ĐIỀU KHOẢN LẠM DỤNG TRONG PHÁP LUẬT VỀ TIÊU DÙNG Ở CỘNG HÒA PHÁP

ALEXANDRE DAVID – Thẩm phán, Ban Pháp luật tố tụng và pháp luật lao động, Vụ Dân sự và Ấn tín, Bộ Tư pháp, Cộng hòa Pháp[1]

Điều khoản lạm dụng là một quy định đặc thù trong pháp luật về tiêu dùng ở  Pháp và châu Âu. Trong khoảng một thập kỷ, từ năm 1970, ở Pháp, châu Âu và nhiều nước khác trên thế giới, người ta bắt đầu xem xét lại những quy định chung về hiệu lực hợp đồng và nhận thấy rằng những quy định đó không đủ để bảo vệ người tiêu dùng khỏi bị các tổ chức, cá nhân kinh doanh lợi dụng.

Trong hợp đồng, có một số quy định bất lợi cho người tiêu dùng nhưng ngay chính bản thân họ lại không nhận thức được điều đó. Nhà làm luật cảm thấy phải quan tâm đặc biệt hơn nữa đến các điều khoản lạm dụng để có thể thiết lập một mối quan hệ bình đẳng giữa bên mua và bên bán. Với mục đích đó, đã có rất nhiều hợp đồng theo mẫu được soạn thảo và rất nhiều nước lựa chọn áp dụng các hợp đồng này như Mỹ, Thụy Điển, Anh, Đan Mạch, Đức và Pháp (năm 1978)…

Cách tiếp cận của Pháp đặc biệt ở chỗ dành nhiều ưu tiên cho việc phòng ngừa thiệt hại hơn là các giải pháp nhằm bồi thường thiệt hại. Chính vì thế, giải quyết bằng biện pháp hành chính được ưu tiên hơn là giải quyết qua con đường tài phán. Các nhà làm luật lo ngại nhiều nguy cơ phát sinh từ các giải pháp khác nhau mà tòa án có thể đưa ra cho cùng một vấn đề.

Continue reading

TRÁCH NHIỆM DO LỖI VÀ TRÁCH NHIỆM KHÔNG CÓ YẾU TỐ LỖI

TERRY OLSON – Thẩm phán Tham Chính Viện, Cộng hòa Pháp

Ở Pháp, nguyên tắc về trách nhiệm bồi thường của các cơ quan nhà nước có hai đặc điểm đáng chú ý:

– Nguyên tắc này được khẳng định trong pháp luật Pháp sớm hơn nhiều so với các nước khác;

– Nguyên tắc này không xuất phát từ ý chí của nhà lập pháp, mà hình thành từ thực tiễn xét xử của tòa án.

1. Tình hình trước năm 1873

Tại một số Quốc gia Châu Âu, trách nhiệm bồi thường nhà nước chỉ được thừa nhận trong thế kỷ thứ XX chứ không sớm hơn. Ví dụ như ở Anh Quốc, phải đến năm 1947 thì trách nhiệm bồi thường nhà nước mới được quy định trong luật.

Nước Pháp đã thực hiện bước đi đó ngay từ năm 1873. Như vậy, có thể khẳng định rằng trách nhiệm bồi thường nhà nước đã được ghi nhận tương đối sớm trong hệ thống pháp luật Pháp.

Cho đến tận giai đoạn đầu của nền Đệ tam Cộng hòa (1875 – 1940), ý tưởng buộc các cơ quan nhà nước phải bồi thường những thiệt hại do hành động sai trái của họ gây ra vẫn chưa được khẳng định rõ nét. Các cơ quan nhà nước chỉ phải chịu trách nhiệm về hành động của họ trong hai trường hợp:

Trách nhiệm dân sự trong hợp đồng;

Khi luật quy định rõ trường hợp cơ quan nhà nước phải bồi thường. Trong thực tế, chỉ có một trường hợp được quy định rõ trong luật, đó là trường hợp cơ quan nhà nước thực hiện các công trình công mà gây ra thiệt hại (Luật ngày 28 tháng Mưa, năm thứ VIII, lịch Cộng hòa).

Continue reading

Giải thích pháp luật tại một số nước theo hệ thống pháp luật Civil Law kiểu Đức ở Châu Âu: NHÌN TỪ VIỆC SỬ DỤNG THUẬT NGỮ LATIN

TS. NGUYỄN NGỌC KIỆNTrường Đại học Luật Huế

THS. LÊ NGUYỄN GIA THIỆN – Trường Đại học Kinh tế – Luật, Đại học Quốc gia TP.HCM

Tóm tắt

Giải thích pháp luật đóng vai trò quan trọng cả về mặt lý luận và thực tiễn bởi giải thích pháp luật và áp dụng pháp luật là hai vấn đề luôn tương hỗ và không thể tách rời nhau. Trong phạm vi bài viết, vấn đề giải thích pháp luật được phân tích dựa trên tinh thần của các thuật ngữ Latin, vốn đã được hình thành từ trong lòng nền pháp chế La Mã và được kế thừa tại các nước civil law kiểu Đức tại Châu Âu. Đồng thời bài viết cũng đề xuất một phương thức giải thích pháp luật mang tính đa diện được sử dụng rất phổ biến tại các nước theo hệ thống pháp luật civil law kiểu Đức.


Các nước civil law kiểu Đức quan niệm rằng giải thích pháp luật có liên quan mật thiết đến tính bất khả vẹn toàn của pháp luật. Bởi nếu pháp luật hoàn thiện và không có bất kỳ một sai sót nào thì cơ quan áp dụng pháp luật sẽ áp dụng trực tiếp mà không cần giải thích. Ngược lại, nếu thừa nhận pháp luật có khiếm khuyết, nói khác đi là mang tính bất khả vẹn toàn, thì pháp luật khi được áp dụng cần phải được giải thích. Giải thích pháp luật rõ ràng là không thể tách rời khỏi bản thân văn bản pháp luật. Hơn nữa, giải thích pháp luật phải được tiếp cận dưới cả hai góc độ là nội hàm và ngoại diên của điều khoản cần giải thích. Điều này cũng có nghĩa rằng cơ quan giải thích pháp luật phải tìm hiểu và giải thích cho được cả nội dung và hình thức của câu từ, đồng thời nắm bắt được các ý nghĩa và mục đích của văn bản. Ngoài ra, khi giải thích pháp luật, cơ quan giải thích cần phải sử dụng một biện pháp mang tính đa diện, kết hợp hài hòa giữa các thành tố: ngữ pháp, mục đích luận và lịch sử.

Continue reading

Tờ trình của Chính phủ về dự án Bộ luật Dân sự năm 1995 CỦA NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

(Ông Nguyễn Đình Lộc, Bộ trưởng Bộ Tư pháp
đọc tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa IX, ngày 07 tháng 6 năm 1994)

Kính thưa Quốc hội,

Thực hiện chương trình của kỳ họp này của Quốc hội, được Thủ tướng Chính phủ ủy quyền, chúng tôi xin báo cáo Quốc hội về Dự án Bộ luật dân sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam để xin ý kiến của các vị đại biểu. Ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội sẽ là căn cứ hết sức quan trọng chỉ đạo việc tiếp tục xây dựng, chỉnh lý Dự án Bộ luật dân sự đầu tiên này của nước ta.

Sau đây, chúng tôi xin phép báo cáo Quốc hội Tờ trình của Chính phủ về Dự án Bộ luật.

I. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT DÂN SỰ CỦA NƯỚC TA TỪ NĂM 1945 ĐẾN NAY VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI BAN HÀNH BỘ LUẬT DÂN SỰ

Không lâu sau ngày Cách mạng tháng Tám thành công và nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, ngày 10-10-1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành Sắc lệnh số 90/SL “giữ tạm thời các luật lệ hiện hành ở Bắc, Trung, Nam bộ cho đến khi ban hành những bộ luật mới áp dụng cho toàn quốc”. Phù hợp với quy định của Sắc lệnh này, Bộ luật dân sự Bắc kỳ ban hành năm 1931, Bộ luật dân sự Trung kỳ ban hành năm 1936 và Bộ dân luật giản yếu Nam kỳ năm 1883 vẫn có hiệu lực thi hành ở Việt Nam sau ngày thành lập chính quyền nhân dân.

Continue reading

BỘ DÂN LUẬT NĂM 1972 (Nam Việt Nam)

THIÊN MỞ ĐẦU

Tổng tắc về sự ban hành, công bố và áp dụng luật pháp

Điều thứ nhất – Các đạo luật có hiệu lực chấp hành trên toàn thể lãnh thổ Việt Nam do sự ban hành và sự công bố vào Công báo Việt Nam.

Các bản văn lập qui có hiệu lực ấy, do sự công bố vào Công báo Việt Nam.

Điều thứ 2 – Nếu không có điều khoản rõ ràng ngày thi hành, hiệu lực chấp hành của các đạo luật và các bản văn lập qui sẽ khởi đầu:

a) Tại thủ đô Sài Gòn, một ngày tròn sau khi Công báo Việt Nam có đăng các văn kiện ấy xuất bản;

b) Tại các thị xã và tỉnh lỵ: một ngày tròn sau khi số Công báo Việt Nam có đăng những văn kiện ấy tới các thị xã hay tỉnh lỵ;

c) Tại các nơi khác, ba ngày tròn sau ngày tòa tỉnh trưởng sở quan nhận được số Công báo Việt Nam có đăng những văn kiện ấy.

Điều thứ 3 – Trong trường hợp khẩn cấp, chính phủ có thể cho thi hành ngay các văn kiện kể trên mặc dầu chưa đăng vào Công báo, bằng cách thông báo trên báo chí hoặc niêm yết hoặc phát thanh.

Hiệu lực chấp hành sẽ khởi đầu từ ngày thông cáo trên báo chí hoặc niêm yết, hoặc phát thanh; nếu các phương tiện phổ biến trên không cùng một ngày, sẽ lấy ngày sớm nhất làm ngày khởi đầu.

Continue reading

BỘ LUẬT DÂN SỰ PHÁP TRONG TIẾN TRÌNH LỊCH SỬ

 ANDRÉ CASTALDO – Trưởng khoa đào tạo tiến sỹ, Trường Đại học Panthéon-Assas (Paris 2) Cộng hòa Pháp

Nhiều công trình nghiên cứu lịch sử đã được tiến hành trong khuôn khổ các hoạt động kỷ niệm 200 năm Bộ luật dân sự, với ý định thay đổi cách nhìn nhận đã tồn tại từ lâu của các nhà sử học và các luật gia đối với tác phẩm này.

I. Sự ra đời của Bộ luật

Bộ luật năm 1804 tiếp nối những tư tưởng của Chế độ Phong kiến (từ tiếng Pháp là: Ancien Régime) như thế nào?

1. Ý tưởng lâu đời về việc thống nhất pháp luật dân sự

Dưới chế độ phong kiến, trở ngại đầu tiên là sự đa dạng của các nguồn luật (tập quán, pháp luật hoàng gia, pháp luật giáo hội, pháp luật La Mã); trở ngại thứ hai là sự phân chia vương quốc thành “xứ áp dụng tập quán” và “xứ áp dụng luật thành văn” là nơi áp dụng luật La Mã. Thống nhất pháp luật không phải là viết lại một cách chính thức các tập quán đang tồn tại, giống như từ cuối thế kỷ 15. ý tưởng này đã tồn tại từ lâu, bởi lẽ Louis 11 đã nghĩ đến việc xây dựng một tập quán chung cho toàn bộ vương quốc. Nhưng ý tưởng này đã không được thực hiện, kể cả dưới nền quân chủ chuyên chế. Nguyên nhân của sự thất bại này, trên thực tế, là do bản chất của chế độ này.

Continue reading

MỘT SỐ KHÓ KHĂN, VƯỚNG MẮC TRONG VIỆC XÁC ĐỊNH, PHÂN CHIA QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT CỦA NGƯỜI PHẢI THI HÀNH ÁN TRONG HỘ GIA ĐÌNH

 VĂN THỊ TÂM HỒNG – Tổng cục Thi hành án Dân sự

Chữ “hộ” trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có từ thời bao cấp, theo đó ruộng đất được giao theo bình quân nhân khẩu. Cụ thể là trong sổ hộ khẩu gia đình (hộ khẩu thường trú) có bao nhiêu “người từ 15 tuổi trở lên” (trang 373 Từ điển Luật học) thì được giao bao nhiêu đất căn cứ vào quỹ đất của địa phương. Nếu “chủ điền” có dư đất thì chia cho người thiếu đất theo chủ trương “nhường cơm xẻ áo”. Từ đó, người có hộ khẩu thường được hiểu là thành viên của hộ gia đình. Trong khi đó, những vấn đề liên quan đến hộ khẩu được quy định bởi Điều 25 Luật Cư trú. Tuy nhiên, trên thực tế việc quản lý hành chính vẫn dựa trên “hộ khẩu” nên phát sinh  nhiều khó khăn, bất cập trong quá trình tiến hành tố tụng cũng như trong việc xác định, phân chia quyền sử dụng đất cấp cho hộ gia đình để thi hành án.

1. Quy định pháp luật về tài sản hộ gia đình

Bộ luật dân sự năm 2015 đã quy định chủ thể tham gia các quan hệ dân sự bao gồm: Cá nhân và Pháp nhân. Điều đó có nghĩa là hộ gia đình không phải chủ thể của quan hệ dân sự. Tuy nhiên, Bộ luật dân sự năm 2015 vẫn ghi nhận hình thức sở hữu chung của các thành viên gia đình. Cụ thể,  Điều 212 Bộ luật dân sự quy định về sở hữu chung của các thành viên gia đình như sau:

“1. Tài sản của các thành viên gia đình cùng sống chung gồm tài sản do các thành viên đóng góp, cùng nhau tạo lập nên và những tài sản khác được xác lập quyền sở hữu theo quy định của Bộ luật này và luật khác có liên quan.

Continue reading

QUYỀN ĐỐI VỚI BẤT ĐỘNG SẢN LIỀN KỀ TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015

THS. NGUYỄN THỊ HƯỜNG – Viện Nhà nước và Pháp luật, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam

Cũng như pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới, pháp luật dân sự Việt Nam cũng quy định quyền địa dịch nhưng với một tên gọi dài hơn và dễ hiểu hơn đó là quyền đối với bất động sản liền kề. Quyền đối với bất động sản liền kề là một chế định pháp luật được ghi nhận từ rất sớm, ngay từ thời La Mã cổ đại và đã có những bước tiến dài về việc áp dụng trong thực tiễn. “Địa địch được định nghĩa là việc một bất động sản chịu sự khai thác của một bất động sản khác thuộc quyền sở hữu của một người khác. Với cách định nghĩa đó, bất động sản được coi là một chủ thể, đặc biệt, nó cũng có nhu cầu giao tiếp với xã hội bên ngoài và để làm được việc đó, trong điều kiện bất động sản tồn tại cố định trong cộng đồng láng giềng, nó có thể cần phải “đi qua” bất động sản khác, trong quá trình xây dựng con đường thông thương với xã hội” . Như vậy, địa dịch là một sự phiền lụy áp đặt cho một bất động sản, theo đó một ngôi nhà hay thửa đất chịu địa dịch sẽ phải chịu sự khai thác, sử dụng hạn chế nhằm phục vụ cho việc sử dụng, vận hành của một bất động sản liền kề .

Quyền đối với bất động sản liền kề là quyền phái sinh từ chế định sở hữu. Ở Việt Nam, quyền này được quy định trong Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 1995, năm 2005 và tiếp tục ghi nhận trong BLDS 2015 ở một mục riêng tại Chương XIV “Quyền khác đối với tài sản” gồm 12 điều (từ Điều 245 đến Điều 256). So với BLDS năm 2005, quyền đối với bất động sản liền kề trong BLDS năm 2015 có những điểm mới cơ bản sau:

Thứ nhất, đưa ra khái niệm về quyền đối với bất động sản liền kề

Theo nghĩa rộng, quyền đối với bất động sản liền kề là một chế định pháp luật dân sự, là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình sử dụng một bất động sản liền kề thuộc sở hữu của một chủ thể khác nhằm khai thác, sử dụng bất động sản thuộc sở hữu của mình một cách hợp lý. Theo nghĩa hẹp, quyền đối với bất động sản liền kề là quyền của chủ sở hữu bất động sản (bị vây bọc) trong những điều kiện do pháp luật quy định, được sử dụng bất động sản (vây bọc) của người khác trong những phạm vi xác định để thỏa mãn việc khai thác, sử dụng một cách hợp lý bất động sản thuộc sở hữu của mình[1].

Continue reading

QUYỀN CON NGƯỜI VÀ GIỚI HẠN TỰ DO HỢP ĐỒNG

THS. NGUYỄN THỊ THU TRANG

I. Quyền con người và giới hạn tự do thỏa thuận nội dung hợp đồng

Tự do ý chí là nền tảng hình  của hợp đồng. Không có tự do ý chí không thể hình thành quan hệ hợp đồng và ngược lại, ‘tự do ý chí có vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ nhằm biến các dự định hoặc kế hoạch trở thành hiện thực.’ (Ngô Huy Cương, 2013, tr 25). Tự do ý chí nói chung và tự do hợp đồng nói riêng là quyền cơ bản của con người nhưng quyền này không phải là quyền tuyệt đối. Bởi vì, để đảm bảo hài hòa giữa lợi ích chung và lợi ích riêng, nếu tuyệt đối tự do ý chí sẽ không giải quyết được hài hòa một số giao dịch phát sinh trên thực tế. Vì vậy, ‘hạn chế tự do ý chí cũng có nghĩa tương đối, nhưng là một nguyên tắc được ghi nhận trong quan hệ dân sự’ (Ngô Huy Cương, 2013, tr 27). Do đó, (Nguyễn Trọng Điệp và Cao Thị Hồng Giang, 2016) cho rằng giới hạn của tự do ý chí nói chung và tự do hợp đồng nói riêng có ý nghĩa tích cực nhất định như: (i) Cân bằng lợi ích giữa cá nhân và lợi ích chung của toàn xã hội; (ii) Bảo vệ người yếu thế trong các giao dịch nhất định; (iii) đảm bảo trật tự và có định hướng trong sự phát triển của đời sống kinh tế xã hội.

Continue reading

TỔNG QUÁT VỀ PHÁP LUẬT THỰC ĐỊNH CỦA CỘNG HÒA PHÁP VỀ CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM

NHÀ PHÁP LUẬT VIỆT – PHÁP – Trong khuôn khổ Tọa đàm về sửa đổi Bộ luật dân sự, phần các biện pháp bảo đảm, do Nhà Pháp luật Việt-Pháp tổ chức các ngày 11 và 12 tháng 1 năm 2012, Giáo sư Michel Grimaldi đến từ Đại học Paris II, Cộng hòa Pháp đã có bài trình bày tổng quát về pháp luật thực định của Pháp về các biện pháp bảo đảm. Dưới đây là tổng hợp một số nội dung chính trong bài trình bày của Giáo sư.

I. Một số vấn đề chung

Triết lý trái quyền và vật quyền trong Bộ luật dân sự

Bộ luật dân sự Pháp được thiết kế dựa trên hai chế định cơ bản là trái quyền và vật quyền. Trái quyền hay còn gọi là quyền đối nhân được hiểu là quyền của một chủ thể đối với một chủ thể khác. Vật quyền hay còn gọi là quyền đối vật là quyền của chủ thể tác động lên một vật.

Các biện pháp bảo đảm cũng được thiết kế theo triết lý trái quyền và vật quyền và được chia thành hai loại là vật quyền bảo đảm và trái quyền bảo đảm. Vật quyền bảo đảm có sức mạnh đặc biệt vì nó tạo ra quyền trực tiếp của chủ nợ có bảo đảm đối với giá trị kinh tế của tài sản bảo đảm, thể hiện ở quyền theo đuổi và quyền ưu tiên của chủ nợ có bảo đảm. Quyền theo đuổi là quyền truy đòi tài sản bảo đảm dù tài sản đó không còn được con nợ nắm giữ. Quyền ưu tiên là quyền của chủ nợ có bảo đảm được ưu tiên thanh toán trước các chủ nợ không có bảo đảm.

Continue reading

XÂY DỰNG CHẾ ĐỊNH VẬT QUYỀN – ĐIỀU KIỆN ĐỂ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO ĐẢM THỰC HIỆN NGHĨA VỤ

PGS.TS. NGUYỄN NGỌC ĐIỆN – Trường Đại học Kinh tế – Luật, Đại học Quốc gia TP.HCM (Civillawinfor: Tham luận góp ý sửa đổi BLDS 2005)

1. Những điểm bất hợp lý của chế độ bảo đảm nghĩa vụ hiện hành

Bảo đảm nghĩa vụ: hạn chế quyền sở hữu. Trong luật Việt Nam hiện hành, bảo đảm thực hiện nghĩa vụ nói chung và, nói riêng, bảo đảm nghĩa vụ bằng thế chấp, cầm cố tài sản được xem lả các quan hệ pháp lý (có nguồn gốc từ hợp đồng) giữa hai con người, cụ thể là giữa bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm. Luật Việt Nam không dung nạp khái niệm vật quyền, bởi vậy không hình dung khả năng phân biệt các biện pháp bảo đảm nghĩa vụ thành bảo đảm đối vật và bảo đảm đối nhân như luật của các nước châu Âu. Có tác dụng xác lập nghĩa vụ bảo đảm, quan hệ bảo đảm nghĩa vụ trong luật Việt Nam có thể có đối tượng là một tài sản đặc thù, như trong trường hợp cầm cố, thế chấp, hoặc cả một khối tài sản thuộc về một chủ thể, như trong trường hợp bảo lãnh bằng tín chấp của ngân hàng hoặc của các tổ chức xã hội. Nói riêng về các biện pháp bảo đảm nghĩa vụ bằng cầm cố hoặc thế chấp tài sản, trong khung cảnh của luật thực định, các biện pháp này không tạo ra quyền trực tiếp của chủ nợ có bảo đảm đối với tài sản được cầm cố, thế chấp, mà được cho là có tác dụng “treo” quyền định đoạt của chủ sở hữu hay đúng hơn nữa là đặt việc thực hiện quyền đó dưới sự giám sát nghiêm ngặt của chủ nợ1.

Continue reading

TÀI SẢN BẢO ĐẢM CHƯA CHẮC ĐÃ LÀ “ĐẢM BẢO” – NHÌN TỪ TÌNH HUỐNG THỰC TẾ

TRANG HÀ – Agribank Đống Đa, Hà Nội

Hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng là hoạt động mang tính rủi ro, ngoài ngành nghề kinh doanh quy định trong Điều lệ được pháp luật cho phép thì hoạt động chủ yếu của Ngân hàng là hoạt động huy động và cho vay; hoạt động cho vay luôn tiền ẩn rủi ro, khách hàng vay vốn vì nhiều lý do không trả được nợ (bao gồm cả nợ gốc và nợ lãi) dẫn đến Ngân hàng phải “gồng mình” vừa bù đắp cho khoản vay mà khách hàng không trả được theo Hợp đồng tín dụng đã ký, vừa phải trả lãi tiền huy động từ tổ chức và người dân dẫn đến hoạt động của Ngân hàng bị ảnh hưởng nghiêm trọng.

Cho vay vừa bảo toàn được nguồn vốn, vừa bảo vệ được nghề nghiệp luôn là yếu tố sống còn không chỉ với ngân hàng mà còn đối với cán bộ tín dụng tại Ngân hàng. Người ta thường nói, nghề tín dụng ngân hàng luôn là nghề khắc nghiệt, ranh giới giữa “anh hùng” và “tội phạm” là rất mong manh. Hiểu nghề, hiểu được những rủi ro trong nghề nghiệp của mình và biết cách vượt qua luôn là điều mà mọi cán bộ tín dụng mong hướng đến.

Có vay thì phải có trả, tuy nhiên, cũng vì nhiều lý do, hoàn cảnh, mà khách hàng vay đã không thể trả được nợ cho Ngân hàng dẫn đến các tranh chấp phát sinh mà không bên nào mong muốn, nhưng khi khách hàng đã không còn khả năng trả nợ thì Ngân hàng biết trông vào gì để thu hồi nợ từ khoản vay của khách hàng, đến đây thì mọi việc thu nợ đều trông chờ vào tài sản bảo đảm của khách hàng, cũng có thể tài sản bảo đảm là của bên thứ ba hoặc của chính khách hàng và chúng ta có thể khẳng định tài sản bảo đảm được coi là cứu tinh duy nhất cho khoản vay có nguy cơ mất vốn của khách hàng tại Ngân hàng. Tuy nhiên, trên thực tế không phải tài sản bảo đảm đã được thế chấp tại Ngân hàng cũng có thể xử lý được theo đúng quy định, có những trường hợp, có những vụ việc Ngân hàng nhận thế chấp, đã đăng ký giao dịch bảo đảm, người đứng tên trên Giấy nhận quyền sử dụng đất đồng ý giao tài sản cho Ngân hàng để Ngân hàng xử lý phát mại nhưng Ngân hàng vẫn không xử lý được vì tài sản lại liên quan đến một vụ án hình sự hoặc liên quan đến một án dân sự của bên thứ ba nào đó và vì thế đang từ khoản vay có tài sản bảo đảm trở thành khoản vay không “đảm bảo”.

Continue reading

KỶ YẾU HỘI THẢO VIỆT – PHÁP NĂM 2011 VỀ SỬA ĐỔI BỘ LUẬT DÂN SỰ

Thời gian qua có một số ý kiến băn khoăn về một số nội dung mới trong Bộ luật dân sự năm 2015 chưa được thảo luận một cách thấu đáo. Civillawinfor trân trọng giới thiệu Kỷ yếu Hội thảo Việt – Pháp về “Sửa đổi Bộ luật dân sự” tại Nhà Pháp luật Việt – Pháp (năm 2011) để các bạn có thêm thông tin.

Trích

Bình luận của Ông Alain LACOUR về Bộ luật dân sự (BLDS) Pháp :

Như Giáo sư GRIMALDI đã nói, BLDS Pháp là một bộ luật thống nhất, do những người trực tiếp thực thi pháp luật là các thẩm phán Tòa phá án biên soạn nhằm 2 mục đích : kế thừa truyền thống pháp luật phong kiến và tiếp thu những thành tựu của Cách mạng Pháp. Do đó, bộ luật này vừa giữ lại những khái niệm và học thuyết của pháp luật La Mã (phần nghĩa vụ và sở hữu), đồng thời thiết lập những quy định nghiêm ngặt để gìn giữ những thành tựu cách mạng (quyền bình đẳng giữa các chủ thể, hạn chế các quy định mang màu sắc phong kiến…). Chẳng hạn, khi hai bên giao kết hợp đồng mà hợp đồng đó không nêu rõ thời hạn thực hiện, mỗi bên hoàn toàn có thể rút lui khỏi hợp đồng vì đó không phải là cam kết vĩnh viễn. Tương tự, các quy định về dịch quyền cũng hết sức nghiêm ngặt, dịch quyền chỉ áp dụng đối với một thửa đất, vì lợi ích của một thửa đất khác chứ không phải của một chủ thể khác.

BLDS Pháp là bộ luật nền tảng, bộ luật gốc và là bộ luật duy nhất trong số 4 bộ luật lớn của Pháp đã tồn tại qua hơn hai thế kỷ. Khi biên soạn BLDS, có thể cân nhắc giữa 2 phương thức sau đây : hoặc chỉ đề ra những nguyên tắc cơ bản và không đi sâu vào từng chi tiết, tình huống, để có thể thích ứng dễ dàng với những thay đổi trong đời sống xã hội; hoặc dự kiến tối đa các tình huống có thể xảy ra và phương án giải quyết. Dĩ nhiên các tình huống đưa ra phải hết sức cụ thể, tuy nhiên, với phương thức này, các thẩm phán có thể lúng túng trước những tình huống mới nảy sinh. Vì vậy, chúng tôi nghiêng về phương thức thứ nhất, đó là BLDS nên chỉ đưa ra những nguyên tắc chung, tổng quát làm kim chỉ nam cho các thẩm phán để họ linh hoạt áp dụng vào từng vụ việc cụ thể.

Continue reading

ĐÀM PHÁN VỚI MÃ LỆNH: HỢP ĐỒNG THÔNG MINH VÀ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CÒN BỎ NGỎ

VŨ THỊ DIỆU THẢO

Hợp đồng thông minh được thực hiện hoàn toàn trên môi trường mạng, do đó việc xác định hệ thống pháp luật điều chỉnh hoặc lựa chọn cơ quan giải quyết tranh chấp cũng là một vấn đề rất đáng quan tâm.

Xung đột pháp luật – Câu đố chưa có lời giải

Có thể thấy rằng, việc xác định biên giới mạng, phạm vi lãnh thổ quốc gia trên môi trường mạng đang là một câu hỏi hóc búa. Hơn nữa, Hợp đồng thông minh hoạt động thông qua các nút mạng phi tập trung (decentralized node) có thể được phân bổ trên khắp thế giới, do đó, rất khó để xác định luật áp dụng hiện hành và thẩm quyền giải quyết tranh chấp. Điều này cũng làm tăng rủi ro cho các bên khi giải quyết những tranh chấp phái sinh từ hợp đồng thông minh.

Đứng trước vấn đề trên, một số nhà nghiên cứu luật quốc tế đã đưa ra đề xuất xây dựng một bộ quy tắc riêng để điều chỉnh hợp đồng thông minh. Theo đó, Incochains có thể ra đời, giữ vai trò tương tự như các bản Incotermsđang được sử dụng hiện nay [1].Và trong tương lai không xa, Lex Cryptographia (tương đương với Lex Mercatoria – tập hợp các tập quán thương mại quốc tế dùng giữa các thương nhân) có thể được xây dựng với kỳ vọng là không chỉ là bộ quy tắc điều chỉnh hợp đồng thông minh mà còn có thể điều chỉnh hoạt động của các tổ chức tự trị phi tập trung (Decentralized Autonomous Organization- DAO)[2].

Continue reading

MỘT SỐ BẤT CẬP VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN NHÀ Ở HÌNH THÀNH TRONG TƯƠNG LAI

THS. NGUYỄN ĐÌNH PHONG – Giảng viên Đại học Xây dựng

NGUYỄN THU HƯƠNG – Tòa án Cấp cao tại Hà Nội

Nhà ở hình thành trong tương lai là loại hình ngày càng phổ biến ở nước ta. Mặc dù Nhà nước cũng đã ban hành nhiều văn bản pháp luật quy định về việc mua bán nhà ở hình thành trong tương lai. Tuy nhiên, do giao dịch này rất đa dạng nên các quy định pháp luật có nhiều điểm chưa thống nhất dẫn đến thực tiễn có nhiều bất cập, ảnh hưởng đến người tham gia quan hệ mua bán và hoạt động quản lý của các cơ quan có thẩm quyền

Do đó, việc nghiên cứu làm rõ về việc mua bán nhà ở hình thành trong tương lai theo quy định của Luật Nhà ở, Bộ luật Dân sự, Luật Kinh doanh bất động sản và các văn bản hướng dẫn thi hành là rất cần thiết. Bài viết sau đây tác giả xin bàn về một số bất cập và đưa ra một số đề xuất sửa đổi các quy định của pháp luật nhằm đảm bảo tính đồng bộ, hiệu quả của Hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai.

Nhà ở không chỉ là một loại tài sản có giá trị lớn phục vụ nhu cầu gia đình, cá nhân mà còn là yếu tố phản ánh sự phát triển của đất nước. Cùng với sự phát triển của xã hội, nhu cầu nhà ở ngày càng tăng cao, các loại hình nhà ở ngày càng đa dạng phong phú phù hợp với nhu cầu xã hội.

Nhà ở hình thành trong tương lai là loại hình ngày càng phổ biến ở nước ta. Tính đến thời điểm hiện tại, nhà nước cũng đã ban hành nhiều văn bản pháp luật quy định chi tiết hơn về việc mua bán nhà ở hình thành trong tương lai. Tuy nhiên, do giao dịch này tồn tại nhiều quan điểm khác nhau nên các quy định có nhiều điểm chưa thống nhất dẫn đến thực tiễn có nhiều bất cập, nhiều cách hiểu khác nhau. Những bất cập này ảnh hưởng xấu cho những người tham gia quan hệ mua bán và hoạt động quản lý của các cơ quan có thẩm quyền.

Continue reading

TẶNG CHO TÀI SẢN CÓ ĐIỀU KIỆN và một số vướng mắc từ thực tiễn

13334 PHẠM THỊ HẰNG – Vụ pháp chế và quản lý khoa học, TANDTC

Trường hợp tặng, cho tài sản được lập thành văn bản thì gọi là hợp đồng tặng cho tài sản. Hợp đồng tặng cho tài sản lại có hai trường hợp khác nhau là Hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện và hợp đồng tặng cho tài sản không có điều kiện. Trong thực tiễn vấn đề tặng cho tài sản có những vướng mắc cần được hướng dẫn.

1. Đặt vấn đề

Trong đời sống việc việc tặng cho bao gồm cả việc tặng cho tài sản giữa cá nhân với cá nhân và việc tặng cho người khác tài sản hợp pháp của mình là chuyện bình thường. Nhiều cơ quan, tổ chức và cá nhân tặng cho nhà tình nghĩa, nhà tình thương đối với cá nhân, gia đình người có công đối với đất nước trong công cuộc bảo về, xây dựng đất nước và đối với người có hoàn cảnh khó khăn đặc biệt được thực hiện hàng năm để tri ân đối với các gia đình, cá nhân được hưởng chính sách ưu đãi của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và để gắn bó tính đoàn kết với người có hoàn cảnh khó khăn.

Về mặt pháp luật, các giao dịch dân sự về tặng cho tài sản nêu trên được hiểu như thế nào là hợp pháp. Vấn đề này, chúng tôi có ý kiến như sau:

Việc tặng cho tài sản có thể bằng hình chức hợp đồng, cũng có thể là hành vi pháp lý đơn phương của chủ sở hữu tài sản làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự đối với bên tặng cho tài sản và đối với bên nhận tài sản tặng cho. Còn tài sản tặng cho, có thể là bất động sản hoặc là động sản.

Theo quy định tại Điều 107 Bộ luật Dân sự hiện hành về “Bất động sản và động sản” thì: “1) Bất động sản bao gồm:Đất đai;Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai; Tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng; Tài sản khác theo quy định của pháp luật.

Continue reading

BÁO CÁO TỔNG KẾT THI HÀNH BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005

BỘ TƯ PHÁP

Bộ luật dân sự năm 2005 (sau đây gọi là BLDS) được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 1 năm 2006) là văn bản pháp luật quan trọng, điều chỉnh một lĩnh vực rộng lớn các quan hệ xã hội trong giao lưu dân sự. Bộ luật này cũng là nền tảng pháp lý cho hệ thống pháp luật điều chỉnh các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (gọi chung là quan hệ dân sự).

Qua thực tiễn thi hành, BLDS đã phát huy vai trò to lớn trong việc quy định địa vị pháp lý, chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác; quyền, nghĩa vụ của các chủ thể về nhân thân và tài sản trong các quan hệ dân sự; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng; bảo đảm sự bình đẳng và an toàn pháp lý trong quan hệ dân sự; góp phần đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần ngày càng cao của nhân dân, thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

Tuy nhiên trong bối cảnh đất nước bước sang giai đoạn phát triển mới cùng với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, các quan hệ dân sự đã có những thay đổi đáng kể và nhanh chóng cần có sự điều chỉnh phù hợp của pháp luật. Trong bối cảnh như vậy, BLDS đã bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập cần được sửa đổi, bổ sung.

Nắm bắt được thực trạng này, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1322/QĐ-TTg ngày 18 tháng 9 năm 2012 về việc phê duyệt Kế hoạch tổng kết thi hành BLDS. Việc tổng kết này được coi là hoạt động quan trọng nhằm đánh giá tác động của BLDS tới sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước; tác động của phát triển kinh tế – xã hội đến các quan hệ dân sự và quy định của BLDS; mối liên hệ giữa BLDS với các luật, pháp lệnh, điều ước quốc tế có liên quan; những thành công, cũng như những hạn chế trong quy định và tổ chức thực hiện Bộ luật; xác định những vấn đề phát sinh trong thực tiễn và đưa ra các đề xuất, giải pháp cụ thể để xử lý các vấn đề này một cách có hiệu quả.

Continue reading

QUYỀN BỀ MẶT THEO QUY ĐỊNH CỦA BLDS NĂM 2015 VÀ DỰ BÁO MỘT SỐ VƯỚNG MẮC, BẤT CẬP

THS. LÊ ĐĂNG KHOA – Giảng viên Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội

Bộ luật dân sự (BLDS) 2015 có hiệu lực từ ngày 01/01/2017, bao gồm 689 điều, đã có những quy định rất mới tại phần thứ hai “Quyền sở hữu và Quyền khác đối với tài sản”. Trong đó, quyền bề mặt là một trong những quyền quan trọng, cần được nghiên cứu cụ thể về lý luận để có thể đưa vào thực tiễn tiễn áp dụng một cách hiệu quả và tránh được những vướng mắc, bất cập trong việc thực hiện quyền này. Nội dung bài viết này nhằm khái quát một số vấn đề về quyền bề mặt đồng thời đưa ra những kiến nghị liên quan đến quy định về quyền bề mặt trong BLDS năm 2015.

1. Bản chất và phạm vi tác động của quyền bề mặt

Trong pháp luật La Mã trước đây, các Luật gia cho rằng về bản chất quan hệ tài sản do tính xác định của các quan hệ đó. Để đáp ứng một nhu cầu nào đó, một chủ thể có thể tạo ra một tài sản hoặc mua một tài sản, trên cơ sở đó họ là chủ sở hữu đối với tài sản đã tạo ra, đã mua. Khi đã trở thành chủ sở hữu tài sản, họ có toàn quyền đối với tài sản đó, thực hiện tất cả những hành vi tác động lên tài sản để thỏa mãn yêu cầu của mình và không phụ thuộc vào ý chí cũng như hành vi của người khác. Trường hợp này, họ là người có quyền tuyệt đối đối với tài sản và “hình như” chỉ tồn tại quan hệ giữa họ với tài sản, quyền tài sản ở dạng này gọi là vật quyền (quyền đối vật)[1].

Pháp luật các nước trên thế giới ghi nhận vào trong pháp luật của họ các loại vật quyền khác nhau tùy theo điều kiện kinh tế xã hội và quan điểm pháp luật của từng nước. Trong việc phân loại các vật quyền đó, có thể phân thành vật quyền chính yếu và vật quyền phụ thuộc hoặc có thể phân loại thành quyền trên tài sản của mình và quyền trên tài sản của người khác. Quyền sở hữu là vật quyền chính yếu và là một quyền tuyệt đối tác động lên tài sản, trong đó người có quyền có thể thông qua hành vi của mình mà không phụ thuộc hành vi của người khác.

Continue reading

THỜI HIỆU KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ

DƯƠNG TẤN THANH – TAND thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh

Theo quy định của BLDS năm 2015 thì thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện. Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự được tính từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Theo quy định của BLTTDS năm 2015 thì thời hiệu khởi kiện được thực hiện theo quy định của BLDS năm 2015.

Trong phạm vi bài viết này, tác giả xin đề cập đến những quy định của pháp luật về thời hiệu khởi kiện và thời hiệu khởi kiện trong một số vụ án dân sự cụ thể.

1. Một số quy định chung về thời hiệu khởi kiện

1.1. Áp dụng quy định về thời hiệu

Tại Điều 149 BLDS và Điều 181 BLTTDS đều quy định Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc.1

Vấn đề này, thực tiễn tại Tòa án vẫn còn quan điểm khác nhau, một bên là Thẩm phán phải giải thích và một bên là Thẩm phán không được giải thích cho đương sự biết việc đương sự được quyền yêu cầu Tòa án áp dụng quy định về thời hiệu nếu biết thời hiệu khởi kiện đã hết. Vì hậu quả pháp lý hoàn toàn khác nhau. Nếu Thẩm phán giải thích mà đương sự yêu cầu thì Tòa án sẽ đình chỉ giải quyết vụ án hoặc đình chỉ giải quyết yêu cầu phản tố của bị đơn, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Nếu Thẩm phán không giải thích và đương sự không biết được quyền yêu cầu áp dụng quy định về thời hiệu thì Tòa án sẽ giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

Continue reading