TÌNH HUỐNG PHÁP LÝ: ỦY QUYỀN CỦA CÔNG TY, GHI THẾ NÀO CHO ĐÚNG?

LS. KIỀU ANH VŨ

Cùng một vấn đề pháp lý, các thẩm phán, tòa án có thể có những quan điểm pháp lý khác nhau.

Từ một tình huống thực tiễn…

Công ty A làm giấy ủy quyền cho ông X để ông X đại diện cho công ty A khởi kiện, tham gia tố tụng trong một vụ án kinh doanh thương mại tại tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đ. Giấy ủy quyền ghi rõ các thông tin của công ty A theo thứ tự người ủy quyền là công ty A, mã số doanh nghiệp, địa chỉ của của công ty A và thông tin về người đại diện theo pháp luật của công ty A; ngoài ra còn có các nội dung về người được ủy quyền, nội dung ủy quyền, thời hạn ủy quyền. Giấy ủy quyền này do chính người đại diện theo pháp luật của công ty A ký tên và được đóng dấu công ty A.

Tuy vậy, khi nhận giấy ủy quyền này kèm theo đơn khởi kiện, tòa án nhân dân thành phố B đã ban hành thông báo sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện, yêu cầu công ty A “bổ sung làm lại giấy ủy quyền cá nhân đại diện theo pháp luật của công ty ủy quyền”. Theo tòa án, giấy ủy quyền phải là giấy ủy quyền của cá nhân người đại diện theo pháp luật của công ty A, nghĩa là trong phần người ủy quyền phải ghi là ông Nguyễn Văn Y – đại diện theo pháp luật của công ty A ủy quyền cho ông X.

Yêu cầu này của tòa án đặt ra một vấn đề pháp lý là việc ủy quyền của công ty ghi thế nào cho đúng? Chính công ty là người ủy quyền hay cá nhân người đại diện theo pháp luật của công ty là người ủy quyền?

Đến quy định của pháp luật

Continue reading

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ MÀ MỘT BÊN LÀ NHẠC SỸ HOÀI AN: TRÁI PHÁP LỆNH NHƯNG KHÔNG TRÁI LUẬT, CÓ VÔ HIỆU?

CIVILLAWINFOR Tổng hợp

1. Nội dung vụ việc (1)

TAND TP.HCM tuyên thỏa thuận giữa nhạc sĩ Hoài An và ông Lê Văn Năm vô hiệu, buộc nhạc sĩ Hoài An phải trả lại số tiền đã nhận để làm album cho con ông Năm.

Ngày 24-8, TAND TP.HCM đã chấp nhận yêu cầu chấm dứt hợp đồng của nguyên đơn, buộc nhạc sỹ Hoài An hoàn trả cho nguyên đơn số tiền 10.000 USD đã nhận, tương đương 227 triệu đồng.

Đây là vụ tranh chấp hợp đồng dịch vụ giữa nguyên đơn là ông Lê Văn Năm (54 tuổi, ngụ Bình Thạnh) và bị đơn là ông Võ Đại Hoài An (nhạc sĩ Hoài An).

Theo đơn khởi kiện, năm 2012 do muốn con trai mình là Lê Hoàng Dũng trở thành ca sĩ nên ông Năm gặp nhạc sĩ Hoài An.

Hai bên ký hợp đồng kinh tế với nội dung nhạc sĩ Hoài An sẽ thực hiện cho con trai ông một album gồm 9 bài hát gồm nhiều thể loại, phải đảm bảo chất lượng và quảng bá trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Thời gian thực hiện hợp đồng là hai năm kể từ ngày ký.

Phía ông Năm sẽ được sở hữu album và có trách nhiệm đảm bảo lịch thu âm, luyện tập, cung cấp đầy đủ thông tin, hình ảnh.

Chi phí sáng tác là 1.000 USD/bài, hoà âm 100 – 150 USD/bài, phí quản lý, thực hiện 2.000 USD/tháng…

Continue reading

TRANH CHẤP BẢO HIỂM TẠI BẢO MINH: TRANH CÃI VỀ HIỆU LỰC HỢP ĐỒNG

 HÀ LINH – Đầu Tư Chứng Khoán

Liên quan đến vụ tranh chấp hợp đồng với Tổng công ty cổ phần Bảo Minh, Trường trung cấp nghề tỉnh Quảng Trị (bên mua bảo hiểm) cho rằng, hợp đồng chưa phát sinh hiệu lực vì chưa đóng phí, chưa xác nhận nợ.

Được biết, ngày 19/5/2012, Trường trung cấp nghề tỉnh Quảng Trị mua gói bảo hiểm rủi ro xây dựng công trình, trị giá 124 triệu đồng với Bảo Minh. Do khách hàng không đóng phí bảo hiểm, Bảo Minh nộp đơn khởi kiện ra Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC). 

Ngày 12/4/2016, VIAC ra phán quyết tuyên buộc Trường trung cấp nghề tỉnh Quảng Trị có nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm cho Bảo Minh số tiền 124 triệu đồng. Không đồng tình, Trường đã kháng án lên Hội đồng xét đơn – Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, đề nghị hủy phán quyết trên. Bên mua bảo hiểm cho rằng, phán quyết trên vi phạm pháp luật Việt Nam.

Cụ thể, viện dẫn Điều 15, Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000, sửa đổi năm 2010, Trường trung cấp nghề tỉnh Quảng Trị cho rằng, hợp đồng chỉ có giá trị khi đã đóng phí, trừ trường hợp thỏa thuận xác nhận nợ. Trường chưa nhận được văn bản xác nhận nợ nên hợp đồng chưa có hiệu lực. Do đó, bị đơn không thuộc các trường hợp luật đã quy định như trên nên không nợ phí bảo hiểm.

Bị đơn còn đưa ra 2 lý lẽ khác. Thứ nhất, văn bản thu phí của Bảo Minh có nội dung “hợp đồng không có hiệu lực khi không đóng đủ phí theo quy định”.

Thứ hai, trong hợp đồng có điều khoản thể hiện, phí bảo hiểm được thanh toán bằng tiền VND, đưa trực tiếp hoặc chuyển khoản cho Bảo Minh trong vòng 30 ngày kể từ ngày Trường được cấp phát vốn. Theo Trường trung cấp nghề tỉnh Quảng Trị, điều khoản này chỉ là phương thức thanh toán giữa các bên, không phải là xác nhận nợ.

Continue reading

GIẢI ĐÁP CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI VĂN BẢN SỐ 01/2017/GĐ-TANDTC NGÀY 7 THÁNG 4 NĂM 2017 VỀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ NGHIỆP VỤ LIÊN QUAN ĐẾN LĨNH VỰC DÂN SỰ VÀ TỐ TỤNG DÂN SỰ (TRÍCH DẪN)

Kính gửi:

– Các Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự;
– Các đơn vị thuộc Tòa án nhân dân tối cao.

Trong thời gian chuẩn bị và tại Hội nghị triển khai công tác Tòa án năm 2017 (từ ngày 12 đến ngày 14-01-2017) các Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự các cấp đề nghị Tòa án nhân dân tối cao giải đáp một số vấn đề vướng mắc về nghiệp vụ. Sau đây là giải đáp của Tòa án nhân dân tối cao:

VỀ DÂN SỰ

1. Trường hợp Tòa án áp dụng tập quán để giải quyết tranh chấp dân sự mà các bên viện dẫn các tập quán khác nhau thì giải quyết như thế nào?

Khi xem xét, quyết định áp dụng tập quán thì Tòa án căn cứ Điều 3, Điều 5 và các quy định khác của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 45 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, tùy từng trường hợp cụ thể giải quyết như sau:

Tập quán có giá trị áp dụng là tập quán không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 Bộ luật dân sự năm 2015. Trường hợp có nhiều tập quán thì áp dụng tập quán do các bên thỏa thuận; nếu các đương sự viện dẫn các tập quán khác nhau thì tập quán có giá trị áp dụng là tập quán được thừa nhận tại nơi phát sinh vụ việc dân sự.

2. Tòa án giải quyết vụ án dân sự có yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu nhưng đương sự không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu. Trường hợp này, Tòa án có phải giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu không?

Khi giải quyết vụ án dân sự có yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu nhưng đương sự không yêu cầu giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu thì Tòa án phải giải thích cho các đương sự về hậu quả pháp lý của việc tuyên bố hợp đồng vô hiệu. Việc giải thích phải được ghi vào biên bản và lưu vào hồ sơ vụ án. Trường hợp Tòa án đã giải thích nhưng tất cả đương sự vẫn không yêu cầu giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu thì Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu mà không phải giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu; trừ trường hợp đương sự không yêu cầu giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước hoặc người thứ ba.

Continue reading

MỘT SỐ Ý KIẾN XUNG QUANH VIỆC GIẢI QUYẾT MỘT TRƯỜNG HỢP CỤ THỂ VỀ TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT DO CHA MẸ ĐỂ LẠI

Kết quả hình ảnh cho case studyTS. NGUYỄN HẢI AN – TÒA DÂN SỰ, TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

Trong thực tiễn xét xử, nhiều trường hợp tranh chấp quyền sử dụng đất có nguồn gốc do cha mẹ để lại nhưng đã hết thời hiệu khởi kiện chia thừa kế xảy ra nhưng có những quan điểm giải quyết khác nhau. Trong bài viết này, chúng tôi xin trình bày về một trường hợp tranh chấp cụ thể và những ý kiến xung quanh việc giải quyết; cụ thể như sau:

Nhà trên 381m2 đất tại xã K, huyện G, thành phố H có nguồn gốc của vợ chồng cụ Minh và Bình. Cụ Minh chết năm 1997, cụ Bình chết 1998 đều không để lại di chúc. Cụ Minh, cụ Bình có 03 người con là: ông Hùng, bà Yến (bị câm, điếc bẩm sinh) và bà Liên. Cụ Minh chết năm 1997, cụ Bình chết năm 1998. Sau khi cụ Minh, cụ Bình chết, nhà đất đang tranh chấp do vợ chồng ông Hùng và bà Yến quản lý, sử dụng; bà Liên lấy chồng từ 1978 ở nơi khác. Năm 2003, ông Hùng kê khai, đăng ký và được UBND huyện G cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng cho hộ gia đình ông Hùng, do ông Hùng là chủ hộ đứng tên; hộ khẩu của bà Yến cùng chung với gia đình ông Hùng. Năm 2009, vợ chồng ông Hùng chuyển nhượng 73,2 m2 trong thửa đất trên cho vợ chồng chị Lan. Bà Yến, bà Liên không đồng ý việc chuyển nhượng đất của vợ chồng ông Hùng nên bà Liên đã làm đơn khởi kiện đề nghị huỷ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông Hùng với vợ chồng chị Lan. Bà Liên cho rằng toàn bộ 381m2 đất vẫn là di sản thừa kế của bố, mẹ bà chưa chia: bà và bà Yến có quyền thừa kế đối với diện tích đất của bố mẹ để lại, vợ chồng ông Hùng không được quyền tự ý chuyển nhượng. Vì bà Yến bị câm, điếc bẩm sinh, có nhược điểm về thể chất, ít tiếp xúc với bên ngoài, giao tiếp rất hạn chế; kể cả khi mời giáo viên trường câm điếc, chuyên gia về giao tiếp bằng ký hiệu cũng không giúp cho bà Yến hiểu để bày tỏ ý chí, mà chỉ có ông Hùng, bà Liên hiểu được các dấu hiệu của bà Yến, nên cả hai người là ông Hùng và bà Liên đều nhận là đại diện cho bà Yến.

Xung quanh trường hợp nêu trên, có các quan điểm sau đây:

Quan điểm thứ nhất: Vì thời hiệu khởi kiện chia thừa kế tài sản của cụ Minh và cụ Bình đều đã hết và không có văn bản thỏa thuận chuyển di sản thuộc sở hữu chung, nên nếu đương sự có yêu cầu Tòa án giải quyết thì Tòa án phải căn cứ khoản 2 Điều 56, điểm a khoản 1 Điều 168, điểm c khoản 1 Điều 192, các khoản 3 và 4 Điều 193 BLTTDS để ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án. Ông Hùng là người quản lý tài sản và đã được đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên có quyền sử dụng và chuyển nhượng; bà Liên không có quyền khởi kiện và không đủ tư cách đại diện cho bà Yến để khởi kiện.

Continue reading

CÔNG KHAI ẢNH NGHI PHẠM: CÁI SAI NỐI TIẾP CÁI SAI

Hình ảnh có liên quan PHƯƠNG DUNG – Báo Pháp luật TPHCM

Diễn đàn “Đăng ảnh nghi phạm ấu dâm: Bạn nghĩ sao?” (từ ngày 14-3 trên báo Pháp luật TP.HCM) về việc nên hay không nên đăng ảnh của nghi can ấu dâm thu hút sự quan tâm, góp ý của đông đảo bạn đọc. Không chỉ các chuyên gia xã hội học, tâm lý, bác sĩ, nhà báo mà nhiều giới khác đều quan tâm sâu sắc vấn đề này.

Đây là một dấu hiệu đáng mừng song nhìn trên tổng thể, cách lựa chọn ứng xử của đám đông lại đưa đến một mối lo ngại khác.

Đa số lựa chọn: “Đăng!”

Ngoại trừ những chuyên gia, người hoạt động trong lĩnh vực bảo vệ quyền trẻ em và những bạn đọc khác, đa số ý kiến bạn đọc đều khẳng định “đăng!”. Độc giả Manh Hung nhấn mạnh: “Phải đăng để xã hội đề phòng, đăng thật nhiều trên mọi kênh thông tin”.

Đây cũng là lý do để hàng ngàn người liên tục phát tán chân dung nghi phạm với lý lẽ “mọi người đều có quyền được biết ai là kẻ bệnh hoạn, có nguy cơ cao để phòng tránh”. Thậm chí có bạn đọc còn tuyên bố mạnh mẽ như QuaSQ: “Riêng tội này dù pháp luật không cho phép tôi cũng ủng hộ đăng ảnh nghi phạm” (!?).

Nhiều người cho biết họ có tâm lý sốt ruột khi thấy vụ việc tố cáo thủ phạm ấu dâm bị chậm đưa ra ánh sáng, dù nguyên nhân có thể từ khâu thu thập chứng cứ ban đầu của nạn nhân hay sự vào cuộc chậm chạp của cơ quan chức năng. Điều đó đã thôi thúc họ tự đi tìm công lý.

Cách phản ứng này vẫn đang nhận được nhiều ý kiến ủng hộ. Những bạn đọc Minh Nhân, Linh, Quốc Bảo, Trần Hoàng Dơn… cũng đồng tình “đăng ảnh nghi phạm sẽ gây sức ép, thúc đẩy cơ quan điều tra, tiếp sức gia đình nạn nhân để vụ việc không bị chìm xuồng”.

Đăng là vi phạm pháp luật

Continue reading

CHIA TÀI SẢN CHUNG HAY BẮT ĐẦU LẠI THỜI HIỆU KHỞI KIỆN VỤ ÁN THỪA KẾ

  TƯỞNG DUY LƯỢNG – Nguyên Phó Chánh án TANDTC

Vấn đề bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện được quy định tại BLDS năm 1995, khi BLDS năm 2005 thay thế BLDS năm 1995 thì vấn đề bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện vẫn tiếp tục được quy định, nhưng trên thực tế các cấp Tòa án hầu như không áp dụng quy định này trong các vụ án thừa kế. Vì sao lại có hiện tượng đó? Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin nêu ra một trường hợp tranh chấp thừa kế tài sản và chia tài sản chung để bạn đọc cùng trao đổi phải áp dụng pháp luật như thế nào mới đúng, nhằm góp phần làm cho nhận thức và áp dụng pháp luật ngày càng chính xác và thống nhất.

Theo đơn khởi kiện ngày 26/10/2008, ngày 21/11/2008 và quá trình tố tụng, các nguyên đơn bao gồm các ông, bà: Nguyễn Thị Minh, Nguyễn Thị Thư, Nguyễn Thị An, Nguyễn Thị Liên đã khởi kiện đối với các bị đơn là các ông: Nguyễn Văn Thắng, Nguyễn Văn Hoà, ông Nguyễn Ngọc Sơn, Nguyễn Ngọc Tám và ông Nguyễn Ngọc Tân yêu cầu chia di sản thừa kế của cha mẹ.

Các nguyên đơn trình bày: cụ Nguyễn Văn Triệu (chết tháng 9/2001) và cụ Đinh Thị My (chết tháng 1/1995) có 09 người con chung là các ông, bà: Nguyễn Thị Minh, Nguyễn Thị Thư, Nguyễn Văn Thắng, Nguyễn Văn Hoà, Nguyễn Thị An, Nguyễn Thị Liên, Nguyễn Ngọc Sơn, Nguyễn Ngọc Tám và Nguyễn Ngọc Tân. Sinh thời, cha mẹ các ông bà có 3 khối tài sản gồm: nhà, đất tại số 74, 99 và 33/3 phố Ng.Q, thị xã ST, thành phố HN, cụ thể:

– Nhà đất tại số 74 Ng.Q gồm: 3 gian nhà cấp 4; 3 gian nhà ngang cấp 4; 1 gian bếp, chuồng lợn trên diện tích đất 70m2; hiện do vợ chồng ông Nguyễn Ngọc Tân và vợ chồng ông Nguyễn Ngọc Tám quản lý, sử dụng. Vợ chồng ông Tân đã phá bỏ nhà ngang, bếp, chuồng lợn và xây mới bếp, nhà vệ sinh.

– Nhà đất tại số 99 Ng.Q gồm: 3 gian nhà cấp 4; 1 gian nhà bếp; 1 chuồng lợn và công trình vệ sinh trên diện tích đất 92,5m2; hiện do 2 gia đình là vợ chồng ông Thắng và vợ chồng ông Sơn quản lý sử dụng. Năm 2001 vợ chồng ông Sơn đã phá bỏ 1 gian nhà cấp 4 và xây mới 1 nhà 3 tầng. Năm 2006, vợ chồng ông Thắng phá bỏ bếp cũ xây bếp mới và công trình phụ (tài sản cũ còn 2 gian nhà cấp 4).

Continue reading

THỎA THUẬN NHẰM TRỐN TRÁNH NGHĨA VỤ NÊN THỎA THUẬN KHÔNG HỢP PHÁP

TƯỞNG DUY LƯỢNG – Nguyên Phó Chánh án Tòa án NDTC

Trong tố tụng dân sự quyền tự do, tự nguyện thỏa thuận, định đoạt là một quyền rất quan trọng của đương sự. Nếu trong quá trình giải quyết vụ việc, Thẩm phán không bảo đảm cho đương sự thực hiện được quyền này sẽ bị coi là vi phạm nghiêm trọng tố tụng. Tuy nhiên, quyền tự thỏa thuận, định đoạt của đương sự không phải là một quyền tuyệt đối. Sự thỏa thuận, định đoạt của đương sự chỉ hợp pháp khi nó không xâm phạm quyền, lợi ích của Nhà nước, của cá nhân, tổ chức khác, không nhằm trốn tránh nghĩa vụ. Do không nhận thức rõ vấn đề này nên có nhiều trường hợp các đương sự thỏa thuận nhằm trốn tránh nghĩa vụ vẫn được Tòa án công nhận. Dưới đây là một ví dụ:

Vụ án “chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân” giữa nguyên đơn là anh Ngô Văn Hợi (sinh năm 1973) và bị đơn là chị Lê Thị Thúy ( sinh năm 1977) cùng trú tại: Đinh Công Tráng, phường Duy Tân, thành phố KT, tỉnh KT; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm: chị Đào Thị Loan, anh Mã Hùng Vinh, chị Dương Thị Hạnh, anh Đỗ Văn Thắm, chị Nguyễn Thị Linh, chị Hồ Tuyết Nhung.

Tóm tắt nội dung vụ án:

Anh Ngô Văn Hợi và chị Lê Thị Thúy kết hôn năm 1996. Trong quá trình chung sống anh Hợi và chị Thúy không có yêu cầu ly hôn. Tuy nhiên, do chị Thúy có nghĩa vụ trả tiền đối với các chị Trần Thị Lợi, Quảng Thị Thái theo các Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 46/2011/QĐST-DS và 47/2011/QĐST-DS cùng ngày 6/9/2011 của TAND thành phố KT (theo các quyết định này thì chị Thúy phải trả cho chị Trần Thị Lợi số tiền gốc và lãi là 60.600.000 đồng cùng 05 chỉ vàng SJC; trả cho chị Quảng Thị Thái tiền gốc và lãi là 59.150.000 đồng; tất cả trả một lần vào ngày 30/9/2011) nên Chi cục thi hành án dân sự thành phố KT có Thông báo số 56/TB-CCTHA ngày 01/3/2012 về việc hướng dẫn chia tài sản chung giữa chị Thúy và anh Hợi. Do đó, ngày 12/3/2012, anh Hợi khởi kiện ra TAND thành phố KT yêu cầu chia tài sản chung của anh Hợi và chị Thúy.

Continue reading

TRAO ĐỔI VỀ VỤ ÁN TRANH CHẤP TIỀN GỬI TIẾT KIỆM

PHAN THỊ VÂN HƯƠNG – Tòa dân sự – TANDTC

1. Nội dung tranh chấp:

Ngày 01/2/2006, ông A gửi tiết kiệm số tiền 100.000.000 đồng tại Ngân hàng B, thời hạn 3 tháng, lãi suất 1%/tháng. Sổ tiết kiệm có ghi: “Đến kỳ hạn, khách hàng không đến nhận lại vốn hoặc làm thủ tục gửi tiếp thì số vốn đáo hạn sẽ không sinh lãi tiếp”. Ngày 01/5/2006, ngày 1/8/2006 ông A đến Ngân hàng làm thủ tục đáo hạn thêm tổng số 2 kỳ hạn (3 tháng) nữa, sau đó không tiếp tục đáo hạn.

Ngày 01/02/2011, ông A đem sổ tiết kiệm đến Ngân hàng để rút toàn bộ tiền gốc, lãi, yêu cầu trả lãi đến ngày 01/02/2011. Ngân hàng B chỉ chấp nhận trả ông A số tiền gốc 100.000.000 đồng và lãi của 3 kỳ mỗi kỳ 3 tháng, tổng số là 109.272.000 đồng, từ chối trả lãi từ 01/11/2006 đến 01/02/2011 với lý do ông A không đến đáo hạn theo thỏa thuận. Hai bên không thống nhất được số tiền Ngân hàng trả. Ngày 02/01/2012, ông A khởi kiện Ngân hàng B yêu cầu trả lãi từ 1/11/2006 đến ngày xét xử sơ thẩm, lãi theo thỏa thuận trong hạn, ngoài hạn tính lãi theo lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước quy định với từng kỳ hạn 3 tháng lãi nhập gốc. Cách tính như sau: lãi trong hạn kỳ 1-2-3 theo lãi thỏa thuận 3%/kỳ- tính đến 31/10/2006 là 109.272.000 đồng; từ kỳ thứ 4 bắt đầu từ ngày 1/11/2006 lãi suất theo lãi cơ bản Ngân hàng Nhà nước đối với từng kỳ hạn 3 tháng: kỳ 4 (0,6875%/tháng- Quyết định số 1887/QĐ-NHNN ngày 29/09/2006) gốc và lãi đến kỳ 5 là 111.523.003 đồng; kỳ 5 từ 1/2/2007… tính đến ngày xử sơ thẩm tháng 5 năm 2011 là khoảng 165.000.000 đồng (tính tròn) .

2. Các quan điểm về việc giải quyết tranh chấp:

Ý kiến thứ nhất: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Ý kiến thứ hai: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc Ngân hàng B phải trả ông A 109.272.000 đồng gốc và lãi trong hạn (9 tháng) đến ngày 31/10/2006; trả lãi theo lãi suất cơ bản 9%/năm kể từ ngày 1/11/2006 đến ngày xét xử sơ thẩm 5/2011. Cụ thể số tiền phải trả là 158.000.000 đồng (tính tròn).

Continue reading

TRANH CHẤP VỀ THỰC HIỆN QUYỀN TRONG BẢO ĐẢM NGHĨA VỤ DÂN SỰ: NGÂN HÀNG TỰ Ý BÁN TÀI SẢN THẾ CHẤP

HỒNG TÚ

Thay vì kiện người vay tiền ra tòa để tài sản thế chấp được xử lý theo đúng quy định, một ngân hàng đã tự lập hội đồng định giá và bán luôn tài sản thế chấp.

Theo phản ánh của ông Trương Nhân Tiến, người vay tiền, tài sản thế chấp là gần 29.000 m2 đất (trong đó có 400 m2 đất thổ cư) cùng một số tài sản trên đất tại xã Tân Hà, huyện Lâm Hà, Lâm Đồng.

Tự xác định người vay bỏ trốn

Ông Tiến cho biết: Năm 2000, ông có vay của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn – Chi nhánh huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng (viết tắt là Agribank Lâm Hà) 50 triệu đồng để dùng vào việc chăm sóc cây cà phê. Thời hạn vay được tính từ thời điểm ký kết hợp đồng cho đến khi gia đình ông Tiến trả hết nợ cả gốc và lãi. Để đảm bảo việc trả nợ, ông thế chấp số tài sản trên.

Sau đó, do gặp khó khăn trong việc trồng cà phê như nhiều hộ gia đình khác, ông không tiếp tục trồng cà phê nữa mà đến Cam Ranh (Khánh Hòa) buôn bán. Tháng 4-2013, khi có đủ điều kiện kinh tế, gia đình ông liên hệ Agribank Lâm Hà để thanh lý hợp đồng tín dụng thì mới biết hợp đồng tín dụng trên đã được thanh lý và ngân hàng đã thu hết nợ (!).

Tìm hiểu thêm, ông được biết vào năm 2003, Agribank Lâm Hà đã lập bốn biên bản xác minh việc gia đình ông đang còn nợ vay ngân hàng nhưng bỏ trốn khỏi địa phương. Tháng 9-2005, căn cứ vào các biên bản xác minh người vay bỏ trốn, Agribank Lâm Hà đã tự tiến hành kê biên tài sản. Đến tháng 7-2008, Agribank Lâm Hà tự lập hội đồng định giá tài sản thế chấp và bán luôn cho một người khác với giá 50 triệu đồng. Ngoài người này thì còn có một nhân viên của ngân hàng cùng khai thác và sử dụng đất từ năm 2006.

Ông Tiến không hài lòng: “Đúng là tôi còn mắc nợ nhưng nếu muốn bán đất của tôi, ngân hàng phải kiện ra tòa. Đã vậy, trong biên bản bán tài sản thế chấp, phía ngân hàng còn đưa ra giấy ủy quyền thể hiện gia đình tôi đã ủy quyền cho ngân hàng xử lý tài sản thế chấp. Thật là vô lý!”.

Continue reading

ĐÃ KÝ HỢP ĐỒNG TẶNG CHO QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT, CÓ QUYỀN RÚT HỒ SƠ KHÔNG?

HUỲNH MINH KHÁNH – Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang

Năm 1999, để tiện việc vay vốn ngân hàng, phục vụ cho việc kinh doanh, chị T đã hỏi mượn đất của mẹ là bà K. Sau đó, chị T và bà K đã lập một giấy viết tay về việc cho mượn đất. Cả hai mẹ con đã cùng đến UBND xã ký hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất để người con gái đứng tên.

Đầu năm 2012, do có muốn lấy đất lại để sau này chia đều cho các người con khác nên bà K đã yêu cầu chị T chuyển trả lại phần đất mà chị T đã mượn, chị T đồng ý. Hai mẹ con cùng đến UBND xã chứng thực hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất. Và toàn bộ hồ sơ đã được nộp tại UBND xã để chuyển đến huyện, hẹn ngày nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Ba ngày sau, người con gái thay đổi ý kiến nên đã đến UBND xã xin rút toàn bộ hồ sơ tặng cho quyền sử dụng đất thì được UBND xã giải quyết giao lại toàn bộ hồ sơ cho người con gái.

Đến ngày hẹn theo giấy hẹn, người mẹ đến UBND xã để nhận kết quả giải quyết thì được biết người con gái đã rút toàn bộ hồ sơ nên bà mẹ bức xúc và đã khiếu nại đối với UBND xã. Vậy việc làm của UBND xã có đúng pháp luật hay không?

Quan điểm thứ nhất cho rằng: việc làm của UBND xã là sai pháp luật vì hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa người mẹ và người con hoàn toàn tự nguyện và đã được UBND xã chứng thực theo qui định của pháp luật. Trong dân gian có câu: “bút xa gà chết”, nên khi đã ký thì người con gái không được quyền thay đổi ý kiến, không được quyền hủy việc tặng cho mà mình đã tự nguyện xác lập.

Continue reading

RÚT KINH NGHIỆM VỀ VỤ ÁN “YÊU CẦU BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI VỀ SỨC KHỎE”

HẢI YẾN

Ngày 12/9/2012, Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã mở phiên toà phúc thẩm xét xử và tuyên huỷ vụ án “Yêu cầu bồi thường thiệt hại về sức khoẻ ” giữa: Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Nam, trú tại Thôn 3, xã Ea Kpam, huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thêm, trú tại số 34 Bà Triệu, thị trấn Quảng Phú, huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk. Và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Mai Văn Thụ, trú quán: Thôn Mậu Tài, thị trấn Nga Sơn, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá. Ngày 19/9/2012, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk có Thông báo rút kinh nghiệm số 763/TB -VKS – P5 đối với vụ án nói trên.

Nội dung vụ án:

Ngày 26/12/2010, Bà Nguyễn Thị Nam điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 47H1 – 1931 trên đường liên xã đi theo hướng từ xã Ea H’Ding đến xã Ea Kpam, huyện Cư M’gar. Khi đi đến đoạn đường thôn 6, xã Ea Kpam thì bị Mai Công Hậu (sinh năm 1995) điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 47FB – 0098 chạy ngược chiều không đúng phần đường đâm vào. Hậu quả bà Nam bị gãy xương đùi phải, thiệt hại 30% sức khoẻ. Sau khi bị tai nạn, bà Nam điều trị thương tích tại bệnh viện đa khoa tỉnh Đắk Lắk 10 ngày (từ 26/12/2010 đần 05/01/2011).Ngày 31/12/2010, bà Nguyễn Thị Thêm (mẹ đẻ của Mai Công Hậu) đã bồi thường cho bà Nam 3.000.000đ (ba triệu đồng). Hành vi gây tai nạn cho bà Nam của Hậu chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm, nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cư M’gar chỉ xử lý hành chính đối với Hậu. Do hai bên không thoả thuận được việc bồi thường thiệt hại về sức khoẻ cho bà Nam, nên ngày 14/4/2011, bà Nam khởi kiện dân sự tại Toà án nhân dân huyện Cư M’gar, yêu cầu gia đình Mai Công Hậu phải bồi thường cho bà toàn bộ chi phí điều trị thương tích và tiền sửa chữa xe máy là 85.755.000đ.

Continue reading

BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO NGƯỜI ĐƯỢC GIÁM HỘ GÂY RA: CON TÂM THẦN ĐÂM NGƯỜI, CHA MẸ PHẢI BỒI THƯỜNG?

PHÚC TÂN

Do có mâu thuẫn từ trước vì tranh chấp đất đai, sáng 31-7-2010, giữa gia đình bà DTDT và vợ chồng ông NHM (cùng ngụ huyện Mang Thít, Vĩnh Long) đã xảy ra cự cãi, xô xát.

Trong lúc hai bên xô xát, con gái của ông M. đã dùng dao đâm bà T.

Theo kết quả giám định, bà T. bị tổn hại sức khỏe 45%. Tuy nhiên, Công an huyện Mang Thít không khởi tố con gái của ông M. vì người này bị bệnh tâm thần, chỉ áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh. Sau đó, TAND huyện Mang Thít cũng ra quyết định tuyên bố con gái của ông M. bị mất năng lực hành vi dân sự.

Tháng 5-2011, bà T. đã gửi đơn đến TAND huyện Mang Thít khởi kiện vợ chồng ông M. đòi bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm hại. Theo bà T., thương tật của bà do con gái của ông M. gây ra nhưng người này bị mất năng lực hành vi dân sự nên vợ chồng ông M. (người giám hộ của người bệnh) phải bồi thường tổng cộng gần 80 triệu đồng.

Trong các buổi hòa giải, vợ chồng ông M. không chịu bồi thường, nại rằng bà T. có lỗi là đánh con gái của ông bà trước. Việc con gái của ông bà có dùng dao đâm bà T. hay không vợ chồng ông bà cũng không biết. Hơn nữa, con gái của ông bà đã hơn 18 tuổi nên ông bà không phải chịu trách nhiệm với hành vi của con. Mặt khác, cô này lại bị mất năng lực hành vi dân sự nên phải được miễn trách nhiệm bồi thường mới đúng…

Mới đây, TAND huyện Mang Thít đã đưa vụ kiện ra xử sơ thẩm. Theo tòa, công an đã xác định việc con gái của ông M. dùng dao đâm vào ngực bà T. gây thương tật 45% là có thật. Xét việc bà T. yêu cầu vợ chồng ông M. phải bồi thường thiệt hại cho bà là có căn cứ. Bởi lẽ tại thời điểm gây thương tích cho bà T. cũng như hiện nay, con gái của ông M. là người bị mất năng lực hành vi dân sự, chưa có chồng và cũng không có tài sản riêng. Theo quy định thì vợ chồng ông M. là người giám hộ nên phải chịu trách nhiệm dân sự với hành vi của con mình.

Tuy nhiên, trong số tiền mà bà T. yêu cầu vợ chồng ông M. phải bồi thường có những khoản chi phí chưa phù hợp nên tòa chỉ chấp nhận các khoản chi phí hợp lý, tổng cộng là hơn 60 triệu đồng.

Continue reading

TRANH CHẤP VỀ QUYỀN NHÂN THÂN CỦA CÁ NHÂN: KIỆN BẠN HỌC CỦA CON VÌ CON BỊ GỌI LÀ “GAY”

THANH BÌNH

Nguyên đơn cho rằng bị đơn gọi con trai bà là “gay” (đồng tính nam) là đã xúc phạm tới danh dự của cả con trai bà và bản thân bà…

Bà G. (54 tuổi, ngụ huyện Hóc Môn, TP.HCM) có một con trai tên T. 17 tuổi. Giữa năm 2011, con trai bà theo học nghề mộc tại một trung tâm đào tạo nghề. Trong lớp, T. chơi khá thân với Q. (hơn 19 tuổi) và đưa về nhà chơi nhưng không hiểu vì lý do gì, Q. thường xuyên gọi T. là “gay”…

Gọi bạn là “gay”…

Cách gọi này lọt đến tai người mẹ khiến bà G. vô cùng tức giận, nhiều lần nhắc nhở Q. thay đổi cách gọi và yêu cầu không được gán ghép từ “gay” với con trai bà. Tuy nhiên, sau đó bà G. vẫn loáng thoáng nghe Q. gọi con trai bà như trên. Dò hỏi bạn bè trong lớp của con, bà còn biết tại trường, hay mỗi lần đi chơi, trò chuyện với mọi người xung quanh khi nhắc tới T. thì Q. đều gọi là T. “gay”, thậm chí còn khắc lên bàn học của con trai bà hai chữ T. “gay”.

Bà nhắc nhở Q. không thành nên dọa sẽ tố cáo với trung tâm đào tạo và yêu cầu xin lỗi bà và con trai với hình thức: Xin lỗi công khai tại trung tâm đào tạo nghề, viết đơn xin lỗi gửi tới bạn bè trong trường, đồng thời bồi thường danh dự cho cả hai mẹ con bà tổng số tiền 10 triệu đồng.

Tuy nhiên, yêu cầu này của bà không được Q. chấp nhận vì lý do “chỉ nói bâng quơ cho vui, không hề ám chỉ và không gây ảnh hưởng hay thay đổi bản chất sự thật giới tính của con bà”…

Do không được đáp ứng yêu cầu xin lỗi và bồi thường nên đầu tháng 5-2012, bà G. đã gửi đơn kiện ra TAND một huyện tại TP.HCM khởi kiện Q. vì cho rằng đã xúc phạm danh dự, nhân phẩm của con trai bà, làm ảnh hưởng tới tâm lý của con trai. Cách xưng hô thiếu tế nhị này đã làm tổn hại danh dự của bà và con trai.

Mất danh dự cả hai mẹ con

Theo đơn khởi kiện, bà G. trình bày: “Tôi đơn thân nuôi con khôn lớn. Ngay từ mới sinh nó là con trai, giấy chứng sinh tại bệnh viện xác định giới tính của con tôi là nam. Giấy khai sinh cũng chứng thực là nam, toàn bộ giấy tờ học hành, hộ khẩu đều xác định có chứng nhận là nam. Vậy mà nó đổi trắng thay đen nói con tôi là “gay” là không chính xác”.

Continue reading

THỰC TIỄN THI HÀNH BỘ LUẬT DÂN SỰ: RẮC RỐI KHÔNG BIẾT NGƯỜI ỦY QUYỀN ĐÃ CHẾT

THANH TÙNG

Theo luật, việc ủy quyền của cá nhân chấm dứt khi người ủy quyền chết. Tuy nhiên, thực tế lại không đơn giản như vậy. Nhiều tình huống rắc rối đã phát sinh vì người ủy quyền chết nhưng không ai biết…

Đầu năm 2009, trước khi sang Mỹ, ông TVV đã ủy quyền cho một người bạn thân là ông Q. tham gia một vụ kiện đòi nợ tại TAND tỉnh T. Theo nội dung giấy ủy quyền hợp pháp giữa hai bên, ông Q. được toàn quyền quyết định các vấn đề liên quan trong vụ kiện, kể cả trong giai đoạn thi hành án.

Chết nhưng không biết tin

Sau khi ra nước ngoài, ông V. không hề chủ động liên lạc với ông Q. để hỏi diễn tiến sự việc. Ông Q. cũng không có cách nào trao đổi với bạn vì mọi cách liên lạc từ ngày xưa đều không có kết quả. Vì thế, ông luôn tự quyết các vấn đề liên quan đến vụ kiện theo ý của mình như nội dung ủy quyền. Phía tòa án cũng chỉ làm việc với ông mà không quan tâm đến sự có mặt của ông V.

Cuối năm 2010, tòa đã ra quyết định công nhận sự thỏa thuận giữa ông Q. và phía bị đơn, nội dung ông Q. đồng ý bớt 1/3 số nợ gốc với điều kiện phía bị đơn phải trả tiền một lần. Sau đó, các bên cũng đã thực hiện thỏa thuận nên vụ việc được khép lại.

Gần đây, ông Q. nghe loáng thoáng được vài thông tin rằng bạn mình đã chết vì tai nạn giao thông ở Mỹ. Rồi ông nhận được hồ sơ từ Mỹ gửi về xác thực đúng là ông V. đã chết từ giữa năm 2010 tại Mỹ.

Vụ việc bắt đầu trở nên rắc rối: Theo luật, việc ủy quyền giữa ông V. và ông Q. đương nhiên chấm dứt khi ông V. chết. Ông V. chết vào giữa năm 2010, tức trước thời điểm ông Q. thỏa thuận thành với bị đơn trong vụ kiện đòi nợ (cuối năm này). Vậy quyết định công nhận sự thỏa thuận của tòa có hiệu lực pháp luật hay không khi mà bản thân ông Q. đã mất tư cách đại diện theo ủy quyền? Nếu quyết định của tòa không có căn cứ pháp lý thì khắc phục sai sót này ra sao? Phía bị đơn trong vụ kiện cũng đã thanh toán 2/3 số nợ gốc cho ông Q., phải giải quyết lại cho họ thế nào?

Continue reading

THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP DÂN SỰ LIÊN QUAN ĐẾN NGƯỜI THỨ BA CHIẾM HỮU KHÔNG CÓ CĂN CỨ PHÁP LUẬT: TÒA BÁC YÊU CẦU ĐÒI LẠI QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT LÀ CHƯA HỢP LÝ?

BÙI ĐỨC ĐỘ

Lấy đất cùng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (QSDĐ) của người cầm cố chuyển nhượng lòng vòng được Tòa nhận định là hợp đồng vô hiệu, nhưng vẫn bác yêu cầu chuộc lại. Vì sao?

Có giấy tờ thuê đất, Tòa án vẫn bác yêu cầu chuộc lại (?)

Bà Thị H là một nông dân Khmer nghèo ở xã Bàn Tân Định, huyện Giồng Riềng, Kiên Giang có 5.500m2 đất ở xã Thạnh Đông A, huyện Tân Hiệp do cha mẹ cho vào năm 1989. Bà H canh tác đến năm 1991 thì cho vợ chồng ông N, bà Q thuê lấy 100 giạ lúa. Vì tin tưởng, hai bên chỉ làm giấy viết tay, giao hẹn đến khi nào có lúa thì sẽ lấy lại đất. Sau khi được UBND huyện Tân Hiệp cấp QSDĐ (năm 1993), bà H giao Giấy chứng nhận QSDĐ cho ông N quản lý. Làm được một thời gian, ông N chuyển nhượng cho ông T lấy 100 giạ lúa và 8 chỉ vàng 24k. Ông T canh tác đến năm 1999 thì chuyển nhượng (cũng bằng giấy tay), đồng thời giao Giấy chứng nhận QSDĐ của bà H cho ông D, bà M với giá 40 chỉ vàng 24k. Khi lo đủ 100 giạ lúa, bà H đến ông N đòi chuộc lại thì mới biết đất của mình đã bị bán lòng vòng qua nhiều chủ như vậy.

Việc tranh chấp hợp đồng cầm cố và hợp đồng chuyển nhượng trên được TAND huyện Tân Hiệp nhận định không có cơ sở cho thuê đất giữa bà H và vợ chồng ông N. Tại phiên tòa, ông N khai rằng đã mua đất này của bà Năm T (mẹ của bà H) từ năm 1993 bằng 100 giạ lúa; giấy tờ cho thuê viết tay bà H chỉ gạch thập, có chữ ký của ông N, nhưng ông N lại không thừa nhận và giấy này cũng không được bà H yêu cầu giám định nên Tòa đã bác yêu cầu của bà H đòi chuộc lại 5.500m2 đất, công nhận quyền sử dụng đất cho ông D, bà M.

Không trả đất vì giao dịch ngay tình

Tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử và luật sư bảo vệ cho bà H (do Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh cử) đều có chung nhận định cấp sơ thẩm tuyên bác đơn của bà H, chấp nhận lời khai nại của vợ chồng ông N là không phù hợp. Bởi, mặc dù ông N, bà Q không thừa nhận tờ giấy cho thuê đất, nhưng tại biên bản hòa giải ngày 19.4.2006 của ấp Thạnh Trị, bà Q xác nhận tờ cho thuê đất là đúng sự thật, nhưng do ông N say rượu nên mới ký (bút lục 11). Hơn nữa, ông Danh Tr, Danh R, Danh L là anh em ruột của bà H cũng đều xác định khi cha mẹ còn sống có cho bà H phần đất này để canh tác, đến năm 1991 thì cho vợ, chồng ông N thuê. Mặt khác, ông N, bà Q cũng không xuất trình được giấy tờ bán đất mà ông đã khai mua của mẹ bà H. Như vậy, vợ chồng ông N vẫn biết 5.500m2 đất là của bà H, nhưng lại chuyển nhượng cho ông T.

Continue reading

THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ THỪA KẾ: VỤ TRANH CHẤP DI SẢN “1000” TỶ ĐỒNG – TÀI SẢN TÍCH TỤ TỪ BÚN VÀ BẤT ĐỘNG SẢN

PHƯƠNG LOAN

Người con nuôi đương nhiên được thừa kế dù bên chị em người chết cho rằng họ đã góp vốn tạo ra tài sản. Hai bên cùng gửi ở ngân hàng trong khi chờ phán quyết của cơ quan chức năng.

Mấy ngày nay dư luận xôn xao về việc bà TKP chuyên nghề làm bún bị đột tử để lại tài sản trên “1.000 tỉ” đồng. Số tài sản trên hiện đang bị tranh chấp giữa những người anh em ruột của bà và người con nuôi. Vấn đề là số tài sản quá lớn làm ngay chính những người thân cũng ngỡ ngàng. Chúng tôi đã liên hệ với các bên có liên quan để tìm hiểu thông tin.

Một trong hai chị em của bà P. ở VN là ông TVPh. đã cho biết bà P. là chị thứ năm trong gia đình 10 anh chị em. Bà P. sống cùng hai người chị em, bảy người khác định cư ở Đức từ những năm 1980. Cha mẹ họ là người Hoa, chuyên làm bún gạo. Anh chị em đa số theo nghề cha mẹ. Bà P. sống rất kín tiếng, giản dị, ăn chay trường, hay giúp đỡ hàng xóm, người nghèo.

Giàu nhờ bán bún và bất động sản?

Nghề bún cần nhiều sân phơi. Nhiều lần các anh em ở Đức chuyển tiền về để bà P. mua đất làm sân phơi bún. Ngoài việc tận dụng làm ăn, xem như là của để dành khi về già cho anh em đoàn tụ. Theo ông Ph., từ nguồn vốn tự tạo lập và nguồn tiền chị em đóng góp, bà P. đã kinh doanh bất động sản. Do tích tiểu thành đại, khối bất động sản bà tậu được khá nhiều. “Sống gần mộ phần cha mẹ, về quê hương xứ sở khi già là mong ước của mấy anh chị em tôi. Đi đi về về mang tiền về cho chị đầu tư, không gửi qua ngân hàng. Mấy chục năm sống hòa thuận, chị em yêu thương nhau, giờ nảy sinh tranh chấp, tụi tôi rất buồn” – ông Ph. nói. Ông Ph. cũng đưa ra một số giấy tờ được cho là những chứng từ việc chuyển tiền cho bà P. trước đây.

“Năm 1987 mẹ tôi mất, chị tôi 41 tuổi vẫn chưa có chồng con và có ý định xin con nuôi. Lúc này gia đình cũng đã có nhiều cháu nhưng chị tôi nói nuôi cháu, mốt lớn nó cũng về với mẹ nó. Thôi thì con lạc loài mới là con mình. Từ đó, chị xin một em bé cha mẹ bỏ rơi trong BV Hùng Vương” – ông Ph. kể tiếp.

Continue reading

TỔNG HỢP VƯỚNG MẮC VỀ DÂN SỰ, HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH, KINH DOANH, THƯƠNG MẠI

imageTRƯỜNG CÁN BỘ TÒA ÁN, TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

Thông qua hoạt động tập huấn, trao đổi nghiệp vụ năm 2010, có nhiều vướng mắc được các Tòa án nhân dân địa phương đưa ra thảo luận. Có một số vấn đề, qua thảo luận đã có nhiều ý kiến đồng thuận. Trường Cán bộ Tòa án xin lựa chọn và giới thiệu để các Tòa án nhân dân địa phương tham khảo cho việc áp dụng pháp luật (Civillawinfor chỉ trích dẫn phần về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại).

Câu hỏi 1. Đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài đã nhập quốc tịch nước ngoài, về Việt Nam ủy quyền cho người đang cư trú tại Việt Nam tham gia tố tụng tại Tòa án và văn bản ủy quyền được công chứng, chứng thực tại Việt Nam thì việc ủy quyền này có hợp pháp không? Có phải hợp pháp hóa lãnh sự không? Tại sao? Và ủy quyền như thế nào mới là hợp pháp?

Trả lời: Trường hợp người đó đang ở Việt Nam mà ủy quyền cho người đang cư trú tại Việt Nam tham gia tố tụng tại Tòa án và văn bản ủy quyền được cơ quan công chứng, chứng thực Việt Nam thực hiện đúng quy định thì việc ủy quyền này là hợp pháp. Điều 418 Bộ luật Tố tụng Dân sự quy định: “1. Giấy tờ, tài liệu do cơ quan có thẩm quyền nước ngoài lập, cấp hoặc xác nhận theo quy định của pháp luật nước ngoài hoặc ở ngoài lãnh thổ Việt Nam được Tòa án Việt Nam công nhận nếu giấy tờ, tài liệu đó đã được hợp pháp hóa lãnh sự, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập có quy định khác.”. Theo quy định trên thì không đòi hỏi tất cả các văn bản của người ở nước ngoài nộp tại Tòa án Việt Nam đều phải hợp pháp hóa lãnh sự; chỉ những tài liệu làm ở nước ngoài hoặc cơ quan nước ngoài gửi đến Việt Nam thì mới phải hợp pháp hóa lãnh sự. 18 Hợp pháp hóa lãnh sự là gì? Điều 26 Pháp lệnh Lãnh sự quy định: “1.Lãnh sự chứng thực chữ ký và con dấu trên giấy tờ, tài liệu do cơ quan, tổ chức nước tiếp nhận lập và sự phù hợp của giấy tờ, tài liệu đó với pháp luật nước tiếp nhận” . Như vậy, hợp pháp hóa lãnh sự là việc cơ quan ngoại giao Việt Nam xác nhận những giấy tờ, tài liệu đó có phù hợp pháp luật nước ngoài, xuất xứ từ tổ chức có thẩm quyền của nước ngoài (nước xuất xứ của tài liệu, giấy tờ đó) hay không; những giấy tờ làm tại Việt Nam thì tuân theo quy định của pháp luật Việt Nam nên đã công chứng, chứng thực hợp lệ thì không phải hợp pháp hóa lãnh sự nữa. Cũng cần lưu ý là hợp pháp hóa lãnh sự khác với việc công chứng giấy tờ, tài liệu cho công dân Việt Nam ở nước ngoài. Ví dụ: Lãnh sự quán Việt Nam tại Mỹ chứng nhận di chúc hoặc một giấy tự khai, một bản sao… cho một người có quốc tịch Việt Nam đang sống ở Mỹ là việc công chứng; khác với việc công dân Mỹ (kể cả người gốc Việt không còn quốc tịch Việt Nam) làm di chúc đã có cơ quan có thẩm quyền của Mỹ chứng thực thì vẫn phải hợp pháp hóa lãnh sự mới có giá trị sử dụng ở Tòa án Việt Nam. Thẩm quyền công chứng của Lãnh sự được quy định tại Điều 24 và 25 của Pháp lệnh Lãnh sự và những giấy tờ đã được công chứng này có giả trị được sử dụng tại Tòa án Việt Nam vì nó không thuộc đối tượng phải Hợp pháp hóa lãnh sự theo Điều 26 Pháp lệnh Lãnh sự và Điều 418 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Continue reading

CUỘC CHIẾN THƯƠNG QUYỀN BÓNG ĐÁ: CÁCH ỨNG XỬ NÀO HAY HƠN?

NGUYÊN TẤN

Cuộc chiến về thương quyền bóng đá giữa VFF, VPF và VAG dù căng thẳng và đầy kịch tính nhưng rồi sớm muộn cũng sẽ có kết cục. Điều đọng lại rất đáng để suy gẫm trong vụ việc này có lẽ là ở cách hành xử của các bên.

Thói quen hành chính hóa

Bất đồng giữa các thế lực trong làng bóng đá chuyên nghiệp Việt Nam về bản hợp đồng chuyển giao quyền khai thác các giải bóng đá kéo dài 20 năm giữa VFF và AVG thực chất đã âm ỉ từ hơn một năm nay, kể từ khi các bên đặt bút ký kết vào hồi tháng 12-2010.

Tuy nhiên, cuộc chiến chỉ thực sự nổ ra khi VPF bất ngờ bằng một công văn “bật đèn xanh” cho phép hệ thống đài truyền hình VTV được phát lại các trận bóng đá thuộc các giải đấu chuyên nghiệp Việt Nam.

Đáng nói là sau đó đài truyền hình VTC cũng nhập cuộc phát lại trận bóng đá thuộc một trong các giải đấu nêu trên với lý do đã được VPF “cấp phép”. Thậm chí, trả lời báo chí về việc này, ông Vũ Quang Huy, Phó giám đốc VTC khẳng định  rằng “VTC truyền hình trực tiếp có sự chấp thuận của đơn vị tổ chức giải là VPF và chúng tôi đã làm đúng theo chỉ dẫn phối hợp với VTV chọn trận phát sóng. Nếu AVG muốn kiện thì cứ kiện VPF” (Pháp Luật TPHCM, 9-1-2012).

Trong quá trình tranh chấp, VPF đã gửi công văn đến ba bộ Tư pháp, Thông tin Truyền thông và Văn hoá Thể thao Du Lịch nhờ giải quyết. Tương tự, AVG cũng gửi đơn cầu cứu lên Bộ Văn hoá Thể thao Du Lịch. Và mới đây, Bộ Văn hoá Thể thao Du Lịch đã phải lập một đoàn thanh tra để xem xét bản hợp đồng nói trên.

Của Caesar hãy trả cho Caesar!

Trước hết nói về hành động “bật đèn xanh” đơn phương của VPF cũng như hành vi hưởng ứng nhanh nhảu của VTC. Theo một số ý kiến thì những cách ứng xử này chưa phải thật khôn ngoan, thậm chí có thể gây nên những rủi ro không đáng có.

Continue reading