PHAN THỊ VÂN HƯƠNG – Tòa dân sự – TANDTC
1. Nội dung tranh chấp:
Ngày 01/2/2006, ông A gửi tiết kiệm số tiền 100.000.000 đồng tại Ngân hàng B, thời hạn 3 tháng, lãi suất 1%/tháng. Sổ tiết kiệm có ghi: “Đến kỳ hạn, khách hàng không đến nhận lại vốn hoặc làm thủ tục gửi tiếp thì số vốn đáo hạn sẽ không sinh lãi tiếp”. Ngày 01/5/2006, ngày 1/8/2006 ông A đến Ngân hàng làm thủ tục đáo hạn thêm tổng số 2 kỳ hạn (3 tháng) nữa, sau đó không tiếp tục đáo hạn.
Ngày 01/02/2011, ông A đem sổ tiết kiệm đến Ngân hàng để rút toàn bộ tiền gốc, lãi, yêu cầu trả lãi đến ngày 01/02/2011. Ngân hàng B chỉ chấp nhận trả ông A số tiền gốc 100.000.000 đồng và lãi của 3 kỳ mỗi kỳ 3 tháng, tổng số là 109.272.000 đồng, từ chối trả lãi từ 01/11/2006 đến 01/02/2011 với lý do ông A không đến đáo hạn theo thỏa thuận. Hai bên không thống nhất được số tiền Ngân hàng trả. Ngày 02/01/2012, ông A khởi kiện Ngân hàng B yêu cầu trả lãi từ 1/11/2006 đến ngày xét xử sơ thẩm, lãi theo thỏa thuận trong hạn, ngoài hạn tính lãi theo lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước quy định với từng kỳ hạn 3 tháng lãi nhập gốc. Cách tính như sau: lãi trong hạn kỳ 1-2-3 theo lãi thỏa thuận 3%/kỳ- tính đến 31/10/2006 là 109.272.000 đồng; từ kỳ thứ 4 bắt đầu từ ngày 1/11/2006 lãi suất theo lãi cơ bản Ngân hàng Nhà nước đối với từng kỳ hạn 3 tháng: kỳ 4 (0,6875%/tháng- Quyết định số 1887/QĐ-NHNN ngày 29/09/2006) gốc và lãi đến kỳ 5 là 111.523.003 đồng; kỳ 5 từ 1/2/2007… tính đến ngày xử sơ thẩm tháng 5 năm 2011 là khoảng 165.000.000 đồng (tính tròn) .
2. Các quan điểm về việc giải quyết tranh chấp:
Ý kiến thứ nhất: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Ý kiến thứ hai: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc Ngân hàng B phải trả ông A 109.272.000 đồng gốc và lãi trong hạn (9 tháng) đến ngày 31/10/2006; trả lãi theo lãi suất cơ bản 9%/năm kể từ ngày 1/11/2006 đến ngày xét xử sơ thẩm 5/2011. Cụ thể số tiền phải trả là 158.000.000 đồng (tính tròn).
Ý kiến thứ ba (cũng là quan điểm của tác giả): Tiền gửi tiết kiệm là một dạng hợp đồng vay tiền (Khoản 3 mục I Thông tư liên tịch 01/1997/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP-BTC ngày 19/6/1997 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp và Bộ Tài chính). Theo quy định tại Điều 471 BLDS năm 2005: khi đến hạn trả, bên vay chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định. Điều 19 Quyết định số 1160/2004/QĐ-NHNN ngày 13/9/2004 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành Quy chế về tiền gửi tiết kiệm quy định như sau: “Kéo dài kỳ hạn gửi tiền: Khi đến hạn thanh toán tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn, nếu người gửi tiền không đến lĩnh và không có yêu cầu gì khác thì tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm có thể nhập lãi vào gốc và kéo dài thêm một kỳ hạn mới theo thỏa thuận của tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm với người gửi tiền”.
Đối chiếu với quy định trên, ông A và Ngân hàng B có ghi chỉ tính lãi trong hạn gửi tiền, nên phải theo thỏa thuận này. Ông A chỉ đáo hạn 2 lần, vì vậy ông chỉ được tính lãi của 3 kỳ hạn, mỗi kỳ 3 tháng (tổng gốc và lãi là 109.272.000 đồng), từ ngày 01/11/2006 cho đến ngày 01/02/2011 ông không được trả lãi vì đã thỏa thuận số vốn đáo hạn sẽ không sinh lãi tiếp; do ông không chịu nhận tiền (chứ không phải Ngân hàng chậm trả) nên Ngân hàng không phải trả bất cứ một khoản lãi, phạt chậm trả nào khác.
Do đó, ông A chỉ được nhận lại số tiền 109.272.000 đồng là tiền gốc và lãi của 3 kỳ hạn (09 tháng) theo sổ tiết kiệm; kể từ khi ông A có yêu cầu mà Ngân hàng không thi hành án thì Ngân hàng phải trả ông lãi chậm trả theo lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước kể từ thời điểm yêu cầu cho đến thời điểm trả.
Trên đây là quan điểm của tác giả, mong nhận được các ý kiến trao đổi của các đồng nghiệp.
SOURCE: CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
Trích dẫn từ: http://toaan.gov.vn/portal/page/portal/tandtc/Baiviet
Filed under: LDS - Tình huống thực tiễn, TTDS - Quan điểm của Tòa án và về Tòa án |














Các quy định của pháp luật được dẫn chiếu trong các bài viết được đăng trên Trang Thông tin này có thể còn hiệu lực, không còn hiệu lực hoặc chỉ là dự thảo quy phạm pháp luật. Rất mong các bạn khi khai thác thông tin cần cẩn trọng với nội dung của từng bài viết - SO SÁNH VÀ PHẢN BIỆN KHOA HỌC LÀ BẢN LĨNH CỦA NGƯỜI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC.


Các bạn thân mến, vì lý do thời gian tôi đã và đang chậm hồi đáp nhiều vấn đề được nêu trên trang thông tin. Rất mong các bạn thông cảm vì sự chậm trễ này. Qua đây, hy vọng các bạn cùng trao đổi và chia sẻ kiến thức nhiều hơn nữa vì lợi ích chung của cộng đồng nghiên cứu Luật học.
Civillawinfor đã nhận được sự chấp thuận chính thức của Giáo sư Trần Hữu Dũng, quản trị Tạp chí Thời đại mới, Ban Biên tập Tạp chí Cộng sản, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, Viên Triết học Viện hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, trang thông tin chungta.com về việc sử dụng lại các bài viết. Để bảo vệ bản quyền cho cơ quan phát hành và các tác giả, đề nghị các bạn khi khai thác thông tin cần nêu rõ nguồn trích, tên tác giả, không biên tập lại nội dung bài viết. Riêng các bài viết thuộc Tạp chí Thời đại mới, các bạn nghiên cứu bài viết trực tiếp trên trang thông tin, không in bài viết thành văn bản, không phổ biến dưới mục đích thương mại.











Đối với vấn đề này, mình xin nhìn nhận theo một góc độ khác như sau. Công nhận rằng thỏa thuận giữa NH và KH ko cho phép tự động gộp và tính lãi đối với tiền gửi mà KH chưa tới nhận. Tuy nhiên trong trường hợp này, có thể được coi là hành vi chiếm hữu tài sản của người khác ngay tình hay không?
Các lợi tức sinh ra từ việc chiếm hữu tài sản có được tính toán tới trong trường hợp này hay không
theo ý kiến cá nhân thì đây là một dạng hợp đồng dân sự, mà đã là hợp đồng thì điều quan trọng nhất là phải tôn trọng sự thỏa thuận của các bên trong hợp đồng. Trong HĐ đã ghi rõ, nếu đến hạn mà ông A không đến nhận hoặc ko làm thủ tục gửi tiếp thì sẽ không sinh lãi, như vậy trong trường hợp này NH chỉ phải thanh toán tiền gốc + lãi suất đến ngày 31/10/2006.
Mình cho rằng lãi suất phải tính giai đoạn sau tính từ ngày 01/02/2011 đến ngày xét xử sơ thẩm 5/2011 bởi vì:
Thứ nhất, hợp đồng vay là hợp đồng tín dụng là hợp đồng mẫu được ngân hàng soạn ra, vì vậy, căn cứ theo bộ luật dân sự, trong trường hợp có nhiều cách hiểu, sẽ giải thích theo hướng có lợi cho bên yếu thế hơn (người đi vay).
Thứ hai, theo hợp đồng có đề cập nếu khách hàng không đến nhận vốn sẽ không phát sinh lãi tiếp, nhưng ngày 01/02/2011, ông A đã yêu cầu rút vốn những ngân hàng chưa chấp nhận, vì vậy phải tính thêm lãi suất từ ngày có yêu cầu của ông A (theo như hợp đồng) đến ngày xét xử sơ thẩm.
Thiết nghĩ cách giải quyết như vậy phần nào sẽ đảm bảo