) quy định về nguyên tắc, thẩm quyền, thủ tục đăng ký hộ tịch nhằm xác nhận và ghi vào sổ hộ tịch những sự kiện cơ bản xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra đến khi chết. Do đó, dự án Luật này có mối liên quan rất chặt chẽ tới Bộ luật Dân sự (BLDS), Luật Hôn nhân và gia đình (LHNGĐ), Luật Quốc tịch Việt Nam, Luật Cư trú, Luật Nuôi con nuôi…

Tờ trình của Chính phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã nêu quan điểm chỉ đạo trong xây dựng dự án Luật là bảo đảm phù hợp với Hiến pháp và đồng bộ, thống nhất với các đạo luật có liên quan đến lĩnh vực hộ tịch (như BLDS, LHNGĐ, Luật Quốc tịch Việt Nam, Luật Cư trú, Luật Nuôi con nuôi…). Về cơ bản, tôi tán thành với cách đặt vấn đề như đã nêu trong Tờ trình. Tuy nhiên, dưới góc độ giới, tôi cũng xin đưa ra một số ý kiến về mối quan hệ, tác động qua lại giữa dự án Luật với BLDS, LHNGĐ:

1. Mối tương quan trong hệ thống pháp luật

Khi xây dựng dự án Luật, Luật Hộ tịch thường được xác định như là luật hình thức (luật thủ tục) của BLDS, LHNGĐ và các luật nội dung khác có liên quan. Thực chất Luật Hộ tịch không đơn thuần là luật quy định về thủ tục mà còn là luật có liên quan trực tiếp đến công nhận và bảo đảm thực hiện các quyền con người nói chung, quyền của cá nhân nói riêng. Do đó, để phát huy tốt nhiệm vụ, vai trò của Luật Hộ tịch, cần xem xét mối quan hệ (ở cả góc độ giới) giữa dự án Luật với BLDS, LHNGĐ và các luật nội dung khác có liên quan trên hai phương diện: Luật Hộ tịch là luật hình thức, đồng thời là luật riêng của các luật nội dung. Tiếp cận như vậy, vừa đảm bảo xác định được rõ ràng, cụ thể phạm vi điều chỉnh của các luật, sự đồng bộ, thống nhất trong các quy định về quản lý nhà nước về hộ tịch (trên phương diện luật nội dung và luật hình thức), đồng thời đảm bảo được sự đồng bộ trong một thể thống nhất về quy định quyền và cơ chế bảo đảm công nhận, thực thi quyền của cá nhân (bao gồm bình đẳng giới), khắc phục được những bất cập, hạn chế trong quy định của các luật nội dung không còn phù hợp với điều kiện thực tiễn hiện nay (trên phương diện luật chung và luật riêng).[1]

Continue reading

MỐI QUAN HỆ GIỮA LUẬT HỘ TỊCH VỚI LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC CHẾ ĐỊNH HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH ĐẾN DỰ ÁN LUẬT HỘ TỊCH [1]

NGUYỄN HỒNG HẢI

1. Về mối quan hệ giữa Luật Hộ tịch với Luật HN-GĐ

Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 (Luật HN-GĐ), phạm vi điều chỉnh của Luật HN-GĐ là quy định chế độ hôn nhân và gia đình, trách nhiệm của công dân, Nhà nước và xã hội trong việc xây dựng, củng cố chế độ hôn nhân và gia đình Việt Nam (Điều 1). Theo dự thảo Luật Hộ tịch, phạm vi điều chỉnh của Luật Hộ tịch là quy định nguyên tắc, thẩm quyền, thủ tục đăng ký hộ tịch; quyền và nghĩa vụ của cá nhân, cơ sở dữ liệu điện tử; thống kê hộ tịch và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong quan lý nhà nước về hộ tịch (Điều 1). Như vậy, việc xác định phạm vi của Luật Hộ tịch trong mối quan hệ với Luật HN-GĐ là rất cần thiết nhằm phân định rõ ràng hơn những nội dung, vấn đề cần được quy định, giải quyết ngay trong Luật Hộ tịch cũng như trong Luật HN-GĐ cho phù hợp với thực tiễn và trong bối cảnh giữa hai luật có những điểm chung, giao thoa và gắn kết với nhau.

Về quan hệ giữa hai Luật, có thể tiếp cận theo hai phương diện:

Thứ nhất, trên phương diện luật nội dung và luật hình thức, Luật HN-GĐ quy định về các quyền, nghĩa vụ về hôn nhân và gia đình và Luật Hộ tịch quy định thủ tục đăng ký hộ tịch nhằm tôn trọng và bảo đảm các quyền, nghĩa vụ đó. Ở phương diện này, xét về kỹ thuật lập pháp, những quy định về thẩm quyền, thủ tục đăng ký hộ tịch liên quan đến các quan hệ hôn nhân và gia đình cần được quy định trong Luật Hộ tịch không quy định trong Luật HN-GĐ, đồng thời cũng không đưa vào trong Luật Hộ tịch những quy định về các quyền, nghĩa vụ của cá nhân trong các quan hệ hôn nhân và gia đình. Ví dụ, Luật HN-GĐ quy định quyền kết hôn và các điều kiện kết hôn, Luật Hộ tịch quy định về thẩm quyền, thủ tục đăng ký kết hôn.

Quy định như vậy sẽ đảm bảo xác định được rõ ràng, cụ thể phạm vi điều chỉnh của hai luật, đồng bộ, thống nhất trong quy định về quyền, nghĩa vụ hôn nhân và gia đình, các quy định về đăng ký hộ tịch và quản lý nhà nước về hộ tịch cũng có sự đồng bộ, thống nhất hơn.

Continue reading

VỊ THẾ GIA ĐÌNH VÀ XÃ HỘI CỦA PHỤ NỮ VIỆT NAM TRONG LỊCH SỬ

THẠCH VĂN

Luật lệ về hôn thú; hứa hôn và ly dị và các nghi lễ, tình trạng đa thê, các vấn đề xã hội nghề nghiệp, sự giáo dục và những nét đặc biệt của vẻ đẹp người phụ nữ Việt Nam trong lịch sử đã góp phần làm nên bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc.

Những điều luật về hôn nhân sớm nhất của Việt Nam thời phong kiến có thể sớm hơn Bộ Luật Dân sự của nước Pháp đã có những điều rất tiến bộ đối với phụ nữ như: người phụ nữ bình đẳng với người chồng: (Thê – Phu tề gia ). Khi lập gia đình, họ không nhất thiết phải dùng tên của người chồng, mà có thể giữ tên riêng của mình.

Ở Việt Nam xưa, hôn thú xảy ra ở tuổi rất sớm, con trai là mười sáu, con gái là mười bốn và được xem là một vấn đề rất hệ trọng nên không thể phó mặc cho sự may rủi hoặc sở thích trong tình yêu. Nó là công việc mà cha mẹ thường phải sắp xếp, giải quyết và được tham khảo ý kiến của những người có quan hệ gần gũi trong họ tộc. Cũng chính vì vậy mà sự cố vấn là cần thiết cho lứa tuổi còn quá trẻ. Cũng do vậy, thời kỳ hứa hôn được chấp nhận kéo dài. Sự hứa hôn cấu thành khế ước pháp lý đầu tiên và sẽ kết thúc khi vị hôn thê chấp nhận các lễ vật. Nếu người con trai phá bỏ sự hứa hôn, anh ta sẽ mất lễ vật đã trao cho người hôn thê. Nếu người con gái là kẻ hối hôn, cô ta có thể bị người hôn phu đầu tiên khiếu nại cho dù sau này anh ta sẽ lấy một người  khác.

Các cuộc hôn nhân với người cận huyết thống sẽ bị trừng phạt rất nặng nề. Thí dụ, một người đàn ông lấy bà cô của mình sẽ tức thời bị chém đầu. Người đàn ông có thể được phép lựa chọn người làm vợ trong số các chị em của người vợ cả bị chết nhưng lại có thể bị treo cổ nếu cưới vợ góa của anh em trai. Việc kết hôn hỗn tạp cũng bị ngăn cấm bởi vì nó có thể làm đảo lộn căn bản hệ cấp của gia đình.

Nghi lễ và giáo lý Phật Giáo của người Việt biểu lộ một sự tôn kính sâu xa liên quan đến tục thờ cúng tổ tiên. Từ đó, vị thế truyền thống của người cha cấu thành các nguyên tắc nền tảng của gia đình. Nhà nào cũng đều có một bàn thờ nhưng chỉ người đàn ông mới được cử hành lễ. Đây lại chính là nguồn gốc của một sự bất bình đẳng xã hội. Điều dễ nhận thấy là người đàn ông luôn tìm cách vận dụng tôn giáo để gia tăng quyền lực của mình.

Continue reading

LỄ GIÁO NHO GIA PHONG KIẾN VỚI VẤN ĐỀ XÂY DỰNG GIA ĐÌNH Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

THS. PHAN MẠNH TOÀN – Đại học Hàng Hải

Trong bài viết này, tác giả đã trình bày quan niệm của Nho giáo về gia đình và phân tích lễ giáo đạo Nho trong việc xây dựng gia đình trong thời kỳ phong kiến, chỉ ra những mặt tích cực cũng như những hạn chế của lễ giáo Nho gia trong việc hình thành và phát triển các quan hệ gia đình. Để xây dựng gia đình Việt Nam hiện nay theo những nguyên tắc, định hướng mới thì việc phát huy những giá trị hợp lý, tích cực và hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của lễ giáo Nho gia là rất cần thiết.

Có những tôn giáo coi quan hệ gia đình là sợi dây trói buộc con người vào tội lỗi, lôi kéo con người đến sự phiền luỵ khổ đau, con người mới sinh ra đã mang tội do tổ tông để lại… Vì thế, con người phải tách khỏi gia đình, lìa bỏ người thân mới có thể kiếm tìm được cuộc đời hạnh phúc. Nho giáo thì trái lại, nó khẳng định “con người không thể sống chung với loài cầm thú” mà sống không tách rời nhau, quan hệ với nhau trong những cộng đồng từ “nhà” đến “nước” và “thiên hạ”, trong đó “nhà” là gốc.

Trong lễ giáo đạo Nho, “nhà” có một sức mạnh và khả năng khống chế rất lớn đối với mỗi con người, nó chế định những sợi dây ràng buộc con người một cách chặt chẽ. Coi nhà là gốc của nước và thiên hạ, muốn trị được nước trước hết phải giữ yên được nhà nên Nho giáo luôn cố gắng tìm cách xây dựng gia đình, gia tộc thành những “cự thất”, những thế lực mạnh mẽ. Mỗi người từ lúc ra đời đến khi tạ thế không thể lìa bỏ gia đình, hơn nữa phải luôn tìm cách nâng cao vị thế gia đình. Gia đình mong đợi ở họ điều đó và người đời cũng ứng xử với họ tuỳ theo địa vị gia đình anh ta.

Với mục đích củng cố gia đình, gia tộc nên vấn đề trật tự kỷ cương chặt chẽ, chính danh định phận, gia pháp nghiêm ngặt… là những yếu tố không thể thiếu trong nền nếp gia phong được lễ giáo đạo Nho nhấn mạnh và đề cao. Lễ giáo đạo Nho qui định một cách chặt chẽ các mối quan hệ giữa người với người, trong đó những quan hệ cơ bản nhất là tam cương và ngũ luân, còn các quan hệ khác chỉ là thứ yếu.(*)Trong những cương – luân đó thì các quan hệ trong phạm vi gia đình là chủ yếu. Chịu ảnh hưởng sâu sắc của ý thức hệ Nho giáo nên giai cấp phong kiến Việt Nam trong lịch sử cũng chủ trương xây dựng gia đình, củng cố các mối quan hệ gia đình theo những khuôn mẫu của lễ giáo đạo Nho. Vì thế, dấu ấn và ảnh hưởng của lễ giáo đạo Nho ở nước ta hiện nay được biểu hiện khá rõ trong phạm vi gia đình. Trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay, để xây dựng các mối quan hệ gia đình trên những nguyên tắc mới thì ảnh hưởng của lễ giáo Nho gia phong kiến là điều không thể không tính đến.

Continue reading

GIA ĐÌNH VỚI CHỨC NĂNG GIÁO DỤC TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU HÓA

PGS.TS. NGUYỄN LINH KHIẾU

Gia đình là tế bào của xã hội, đồng thời cũng là một thiết chế xã hội. Gia đình vừa tạo dựng nên xã hội, lại vừa biến đổi cùng sự biến đổi của xã hội. Trong thời kỳ quá độ ở Việt Nam, cùng với sự biến đổi mạnh mẽ của cả xã hội, gia đình cũng đang biến đổi một cách toàn diện. Do sự thay đổi các quan hệ và các hệ thống giá trị xã hội trong bối cảnh toàn cầu hóa nên vấn đề thực hiện chức năng giáo dục của gia đình cũng đang đứng trước rất nhiều cơ hội và thách thức. 

Gia đình với chức năng giáo dục

Gia đình là môi trường nguyên thủy mỗi con người sinh ra và trưởng thành. Là một nhóm xã hội đặc biệt, gia đình được hình thành một cách tự nhiên bởi quan hệ hôn nhân và huyết thống, mọi thành viên gia đình cùng chung sống và có chung ngân sách. Bài học đầu tiên mỗi chúng ta học trên cuộc đời này là trong gia đình. Giáo dục gia đình thực sự là một sự nghiệp diễn ra liên tục trong suốt cả cuộc đời mỗi con người. Giáo dục gia đình đó là sự tác động một cách kiên trì, thường xuyên, tổng thể và sâu sắc của gia đình đối với sự hình thành và phát triển nhân cách mỗi con người. Quan niệm, thái độ, lối sống, cách ứng xử, hành vi đạo đức, tính cách, năng lực, công việc, sự nghiệp… của cha mẹ để lại dấu ấn sâu nặng đối với con cái mỗi gia đình. Nó tạo nên sản phẩm mà dân gian gọi là “giỏ nhà ai quai” nhà ấy.

Giáo dục gia đình chủ yếu được thực hiện bằng tình cảm và đó là nền giáo dục vừa toàn diện, vừa cụ thể và mang tính cá biệt cao. Toàn diện là bởi giáo dục gia đình hướng tới thúc đẩy sự phát triển đầy đủ mọi phẩm chất con người. Cụ thể là vì giáo dục gia đình không mang tính chung chung, trừu tượng mà nhằm vào mỗi cá nhân cụ thể và nhằm xây dựng, phát triển những phẩm chất, năng lực cụ thể của từng người. Giáo dục gia đình mang tính cá biệt là do đối tượng là những cá thể đặc thù, riêng biệt. Đối với mỗi cá nhân cụ thể đó thì phải có phương pháp, cách thức và nội dung giáo dục riêng, cụ thể, cá biệt mới phù hợp và chỉ có như thế mới mang lại hiệu quả của giáo dục gia đình. Như thế, có thể nói giáo dục gia đình là một dạng giáo dục đặc biệt của xã hội loài người.

Giáo dục gia đình được thực hiện thông qua cách thức tổ chức đời sống gia đình, quá trình tổ chức các hoạt động của trẻ và cơ bản là dựa trên nền tảng căn bản là sự gương mẫu, sự nêu gương của các bậc cha, mẹ. Dĩ nhiên, giáo dục gia đình thường sử dụng các phương pháp đơn giản như: khuyên bảo, thuyết phục, đó là vừa dạy vừa dỗ vừa phân tích, diễn giải, chỉ bảo, khuyên nhủ; tập luyện, xây dựng thói quen, tạo lập nếp sống nền nếp tốt đẹp; cổ vũ, khích lệ, khen thưởng kịp thời những cố gắng, những thành tích đạt được dù là rất nhỏ; và, kỷ luật, răn đe, trừng phạt nghiêm khi trẻ có sai trái, không nghe lời… Tuy nhiên, các phương pháp này thường được mỗi gia đình sử dụng một cách linh hoạt và mềm dẻo rất khác nhau tùy thuộc vào môi trường gia đình cũng như đối tượng, mục đích giáo dục.

Continue reading

LUẬT TỤC TRONG ĐỜI SỐNG ĐỒNG BÀO CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ NHỮNG GIÁ TRỊ CẦN BẢO TỒN, PHÁT HUY NHỮNG HỦ TỤC CẦN LOẠI BỎ

TS. TRỊNH THỊ THỦY – Phó Vụ trưởng Vụ Văn hoá Dân tộc – Bộ VHTT&DL

Nói đến luật tục tức là nói đến phong tục, tập quán đã hình thành trong nhiều năm, trong nhiều thế hệ. Đồng bào nói rằng, luật tục là “ông bà để lại cho”. Đến nay, cùng với pháp luật của Nhà nước, luật tục vẫn tồn tại và có một trí quan trọng trong việc điều chỉnh các mối quan hệ trong đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số. ở mỗi dân tộc thiểu số khác nhau có luật tục riêng, thể hiện bản sắc, đặc trưng riêng của dân tộc mình. Trong cộng đồng các dân tộc, luật tục được thành viên trong cộng đồng nghiêm chỉnh tuân theo một cách tự giác. Những người vi phạm luật tục cũng đồng nghĩa với việc xúc phạm đến thần linh, đến đức tin của cả cộng đồng.

Luật tục (người Thái gọi là Hịt khỏng, người ÊĐê gọi là Phạtkđi, người M’nông gọi là Phạtkđuôi, người Mạ gọi là N’Ri, người Gia Rai gọi là Tơlơiphian,…) đều có điểm chung là một mặt nó mang những yếu tố của luật pháp (quy định các hành vi phạm tội, các loại và mức độ tội phạm,…), nhưng mặt khác, luật tục mang tính chất của lệ tục, phong tục (những quy ước, những điều răn dạy, những điều khuyên nhủ mang tính đạo đức, hướng dẫn hành vi cho mỗi cá nhân, tạo dư luận xã hội để điều chỉnh các hành vi của con người. Nội dung Luật tục của các dân tộc bao gồm các quy định về quan hệ cộng đồng, quan hệ của người đứng đầu buôn làng với dân, quan hệ giữa các thành viên trong cộng đồng làng bản, giữa cha mẹ với con cái, về sở hữu tài sản, sở hữu đất đai, nương rẫy, nguồn nước, giữ gìn trật tự công cộng, giữ bình yên, hoà thuận trong buôn làng,…
Luật tục là sản phẩm xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của đời sống xã hội của mỗi dân tộc, phụ thuộc nhiều vào trình độ, ý chí chủ quan của các thành viên sống trong cộng đồng đó, trong đó có người đứng đầu (chủ làng, chủ buôn, hội đồng già làng), do đó vừa thể hiện những mặt tích cực những cũng tồn tại những mặt tiêu cực đối với đời sống kinh tế-xã hội của đồng bào các dân tộc.

Nội dung luật tục các dân tộc thiểu số thể hiện tính nhân văn, tinh thần đoàn kết, cộng đồng dân tộc rất cao. Tuỳ theo từng dân tộc, nội dung của các luật tục thường quy định các vấn đề liên quan đến điều chỉnh các mối quan hệ gia đình như: quan hệ vợ chồng, con cái, cha mẹ, ông bà, anh chị em. Con cái phải thương yêu, kính trọng, phụng dưỡng ông bà, cha mẹ; anh chị em phải thương yêu đùm bọc lẫn nhau; Hầu hết các luật tục đều khuyên dạy vợ chồng phải yêu thương quý trọng lẫn nhau, sống với nhau thuỷ chung “Đã lấy vợ thì phải ở với vợ cho đến chết, đã cầm cần mời rượu thì phải vào cuộc cho đến khi rượn nhạt, đã đánh cồng thì phải đánh cho đến khi người ta giữ tay lại” (Luật tục Êđê). Các quy định của luật tục các dân tộc thiểu số góp phần điều hoà các mối quan hệ xã hội trong buôn, làng, play, quan hệ giữa các dòng họ, giữ gìn trật tự an ninh, phòng chống các tệ nạn xã hội (trộm cắp, nghiện ngập, ngoại tình,…); bênh vực và bảo vệ quyền lợi chính đáng của người phụ nữ và trẻ em,…

Continue reading

ỨNG XỬ VĂN HÓA TRONG XÃ HỘI Ê ĐÊ, GIA RAI

TS. ĐỖ HỒNG KỲ

Đời sống văn hoá xã hội được trình bày dưới đây chủ yếu là xã hội cổ truyền của các tộc người Ê Đê và Gia Rai. Hiện nay, nhiều yếu tố của đời sống xã hội đó không còn tồn tại nữa.

Các tiểu gia đình cư trú trong mỗi ngăn buồng của ngôi nhà dài hợp thành đại gia đình mẫu hệ Ê Đê. Trong mỗi ngăn buồng ấy là một cặp vợ chồng (của chị, em gái) và những ai chưa lập gia đình sinh sống. Người đàn bà cao tuổi nhất, có uy tín là người quản lý tài sản, giải quyết các mối quan hệ trong nội bộ ngôi nhà dài. Còn người đàn ông cao tuổi nhất, thường là chồng của người chị cả lo việc ngoài phạm vi ngôi nhà dài, như mua voi, chiêng, ché và các đồ vật quý khác. Trong việc trao đổi mua bán, người đàn ông có quyền quyết định, nhưng trước khi có quyết định cuối cùng, ông ta phải được sự đồng ý của người đàn bà chủ ngôi nhà dài (pô sang).

Thường ngày các tiểu gia đình ăn uống và làm rẫy riêng. Nhưng khi có các công việc chung như nghi lễ, lễ hội thì mọi người trong ngôi nhà dài cùng nhau lo việc và ăn uống chung. Cách ứng xử của các thành viên trong gia tộc là kính trên nhường dưới.
Mỗi dòng họ (djuê) Ê Đê bao gồm 3 thành phần:
– Ana go gồm bà nội (dòng nữ), bác gái, mẹ, em gái, cháu gái, chắt gái, v.v. Nói chung, đó là giới nữ cùng họ với dăm dei.
– Ung rông, gồm chồng của bà nội, bác gái, mẹ, dì.
– Dăm dei, gồm những người cùng họ với ana govà được ana gogọi là bác trai, cậu, em trai, cháu trai.

Ana go, ung rông có nghĩa vụ và trách nhiệm đối với dăm dei như sau:

Khi dăm dei gặp hoạn nạn ana govà ung rông là người phải giúp đỡ để người này qua cơn hoạn nạn. Trường hợp dăm dei ngoại tình bị bắt quả tang, họ phải đứng ra lo việc phạt vạ và bồi thường theo đúng luật tục. Ngày dăm dei đi lấy vợ, ana golo sắm cho dăm dei một cái xà gạc, một cái cuốc, một cái rìu để anh ta có công cụ làm nương rẫy nuôi vợ con và cha mẹ vợ. Khi dăm dei già yếu, không có ai nương tựa, ông ta sẽ về ở với cháu gái. Lúc dăm dei chết, nếu vợ con và gia đình đằng vợ chấp thuận, ana gosẽ mang thi thể dăm dei về phía họ mình để mai táng.

Continue reading

SỰ GIAO THOA GIỮA VỐN XÃ HỘI VỚI CÁC GIAO DỊCH KINH TẾ TRONG GIA ĐÌNH: SO SÁNH GIA ĐÌNH VIỆT NAM VÀ GIA ĐÌNH HÀN QUỐC

PGS.TS. NGUYỄN QUÍ THANH

1. Đặt vấn đề

Vốn xã hội là khái niệm được sử dụng khá thường xuyên trong các tài liệu xã hội học, đặc biệt xã hội học kinh tế. Theo nghĩa chung nhất vốn xã hội được xem xét như là các chuẩn mực và các quan hệ xã hội gắn chặt trong cơ cấu xã hội của nhóm, mà nhờ đó các cá nhân phối hợp hành động để đạt được những mục đích. Điều đó có nghĩa là vốn xã hội liên quan đến những thiết chế, các quan hệ và các chuẩn mực mà tạo hình cho chất lượng và số lượng của các tương tác xã hội. Vốn xã hội liên quan đến sự cố kết nội tại về xã hội và văn hóa của xã hội, các chuẩn mực và các giá trị dẫn dắt các tương tác giữa các cá nhân và các thiết chế mà họ bị gắn vào đó. Vốn xã hội không phải là tổng của những thiết chế trụ cột chống đỡ xã hội, mà đó là keo dán chúng lại với nhau. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng vốn xã hội là các kênh tiếp cận đến những nguồn lực mà gắn chặt cố hữu với những quan hệ nào đó. Những quan hệ như vậy mở ra những ý tưởng kinh doanh mới triển vọng được ấp ủ, phụ thuộc vào chất lượng của thông tin và những nguồn lực bắt nguồn từ đó.

Một câu hỏi khác được đặt ra là tại sao chủ đề vốn xã hội lại được các nhà xã hội học quan tâm nghiên cứu? Ngày nay, càng ngày càng có nhiều bằng chứng thực nghiệm cho thấy vốn xã hội đóng góp đáng kể cho sự phát triển bền vững. Sự bền vững có nghĩa là chúng ta để lại cho các thế hệ tương lai nhiều cơ hội hoặc nhiều hơn cơ hội so với cái chúng ta có. Đầu tư cho cơ hội đòi hỏi một sự mở rộng các loại nguồn vốn. Nói cách khác quan niệm truyền thống về vốn cần được mở rộng thêm khái niệm về vốn xã hội. Vốn xã hội là chất keo gắn kết xã hội mà nếu không có nó thì không thể nói về bất kì sự tăng trưởng kinh tế và hạnh phúc con người nào. Nói một cách bao quát nhất nếu không có vốn xã hội thì xã hội sẽ bị sụp đổ. Pierre Bourdieu cho rằng các loại vốn có thể chuyển hóa lẫn nhau. Cụ thể là sự đầu tư cho các quan hệ xã hội (một dạng vốn xã hội) có thể giúp cho các chủ thể hành động nhận được những lợi ích về kinh tế hoặc tri thức hoặc uy tín, và ngược lại. Thực tế đã chứng minh là có nhiều nguồn có thể tạo thành vốn xã hội trong đó các quan hệ gia đình ở những Quốc gia chịu ảnh hưởng nhiều của Khổng giáo là một nguồn quan trọng. Gia đình có thể được nhìn nhận như là một mạng lưới những trách nhiệm. Gia đình cấp vốn cho các thành viên của nó bằng việc hỗ trợ nguồn vốn chung, hoặc bằng một sự ủy thác mà nhờ đó các thành viên của nó tin tưởng lẫn nhau (Bourdieu, 1983). Vì vậy, gia đình bao gồm một mạng lưới xã hội mà có thể được khai thác một cách hiệu quả để đạt được những mục đích chung (Coleman, 1988).

Continue reading

PHÁP LUẬT ĐẢM BẢO SỰ PHÁT TRIỂN CỦA GIA ĐÌNH Ở VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN

TS. NGUYỄN CẢNH QUÍ – Phó Viện trưởng Viện Nhà nước và Pháp luật, Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh

1. Pháp luật đảm bảo sự phát triển gia đình hiện nay ở Việt Nam

Trong những năm đổi mới vừa qua, Đảng ta đã rất quan tâm tới sự ổn định phát triển của gia đình, đề ra nhiều chủ trương đường lối nhằm phát triển gia đình. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX nêu rõ: “Nâng cao trách nhiệm của gia đình trong việc xây dựng và bồi dưỡng các thành viên của mình có lối sống văn hóa, làm cho gia đình thực sự là tổ ấm của mỗi người và là tế bào lành mạnh của xã hội”. Đặc biệt ngày 21/02/2005 Ban Bí thư trung ương Đảng ra Chỉ thị số 49 về xây dựng gia đình thời kỳ công nghiệp hóa đất nước đã khẳng định: “Gia đình là tế bào của xã hội, nơi duy trì nòi giống, là môi trường quan trọng hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách con người, bảo tồn và phát huy truyền thống văn hóa tốt đẹp, chống các tệ nạn xã hội, tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.

Thể chế hóa các đường lối chủ trương của Đảng về sự ổn định và phát triển gia đình, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật nhằm tạo hành lang pháp lý cho gia đình phát triển.

a. Hiến pháp năm 1992: Đây là đạo luật cơ bản nhất của nước ta và dựa trên các quy định của Hiến pháp, Nhà nước ban hành các đạo luật khác. Điều 64 Hiến pháp 1992 khẳng định: “Gia đình là tế bào của xã hội; Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình. Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện và tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng, cha mẹ có trách nhiệm nuôi dạy con thành những công dân tốt. Con cháu có bổn phận kính trọng và chăm sóc ông bà cha mẹ”. Hiến pháp năm 1992 có nhiều quy định để bảo hộ và tạo điều kiện để cho các thành viên trong gia đình phát triển như: “Trẻ em được gia đình, Nhà nước và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục” (Điều 65) hoặc “Thanh niên được gia đình, Nhà nước và xã hội tạo điều kiện học tập, lao động và giải trí, phát triển sức lực trí tuệ, bồi dưỡng đạo đức…” (Điều 66).

Trong gia đình, người phụ nữ có vai trò cực kỳ quan trọng đối với việc phát triển kinh tế. Vì vậy Hiến pháp năm 1992 đã quy định: “Công dân nam và nữ có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, xã hội và gia đình; nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, xúc phạm nhân phẩm phụ nữ …” (Điều 63).

Continue reading

GIÁ TRỊ NHÂN VĂN TRONG GIA ĐÌNH VIỆT NAM TRƯỚC THÁCH THỨC TOÀN CẦU HÓA

THS. HUỲNH VĂN SINH

Gia đình là một khái niệm mà các nhà xã hội học rất khó định nghĩa, tuy bề ngoài có vẻ đơn giản nhưng để tìm ra được khái niệm mang tính toàn diện cho gia đình là rất khó. Tuy nhiên ta có thể định nghĩa nó trong một hoàn cảnh cụ thể. Chẳng hạn ở những nước Châu Á xem gia đình là tế bào xã hội, thì ngược lại ở các nước Châu Âu gia đình chỉ được xem như là một nhóm xã hội, một đơn vị cơ sở của xã hội thuộc một trong năm thiết chế cơ bản là: Nhà nước, kinh tế, giáo dục, tôn giáo, gia đình.

Trong lịch sử, gia đình với quan hệ hôn nhân hình thành sau khi chế độ thị tộc tan rã do sự tác động của lực lượng sản xuất và các yếu tố xã hội khác. Từ đó đến nay, lịch sử xã hội loài người cả phương Đông lẫn phương Tây đã trải qua nhiều cuộc thăng trầm, sự chuyển đổi của một vương triều, sự chuyển đổi hoặc giao thoa giữa các nền văn minh. Nhưng gia đình vẫn tồn tại và liên tục phát triển, nó khẳng định được giá trị bất biến như là một nền tảng xã hội, cơ sở tiệm tiến của xã hội qua mọi thời đại. Điều này, giúp chúng ta cần tìm hiểu rõ hơn bản chất, chức năng của gia đình, nhằm phát huy giá trị của nó trong điều kiện hiện nay.

Khác với phương Tây, kết cấu gia đình Việt Nam là một thành phần rộng lớn bao gồm những người cùng huyết thống như cha mẹ, ông bà, thuộc hàng trên; con cái, cháu chắt thuộc hàng dưới; gia đình theo chế độ phụ hệ, người đàn ông đóng vai trò chủ đạo, có trách nhiệm chính trong việc gìn giữ trật tự, nề nếp gia phong. Có một khoảng thời gian dài, nó được coi là môi trường thu nhỏ nhằm vào mục đích giáo dục con cái từ lúc lọt lòng đến khi trưởng thành.

Chính điều đó có tác dụng rất lớn trong việc giáo dục và hình thành nhân cách cho mỗi thành viên trong gia đình. Để tìm hiểu các quy luật, chuẩn mực giá trị của gia đình Việt Nam bị tác động như thế nào trước xu thế “toàn cầu hóa” hiện nay, ta cần làm rõ nội hàm của cụm từ này bao quát như thế nào? Mức độ ảnh hưởng của chúng ra sao đối với mọi mặt đời sống xã hội? Chẳng những trên lĩnh vực kinh tế mà còn tác động mạnh đến mọi khía cạnh khác, từ văn hóa, chính trị,… thông qua lăng kính vĩ mô thì đây nó đã xâm nhập vào thế giới vi mô là “gia đình” bằng cách: thông qua hàng hoá trao đổi, phương tiện thông tin đại chúng như mạng Internet, radio, tivi,… nhan nhản hằng ngày trước mắt chúng ta, nó đã thâm nhập, len lõi vào mọi góc ngách, trong đó có tế bào gia đình. Từ đây nó đã làm siêu vẹo phần nào hình ảnh gia đình phương Đông nói chung và Việt Nam nói riêng, làm cho sự cố kết chặt chẽ cộng đồng trong mô hình làng, xã cổ truyền trong thời gian qua bị rạn nứt mạnh mẽ. Đây chính là lý do mà tác giả tiếp cận, nghiên cứu tìm hiểu: Bản chất sự vận động của toàn cầu hoá tác động đến đời sống gia đình như thế nào? Nó đã làm biến tướng mô hình cấu trúc gia đình ra sao? Mức độ phụ thuộc giữa các yếu tố trong một gia đình hiện đại và gia đình truyền thống Việt Nam tới đâu?

Continue reading