TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM: KHÔNG CÓ LỖI, BẢO HIỂM CŨNG PHẢI BỒI THƯỜNG

HOÀNG YẾN

Bảo hiểm lãnh trách nhiệm vì hợp đồng bảo hiểm giữa hai bên ghi rõ thiệt hại phát sinh dù người được bảo hiểm có lỗi cố ý hay vô ý cũng được bồi thường.

Ngày 27-12, Tòa Phúc thẩm TAND Tối cao tại TP.HCM đã y án sơ thẩm của TAND tỉnh Đồng Nai, buộc Công ty Bảo hiểm X. phải bồi thường cho Công ty Bảo vệ Y. 97 triệu đồng…

Bảo vệ làm mất xe

Theo hồ sơ, tháng 3-2009, Công ty Bảo vệ Y. ký hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp (những trách nhiệm phát sinh mà công ty bảo vệ phải bồi thường cho khách hàng của mình do những lỗi, sơ suất về chuyên môn) với Công ty Bảo hiểm X. Một thời gian sau, Công ty Y. để trộm vào lấy mất chiếc xe SH của một khách hàng và phải bồi thường hơn 97 triệu đồng. Sau đó căn cứ vào hợp đồng bảo hiểm, Công ty Y. yêu cầu Công ty X. phải hoàn lại cho mình số tiền trên.

Phía công ty bảo hiểm từ chối với lý do sự cố trên không thuộc phạm vi bảo hiểm, việc mất xe là do lỗi của công ty bảo vệ. Bởi công ty bảo vệ giữ xe của khách nhưng không giao thẻ; khi mất xe, nhân viên bảo vệ không có mặt tại hiện trường… Theo hợp đồng, công ty bảo hiểm chỉ phải bồi thường nếu công ty bảo vệ có giao thẻ xe cho khách hàng.

Không đồng ý với cách lập luận trên, tháng 8-2010, Công ty Bảo vệ Y. khởi kiện ra TAND tỉnh Đồng Nai đòi được bồi thường.

Continue reading

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ: LÀM MỘT BỘ PHIM, BỊ HAI NƠI KIỆN

THANH TÙNG

Người thì kiện đòi nhà sản xuất trả tiền cung ứng diễn viên, người thì kiện đòi trả tiền quay phim còn nợ… Anh chàng vượt thời gian từng gây ồn ào.

TAND quận Bình Thạnh (TP.HCM) đang thụ lý vụ ca sĩ, diễn viên Minh Thuận kiện yêu cầu Công ty Năng Động Việt trả hơn 380 triệu đồng theo hợp đồng ký giữa hai bên để cung ứng diễn viên cho bộ phim Anh chàng vượt thời gian.

Thay ngựa giữa đường

Theo đơn kiện của ca sĩ Minh Thuận, tháng 7-2010, công ty của ông ký hợp đồng (trị giá hơn 1,6 tỉ đồng) cung ứng diễn viên cho Năng Động Việt để làm bộ phim truyền hình dài 36 tập Anh chàng vượt thời gian. Sau đó, Năng Động Việt chỉ thanh toán cho ông được 320 triệu đồng. Đến hạn của những lần thanh toán tiếp theo thì Năng Động Việt liên tục nại ra các lý do để lần lữa.

Tháng 1-2011, Năng Động Việt gửi văn bản cho Minh Thuận thông báo thay đổi pháp nhân sở hữu dự án phim Anh chàng vượt thời gian cho Công ty Cổ phần Tiếp thị Năng Động Việt (tách ra từ Năng Động Việt). Cho rằng Năng Động Việt cố tình vi phạm hợp đồng, Minh Thuận gửi yêu cầu quyết toán chi phí thực tế để thanh lý hợp đồng và yêu cầu bồi thường nhưng từ đó đến nay Năng Động Việt không phản hồi gì. Do đó, Minh Thuận đã khởi kiện đòi Năng Động Việt phải trả hơn 300 triệu đồng tiền dịch vụ cung ứng diễn viên còn thiếu và phạt vi phạm hợp đồng 80 triệu đồng, tổng cộng hơn 380 triệu đồng.

Hợp đồng có vô hiệu?

Quá trình tòa giải quyết vụ kiện đã nảy sinh nhiều tình tiết mới. Khi tòa lấy lời khai, bị đơn đã yêu cầu tòa tuyên bố hợp đồng dịch vụ cung ứng diễn viên giữa hai bên vô hiệu. Lý do là công ty của Minh Thuận không có chức năng cung ứng lao động theo giấy phép của cơ quan chức năng. Khi ký hợp đồng, bị đơn không phát hiện ra chuyện này vì nguyên đơn cố tình che giấu.

Continue reading

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG: BỨC XÚC SAU PHÁN QUYẾT CỦA HAI CẤP TÒA

imageNGUYỄN ĐÌNH BÍCH

Sau hơn 20 năm, thủ tục mua bán nhà để xuất cảnh giữa bà Lê Thị Liên đang định cư nước ngòai với Cty Du lịch phục vụ dầu khí (nay là Cty TNHH MTV du lịch dịch vụ dầu khí Việt Nam – OSC Việt Nam) bị lật ngược bằng một vụ kiện mà phán quyết của hai cấp toà đã khiến dư luận vô cùng bức xúc.

Mua bán hay cho mượn nhà?

Căn nhà 143 Nguyễn Văn Trỗi (Nhà 143, trước là Nam Kỳ Khởi Nghĩa ), phường 11, quận Phú Nhuận, thuộc sở hữu của vợ chồng ông Châu Văn Được và bà Lê Thị Liên. Năm 1984, ông Được đi biểu diễn nghệ thuật rồi ở lại Tây Đức. Bà Liên xin bán nhà để xuất cảnh theo chồng định cư ở nước ngoài và OSC Việt Nam đã mua nhà 143, thanh toán đủ tiền cho bà Liên. Đến ngày xuất cảnh, thủ tục mua bán vẫn chưa xong nên bà Liên ủy quyền cho anh trai là ông Lê Mộng Ngọc tiếp tục thực hiện và chờ UBND TPHCM giải quyết.

Theo Biên bản bàn giao ngày 2/7/1986 giữa Cty quản lý nhà và bộ phận mua bán nhà xuất cảnh của Sở Nhà đất (Sở NĐ) TP HCM, hồ sơ thể hiện bà Liên đã bán nhà 143 cho OSC qua Văn tự bán nhà ngày 20/11/1985 có chữ ký của bà Liên và xác nhận của UBND phường 11, quận Phú Nhuận, các Biên lai thu tiền, công văn của OSC đề nghị được mua nhà…

OSC thanh toán tiền mua nhà có biên nhận tay do bà Liên ký nhận theo từng đợt trả tiền, với nội dung ghi rõ việc mua bán nhà, giao nhận tiền đợt thứ mấy và kết quả giám định chữ ký là của bà Liên. Tại Công văn số 19 ngày 19/3/1988, OSC giải trình với Sở NĐ về giá mua nhà như sau: Gíá thỏa thuận giữa cty và chủ nhà là 660.000 đồng, OSC đã thanh toán nhiều đợt với tổng số 729.688 đồng cho bà Liên ký nhận (có chứng từ), trong đó có cả tiền OSC trả thêm cho chủ nhà do thị trường biến động.

Continue reading

TRANH CHẤP VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO DANH DỰ, NHÂN PHẨM, UY TÍN BỊ XÂM PHẠM: CA SĨ ĐÒI ĐƯA CHỦ SPA RA TÒA

HOÀNG YẾN

Cho rằng mình bị xài ảnh mà không được xin phép, ca sĩ đòi bồi thường 20.000 USD. Tiếp đó, khi đến spa trên tìm hiểu, anh còn thấy ảnh của mình được in thành poster lớn dựng ngay cổng ra vào.

Ca sĩ AK đang chuẩn bị nộp đơn khởi kiện Spa Y. (dành cho nam tại quận 1, TP.HCM) đòi bồi thường 20.000 USD vì đã dùng hình ảnh của anh quảng cáo mà không xin phép… Trước đó ca sĩ này dự định nộp đơn khởi kiện tại TAND TP.HCM nhưng sau đó được hướng dẫn phải nộp đơn ở TAND quận cho đúng thẩm quyền.

Dùng ảnh ca sĩ làm poster, tờ rơi

Theo ca sĩ K., khoảng tháng 2-2011, một người bạn báo hình ảnh của anh xuất hiện trên một số tờ rơi được phát trên đường để quảng cáo cho Spa Y. Bán tín bán nghi, anh nhờ người bạn đem tờ rơi về cho xem. Nhìn qua tờ rơi, anh nhận ra ảnh được sử dụng trên đó là một trong những tấm ảnh anh đã chụp để chuẩn bị cho album của mình vào năm ngoái (nhưng vì lý do cá nhân album này không phát hành).

Tiếp đó, khi đến spa trên tìm hiểu, anh còn thấy ảnh của mình được in thành poster lớn dựng ngay cổng ra vào. Qua trao đổi với người quản lý spa, anh được biết chủ spa này là bạn của người đã chụp ảnh cho anh lúc trước. Người chủ đã mua lại bức ảnh trên với giá 20 triệu đồng để lấy làm quảng cáo.

Quay về tìm nhiếp ảnh gia, anh không thể nào tìm được bởi anh này đã chuyển đi đâu không rõ.

Bức xúc trước việc ảnh của mình bị xài không xin phép, ca sĩ K. đã buộc spa này không được tiếp tục sử dụng hình ảnh này để quảng cáo và bồi thường tổn thất cho anh. Tuy nhiên, phía spa chỉ gỡ poster có hình ảnh anh xuống nhưng không đồng ý bồi thường vì đã trả tiền cho nhiếp ảnh gia trước khi sử dụng.

Continue reading

THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ ĐẠI DIỆN: RỐI CHUYỆN ỦY QUYỀN TRONG ÁN DÂN SỰ

THANH TÙNG

Thực tiễn xét xử án dân sự, không ít lần giữa VKS và tòa, giữa tòa cấp dưới với tòa cấp trên đã tranh cãi về chuyện ủy quyền của các đương sự.

Nguyên nhân là quy định chưa cụ thể, chưa điều chỉnh được một số tình huống mới phát sinh trong đời sống…

Năm 2007, ba nhân viên của một công ty bị bắt, bị khởi tố vì trộm giấy ủy nhiệm chi mà giám đốc công ty ký sẵn (trị giá hơn 3,6 tỉ đồng) rồi mang đến một chi nhánh của Ngân hàng B yêu cầu chuyển tiền vào tài khoản cá nhân.

Có cần ghi rõ phạm vi ủy quyền?

Sau đó, Ngân hàng B ủy quyền cho chi nhánh nơi các bị can đến chuyển tiền tham gia phiên tòa sơ thẩm với tư cách là bên có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Sau phiên sơ thẩm cuối năm 2010 của TAND TP.HCM, chi nhánh ngân hàng kháng cáo về phần bồi thường dân sự.

Trong phiên phúc thẩm gần đây, đại diện VKSND Tối cao đã đề nghị tòa bác kháng cáo vì theo nội dung giấy ủy quyền thì Ngân hàng B chỉ ủy quyền cho chi nhánh tham gia phiên sơ thẩm chứ không ủy quyền cả việc kháng cáo. Việc kháng cáo của chi nhánh ngân hàng là vượt quá phạm vi ủy quyền.

Tuy nhiên, Tòa Phúc thẩm TAND Tối cao tại TP.HCM lại cho rằng chi nhánh ngân hàng đã được Ngân hàng B ủy quyền thường xuyên để giải quyết công việc hằng ngày. Vì thế, đại diện chi nhánh ngân hàng có thể tham gia ở bất kỳ giai đoạn tố tụng nào trong một vụ án có liên quan tới mình. Từ đó, tòa tiếp tục xử chứ không bác kháng cáo như đề nghị của đại diện VKS.

Nhận định của tòa phúc thẩm đã gây tranh cãi về mặt pháp lý. Theo Thẩm phán Nguyễn Huy Hoàng (TAND quận Gò Vấp, TP.HCM), quan điểm của đại diện VKSND Tối cao là hợp lý. Thẩm phán Hoàng lý giải: Đương sự phải ghi rõ nội dung ủy quyền vì sơ, phúc thẩm là hai giai đoạn tố tụng độc lập, khác nhau.

Continue reading

THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT: HỦY KẾT QUẢ ĐẤU GIÁ KHÔNG RÕ CĂN CỨ

HỒNG TÚ

Sau khi hủy kết quả bán đấu giá lô gỗ sưa, Sở Tư pháp bảo là theo chỉ đạo của tỉnh, tỉnh lại đổ cho công an, công an bảo chẳng biết.

Ông Trần Đình Nam đang khiếu nại các cơ quan chức năng tỉnh Kon Tum khi hủy kết quả bán đấu giá lô gỗ sưa mà không nêu căn cứ cụ thể. Thay vì lô gỗ có giá gần 10 tỉ đồng, chỉ bán có hơn 3 tỉ đồng.

Vô tình trúng đấu giá!

Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, Hạt Kiểm lâm huyện Kon PLông, tỉnh Kon Tum đã tịch thu hơn 4 m3 gỗ sưa (gồm gốc, rễ, cành, ngọn) và 11 chiếc xe máy. Tháng 6-2010, hạt kiểm lâm ủy quyền choTrung tâm Dịch vụ Bán đấu giá tài sản tỉnh Kon Tum (TTĐG) bán đấu giá lô tài sản cho ngân sách. Trên cơ sở định giá, TTĐG đưa ra giá khởi điểm cho lô hàng là hơn 1,5 tỉ đồng.

Sau đó, TTĐG tổ chức phiên bán đấu giá lô hàng với hình thức bỏ phiếu qua ba vòng. Mức chênh lệch của mỗi lần trả giá được quy định là 300 triệu đồng, giá cao nhất của vòng trước được tính là giá khởi điểm cho vòng tiếp theo.

Tại phiên bán đấu giá, vòng một kết thúc với mức giá được trả cao nhất là hơn 2,1 tỉ đồng. Ở vòng thứ hai, ông Nguyễn Quang Trung là người trả cao nhất với giá 8,5 tỉ đồng và đây cũng là giá khởi điểm của vòng ba. Qua vòng ba, chỉ còn lại hai người tiếp tục ra giá là ông Nguyễn Quang Trung với mức giá 8,5 tỉ đồng và ông Phạm Ngọc Sự ra giá 3,4 tỉ đồng.

Với mức 8,5 tỉ đồng, TTĐG tuyên bố ông Trung trúng đấu giá lô tài sản trên. Tuy nhiên, sau đó TTĐG phát hiện ông Trung đã vi phạm nguyên tắc trả giá vì không thực hiện đúng mức chênh lệch giữa các lần trả (đúng ra ông Trung phải trả giá 8,8 tỉ đồng mới hợp lệ).

Continue reading

TRANH CHẤP BẤT ĐỘNG SẢN LIỀN KỀ: HAI NHÀ NHÙNG NHẰNG CÁI VÁCH TƯỜNG?

HỒNG TÚ

Hai nhà nhùng nhằng cái vách tườngNhà phố liên kế xây dựng theo kiến trúc thời cũ, mỗi nhà thường được hưởng một nửa bề dày bức tường chung.

Mới đây, VKSND thị xã Bạc Liêu đã kháng nghị bản án sơ thẩm của tòa thị xã vụ hai nhà hàng xóm ở nhà liên kế kiện tranh nhau một bức tường. VKS cho rằng bản án trên đã vi phạm phạm vi xét xử, HĐXX xác định chứng cứ không đúng khi tuyên án.

Bức tường xây hơn 50 năm

Ông N. trình bày, mấy năm trước, bà hàng xóm cất nhà đã xây bốn cây cột lấn qua bức tường nhà ông. Ông đã yêu cầu bà này dừng xây cất, không được xâm phạm vào bức tường riêng của ông.

Bà hàng xóm thì bảo nhà bà và ông N. nằm trong dãy nhà được xây dựng cách đây hơn 50 năm, theo kiến trúc thời cũ, sử dụng chung một vách tường dày 20 cm. Việc này được thể hiện rất rõ trong bản vẽ hiện trạng nhà đất và được những người sống lâu năm ở đây xác nhận. Do vậy, bức tường trên là của chung, mỗi bên nhà được quyền sở hữu một nửa bề dày. Bà yêu cầu tòa bác bỏ đơn của ông N. và buộc ông phải bồi thường thiệt hại gần 50 triệu đồng vì đã ngăn bà xây nhà.

Tòa, viện không thống nhất

Sau khi nghiên cứu, tòa cũng nhìn nhận bức tường giữa hai nhà được xây đã lâu, bề dày như các bên trình bày, còn nó thuộc của riêng ai thì cần phải xem xét thêm. Do vậy, tòa đã có văn bản đề nghị cơ quan chức năng cung cấp hồ sơ liên quan đến quá trình hợp thức hóa một trong hai căn nhà. Tuy nhiên, sau đó cơ quan được yêu cầu trả lời rằng hồ sơ bị… thất lạc, không tìm thấy.

Thế là tòa phải đi xuống khảo sát thực tế. Kết quả đo đạc diện tích của nhà bà hàng xóm (không bao gồm bức tường) đúng với giấy tờ nhà đất của bà. Còn diện tích thực tế nhà ông N. so với giấy tờ hụt đúng bằng diện tích bức tường dày 20 cm. Từ kết quả này, tòa tuyên “Bức tường trên là của ông N.”, bác yêu cầu phản tố của bà hàng xóm.

Ngay sau đó, VKSND thị xã Bạc Liêu đã kháng nghị cho rằng tòa dựa vào kết quả đo đạc để công nhận bức tường thuộc quyền sở hữu của nhà ông N. là không có căn cứ. Theo viện, đây là dãy nhà liên kế (có tường chung) được xây dựng từ rất lâu. Tòa cần căn cứ vào bản vẽ hiện trạng để xác định tường nhà của ai khi mà giấy tờ nhà đất của hai nhà không thể hiện về bức tường. Tòa không thể nói diện tích nhà ông N. thiếu nên phải cộng cả bức tường vào cho đủ.

Continue reading

THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ ĐẠI DIỆN: ỦY QUYỀN VỀ TÀI SẢN TRONG ÁN LY HÔN?

HỒNG TÚ

Luật quy định đối với “việc ly hôn” đương sự không được ủy quyền cho người khác nhưng “việc ly hôn” là gì thì lại đang có nhiều cách hiểu khác nhau.

Khi ly hôn, đương sự có được ủy quyền cho người khác thay mình tham gia phiên tòa phúc thẩm nếu hai bên chỉ còn tranh chấp về phần tài sản chung hay không? Luật quy định chưa rõ nên tòa lúng túng, các chuyên gia thì mỗi người một ý…

Năm 1995, anh NCH đăng ký kết hôn với chị HCU. Sau đó, hai vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Xung đột lên đến đỉnh điểm vào năm 2004 khi anh H. cho rằng đứa con thứ hai không phải là con mình. Do không thể hàn gắn, tháng 4-2008, chị U. đã nộp đơn ra TAND một huyện thuộc tỉnh Đồng Nai để yêu cầu tòa chấp thuận cho mình ly hôn với anh H.

Định ủy quyền về phần tài sản

Tháng 3-2010, TAND huyện này xử sơ thẩm đã tuyên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị U., giao hai con cho chị U. nuôi dưỡng. Về phần tài sản, tòa giao quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất cho chị U. nhưng chị U. phải có nghĩa vụ thanh toán cho anh H. số tiền bằng phần giá trị tương đương với phần của anh H.

Không đồng ý, anh H. kháng cáo về phần nuôi con và phần tài sản. Sau khi TAND tỉnh Đồng Nai thụ lý, làm việc với tòa, anh H. đã thay đổi yêu cầu kháng cáo. Anh không kháng cáo phần con chung nữa mà chỉ kháng cáo yêu cầu TAND tỉnh Đồng Nai xem xét phần chia tài sản chung.

Sau đó do vụ án chưa được giải quyết dứt điểm, trong khi bản thân chuẩn bị phải xuất cảnh ra nước ngoài, chị U. đã dự định ủy quyền cho người khác đại diện mình tham gia quá trình xét xử phúc thẩm.

Continue reading

TRANH CHẤP VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO SỨC KHỎE BỊ XÂM PHẠM: ĐÒI BỒI THƯỜNG VÌ BỊ NẮM TÓC…

NGUYỄN ĐOÀN

Tòa chấp nhận yêu cầu bồi thường vì có chứng cứ chứng minh. Bà Hòa thừa nhận có chửi vợ chồng bà Tuyết trước nhưng bà Tuyết cũng chửi lại và còn dọa đánh mẹ bà.

TAND tỉnh Vĩnh Long vừa xử phúc thẩm đã chấp nhận một phần kháng cáo xin giảm số tiền bồi thường của bà Nguyễn Thị Hòa và buộc bà phải bồi thường 6,5 triệu đồng cho phía nguyên đơn là bà Huỳnh Thị Tuyết trong vụ kiện tranh chấp đòi bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm.

Nhập viện vì bị bứt tóc

Bà Tuyết trình bày giữa gia đình bà và gia đình bà Hòa thường xuyên xảy ra cự cãi, xuất phát từ mâu thuẫn đất đai từ trước. Chiều 8-2, bà cùng chồng ra thăm ruộng nhà nên đi tắt ngang qua phần đất nhà bà Hòa. Vừa thấy hai vợ chồng bà, bà Hòa chửi ngay: “Cấm không cho hai vợ chồng mày đi qua đất nhà tao”. Nghe bà Hòa nói, bà thấy rất tức vì bà Hòa chỉ thuộc hàng con cháu của mình mà lại chửi mình như thế nên bà có chửi lại. Sau đó bà bị bà Hòa xông tới vật xuống đất, đánh đầu, bứt tóc làm bà đau nhức… Bà vội đến trạm y tế xã kiểm tra và lên BV Đa khoa Vĩnh Long điều trị hết chín ngày, qua BV 121 Cần Thơ điều trị hết bốn ngày mới trở về. Nay bà phải khởi kiện đòi bồi thường tiền thuốc men điều trị, viện phí, chụp CT, tàu xe, tiền ăn, mất thu nhập người bệnh và nuôi bệnh là 10 triệu đồng.

Bà Hòa thừa nhận có chửi vợ chồng bà Tuyết trước nhưng bà Tuyết cũng chửi lại và còn dọa đánh mẹ bà. Bà Tuyết là người nắm đầu bà trước nên bà mới nắm tóc, đánh đầu bà lại. Sau được nhiều người chạy lại can ngăn, bà mới được con đưa đến trạm xá…

Bồi thường vì gây thiệt hại sức khỏe

Tại phiên tòa sơ thẩm, bà Hòa thừa nhận việc nắm tóc, đánh đầu bà Tuyết nên đồng ý bồi thường nhưng không chấp nhận số tiền như yêu cầu của phía nguyên đơn mà để HĐXX xem xét.

Trong phần tuyên án, TAND huyện Vũng Liêm nhận định lỗi hoàn toàn thuộc về bà Hòa và các khoản bồi thường mà nguyên đơn yêu cầu đều là các chi phí hợp lý, đúng theo pháp luật quy định nên buộc bà Hòa bồi thường 10 triệu đồng. Không đồng ý án sơ thẩm, bà Hòa kháng cáo vì cho rằng mức bồi thường quá cao.

Tại phiên tòa phúc thẩm, phía bà Hòa chỉ chấp nhận bồi thường một nửa số tiền mà cấp sơ thẩm đã tuyên xử vì bà cho rằng bà Tuyết cũng có lỗi khi nắm đầu, bứt tóc bà.

Continue reading

TRANH CHẤP VỀ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ: TRANH CHẤP QUYỀN PHÁT SÓNG PHIM

HOÀNG YẾN

Tòa buộc phía bị đơn phải bồi thường cho nguyên đơn hơn 75 triệu đồng. Fafilm đồng ý hủy hợp đồng bán phim cho Phượng Tùng hoàn trả tiền để công ty này lấy tiền bồi thường cho Ảnh Vương chứ không bồi thường thay…

Theo hồ sơ, Công ty Ảnh Vương khởi kiện Công ty Phượng Tùng bởi đã cung cấp bộ phim Đấu sỹ Thiên Vương cho một số đài truyền hình phát sóng trong khi bộ phim này Ảnh Vương giữ bản quyền…

Đòi hơn 800 triệu đồng

Năm 2008, Ảnh Vương mua quyền phát sóng bộ phim trên từ Công ty San Yang (Đài Loan) với giá 39.000 USD. Công ty đã xin giấy phép, làm thủ tục nhập khẩu phim theo đúng quy định. Tuy nhiên, sau khi mua, công ty không thể cung cấp cho các đài truyền hình để phát sóng vì phim đã được Phượng Tùng cung cấp trước đó.

Công ty Ảnh Vương cho rằng mình bị xâm phạm quyền phát sóng hợp pháp bộ phim nên khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại toàn bộ tiền mua bản quyền phát sóng và tổn thất về cơ hội kinh doanh là hơn 800 triệu đồng.

Phần mình, Phượng Tùng xác nhận là bán quyền phát sóng bộ phim cho năm đài thu được 345 triệu đồng. Tuy nhiên, công ty từ chối bồi thường bởi tháng 12-2007 công ty đã mua quyền phát sóng bộ phim từ Fafilm Việt Nam. Đồng thời do Fafilm Việt Nam hợp tác nhập khẩu phim từ nước ngoài nên mọi trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm bản quyền thuộc Fafilm Việt Nam. Do đó, Fafilm Việt Nam mới là bị đơn của vụ án chứ không phải Phượng Tùng.

Phía Fafilm Việt Nam thừa nhận mình cũng đã mua bản quyền bộ phim và bán lại cho Phượng Tùng với giá 135 triệu đồng… Nay Fafilm đồng ý hủy hợp đồng bán phim cho Phượng Tùng, hoàn trả tiền để công ty này lấy tiền bồi thường cho Ảnh Vương chứ không bồi thường thay…

Cả hai cùng có lỗi

Xử sơ thẩm hồi đầu năm, TAND TP.HCM nhận định qua những chứng cứ trong hồ sơ nhận thấy Công ty Ảnh Vương có quyền sử dụng bộ phim Đấu sỹ Thiên Vương, có bản quyền phát sóng… Công ty này cho rằng Công ty Phượng Tùng không có bản quyền hợp pháp mà lại bán quyền phát sóng cho các đài truyền hình là xâm phạm quyền và lợi ích của mình là có cơ sở xem xét. Công ty Phượng Tùng ký hợp đồng bán phim cho các đài dù là vô tình cũng đã xâm phạm quyền của chủ sở hữu quyền tác giả mà Công ty Ảnh Vương có được.

Continue reading

CÔNG NHẬN VÀ THỰC THI QUYỀN SỞ HỮU CỦA CÁ NHÂN: THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH CÔNG NHẬN TÀI SẢN CHO NGƯỜI ĐÃ CHẾT?

TRẦN TỐ

Trong hồ sơ đề nghị hợp thức hóa giấy tờ liên quan đến tài sản có giấy chứng tử của hai người được cấp, nhưng không hiểu sao hồ sơ vụ việc dù qua nhiều “công đọan” kiểm duyệt của nhiều cấp vẫn “lọt sổ”.

“Sống lại” sau 11 năm chết?!

Tài sản là bất động sản (91 Lý Tự Trọng, phường Bến Thành, quận 1, TP.HCM) do bà Phạm Thị Bênh và Phạm Thị Thái cùng đứng tên sở hữu theo bằng khoán số 2046 sổ điền thổ Sài Gòn – tự do, do Ty Điền địa cấp ngày 11/7/1970; Phòng Chưởng khế Sài Gòn cấp tờ đoạn mãi ngày 8/12/1969, Sở thiết kế Sài Gòn cấp giấy phép xây dựng số 83.TK/BT ngày 24/2/1973 với quy mô cho phép xây dựng gồm một trệt, 2 lầu chiều rộng 4,2m, chiều dài 21,85m, tổng diện tích sử dụng là 282,8m2.

Tháng 8/1986, bà Bênh và bà Thái bán toàn bộ tầng trệt cùng toàn bộ lầu 2 và sân thượng cho bà Trần Thị Kim Dung, chỉ giữ lại lầu 1 có diện tích 82,5m2 để sử dụng. Năm 1989 bà Bênh bán cho bà Thái ½ lầu 1 của căn nhà trên nên bà Thái được sở hữu trọn vẹn lầu 1. Cuối năm 1989 bà Bênh qua đời. Kế đó, năm 1991, bà Dung bán cho vợ chồng ông Trần Văn Bằng – Nguyễn Thị Lan toàn bộ tầng trệt, tầng 2 và sân thượng căn nhà này. Năm 2000, bà Lan và ông Bằng lại bán toàn bộ diện tích này cho vợ chồng ông Dương Sách Khang – Hà Thanh Yến. Tất cả các hợp đồng mua bán nói trên cùng với việc sang tên đổi chủ đều thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Ngày 18/4/2001, bà Thái qua đời, con gái là bà Nguyễn Thị Minh Nguyệt được thừa kế toàn bộ lầu 1 căn nhà 91 Lý Tự Trọng. Do có tranh chấp về lối đi giữa người thừa kế của bà Phạm Thị Thái (chủ sở hữu lầu 1), chủ sở hữu lầu 2 và sân thượng của căn nhà là ông Khang – bà Yến và đã được tòa án thụ lý giải quyết. Từ đây, một sự thật tưởng như đùa đã hé lộ khi Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở (sổ hồng) số 70101072290 do UBND TP.HCM cấp ngày 2/10/2001 là cấp cho hai người đã chết là bà Bênh và Thái.

Như vậy sổ hồng đã được cấp sau khi bà Bênh chết hơn 11 năm và bà Thái là gần 6 tháng. Căn cứ vào hồ sơ lưu trữ tại Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất TP.HCM, hồ sơ đề nghị cấp sổ hồng nhà 91 Lý Tự Trọng thể hiện khá rõ 2 giấy chứng tử của bà Bênh và bà Thái. Ấy thế mà sổ hồng được cấp vẫn đứng tên hai người “đã khuất” này?!

Continue reading

TRANH CHẤP THỪA KẾ: MỘT ÔNG 3 BÀ, AI LÀ VỢ ĐỂ ĐƯỢC HƯỞNG THỪA KẾ?

TIẾN HIỂU

Có tòa cho rằng ba bà đều là vợ, tòa thì bảo chỉ có hai bà… Bà E. sống chung với ông C. từ năm 1979 và có với nhau bốn người con nhưng không được pháp luật công nhận là vợ chồng…

Hơn năm năm trước, sau khi ông C. mất, gia đình ông đã vướng vào một vụ kiện đòi chia di sản của ông để lại. Sự việc càng phức tạp hơn bởi khoảng năm 1950 và 1960, ông C. sống như vợ chồng với hai phụ nữ khác…

Cả ba đều là vợ

Tháng 5-2005, TAND huyện Củ Chi (TP.HCM) xử sơ thẩm, dù không nhận định gì đến vai trò của ba bà vợ ông C. nhưng đã công nhận các con chung. Về việc chia thừa kế, tòa nhận định tài sản đòi chia là mảnh đất không phải của ông C. nên không thể chia cho các thừa kế.

TAND TP.HCM xét xử phúc thẩm đã hủy án sơ thẩm vì cho rằng tòa cấp sơ thẩm vi phạm tố tụng, không triệu tập đủ người liên quan.

Tháng 12-2007, TAND huyện Củ Chi xét xử sơ thẩm lại vụ án và lần này xác định ông C. có ba bà vợ. Hai bà ông sống từ những năm 1950 và 1960; bà còn lại là bà E., ông sống từ năm 1979 cho đến khi mất. Đồng thời, tòa chấp nhận chia cho các đồng thừa kế phần di sản ông C. để lại.

Tháng 3-2008, TAND TP.HCM xét xử phúc thẩm vụ án cũng đã xác định ông C. có ba bà vợ như trên nhưng lập luận tại sao ba bà là vợ của ông C. thì tòa không đề cập tới. Cạnh đó, tòa cũng nhận định phần chia thừa kế tòa cấp sơ thẩm đã xử đúng…

Chỉ còn lại hai bà

Sau án phúc thẩm, tháng 5-2009, viện trưởng VKSND Tối cao quyết định kháng nghị giám đốc thẩm. Kháng nghị cho rằng nếu có việc ông C. chung sống với bà thứ hai từ năm 1960 thì cũng không được pháp luật công nhận là vợ chồng. Bà E. sống với ông C. từ năm 1979 nên cũng không được công nhận là vợ chồng… Riêng bà còn lại, ông C. sống từ năm 1950 thì phải được coi là vợ ông C.

Tháng 7-2009, TAND Tối cao ra quyết định giám đốc thẩm hủy bản án phúc thẩm của TAND TP.HCM, giao cho tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại. Quyết định cho rằng theo Nghị quyết số 02 ngày 19-10-1990 của TAND Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp lệnh thừa kế thì hai bà sống với ông C. từ những năm 1950, 1960 nêu trên mới là vợ chính thức của ông C. Mặc dù bà E. sống chung với ông C. từ năm 1979 và có với nhau bốn người con nhưng không được pháp luật công nhận là vợ chồng vì sống chung sau khi có Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959.

Continue reading

THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ THỪA KẾ: CÓ CẦN NGƯỜI LÀM CHỨNG DI CHÚC?

THANH TÙNG

Ban đầu TAND Tối cao cho rằng không vì di chúc đã đọc cho người lập nghe nhưng sau đó lại bảo cần người làm chứng.

Theo hồ sơ, năm 1994, mẹ của bà Lệ và bà Nhơn làm di chúc giao căn nhà cho bà Nhơn sở hữu. Sau đó bà Lệ khởi kiện yêu cầu hủy tờ di chúc trên vì cho rằng không hợp pháp do chỉ có công chứng viên chứng nhận mà không có người làm chứng.

Trước sau bất nhất

Tháng 8-2007, TAND TP Đà Lạt xử sơ thẩm, tuyên bác yêu cầu của nguyên đơn, công nhận tính hợp pháp của bản di chúc, công nhận căn nhà trên thuộc sở hữu của bà Nhơn. Phía bà Lệ kháng cáo. Ngày 31-3-2008, TAND tỉnh xử phúc thẩm cũng tuyên bác yêu cầu của bà Lệ.

Bà Lệ tiếp tục làm đơn khiếu nại giám đốc thẩm. Tháng 10-2008, Tòa Dân sự TAND Tối cao có văn bản trả lời không có cơ sở chấp nhận yêu cầu vì hai cấp tòa xử bác yêu cầu hủy di chúc là hoàn toàn có căn cứ đúng luật. Cụ thể, Điều 14 Pháp lệnh Thừa kế quy định trong trường hợp người lập di chúc không đọc được, không ký hoặc điểm chỉ được thì mới phải nhờ người làm chứng xác nhận. Cạnh đó, khoản 2 Điều 661 BLDS năm 1995 và Điều 658 BLDS năm 2005 cũng khẳng định chỉ khi người lập di chúc không đọc, không nghe, không ký tên, không điểm chỉ được thì mới cần người làm chứng. Trong vụ án này, mẹ của hai bên đương sự đã nghe đọc lại bản di chúc và điểm chỉ trước sự chứng kiến của công chứng viên, công chứng viên cũng đã xác nhận điều này nên bản di chúc hợp pháp, có giá trị thực thi.

Sau công văn trả lời khiếu nại khá rõ của Tòa Dân sự TAND Tối cao, Chi cục Thi hành án Dân sự TP Đà Lạt đã chuẩn bị lên kế hoạch thi hành án theo yêu cầu nhưng bất ngờ vào phút cuối, ngày 25-3-2011 (tức còn sáu ngày nữa là hết hạn ba năm kháng nghị giám đốc thẩm), Phó Chánh án TAND Tối cao Từ Văn Nhũ đã ký quyết định kháng nghị, đề nghị Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao xử hủy cả hai bản án, trả hồ sơ cho cấp sơ thẩm xét xử lại từ đầu bởi tờ di chúc trên không có người làm chứng nên không hợp pháp. Cạnh đó, hai cấp tòa cần phải xác minh rõ bà Nhơn có chăm sóc mẹ chu đáo và thờ cúng sau khi chết như trong bản di chúc hay không.

Continue reading

THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT: HƯỚNG DẪN “CHỎI” NHAU, THẨM PHÁN LÚNG TÚNG

HOÀNG YẾN

Nếu làm theo hướng dẫn của TAND TP.HCM, có khả năng cách giải quyết của các tòa ở TP sẽ trái ngược với các tòa ở những tỉnh, thành khác.

Hiện nay, những vụ tranh chấp hợp đồng vay không tính lãi, có thời hạn xuất hiện thường xuyên tại TP.HCM nhưng hướng dẫn về việc có tính lãi suất chậm trả hay không giữa TAND Tối cao và TAND TP lại “chỏi” nhau khiến các thẩm phán rất lúng túng…

Tháng 6-2010, ông NTS khởi kiện bà NTKN ra TAND quận 11 (TP.HCM). Theo đơn kiện, ngày 20-7-2009, ông S. có cho bà N. vay 100 triệu đồng không tính lãi trong thời hạn ba tháng. Bà N. có lập giấy vay tiền cùng cam kết sẽ trả nợ đầy đủ cho ông vào ngày 20-10-2009. Đến hạn, bà N. không trả. Đợi mãi, ông S. buộc phải khởi kiện bà N. để đòi lại số nợ gốc cùng tiền lãi tính từ ngày bà N. quá hạn trả nợ.

Tòa: Phải trả lãi

Thụ lý, TAND quận 11 nhiều lần tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ cho bà N. thông báo về vụ kiện nhưng bà N. không phản hồi và cố tình vắng mặt. Vì thế, ngày 21-2-2011, tòa đã đưa vụ kiện ra xét xử vắng mặt bà N.

Tại phiên xử, tòa căn cứ vào giấy vay tiền mà bà N. đã lập cùng cam kết thanh toán sau ba tháng để xác định bà N. có vay của ông S. 100 triệu đồng. Đây là hợp đồng vay có thời hạn và không lãi suất. Đến hạn thanh toán, bà N. không thực hiện nghĩa vụ thanh toán. Tòa căn cứ vào khoản 2 Điều 305 Bộ luật Dân sự quy định bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì phải trả lãi với số tiền chậm trả theo mức lãi suất Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán (hiện là 9%/năm). Vì thế tòa buộc bà N. trả 100 triệu đồng nợ gốc cho nguyên đơn và 12 triệu đồng tiền lãi tính trên 16 tháng chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán. Bà N. phải thanh toán nợ một lần cho ông S.

Ngoài vụ kiện trên, bà N. còn là bị đơn trong một vụ tranh chấp hợp đồng vay tài sản với ông TVK. Theo hồ sơ, ngày 6-8-2009, ông K. cho bà N. vay 100 triệu đồng không tính lãi với thời hạn ba tháng. Bà N. có lập bản giao kèo mượn tiền và cam kết trả sau ba tháng. Đến hạn, bà cũng không thanh toán. Tháng 6-2010, ông K. cũng nộp đơn đến TAND quận 11 khởi kiện bà N. để đòi lại số nợ gốc cùng tiền lãi tính từ ngày bà N. chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán.

Continue reading

THỰC TIỄN TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG: LÀM HỢP ĐỒNG MUA BÁN XE ĐÃ MẤT

CHI MAI (TTO)

Khách hàng gửi xe bị mất, được bồi thường nhưng lại bị buộc giao giấy tờ xe và ký hợp đồng bán chiếc xe (đã mất) cho bên đã bồi thường. Tình huống này đang diễn ra, không chỉ một trường hợp.

Ngày 24-3-2011, ông T.K.N. (ngụ quận 8, TP.HCM) đi xe gắn máy hiệu Honda SHi125 tới nhà hàng Kichi Kichi tại khu đô thị mới Phú Mỹ Hưng, quận 7 ăn tối cùng gia đình. Nhân viên bảo vệ nhận giữ xe và đưa thẻ, thế mà chỉ khoảng một giờ sau, khi ông ra lấy xe thì được thông báo chiếc xe đã không còn trong bãi.

Bán… cà vẹt xe

Lỗi mất xe đã được xác định thuộc về công ty bảo vệ. Sau nhiều lần thương lượng, cuối tháng 5-2011 chủ nhà hàng đã đồng ý bồi thường cho ông N. nhưng chỉ theo số tiền ghi trên hóa đơn mua xe. Chiếc xe SHi125 ông N. mua giá khoảng 160 triệu đồng chỉ mới hơn một tháng trước. Tuy nhiên, do cửa hàng bán xe chỉ xuất hóa đơn giá 110 triệu đồng nên ông N. chỉ được nhà hàng bồi thường 117 triệu đồng (tính cả biên lai thuế và phí đăng ký biển số).

Ngoài ra, nhà hàng yêu cầu ông N. phải giao giấy đăng ký xe (cà vẹt), đồng thời làm hợp đồng bán chiếc xe trên cho nhà hàng. Đơn vị này lý giải rằng do đã nhận bồi thường nên ông N. đương nhiên không còn quyền sở hữu đối với chiếc xe đã mất, mà quyền sở hữu phải thuộc về họ. Ông N. không đồng ý vì cho rằng giá tiền ông nhận bồi thường thực tế thấp hơn nhiều so với giá mua xe. Nếu ông làm giấy bán xe thì chủ nhà hàng sẽ được quyền sở hữu xe với giá “mua” xe rất rẻ. Ông N. thắc mắc: “Ngộ nhỡ có tình trạng bên giữ xe cố tình dàn cảnh mất xe, bỏ khoản tiền bồi thường thấp hơn giá trị thực tế của chiếc xe để rồi được sở hữu xe một cách hợp pháp bằng hợp đồng mua bán thì sao?”.

Chính vì vậy ông N. không làm giấy bán xe. Ông chỉ đồng ý giao giấy tờ xe cho nhà hàng và hai bên ký biên bản thỏa thuận nếu sau này tìm lại được chiếc xe thì ông N. sẽ được quyền nhận lại xe, đồng thời trả lại 117 triệu đồng cho nhà hàng.

Hợp đồng vô hiệu

Theo luật sư Võ Xuân Trung – đoàn luật sư TP.HCM, băn khoăn của ông T.K.N. là một vấn đề pháp lý cần được lưu tâm. Luật sư Trung cho biết việc chủ nhà hàng (đơn vị giữ xe nói chung) đưa ra điều kiện người nhận bồi thường phải viết giấy bán xe là không đúng pháp luật. Theo quy định của Bộ luật dân sự và Luật công chứng, đối tượng mua bán phải được xác định rõ và là vật có thật. Trong trường hợp này chiếc xe mua bán trên thực tế đã bị mất, tài sản giao dịch không có thật nên hợp đồng công chứng nếu có ký cũng là vô hiệu.

Continue reading

TÀI SẢN DÙNG ĐỂ BẢO ĐẢM THỰC HIỆN NHIỀU NGHĨA VỤ: ƯU TIÊN THANH TOÁN CHO AI?

VŨ HỒNG

Xác định thứ tự ưu tiên thanh toán giữa các chủ thể cùng nhận một tài sản để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ là một vấn đề còn vướng mắc trong thực tiễn xét xử của Tòa án và thực tiễn ký kết, thực hiện hợp đồng bảo đảm của các ngân hàng thời gian qua.

Được coi là mục tiêu quan trọng hàng đầu khi xây dựng hệ thống đăng ký giao dịch bảo đảm, nhưng dường như vấn đề nêu trên chưa thực sự được quan tâm đầy đủ và toàn diện.

Giấy tờ gốc hay thời điểm đăng ký quan trọng hơn?

Đầu tháng 7/2010, tòa án nhân dân tỉnh P thụ lý một vụ tranh chấp về hợp đồng tín dụng giữa Chi nhánh Ngân hàng X (dưới đây gọi tắt là X) và Chi nhánh Ngân hàng Y (dưới đây gọi tắt là Y) xoay quanh việc X nhận thế chấp tài sản hình thành từ vốn vay của Công ty TNHH A và sau đó Công ty TNHH A lại dùng tài sản hình thành từ vốn vay đó thế chấp tại Y để vay vốn. A mất khả năng thanh toán, làm nảy sinh vấn đề xử lý tài sản thế chấp. Theo bản án sơ thẩm số 05/2010/KDTM-ST ngày 09/7/2010 của Tòa án nhân dân tỉnh P thì Y được hưởng quyền ưu tiên phát mãi tài sản thế chấp vì đã “xuất trình toàn bộ các giấy tờ gốc của tài sản”, còn X không được hưởng quyền ưu tiên phát mãi tài sản thế chấp vì “không cầm, nắm giữ cơ sở pháp lý gốc của tài sản thế chấp”.

X không “tâm phục khẩu phục”, vì họ đã đăng ký giao dịch bảo đảm trước Y tới hơn 1 năm, cùng tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại TP Đà Nẵng (Giấy chứng nhận đăng ký thế chấp tài sản giữa A và X có thời điểm đăng ký là 13h56’ phút ngày 14 tháng 4 năm 2006; trong khi việc đăng ký thế chấp tài sản giữa A và Y có thời điểm đăng ký là 15h21’ ngày 4 tháng 6 năm 2007).

Tra lại các quy định của pháp luật hiện hành về thời điểm đăng ký, thứ tự ưu tiên thanh toán và căn cứ xác định thứ tự ưu tiên thanh toán thì “một tài sản có thể bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ dân sự, nếu có giá trị tại thời điểm xác lập giao dịch bảo đảm lớn hơn tổng giá trị các nghĩa vụ được bảo đảm, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác” (khoản 1, Điều 324 BLDS 2005).

Continue reading

THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ ĐẠI DIỆN: AI ĐẠI DIỆN NGƯỜI TÂM THẦN KHI LY HÔN?

HOÀNG YẾN

Khi giải quyết án ly hôn mà một bên đương sự là người bị bệnh tâm thần, nhiều tòa gặp lúng túng trong việc xác định người giám hộ cho người bệnh. Có chuyện này bởi luật pháp chưa có quy định điều chỉnh…

Gần đây, chị NTV đã nộp đơn ra TAND TP.HCM xin ly hôn với người chồng đang mắc bệnh tâm thần. Trong đơn, chị V. trình bày rằng vợ chồng chị kết hôn từ năm 2005. Ba năm sau, trong một vụ tai nạn giao thông, chồng chị bị thương nặng ở đầu, từ đó mất ý thức, phải nhập viện điều trị tâm thần dài hạn. Hiện nay đời sống hôn nhân của chị là không thể duy trì nên chị muốn được ly hôn để ổn định lại cuộc sống sau này…

Tự quyết định mọi thứ, có công bằng?

Thụ lý, TAND TP đang băn khoăn về hướng giải quyết. Có ý kiến nói tòa nên yêu cầu chị V. tiến hành làm thủ tục tuyên bố chồng chị mất năng lực hành vi dân sự vì bị bệnh tâm thần. Khi yêu cầu này được tòa án có thẩm quyền chấp nhận, TAND TP sẽ tiến hành giải quyết vụ ly hôn của chị. Lúc này, chị V. vừa là nguyên đơn, đồng thời cũng vừa là người đại diện theo pháp luật cho bị đơn – chồng chị.

Ý kiến này đã vấp phải sự phản đối bởi lẽ nếu làm như vậy, chị V. sẽ được tự ý quyết định tất tần tật mọi thứ, kể cả tài sản và con chung. Điều này không đảm bảo công bằng, có khả năng gây thiệt thòi cho người chồng đang bị tâm thần, vốn có quyền lợi đối lập với chị trong vụ ly hôn. Giả sử nếu mai này người chồng khỏi bệnh thì sao?

Cần hướng dẫn hợp lý

Theo luật, người mắc bệnh tâm thần không có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình được xem là người mất năng lực hành vi dân sự (trên cơ sở phán quyết của tòa theo yêu cầu của người có quyền lợi liên quan). Giao dịch dân sự của người mất năng lực hành vi dân sự do người giám hộ xác lập, thực hiện. Việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ tại tòa án cũng do người giám hộ thực hiện.

Continue reading

THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI: BỒI THƯỜNG TRONG TAI NẠN GIAO THÔNG – RỐI RẮM!

HOÀNG YẾN

Theo luật, ôtô, xe máy là nguồn nguy hiểm cao độ và chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng phải bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi.

Luật là vậy nhưng thực tiễn giải quyết các tranh chấp bồi thường thiệt hại do ôtô, xe máy gây ra ở các tòa, nhiều vướng mắc đã nảy sinh…

Để công bằng, cần quy định theo hướng nếu thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại thì sẽ không được bồi thường?

Nhiều chuyên gia nhận xét việc xác định trách nhiệm bồi thường trong các tai nạn giao thông hiện nay có lẽ phức tạp, rắc rối chỉ sau các tranh chấp về đất đai. Thực tiễn xét xử đã chứng minh điều đó, khi rất nhiều bản án của tòa cấp dưới bị cấp trên hủy, sửa vì khác quan điểm vận dụng pháp luật.

Làm sao cho công bằng?

NVA ngụ quận 11 (TP.HCM) mua một chiếc xe tải nhẹ rồi cho B thuê xe theo một hợp đồng dài hạn. B thuê C lái xe để chở hàng hóa. Ngày 25-11-2010, C chạy xe trên đường một chiều đúng quy định. D đang đạp xe, do không rành đường, không để ý nên vô tình đi ngược chiều, đụng phải chiếc xe tải này và bị thương nặng.

Sau đó, D khởi kiện yêu cầu A. và B cùng liên đới bồi thường thiệt hại. Vụ việc đã làm phát sinh hai luồng quan điểm về hướng giải quyết.

Theo quan điểm thứ nhất, khoản 3 Điều 623 BLDS quy định trường hợp người gây thiệt hại không có lỗi thì chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng phương tiện giao thông vận tải cơ giới cũng phải bồi thường. Trách nhiệm này chỉ được miễn trừ nếu thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại. Như vậy A. (chủ sở hữu xe) và B (người được A. giao chiếm hữu, sử dụng xe) phải liên đới bồi thường cho D vì thiệt hại của D xảy ra không phải là do lỗi cố ý của D.

Ngược lại, quan điểm thứ hai cho rằng người lái xe hoàn toàn không có lỗi trong vụ tai nạn nên không đủ yếu tố làm phát sinh trách nhiệm bồi thường. Nếu tòa bắt A. và B phải liên đới bồi thường cho D sẽ không đảm bảo tính công bằng. Theo một thẩm phán TAND TP.HCM, quy định tại khoản 3 Điều 623 BLDS nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người bị thiệt hại, tránh việc chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng xe máy, ôtô thoái thác trách nhiệm bồi thường với lý do không có lỗi trong việc quản lý, sử dụng xe. Điều luật cũng đặt ra các trường hợp miễn trừ trách nhiệm là khi thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại hay thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết (trừ trường hợp pháp luật có quy định khác). Chẳng hạn một người bất ngờ lao vào ôtô tự tử thì chủ ôtô, người được giao chiếm hữu, sử dụng ôtô sẽ không phải bồi thường.

Continue reading

TRANH CHẤP VỀ QUYỀN NHÂN THÂN: ĐÒI BỒI THƯỜNG VÌ BỊ CHỦ BẮT KHỎA THÂN

HOÀNG YẾN

Tòa cho rằng người giúp việc đòi 10 triệu đồng tiền bồi thường tổn thất về mặt tinh thần, công khai xin lỗi tại địa phương là không hợp lý. Bà cũng chỉ yêu cầu bà C. cởi đồ ngoài chứ không biết bà C. không mặc đồ trong.

Theo đơn khởi kiện của bà C., cuối năm 2002, bà đến giúp việc cho gia đình bà D. Hai bên thỏa thuận nếu muốn cắt hợp đồng thì phải báo trước một tháng.

Mất trộm nên buộc ôsin cởi đồ…

Tháng 11- 2010, bà D. cho rằng bà trộm cắp tiền nên đã có hành động xúc phạm bà như chửi bới, lục đồ đạc, bắt cởi hết quần áo để kiểm tra và khóa cửa nhốt không cho ra ngoài. Tuy nhiên, công an xác định không có chứng cứ cho thấy bà ăn trộm nên không truy cứu. Ngay sau đó, bà D. đã đuổi việc bà.

Vì thế, bà khởi kiện yêu cầu bà D. phải bồi thường 19 triệu đồng bao gồm 9 triệu đồng tiền lương, trợ cấp thôi việc…; 10 triệu đồng tiền bồi thường tổn thất về mặt tinh thần do bị xúc phạm danh dự, nhân phẩm. Đồng thời, bà D. phải công khai xin lỗi bà tại địa phương.

Bà D. trình bày đúng là có nghi ngờ bà C. lấy trộm tiền nên mới dò hỏi. Bà C. đã tự cởi quần áo để bà kiểm tra. Tuy nhiên, lúc này bà cũng chỉ yêu cầu bà C. cởi đồ ngoài chứ không biết bà C. không mặc đồ trong. Sự việc diễn ra trong phòng và chỉ có hai người.

Mặt khác, sau khi làm việc tại cơ quan công an, bà C. về đã tự lấy đồ đạc rời khỏi nhà và nghỉ việc. Bà không đuổi việc mà bà C. tự chấm dứt hợp đồng. Do vậy, bà không đồng ý bồi thường cho bà C.

Tổn hại danh dự người khác

Xử sơ thẩm mới đây, TAND quận 11 (TP.HCM) cho rằng quá trình hòa giải và tại phiên tòa, phía bị đơn thỏa thuận sẽ trả cho nguyên đơn 1,4 triệu đồng lương tháng 11-2010 nên tòa ghi nhận… Tuy nhiên, không có cơ sở chấp nhận yêu cầu của bà C. đòi bà D. bồi thường do đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật mà không báo trước bởi bà C. đã tự ý nghỉ việc. Hơn nữa, quan hệ lao động giữa đôi bên là quan hệ giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động nên không thuộc trường hợp điều chỉnh của quy định này.

Còn việc bà C. đòi bồi thường tổn thất tinh thần 10 triệu đồng, HĐXX nhận định từ khi bị mất trộm đến nay, bà D. không có văn bản hay lời nói khẳng định bà C. lấy trộm. Bà D. báo với công an để truy tìm thủ phạm là việc làm bình thường không trái pháp luật. Công an mời các người liên quan đến làm việc là trách nhiệm của lực lượng này. Như vậy không thể cho rằng bà D. đã vu khống bà C.

Tuy nhiên, việc khám xét người, khám xét chỗ ở của công dân phải do cơ quan có thẩm quyền thực hiện theo trình tự do luật pháp quy định. Pháp luật không cho phép một công dân bình thường có quyền khám xét người, khám xét chỗ ở của người khác. Bà D. thể hiện rõ thái độ nghi ngờ bà C. lấy trộm, yêu cầu cho kiểm tra phòng, kiểm tra người thì rõ ràng đã gây tổn hại đến danh dự, nhân phẩm của bà C. Điều này pháp luật không cho phép, lỗi thuộc về bà D. Thế nhưng bà D. kiểm tra là có sự đồng ý của bà C., khi kiểm tra chỉ có mặt hai người nên mức độ tổn hại về mặt tinh thần đối với bà C. không lớn. Nguyên đơn đòi bồi thường 10 triệu đồng, công khai xin lỗi tại địa phương là không hợp lý. Vì lẽ đó, tòa chỉ chấp nhận một phần yêu cầu, buộc bị đơn bồi thường cho bà C. trên 1,3 triệu đồng (tương ứng với một tháng lương tối thiểu)…

Chỉ cơ quan có thẩm quyền mới được khám người

Pháp luật bảo vệ danh dự, nhân phẩm và uy tín cá nhân của công dân. Mọi hành vi xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm của công dân đều bị xử lý theo quy định. Pháp luật nghiêm cấm việc thực hiện các hành vi xâm hại đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, quyền tự do cá nhân và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của tổ chức, cá nhân. Do đó, việc khám người chỉ được tiến hành khi có căn cứ để nhận định trong người đó có cất giữ công cụ, phương tiện phạm tội hoặc đồ vật, tài sản do phạm tội mà có. Việc khám người chỉ có thể do cơ quan có thẩm quyền tiến hành theo những thủ tục, trình tự chặt chẽ, không được tùy tiện…

Một thẩm phán Tòa Dân sự TAND TP.HCM

SOURCE: BÁO PHÁP LUẬT TPHCM

Trích dẫn từ: http://phapluattp.vn/2011042012154816p1063c1016/doi-boi-thuong-vi-bi-chu-bat-khoa-than.htm