TRANH CHẤP VỀ HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG: CÁI CỐNG HÔI TRƯỚC CỬA SẠP

DƯƠNG HẰNG

Bên mua khởi kiện đòi lại tiền cọc vì cho rằng bị lừa bán cái sạp có cái cống bốc mùi hôi thối. Nắp cống khá lớn và cao hơn so với mặt đường, ở phía trước cống còn có nước chảy nên người bán không thể che kín bưng.

Tháng 10-2009, biết vợ chồng bà H. bán hai cái sạp liền kề tại chợ Tân Bình (TP.HCM), bà L. đến mua một cái với giá 1,5 tỉ đồng, đặt cọc trước 100 triệu đồng.

Đòi lại tiền cọc

Sau một thời gian tới lui để hoàn tất hợp đồng, bà L. phát hiện trước cửa sạp có nắp cống thường xuyên bốc mùi hôi thối. Bà L. cho rằng người bán cố tình dùng bạt phủ kín, che nắp cống khiến bà không nhìn thấy nên mới mua cái sạp này. Bà yêu cầu người bán đổi sang sạp kế bên nhưng không được đồng ý. Do vậy, bà khởi kiện đòi lại tiền cọc vì người bán lừa dối khi giao kết hợp đồng.

Ngược lại, bên bán cho rằng nắp cống hiện hữu từ lâu, bà không che giấu gì cả. Từ ngày xem sạp đến lúc đặt cọc tiền cách nhau hơn một tuần, bà L. đã tới thăm sạp rất nhiều lần. Như vậy, bà L. đã phải xem xét rất kỹ lưỡng rồi mới quyết định mua sạp. Sau khi nhận tiền đặt cọc, bà nhiều lần hối thúc bà L. đến giao tiền và nhận sạp nhưng bà L. không thực hiện.

Theo bên bán, lỗi này hoàn toàn từ phía người mua nên người này phải mất toàn bộ tiền cọc.

Hợp đồng vô hiệu

Năm 2010, xử sơ thẩm, TAND quận Tân Bình nhận định nắp cống khá lớn và cao hơn so với mặt đường, ở phía trước cống còn có nước chảy nên người bán không thể che kín bưng. Đồng thời, trước khi thỏa thuận và đặt cọc tiền sang sạp, nguyên đơn nhiều lần đến xem xét thực tế vị trí sạp. Do đó, không thể nói người bán có hành vi gian dối trong giao dịch. Nguyên đơn không chịu nhận sạp theo thỏa thuận là có lỗi nên bị mất cọc như đã giao kết.

Không đồng ý, bà L. đã kháng cáo lên TAND TP.HCM. Tại phiên xử phúc thẩm mới đây, luật sư của bà L. cho rằng trong hợp đồng, bà H. bán cho bà L. cái sạp X. chứ không phải là sạp X./1. Nhưng khi giao dịch cả người mua và người bán đều nhầm tưởng đang mua bán sạp X./1 (sạp có cái nắp cống phía trước). Do đó, khi phát hiện mua nhầm sạp, người mua yêu cầu chuyển sạp theo đúng hợp đồng là hoàn toàn phù hợp. Tuy nhiên, sạp X. đã bị bà H. bán cho người khác khiến chủ thể của hợp đồng không còn. Do vậy, bà L. yêu cầu hủy hợp đồng, đòi lại tiền cọc là đúng.

Continue reading

TRANH CHẤP VỀ XÁC LẬP QUYỀN SỞ HỮU: TẤM VÁN ĐÓNG THUYỀN THUỘC VỀ AI?

VĂN ĐOÀN

Bên mất bảo tấm ván bị trôi là của mình, còn bên vớt được bảo bên mất chưa chứng minh được…

Theo hồ sơ, tháng 8-2010, ông T. ở huyện Mang Thít (Vĩnh Long) mua một tấm ván bằng gỗ sao núi trị giá gần 10 triệu đồng rồi mang về ngâm dưới rạch nước sau nhà để chuẩn bị đóng ghe…

Mất tấm ván quý

Ít lâu sau, ông T. phát hiện tấm ván trôi sang bờ sông cặp nhà ông D. nên kêu người qua kéo tấm ván về. Tuy nhiên, ông D. đã ngăn cản, không cho phía ông T. lấy tấm ván. Ông T. tức mình, báo công an xã nhưng ông D. vẫn kiên quyết không đưa. Đòi hoài không được, cuối cùng, ông T. kiện ông D. ra tòa yêu cầu trả lại tài sản…

Đến lúc này, ông D. lên tiếng bảo đúng là ông vớt được tấm ván trôi gần nhà. Tuy nhiên, tấm ván này có phải là của ông T. thì ông T. phải chứng minh. Nếu ông T. không chứng minh được thì ông không trả. Còn nếu ông T. chứng minh được đó là tài sản của mình thì cũng phải bồi thường cho ông hơn 14 triệu đồng tiền chi phí vớt tấm ván và thuê người bảo quản…

Phải trả lại tấm ván

Tháng 1-2011, TAND huyện Mang Thít xử sơ thẩm nhận định ông T. mất tấm ván còn ông D. nhặt được tấm ván, có báo công an xã trong cùng một ngày. Từ ngày đó đến ngày xử sơ thẩm không có ai báo mất tấm ván nữa. Người làm của ông T. cũng khẳng định tấm ván là của ông T. Tại phiên tòa, ông D. khai: “Phải chi ông T. qua nhà thương lượng thì ông D. đã trả lại tấm ván”… Điều này cho thấy ông D. đã thừa nhận tấm ván vớt được là của ông T. Từ nhận định trên, có đủ cơ sở xác định tài sản là của ông T. Do đó, tòa chấp nhận yêu cầu khởi kiện buộc ông D. phải trả lại tấm ván.

Không đồng ý, ông D. làm đơn kháng cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm đầu tháng 3-2011, luật sư của ông D. cho rằng trong quá trình giải quyết vụ án, ông T. khai tấm ván dài 9,9 m, ngang 0,9 m. Điều này không trùng khớp với tấm ván mà ông D. vớt được. Cụ thể nó chỉ dài 8,9 m, ngang 1,1 m… Do đó, luật sư đề nghị tòa xác định tấm ván mà ông D. vớt là chưa xác định được chủ sở hữu và tuyên cho ông D. được hưởng tấn ván này theo quy định tại Điều 241 BLDS…

Continue reading

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG BẤT ĐỘNG SẢN: MUA ĐẤT CÓ THÊM NHÀ, XỬ SAO?

MINH PHƯƠNG

Bà D. đã nhiều lần yêu cầu giao tài sản nhưng người bán cho rằng chỉ vay tiền bà, còn việc ký hợp đồng mua bán, chuyển nhượng tài sản chỉ là để làm tin. Hợp đồng không thể hiện việc mua bán căn nhà cấp bốn trên đất nên tòa phúc thẩm xác định vô hiệu.

Vợ chồng ông A. có một thửa đất khoảng 200 m2 cùng một căn nhà cấp bốn diện tích khoảng 50 m2 tọa lạc trên thửa đất này.

Nhà không giấy, không công chứng

Năm 2008, vợ chồng ông A. đã chuyển nhượng nhà, đất trên cho bà D. với giá 300 triệu đồng. Khi ra công chứng, phòng công chứng chỉ chấp nhận công chứng việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất (do đất đã được cấp giấy chứng nhận…), không chấp nhận công chứng việc mua bán nhà vì tài sản này chưa có giấy tờ sở hữu. Thế nên trong hợp đồng không thể hiện việc mua bán nhà dù cả hai bên vẫn thống nhất việc này.

Sau đó, theo bà D., dù bà đã trả hết tiền, bên bán vẫn không chịu giao nhà, đất khiến bà bị thiệt thòi. Bà đã nhiều lần yêu cầu nhưng phía này cho rằng chỉ vay tiền bà, còn việc ký hợp đồng chuyển nhượng đất chỉ là để làm tin. Nay bà D. đòi thì bên bán sẽ trả lại 400 triệu đồng.

Đòi mãi không xong, bà D. đành kiện nhờ tòa can thiệp.

Hai tòa chỏi nhau

Cấp sơ thẩm nhận định bà D. không chứng minh được việc mình có mua ngôi nhà cấp bốn gắn liền đất. Vợ chồng ông A. không chứng minh được chuyện vay tiền bà D. Nhà gắn liền đất nhưng hai bên không có thỏa thuận mua bán nhà do đó hợp đồng không thể thực hiện được. Tòa tuyên vô hiệu… Hai bên đều có lỗi nên mỗi bên chịu một nửa thiệt hại. Giá trị đất đến thời điểm xét xử sơ thẩm là 700 triệu đồng nên buộc vợ chồng ông A. phải trả cho bà D. 500 triệu đồng (gồm 300 triệu đồng tiền chuyển nhượng đất và 200 triệu đồng bồi thường 1/2 thiệt hại).

Án tuyên xong, cả hai phía đều kháng cáo

Sau đó, tòa cấp phúc thẩm cho rằng hai bên đã thỏa thuận, hoàn toàn tự nguyện khi thực hiện giao dịch mua bán, chuyển nhượng tài sản. Hợp đồng không trái đạo đức xã hội. Mục đích và nội dung giao dịch không trái pháp luật. Bà D. đã giao tiền, đã đăng ký quyền sử dụng đất nên hợp đồng đã hoàn thành… Do đó, theo quy định của luật dân sự và luật đất đai, hợp đồng mua bán trên không vi phạm nên không bị vô hiệu. Vợ chồng ông A. không giao tài sản là có lỗi làm cho hợp đồng không thực hiện được… Tòa tuyên sửa án sơ thẩm, buộc vợ chồng ông A. phải bồi thường cho bà D. 700 triệu đồng.

Continue reading

THỰC TIỄN CÔNG NHẬN VÀ BẢO VỆ QUYỀN DÂN SỰ: 28 NĂM CHƯA ĐÒI ĐƯỢC NHÀ CHO THUÊ

Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 dự liệu Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có quyền xem xét lại các quyết định của chính mình, đây là một dạng cánh tay nối dài cho tình trạng xét xử không có điểm dừng và là thách thức lớn đối với niềm tin của người dân vào công lý và lẽ công bằng…

Civillawinfor

BÌNH MINH

Kỳ án kéo dài 28 năm là điển hình cho tình trạng xét xử không có điểm dừng trong tố tụng dân sự. Quyết định giám đốc thẩm không hủy bản án phúc thẩm bị kháng nghị nên vụ án tồn tại hai quyết định có nội dung đối kháng nhau.

Sau ba lần xét xử sơ thẩm, bốn lần phúc thẩm, ba lần giám đốc thẩm, vụ kiện đòi nhà cho thuê kéo dài gần 28 năm nay quay trở về vạch xuất phát ban đầu, chờ xét xử sơ thẩm. Nguyên đơn lẫn bị đơn không chờ đợi được, lần lượt qua đời khiến mọi việc càng thêm rối rắm.

Liên tục giám đốc thẩm

Theo hồ sơ, năm 1983, cụ D. đã khởi kiện đòi ông H. phải trả lại cho mình căn nhà mà ông H. đã thuê trước năm 1975. Bốn năm sau, TAND quận 6 xử sơ thẩm và TAND TP.HCM xử phúc thẩm đều công nhận nhà là của cụ D., buộc ông H. phải trả nhà lại. Tuy nhiên, năm 1989, Ủy ban Thẩm phán TAND Tối cao đã giám đốc thẩm, tuyên hủy hai bản án giao về cho TAND TP.HCM xử sơ thẩm lại.

Giữa năm 1990, TAND TP.HCM xử sơ thẩm vẫn công nhận căn nhà trên của cụ D., buộc bên thuê phải trả lại nhà (lúc này ông H. đã chết). Bản án lại bị kháng cáo. Cấp phúc thẩm sau khi xem xét đã ra quyết định “dĩ hòa vi quý” đem căn nhà chia cho cả hai bên.

Sau khi bản án trên bị kháng nghị, Ủy ban Thẩm phán TAND Tối cao đã hủy án, giao cho TAND Tối cao xét xử phúc thẩm lại. Giữa năm 1992, TAND Tối cao đã công nhận chủ quyền nhà cho cụ D.

Continue reading

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ: ĐÒI BỒI THƯỜNG VÌ SỬA HƯ MÁY TÍNH

HOÀNG YẾN

Giữa tháng 10-2010, ông H. (ngụ quận 6, TP.HCM) đã nộp đơn đến tòa án một quận ở địa phương, khởi kiện anh thợ sửa chữa điện tử K. đòi bồi thường thiệt hại vì anh này đã làm hư máy vi tính của ông.

Khách bực anh thợ

Theo đơn khởi kiện của ông H., sáng 7-8-2009, ông giao máy cho anh K. – có cửa tiệm máy vi tính tại chợ điện tử Nhật Tảo, để sửa với giá 600.000 đồng.

Sau đó, anh K. bảo bo nguồn và bo playback bị hư hỏng phải thay mới với giá 200.000 đồng. Tuy nhiên sửa xong, anh K. không trả lại hai cái bo mạch bị hư mà đòi bán cho ông với giá 100.000 đồng. Như vậy là ông đã phải mua bo mạch đến hai lần (một lần khi mua máy vi tính và một lần mua từ anh K.) làm phí phạm tiền của. Ngoài ra, anh thợ này đã tráo đổi phụ tùng máy của ông như con IC cùng con nhiệt lượng có ba chấu…

Thấy anh thợ “chữa lành hóa què”, ông yêu cầu tòa buộc anh K. bồi thường 600.000 đồng vì anh K. đã gỡ mất nhiều thứ trong máy tính của ông. Đồng thời ông sẽ bán lại máy tính trên cho anh K. với giá rẻ là 700.000 đồng.

Khi được tòa thụ lý giải quyết, ông H. còn trình bày thêm rằng ông mua chiếc máy tính trên với giá 1 triệu đồng. Anh K. không những sửa chữa vô trách nhiệm mà còn có hành vi bỏ trốn. Nhiều lần ông tìm gặp, anh này không tiếp để nói chuyện phải trái. Máy vi tính sửa xong lúc thì xài được, lúc không khiến ông rất bực mình.

Thợ nản ông khách

Nhận được thông báo từ tòa án, anh K. liền đến tòa trình bày bức xúc bấy lâu kìm nén với khách hàng này. Anh K. thừa nhận ông H. có đến tiệm anh giao máy cho sửa. Máy sửa xong chạy tốt. Ông H. đã đem về nhà sử dụng nhưng lại làm hỏng nên đem ra sửa lần nữa. Cũng như lần đầu, sau khi sửa xong, máy chạy trơn tru, anh giao lại cho ông H.

Continue reading

TRANH CHẤP MUA BÁN VÀNG TRÊN SÀN: KHÓ XỬ!

HOÀNG YẾN

Hai vụ án có nội dung y hệt nhau, chỉ khác tên, địa chỉ của bị đơn và số tiền phải trả nhưng cấp phúc thẩm giải quyết theo hai hướng…

Năm 2007, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu (ACB) đưa ra hình thức đầu tư kinh doanh vàng. Theo đó, người tham gia đầu tư vàng trực tiếp ký các hợp đồng giao dịch vàng kiêm hợp đồng cấp tín dụng hạn mức và hợp đồng cầm cố số dư tài khoản VNĐ/vàng. ACB sẽ cung cấp hạn mức tín dụng cho người tham gia đầu tư. Người tham gia đầu tư trực tiếp giao dịch, đặt lệnh mua bán tại trung tâm giao dịch vàng thông qua đại diện của ACB ở đó. Người tham gia đầu tư phải nộp một khoản tiền ký quỹ trên tài khoản và lỗ lãi khi mua bán vàng trên sàn được khấu trừ vào tài khoản.

Hai vụ tương tự, hai hướng giải quyết

Năm 2008, Công ty TNHH Đông Dương đã ủy quyền cho 22 cá nhân là nhân viên công ty trực tiếp ký kết, thực hiện việc giao dịch vàng. Trong đó, có bảy trường hợp có số dư nợ nhưng không thanh toán cho ACB nên bị ACB khởi kiện ra TAND TP Hà Nội.

Tháng 9-2009, TAND TP Hà Nội xử vụ đầu tiên giữa ACB với ông TĐM, nhân viên Đông Dương. Tòa xác định Đông Dương là bên có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vì đã ủy quyền cho ông M. giao dịch trên sàn vàng, nhân danh công ty mở tài khoản cá nhân và thực hiện các giao dịch dưới sự chỉ đạo, kiểm soát của công ty. Tòa xác định hợp đồng giao dịch có hiệu lực và chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ACB, buộc ông M. cùng Đông Dương liên đới trả cho ngân hàng số dư nợ. Sau đó, ông M. và Đông Dương kháng cáo. Tháng 4-2010, Tòa Phúc thẩm TAND Tối cao tại Hà Nội đã hủy bản án sơ thẩm với lý do cần bổ sung người tham gia tố tụng.

Tháng 2-2010, TAND TP Hà Nội xử vụ thứ hai giữa ACB với bà NTVA, nhân viên Công ty Đông Dương và cũng ra phán quyết tương tự như trên. Tháng 8-2010, Tòa Phúc thẩm TAND Tối cao tại Hà Nội xử phúc thẩm lại không hủy án mà chỉ sửa án sơ thẩm. Tòa phúc thẩm cho rằng hợp đồng giao dịch vàng giữa ACB và bị đơn là vô hiệu vì hình thức kinh doanh giao dịch trên sàn vàng là hình thức kinh doanh mới, cần phải có giấy phép hoạt động. Việc ACB kinh doanh giao dịch vàng trên sàn là chưa được cơ quan có thẩm quyền cấp phép cho hoạt động.

Continue reading

TRANH CHẤP DÂN SỰ: NGÔI MỘ CỦA AI?

HOÀNG YẾN

Một ngôi mộ, hai người đều giành là mộ của cha mình. Tranh chấp, không ai giải quyết vì pháp luật chưa quy định. Cho đến nay chưa có một văn bản pháp luật nào quy định tranh chấp về mồ mả, hài cốt thì giao cho tòa hay UBND giải quyết.

TAND một quận tại TP.HCM đang lúng túng, không biết có thụ lý, giải quyết một vụ tranh chấp mồ mả hay không.

Một ngôi mộ, hai người giành

Trong đơn khởi kiện, ông TVT trình bày rằng năm 1985, cha ông mất, được an táng tại miếng đất mà ông mua giấy tay của một người quen. Hằng năm, ông vẫn đến chăm nom, hương khói cho người đã khuất. Được một thời gian, do hoàn cảnh khó khăn, ông phải rời TP về quê làm ăn. Nay quay trở lại, ông muốn bốc mộ cha đưa về nơi mình đang sinh sống để tiện thăm nom. Thật bất ngờ, ngôi mộ của cha ông đã được gia đình ông NVD (người mua đất gần đó sau này) trang trí, tu bổ khác hẳn.

Ông T. bèn gặp ông D., nói ý định muốn bốc mộ cha về nơi khác để an táng thì ông D. phản đối, nói ngôi mộ đó là của cha ông D., được an táng vào năm 1990 ngay trong khuôn viên nhà ông D. Bức xúc, ông T. trưng các bức ảnh khi tổ chức an táng cha mình, giấy tờ mua đất… để chứng minh ngôi mộ đó là mộ của cha mình. Tuy nhiên, ông D. cứ một mực khăng khăng rằng khi gia đình ông dọn về đây sinh sống thì mảnh đất không có bất kỳ ngôi mộ nào. Sau này cha ông chết, ông mới lập ngôi mộ trên để thờ cúng.

Ông T. đến nhờ UBND phường can thiệp nhưng ủy ban từ chối vì cho rằng vụ việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình. Ông bèn khởi kiện ông D. ra TAND quận, yêu cầu được bốc mộ của cha về nơi khác chăm nom. Nhưng như đã nói, tòa cũng đang lúng túng, không biết có nên thụ lý hay không.

Continue reading

TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC: BỊ TÒA KÊ BIÊN LỐ, KIỆN SAO?

QUỲNH BĂNG – SONG NGUYỄN

Có văn bản kết luận thẩm phán làm trái pháp luật, có thiệt hại xảy ra rồi nhưng không phải trường hợp nào đương sự cũng được khiếu nại, khởi kiện để đòi bồi thường.

Từ khi Luật Trách nhiệm bồi thường của nhà nước có hiệu lực (1-1-2010), đã xuất hiện một số vụ người dân khởi kiện tòa án đòi bồi thường vì cho rằng thẩm phán làm sai trong tố tụng dân sự, gây thiệt hại nhưng đều bị từ chối giải quyết hoặc bác đơn. Có chuyện này cũng bởi pháp luật quy định về phạm vi, điều kiện, trình tự yêu cầu bồi thường rất chặt mà không phải ai cũng biết…

Trong một vụ tranh chấp dân sự tại TAND TP Đ. (tỉnh Q.), bà H., nguyên đơn đã yêu cầu tòa áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là phong tỏa nhà đất của bà Y.- bị đơn, do nghi ngờ bà Y. tẩu tán tài sản.

Đòi bồi thường, chỉ được một phần

Tòa tìm hiểu và được Phòng Tài nguyên và Môi trường TP thông báo nhà đất nói trên đang được bà Y. chuyển nhượng cho người khác. Thẩm phán của TAND TP Đ. bèn ra quyết định kê biên phong tỏa nhà đất của bà Y. và yêu cầu các cơ quan liên quan dừng việc chuyển nhượng.

Bà Y. khiếu nại rằng giá trị nhà đất bị phong tỏa của bà cao hơn giá trị nghĩa vụ mà bà có trách nhiệm thi hành đối với bà H. Khiếu nại này được chánh án TAND TP Đ. chấp nhận và quyết định phong tỏa tài sản của thẩm phán đã được gỡ bỏ. Sau đó, bà Y. khởi kiện hai đồng bị đơn là TAND TP Đ. và bà H. ra TAND tỉnh Q. đòi bồi thường.

Xử sơ thẩm, TAND tỉnh Q. đã không chấp thuận yêu cầu đòi bồi thường của bà Y. đối với TAND TP Đ. vì cho rằng không phù hợp với pháp luật. Với đồng bị đơn còn lại, tòa tuyên bà H. phải bồi thường cho bà Y. vì đã yêu cầu tòa ra quyết định khẩn cấp sai. Mới đây, Tòa Phúc thẩm TAND Tối cao tại Đà Nẵng đã y án sơ thẩm cũng với nhận định tương tự.

Continue reading

THỰC TIỄN ÁP DỤNG PL VỀ XÁC LẬP QUYỀN ĐỐI VỚI TÀI SẢN: HAI CON GẤU NGỰA “LÀM RỐI” CƠ QUAN NHÀ NƯỚC!

CẨM TÚ

Chủ gấu bị cưỡng chế thu hồi đất “làm ngơ” hai con gấu, quận phải gửi cho Thảo Cầm Viên nuôi hộ. Thảo Cầm Viên chịu hết xiết đòi trả lại thì quận chẳng biết phải chuyển gấu đi đâu.

“Nhắc tới hai con gấu ngựa là chúng tôi nhức đầu. Mình không lường được tình huống này bởi trước nay chưa từng có, không ngờ nó phát sinh rắc rối như vậy” – ông Nguyễn Văn Út, Trưởng Ban Bồi thường giải phóng mặt bằng quận 9, TP.HCM, than.

Mất trăm triệu đồng cơm nước cho… gấu

Ông Nguyễn Xuân Ngữ ngụ quận Gò Vấp có mảnh đất diện tích hơn 3.600 m2 tại phường Long Thạnh Mỹ, quận 9 làm nhà ở, trồng cây, nuôi cá và có cái chuồng nuôi hai con gấu ngựa. Đất này thuộc dự án Khu công nghệ cao nên ông bị giải tỏa. Do không tự nguyện bàn giao mặt bằng nên tháng 5-2009, cơ quan chức năng đã tiến hành cưỡng chế thu hồi đất.

Tuy nhiên, ông Ngữ không chịu di dời các tài sản gắn liền trên đất. Do đó, buộc lòng quận phải cưỡng chế di dời số tài sản trên, trong đó có hai con gấu ngựa của ông Ngữ. Chúng được gửi vào Thảo Cầm Viên chăm sóc tạm thời. Nhưng từ lúc gửi gấu ngựa đến nay, chi phí nuôi dưỡng gấu mà Ban Bồi thường giải phóng mặt bằng đã phải trả lên đến cả trăm triệu đồng, gần bằng mua hai con gấu mới.

“Hội đồng thẩm định của Sở Tài chính cho biết về nguyên tắc, chi phí cưỡng chế do người bị cưỡng chế phải chịu. Do đó, chủ gấu phải trả tiền nuôi gấu. Tuy nhiên, QĐ 69/2008 do UBND TP ban hành thì cho phép trích 2% trên tổng kinh phí của dự án để ban bồi thường làm chi phí đảm bảo thực hiện bồi thường hộ trợ tái định cư. Trong các khoản chi, có nội dung chi cho công tác cưỡng chế thu hồi đất nếu không thu hồi được của người bị cưỡng chế. Bởi vậy giờ số tiền này chúng tôi chưa biết xử lý sao! ” – ông Út băn khoăn.

Continue reading

THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG: BIẾN TIỀN ĐẶT CỌC THÀNH TIỀN MUA ĐẤT

VĂN ĐOÀN

TAND cùng VKSND tỉnh và Ban Pháp chế HĐND tỉnh Đồng Nai cùng thống nhất phải kiến nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm vì bản án tuyên sai.

Hơn năm năm trước, bà H. (huyện Nhơn Trạch, Đồng Nai) mua một mảnh đất của vợ chồng ông C. với giá 350 triệu đồng. Hai bên thống nhất, bà H. đặt cọc trên 200 triệu đồng, sẽ thanh toán hết khi đã nhận được giấy tờ đất. Bên bán sẽ đền cọc gấp đôi nếu vi phạm thỏa thuận…

Tòa không cho phạt cọc

Theo bà H., một thời gian sau, vợ chồng ông C. không chịu thực hiện nghĩa vụ như đã cam kết nên bà kiện đòi tiếp tục hợp đồng, nếu không thì phải bồi thường thiệt hại theo giá đất thị trường…

Phía ông C. giải thích, số tiền trên 200 triệu đồng trên là ông mượn bà này chứ không phải là tiền mua bán đất. Tuy nhiên, hai bên lại thể hiện bằng hợp đồng mua bán. Khi đến hạn, vợ chồng ông nhiều lần gọi bà H. đến để trả nợ nhưng bà không tới lấy tiền mà kiện ông ra tòa. Do đó, vợ chồng ông không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H.

Xử sơ thẩm đầu năm 2006, TAND huyện Nhơn Trạch đã bác khai nại của bên bán vì không có chứng cứ chứng minh việc mượn tiền. Tòa chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H., buộc bên bán phải trả cho bà gần 3 tỉ đồng (giá trị đất theo giá thị trường tại thời điểm xét xử) vì không tiếp tục hợp đồng. Tòa nhận định bà H. đã giao trên 200 triệu đồng cho bên bán, chiếm hơn 3/4 giá trị hợp đồng chuyển nhượng đất. Điều này cho thấy khoản tiền trên mang ý nghĩa ở giai đoạn thanh toán hợp đồng chứ không phải là khoản tiền đặt cọc. Do đó, không thể cho rằng đây là tiền cọc để xử lý bồi thường gấp đôi như đôi bên đã thỏa thuận…

Continue reading

THỰC TIỄN TỐ TỤNG: RỐI VÌ HỒ SƠ ÁN GỬI BƯU ĐIỆN BỊ MẤT

PHƯƠNG NAM

Hồ sơ một vụ tranh chấp đất trị giá bạc tỉ được TAND Tối cao gửi bưu điện về tòa cấp dưới đã bị thất lạc. Đương sự khóc ròng vì hồ sơ rất khó phục hồi để xét xử lại.

Hơn bảy năm trước, bà L. cho một người quen mượn trên 30.000 m2đất tại TP Phan Thiết (Bình Thuận) để canh tác. Theo bà, làm được một thời gian, người này đã lấy luôn đất của bà. Năm 2003, bà khởi kiện đòi lại tài sản.

Chờ mãi không thấy hồ sơ

Sau ba năm thụ lý vụ kiện, tháng 5-2006, TAND TP Phan Thiết bất ngờ ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án. Không đồng tình với quyết định này, bà L. kháng cáo. Tuy nhiên, TAND tỉnh Bình Thuận đã bác kháng cáo của bà. Thấy bị thiệt thòi, bà liền gửi đơn kiến nghị đến TAND Tối cao đề nghị giám đốc thẩm…

Nhận được đơn, TAND Tối cao đã rút toàn bộ hồ sơ vụ kiện lên để xem xét. Tháng 5-2009, chánh án TAND Tối cao ra quyết định kháng nghị vì việc đình chỉ giải quyết vụ án là không đúng, không đảm bảo quyền lợi của các đương sự.

Sau đó, TAND Tối cao ra quyết định giám đốc thẩm tuyên hủy quyết định sơ thẩm, giao hồ sơ vụ án cho TAND TP Phan Thiết giải quyết lại vụ án theo đúng quy định của pháp luật.

Ngày 29-9-2009, TAND Tối cao gửi toàn bộ hồ sơ vụ án đến TAND TP Phan Thiết theo dạng bưu phẩm bảo đảm thông qua dịch vụ của Công ty Cổ phần Bưu chính Viettel. Thế nhưng sau gần năm tháng ròng rã chờ đợi, bà L. chẳng thấy TAND TP Phan Thiết xét xử lại. Nóng lòng, bà lại lục đục đi khiếu nại. Lúc này bà mới bật ngửa ra rằng nơi đây chưa hề nhận được hồ sơ vụ án nên không thể đưa vụ án ra xét xử.

Nhân viên bưu điện làm ẩu

Không tin hồ sơ vụ án đòi số diện tích trị giá bạc tỉ của mình bỗng dưng biến mất, bà L. vội vã gửi đơn đến TAND Tối cao yêu cầu làm rõ. Tòa này cũng vội vàng tổ chức xác minh phiếu báo do Viettel gửi về văn phòng liên quan đến gói bưu phẩm nói trên. Qua kiểm tra, tòa phát hiện có chữ ký kèm tên người nhận là bà Q., nhân viên văn thư TAND TP Phan Thiết. Tuy nhiên, giám định chữ ký và chữ viết thì đó không phải là chữ do bà Q. viết ra.

Continue reading

THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT: BỖNG DƯNG BỊ THU HỒI SỔ ĐỎ

CHI MAI

Mua đất có giấy tờ hợp pháp, đã được sang tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ), nhưng người mua bỗng rơi vào rắc rối do sai sót của chủ đất cũ và của chính quyền.

Tháng 4-2010, vợ chồng bà Nguyễn Thị Dung và ông Nguyễn Kiên Thịnh (ngụ phường 13, quận Tân Bình, TP.HCM) mua một lô đất 62m2 tại phường Bình Hưng Hòa, quận Bình Tân giá 585 triệu đồng. Vợ chồng bà Dung đã đăng bộ và được cấp sổ đỏ mang tên mình vào tháng 6-2010. Bỗng nhiên đến tháng 9-2010, gia đình bà nhận được thư mời của UBND phường Bình Hưng Hòa mời đến làm việc vì khu đất mà bà mua có tranh chấp.

Cấp nhầm đất

Người tranh chấp với bà Dung là ông Mai Văn Lâm. Theo ông Lâm, năm 2005 ông và ông Nguyễn Đắc Linh cùng thỏa thuận mua hai lô đất sát cạnh nhau tại phường Bình Hưng Hòa. Lô đất của ông Lâm có diện tích 70m2 (4,5 x 15,5m), còn lô đất của ông Linh chỉ có 60m2 (4 x 15m). Do mua bán bằng giấy tay nên lúc mua cả hai được chủ đất dẫn đến hiện trạng đất bàn giao và chỉ ranh đất với nhau. Sau khi mua đất, ông Linh bán lại cho bà Nguyễn Thị Miên cũng bằng giấy tay.
Năm 2009, bà Miên hoàn thành thủ tục xin cấp giấy chứng nhận trước và bán lại cho vợ chồng bà Dung. Khi ông Lâm đi làm thủ tục cấp giấy mới hay lô đất của mình đã được cấp nhầm cho bà Miên.Khi UBND phường Bình Hưng Hòa mời các bên đến làm việc và hòa giải thì không bên nào chịu nhường bên nào. Ông Lâm và bà Miên đều cho rằng lô đất của mình là lô 33 (theo bản đồ hiện trạng đất của phường). Bà Miên nói lúc mua đất của ông Linh, bà được hướng dẫn ranh đất thế nào thì lúc làm giấy tờ hướng dẫn đo vẽ như thế.
UBND phường đã lập biên bản hòa giải không thành vụ tranh chấp giữa các bên.Có thể nói việc tranh chấp về ranh đất là giữa ông Lâm với bà Miên liên quan quá trình hợp thức hóa, cấp sổ đỏ của những lô đất mua giấy tay trước đó. Còn việc mua đất của bà Dung là diễn ra sau này, khi bà Miên đã có được giấy chứng nhận hợp pháp để chuyển nhượng cho bà Dung. Tuy nhiên, trong cuộc làm việc ngày 16-10, bà Dung lại được phường thông báo (ghi trong biên bản làm việc) là: phải nộp lại giấy đỏ cho phường, để phường lập hồ sơ đề nghị quận thu hồi vì giấy đó đã cấp sai, trùng ranh đất của ông Lâm.

Continue reading

TRANH CHẤP BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI: ĐÒI BỒI THƯỜNG BA CÂY LÊ KI MA

KIỀU NGÂN

Bên thì nói ba cây lêkima do mình trồng trên hẻm chung, bên lại bảo cây có nguồn gốc tự nhiên, tự ý chặt cũng chẳng sao… Qua nhiều buổi tòa tổ chức hòa giải, hai bên vẫn không thỏa thuận được mức giá bồi thường cụ thể.

TAND quận Thủ Đức (TP.HCM) vừa thụ lý một vụ kiện khá lạ: Bà U. kiện đòi bà L. phải bồi thường 15 triệu đồng vì đã tự ý chặt ba cây lêkima (còn gọi cây trứng gà), gây thiệt hại về thu nhập của bà…

Xây nhà, chặt cây

Theo bà U., trước năm 1975, bà đã tự tay trồng ba cây lêkima trên con hẻm chung trong xóm. Bà thường xuyên chăm sóc, tưới nước cho cây, tạo bóng mát cho mọi người ra vào hẻm. Bù lại, từ xưa đến giờ bà cũng là người duy nhất hái trái cây lêkima đem bán để có thêm thu nhập.

Đầu tháng 3-2010, bà L. ở phía đối diện xây nhà. Không hiểu tại sao bà L. đã chặt ba cây lêkima trên mà không hỏi ý kiến của bà. Việc làm này của bà L. đã làm bà bị thiệt hại về thu nhập. Cụ thể theo bà U., gia đình bà thu hoạch trái lêkima một năm bốn lần, bán được từ 500.000 đến 600.000 đồng. Tính ra, giá trị cây bị chặt và thiệt hại về việc bán trái cây là gần 15 triệu đồng.

Trước yêu cầu đòi bồi thường toàn bộ số tiền trên của bà U., bà L. phản bác: Ba cây lêkima trên mọc tự nhiên chứ không phải do bà U. trồng. Rễ của một cây ăn sâu vào trong phần móng của nhà bà. Bà đã thỉnh thị ý kiến của UBND phường và được nơi đây chấp nhận cho bứng cây để hạn chế khả năng gây nguy hiểm trong mùa mưa bão. Nghe vậy, bà mới đi chặt cây. Bà L. chỉ chấp nhận bồi hoàn 1 triệu đồng vì lẽ ra chỉ chặt cái cây có rễ đâm vào móng nhà mình thì lại đi chặt hết cả ba cây.

Tòa nhờ cơ quan chuyên môn

Không đồng ý, ngày 16-4, bà U. đã viết đơn kiện bà L. ra TAND quận Thủ Đức và được tòa thụ lý.

Continue reading

THỰC TIỄN ÁP DỤNG LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH: BỊ TÂM THẦN, CHA MẸ CÓ ĐƯỢC THAY MẶT XIN LY HÔN?

TÙNG CHI

Pháp luật chưa điều chỉnh tình huống nếu vợ hoặc chồng bị tâm thần thì cha, mẹ người bệnh có quyền đại diện đứng đơn xin ly hôn và tham gia tố tụng hay không. Ngành tòa án từ chối giải quyết trong khi thực tế đã xuất hiện không ít trường hợp tương tự…

Mới đây, TAND một quận tại TP.HCM đã trả đơn trong một vụ xin ly hôn khá lạ: Cha mẹ của một người đàn ông bị tâm thần đề nghị thay mặt con trai đứng đơn khởi kiện và tham gia tố tụng tại tòa nhằm giúp người con dâu được tự do, có cơ hội đi lấy chồng khác.

Giải thoát cho con dâu

Người con dâu trong vụ này là chị G. Theo trình bày của chị, vợ chồng chịlấy nhau được hơn 10 năm, có với nhau hai mặt con. Trước đây, chồng chị hoàn toàn bình thường nhưng sau mấy năm đi làm thuê ở một số nơi về thì thấy có dấu hiệu thần kinh không ổn định. Sau đó người chồng đổ bệnh, ốm liền mấy tháng, khi tạm khỏe lại thì đầu óc không còn minh mẫn như trước, suốt ngày tưng tưng, nói năng lảm nhảm.

Hai năm trước, chị cùng gia đình đưa chồng đến bệnh viện tâm thần khám. Các bác sĩ kết luận chồng chị bị tâm thần nặng. Gần đây, thấy bệnh tâm thần của con trai chữa trị mãi nhưng không hết mà có phần nặng thêm, phía gia đình chồng đã vận động chị G. đứng đơn xin ly hôn để tìm hạnh phúc mới.

Tuy nhiên, do thương chồng và cũng đã lớn tuổi, chị G. không chịu, quyết định ở vậy chăm sóc chồng và các con. Về phía cha mẹ chồng, vì muốn giải thoát cho con dâu khỏi cảnh khổ nên khi vận động không được, họ đã quyết định thay con trai làm đơn “xin ly hôn giùm”.

Luật không cho phép đại diện

Nghiên cứu đơn “xin ly hôn giùm” này, tòa đã giải thích cho cha mẹ chồng chị G. biết là theo Điều 73 Bộ luật Tố tụng dân sự, đối với các vụ án ly hôn không được áp dụng chế độ người đại diện. Tức là phải đích thân chồng hay vợ đứng đơn khởi kiện và tham gia tố tụng chứ không thể nhờ ai thay mặt mình được.

Cha mẹ chồng chị G. vẫn thắc mắc rằng bản thân con trai họ đang bị bệnh tâm thần, làm sao tỉnh táo được như người bình thường mà khởi kiện hay tham gia tố tụng. Họ thương người con dâu đã bao năm vất vả vì chồng vì con, giờ có chồng mà cũng như không. Họ muốn gánh trách nhiệm lo lắng, chăm sóc, nuôi dưỡng con trai để con dâu có cơ hội đi tìm hạnh phúc mới. Chẳng lẽ người con dâu của họ sẽ phải bị giam hãm cả cuộc đời mình với người chồng tâm thần suốt đời suốt kiếp hay sao?

Continue reading

THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT: TRANH CHẤP “TIỀN GIÚP” VAY VỐN NGÂN HÀNG

VĂN ĐOÀN

Nguyên đơn thì nói tiền vay, bị đơn lại nói tiền thưởng. Nhiều ý kiến cho rằng tòa chưa làm rõ tiền gì nên tuyên án chưa chính xác.

Ông H. ở quận Phú Nhuận (TP.HCM) hiện đang kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm của TAND quận 3 về vụ kiện đòi lại tiền cho vay vì cho rằng cấp sơ thẩm chưa làm rõ nhiều tình tiết quan trọng của vụ án.

Người nói vay, người nói thưởng

Ông H. cho biết tháng 10-2009, ông làm hồ sơ vay ngân hàng 2,7 tỉ đồng để làm vốn kinh doanh. Hồ sơ của ông H. được ông D., cán bộ tín dụng của ngân hàng, thẩm định.

Khoảng 10 ngày sau, ông D. cho ông biết là hồ sơ không thể vay được 2,7 tỉ đồng mà chỉ có thể vay được khoảng 1,8 tỉ đồng. Ông trả lời rằng số tiền vay như vậy là quá ít. Ngay lúc đó, ông D. giới thiệu cho ông một người bạn ở ngân hàng khác giúp hồ sơ vay được nhiều tiền hơn. Kèm theo đó là điều kiện nếu ông vay được nhiều thì phải cho ông D. vay lại 180 triệu đồng trong thời hạn sáu tháng với lãi suất bằng lãi suất ngân hàng. Ông đồng ý.

Sau đó, ông đã vay được 2 tỉ đồng nên ông thực hiện ngay cam kết với ông D. Việc vay mượn này không có giấy tờ gì làm bằng cả. Thời gian sau, đến hạn trả nợ, ông D. vẫn không chịu trả tiền nên ông khởi kiện đòi lại.

Phía ông D. cũng thừa nhận có giới thiệu bạn giúp ông H. vay tiền. Tuy nhiên, khi đó ông H. bảo rằng nếu vay được 2 tỉ đồng thì sẽ thưởng cho ông 180 triệu đồng. Khi vay xong, ông H. đã thưởng cho ông như cam kết ban đầu. Cuối cùng, ông D. khẳng định:  “Số tiền trên là tiền thưởng chứ không phải tiền vay. Ông H. kiện là không có cơ sở”.

Continue reading

TRANH CHẤP TÀI SẢN: ANH EM GIÀNH NHAU CÁI GIẾNG NƯỚC

HÀ AN

Một bên cho rằng đây là tranh chấp về đất đai, phải qua bước hòa giải của địa phương; một bên nói là vụ kiện thừa kế, tòa phải thụ lý ngay.

Sáu năm trước, mẹ của anh em ông A. (Bình Phước) chết để lại cho hai con một ngôi nhà và mảnh vườn trồng tiêu. Ông A. chưa có gia đình nên vẫn sống trong nhà cha mẹ, lo thờ cúng, trông coi đất đai, nhà cửa. Người em đã ra riêng nên hằng ngày chỉ đến làm vườn.

Giếng nước là ranh giới

Hai năm trước, hai anh em thống nhất ông A. sẽ được hưởng căn nhà và một ít vườn tiêu. Phần vườn tiêu còn lại là của người em. Ranh giới đất đai giữa hai nhà là một đường thẳng từ đầu đất chạy qua cái giếng nước. Hai anh em sẽ sử dụng cái giếng nước chung để tưới tiêu, trồng trọt và sinh hoạt. Chia tài sản xong xuôi đâu đó, hai anh em cắm cúi lo cho công việc của mình.

Đầu năm, người em có ý định bán đất vườn để lấy vốn làm ăn. Người mua đến xem, đã hỏi đến cái giếng nước tưới có nằm trong đất của người em hay không. Người em cho biết giếng nước chung của hai nhà. Người mua ngần ngừ, bảo như vậy sẽ rất bất tiện cho họ sau này.

Thế rồi người em về bàn với anh để lại cái giếng nước cho mình. Tuy nhiên, ông A. không đồng ý vì giếng nước này cũng quan trọng đối với ông. Mặt khác, ông cũng không muốn em bán đất của cha mẹ để lại. Lúc này người em bảo khi chia tài sản, hai anh em chỉ nói ranh giới đất đai giữa hai nhà chạy qua cái giếng nước, không nói rõ là chạy qua bên trái hay bên phải cái giếng. Như vậy cũng có nghĩa là giếng nước có thể nằm ở đất người em. Chưa kể tài sản ông A. được hưởng nhiều hơn, giá trị hơn nên ông A. phải cho em được hưởng luôn cái giếng nước này mới hợp lý.

Thế nhưng dù người em nói thế nào, ông A. cũng không chịu, bảo phải giữ nguyên hiện trạng, giếng nước là tài sản chung, cả hai nhà cùng dùng.

Continue reading

TRANH CHẤP VỀ MỒ MẢ: AI GIẢI QUYẾT?

LS. NGUYỄN THÀNH VĨNH – Đoàn Luật sư tỉnh Bến Tre

Thời gian qua đã xuất hiện một số vụ tranh chấp liên quan đến mồ mả của người thân, dẫn đến khiếu nại hay kiện tụng nhưng không cơ quan nào phân xử. Nhiều chuyên gia đã đề xuất ngành tòa án nên xem đây là một dạng tranh chấp dân sự và thụ lý, giải quyết chứ không thể cứ bỏ lửng như hiện nay.

Trước đây, bà N., ngụ quận Bình Tân (TP.HCM), được cha mẹ cho một miếng đất. Sau đó bà được UBND quận cấp giấy đỏ. Do trên đất rải rác có vài ngôi mộ của gia đình nên giấy đỏ ghi mục đích sử dụng là đất nghĩa địa.

Tòa, ủy ban đều từ chối

Sau khi một người anh của bà N. qua đời, gia đình người anh qua hỏi xin chôn trên đất của bà nhưng bà không đồng ý. Do ở xa, không trực tiếp quản lý đất nên gia đình người anh vẫn tiếp tục chôn mà bà không hay biết.

Năm 2007, biết việc, bà N. đã khởi kiện nhờ TAND quận tuyên dời mộ người anh ra khỏi đất của bà. Nhận đơn, tòa lắc đầu từ chối thụ lý vì cho rằng không thuộc thẩm quyền. Bà N. khiếu nại việc này thì bị lãnh đạo tòa bác đơn. Do vậy, bà N. phải quay về nhờ chính quyền địa phương can thiệp. Nhưng chính quyền địa phương cũng lúng túng, không biết xử lý sao…

Tương tự, mới đây, tháng 4-2010, ông S. nhiều lần đến gặp chú ruột xin được cải táng mồ mả cha mẹ hiện chôn cất tại khu mộ gia tộc trên đất của người chú ở Lai Vung (Đồng Tháp) về một nghĩa trang tại TP Cần Thơ để tiện bề chăm sóc.

Người chú cương quyết không đồng ý nên ông S. phải nhờ đến chính quyền xã. Xã đã vận động người chú cho ông S. bốc mộ cha mẹ nhưng bất thành. Ông S. bèn gửi đơn nhờ huyện Lai Vung giải quyết thì bị từ chối, chỉ qua TAND huyện vì nội dung yêu cầu của ông không thuộc thẩm quyền giải quyết của UBND huyện.

Ông S. kiện ra TAND huyện Lai Vung, tòa cũng trả lại đơn vì cho rằng vụ việc của ông không thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án. Bế tắc, ông S. không biết phải đi đâu, nhờ nơi nào để được bốc mộ cha mẹ về trông nom, hương khói.

Continue reading

TRANH CHẤP SỞ HỮU: KIỆN ĐÒI NHÀ, SAO TÒA KHÔNG THỤ LÝ?

MINH VY

Đương sự đã bổ sung đủ chứng cứ khởi kiện ban đầu nhưng tòa vẫn lắc đầu.

Theo hồ sơ, gần 10 năm trước, do phải đi làm ăn ở xa, không tiện về nhà nên bà H. (huyện Cần Đước, Long An) đã cho một người em ở nhờ nhà của mình.

Buộc bổ sung chứng cứ

Gần đây, bà H. đòi lại nhà nhưng người em không chịu trả. Bà đã nhờ địa phương giải quyết nhưng các lần hòa giải vẫn không thành. Em bà H. cho rằng nhà này là nhà chung của hai chị em. Sau khi chị đi, bà đã sửa chữa, xây dựng. Do vậy, người chị cần phải chia nửa nhà đất cho bà. Tuy nhiên, bà H. đã không đồng ý, yêu cầu người em phải trả lại toàn bộ.

Thỏa thuận không xong, đầu năm 2010 bà H. làm đơn khởi kiện gửi TAND huyện Cần Đước. Bà cho rằng tài sản trên của bà đã được cấp giấy chứng nhận chủ quyền. Nay bà buộc người em phải trả lại nhà, đất cho bà.

Sau khi xem xét, tòa án huyện đã trả lại đơn kiện, yêu cầu bà H. bổ sung các tài liệu chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện như giấy tờ có liên quan đến việc cho ở nhờ… thì tòa mới thụ lý.

Lúc này, bà H. đã báo cho tòa rằng việc bà cho người em ở nhờ chỉ thỏa thuận miệng chứ không có hợp đồng hay viết giấy tay gì cả. Do đó bà không thể cung cấp như yêu cầu của tòa. Tuy nhiên, việc tranh chấp trên đã qua hòa giải ở địa phương, đồng thời bà có đầy đủ giấy tờ chủ quyền nhà đất nên vụ kiện của bà đã đủ điều kiện để thụ lý, giải quyết.

Thế nhưng sau đó tòa huyện cũng vẫn trả lại đơn với lý do tương tự như đã trả lại đơn lần trước.

Vẫn không thụ lý

Không đồng ý với việc trả đơn, bà H. đã khiếu nại lên chánh án tòa án huyện. Lãnh đạo tòa đã bác khiếu nại, giữ nguyên thông báo trả đơn. Bà H. khiếu nại đến chánh án TAND tỉnh Long An.

Continue reading

TRANH CHẤP TÀI SẢN: CHA CON TRANH ĐẤT, ÁN TUYÊN NỬA VỜI

TẤN TÀI

Tòa bảo người con đã lợi dụng sơ hở của cha mẹ khai thêm mảnh vườn cao su vào hợp đồng tặng cho.

Theo đơn khởi kiện của vợ chồng ông M., năm 2009, vợ chồng ông đã cho vợ chồng con trai gần 300 m2 đất và một căn nhà cấp bốn.

Kiện con đòi lại nhà, đất

Nhưng lúc làm hợp đồng, do tuổi già nhầm lẫn, ông M. lại nhiều lần mổ não, tinh thần không minh mẫn và ông bà tin tưởng con trai nên đã không xem lại nội dung hợp đồng. Lợi dụng sơ hở trên của ông bà, người con trai đã kê khai thêm hơn 60.000 m2 đất trồng cao su. Sau đó vợ chồng người con đã chuyển quyền sở hữu toàn bộ tài sản trên.

Cuối năm 2009, ông bà phát hiện ra sự gian dối nên đã đòi con phải trả lại mảnh vườn cao su. Tuy nhiên, người con trai đã không đồng ý.

Theo người con trai, cha mẹ đã cho toàn bộ tài sản trên. Từ đó, ông đã được ủy ban huyện cấp giấy chứng nhận. Việc tặng cho là hợp pháp nên ông không việc gì phải trả lại tài sản cho cha mẹ.

Thỏa thuận không xong, ông bà M. đã làm đơn khởi kiện con trai ra TAND huyện Phú Giáo (Bình Dương) đòi lại toàn bộ đất đai, nhà cửa.

Kháng nghị vì chưa giám định tâm thần

Xử sơ thẩm, TAND huyện Phú Giáo nhận định vợ chồng ông M. đã tự nguyện cho vợ chồng con trai ngôi nhà và gần 300 m2 đất nên đã đến ủy ban để làm hợp đồng. Địa phương đã xác nhận và thửa đất đã chuyển quyền sử dụng cho người con trai. Do vậy, tòa công nhận phần nhà đất này thuộc quyền sở hữu của người con trai.

Continue reading