TRUNG QUỐC CHỈNH SỬA LUẬT SỞ HỮU TÀI SẢN TƯ

Ngày 12-3, các đại biểu Quốc hội đã biểu quyết thông qua việc đưa bản dự thảo Luật sở hữu tài sản tư trình Quốc hội. Trong quá trình xem xét dự thảo luật này, nhiều đại biểu Quốc hội cho rằng nó đã chín muồi và đề nghị Quốc hội bỏ phiếu thông qua sau khi tiếp tục chỉnh sửa bản dự thảo.

Luật sở hữu tài sản tư ở Trung Quốc tiến thêm một bước để chuẩn bị đi vào cuộc sống. Ngày 12-3, các đại biểu Quốc hội đã biểu quyết thông qua việc đưa bản dự thảo Luật sở hữu tài sản tư trình Quốc hội. Trong quá trình xem xét dự thảo luật này, nhiều đại biểu Quốc hội cho rằng nó đã chín muồi và đề nghị Quốc hội bỏ phiếu thông qua sau khi tiếp tục chỉnh sửa bản dự thảo.

Trong cuộc họp của đoàn chủ tịch Quốc hội, chủ nhiệm ủy ban pháp luật Quốc hội Dương Cảnh Vũ đã đọc báo cáo về kết quả xem xét bản dự thảo Luật sở hữu tài sản tư.

Continue reading

PHÁP LUẬT VỠ NỢ CỦA CHLB ĐỨC – MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN

TS. PHAN HUY HỒNG –   Khoa Luật Thương mại – ĐH Luật TP. Hồ Chí Minh

Bài viết này nối tiếp bài “Lịch sử và cải cách pháp luật vỡ nợ của CHLB Đức” đã đăng trên tạp chí KHPL số 4/2004. Các ghi chú trong ngoặc về điều khoản luật mà không ghi tên luật đều là của Luật vỡ nợ.

I. ĐỐI TƯỢNG ÁP DỤNG

So với luật cũ, luật cải cách đã mở rộng đáng kể phạm vi đối tượng áp dụng thủ tục vỡ nợ (Điều 11).

1. Trước hết có thể mở thủ tục vỡ nợ (sau đây: TTVN) đối với mọi cá nhân và pháp nhân. Trong chừng mực đó hiệp hội không đăng ký (không phải là pháp nhân) được xem như pháp nhân. Pháp nhân ở đây được hiểu là pháp nhân của tư luật, phổ biến nhất chính là các hiệp hội đăng ký, các công ty đối vốn và loại hình công ty kết hợp đối nhân và đối vốn như Công ty hợp vốn bằng cổ phần (Điều 278 Luật công ty cổ phần). Đối với các cá nhân hành nghề độc lập với quy mô đáng kể thì được áp dụng TTVN chung. Đối với các cá nhân không hành nghề độc lập hoặc hành nghề độc lập với quy mô không đáng kể thì áp dụng TTVN đối với người tiêu dùng là một thủ tục rút gọn (Điều 304). Mọi cá nhân, như vậy là kể cả thành viên chịu trách nhiệm vô hạn của các công ty đối nhân, có thể đặt đơn trong TTVN yêu cầu được giải phóng khỏi các khoản nợ còn lại dưới các điều kiện quy định tại các Điều 287-303.

2. Ngoài ra TTVN có thể được mở đối với tài sản của một công ty không có tư cách pháp nhân như “Công ty thương mại mở”1, “công ty hợp vốn”2, “công ty bạn hữu”3, “công ty dân sự”4, “công ty tàu thủy”5 và “Hiệp hội quyền lợi kinh tế châu Âu” là loại hình công ty trên cơ sở luật của EU6. Quy định này thể hiện một điểm mới của luật cải cách là sự công nhận khả năng vỡ nợ của công ty dân sự theo Bộ luật dân sự (BLDS).

3. TTVN còn có thể được mở đối với tài sản thừa kế, đối với tài sản chung của vợ chồng được xác lập trên cơ sở hợp đồng hôn nhân (các Điều 1415-1482 BLDS), đối với tài sản chung của vợ chồng được xác lập trên cơ sở hợp đồng hôn nhân sau khi vợ hoặc chồng chết (các Điều 1483-1518 BLDS).

4. Sau khi giải thể, một pháp nhân hoặc một công ty không có tư cách pháp nhân vẫn được phép mở TTVN, chừng nào việc phân chia tài sản chưa thực hiện.

5. Không được phép mở TTVN đối với tài sản của Liên bang hay tài sản của một tiểu bang. Được phép mở TTVN đối với tài sản của một pháp nhân công luật chịu sự giám sát của một tiểu bang, trừ phi bang đó quy định khác đi (Điều 12).

Như vậy chúng ta thấy rằng luật cải cách đã mở rộng đối tượng áp dụng thủ tục đến tất cả các chủ thể của tư luật. TTVN cũng áp dụng đối với một số chủ thể của công luật.

II. CƠ QUAN GIẢI QUYẾT

1. Cơ quan giải quyết TTVN là Sở tòa (Amtsgericht), là tòa án cấp cơ sở trong hệ thống tòa dân sự và hình sự gồm bốn cấp7 (Điều 2).

2. Tòa án có thẩm quyền chức năng là Sở tòa mà trên khu vực thẩm quyền của nó một Phủ tòa có trụ sở. Sở tòa này có thẩm quyền đối với toàn bộ khu vực thẩm quyền của Phủ tòa. Chính phủ các tiểu bang được ủy quyền, thông qua việc ban hành nghị định, quy định một Sở tòa khác hoặc bổ sung thêm các Sở tòa khác làm tòa án vỡ nợ hoặc quy định khu vực thẩm quyền khác đi nhằm đảm bảo giải quyết nhanh chóng hơn các TTVN.

3. Tòa án có thẩm quyền lãnh thổ duy nhất là tòa án nơi con nợ chịu bị khởi kiện. Nơi con nợ chịu bị khởi kiện được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS). Trường hợp trọng tâm hoạt động kinh tế độc lập của con nợ ở nơi khác với nơi con nợ chịu bị khởi kiện thì tòa án vỡ nợ duy nhất có thẩm quyền là tòa án nơi khác đó. Trường hợp nhiều tòa án có thẩm quyền lãnh thổ theo quy định trên thì tòa án nơi mà đơn mở TTVN được đặt trước loại trừ thẩm quyền của (các) tòa án khác (Điều 3).

III. QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ ĐẶT ĐƠN

Đối với các quan hệ dân sự thì về nguyên tắc tòa án chỉ hành động khi có yêu cầu giải quyết của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật đó. Trong các quan hệ dân sự thông thường thì đấy là sự thể hiện quyền tự quyết của các chủ thể bình đẳng với nhau. Cũng chính bởi vậy mà nguyên tắc tranh tụng trở thành nguyên tắc chủ đạo xuyên suốt thủ tục tố tụng dân sự8. Nhưng hệ thống pháp luật vỡ nợ không chỉ nhằm giải quyết các mối quan hệ đã được xác lập giữa chủ nợ và con nợ. Sự tồn tại và phát triển hay sự lụn bại của một doanh nghiệp còn là cơ hội hay nguy cơ đối với sự xác lập các mối quan hệ pháp luật mới. Ảnh hưởng của nó vượt ra ngoài phạm vi cá nhân. Và như vậy việc đặt đơn mở TTVN không chỉ còn là quyền tự quyết của các chủ thể của các quan hệ đã được xác lập. TTVN cần dược tiến hành còn là để bảo vệ lợi ích công cộng. Điều đó một mặt thể hiện ở nguyên tắc điều tra trong TTVN, mặt khác là ở các quy định về nghĩa vụ đặt đơn mở TTVN.

1. Quyền đặt đơn mở TTVN thuộc về các chủ nợ và con nợ (Điều 13). Đơn có thể được rút lại cho đến trước khi tòa án quyết định mở TTVN hoặc đến trước khi quyết định bác đơn có hiệu lực pháp luật. Việc rút đơn được xem như chưa khởi kiện vụ án và như vậy có thể đặt đơn lại (Điều 269 BLTTDS).

1.1. Đối với việc mở TTVN đối với tài sản của pháp nhân hoặc của công ty không có tư cách pháp nhân thì ngoài các chủ nợ, mỗi thành viên của cơ quan đại diện của pháp nhân hoặc công ty không có tư cách pháp nhân, ở công ty không có tư cách pháp nhân hoặc công ty hợp vốn bằng cổ phần thì cả từng thành viên chịu trách nhiệm vô hạn cũng như từng người điều hành việc giải thể công ty đều có quyền đặt đơn (khoản 1 Điều 15).

1.2. Trường hợp một công ty không có tư cách pháp nhân không có thành viên chịu trách nhiệm vô hạn nào là cá nhân, thì các thành viên của cơ quan đại diện của công ty là thành viên có quyền đại diện của công ty vỡ nợ có quyền đặt đơn mở TTVN. Nguyên tắc này tiếp tục được áp dụng chừng nào mối liên hệ kiểu này còn tiếp tục (khoản 3 Điều 15).

1.3. Đơn của chủ nợ chỉ hợp lệ, nếu chủ nợ có một lợi ích hợp pháp đối với việc mở TTVN và trình bày có căn cứ quyền đòi nợ của mình cũng như việc điều kiện mở TTVN đã xảy ra9.

1.4. Ngoài chủ nợ và con nợ, khác với một số quốc gia khác, pháp luật vỡ nợ của CHLB Đức không quy định chủ thể nào khác có quyền đặt đơn mở TTVN. Việc cần phải được mở TTVN đối với con nợ được xem là có thể đảm bảo bởi quy định về nghĩa vụ đặt đơn của con nợ.

2. Nghĩa vụ đặt đơn mở TTVN chỉ áp dụng đối với pháp nhân và các công ty không có tư cách pháp nhân. Nghĩa vụ này không được quy định tập trung trong Luật vỡ nợ, mà được quy định trong các luật áp dụng cho các pháp nhân và công ty đó.

2.1. Đối với công ty là pháp nhân thì những người có nghĩa vụ đặt đơn mở TTVN là các thành viên của cơ quan đại diện của công ty. Đối với Công ty hợp vốn bằng cổ phần thì ngoài thành viên của ban điều hành, (các) thành viên chịu trách nhiệm vô hạn cũng có nghĩa vụ đặt đơn mở thủ tục vỡ nợ10.

2.2. Đối với các công ty đối nhân như “Công ty thương mại mở” hay “Công ty hợp vốn” thì nghĩa vụ đặt đơn chỉ được quy định đối với những công ty không có thành viên chịu trách nhiệm vô hạn nào là cá nhân. Nghĩa vụ này không áp dụng đối với trường hợp bản thân thành viên chịu trách nhiệm vô hạn duy nhất lại là một công ty hợp danh hoặc công ty hợp vốn đơn giản mà thành viên chịu trách nhiệm vô hạn của công ty đó là một cá nhân. Ở các loại hình công ty có nghĩa vụ đặt đơn này thì người có nghĩa vụ đặt đơn là những thành viên của cơ quan đại diện của các thành viên có quyền đại diện công ty (Điều 130a BLTM).

2.3. Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ đặt đơn cũng được quy định trong pháp luật công ty. Đấy là trách nhiệm cá nhân của người có nghĩa vụ đặt đơn. Luật vỡ nợ chỉ quy định trách nhiệm của người có nghĩa vụ đặt đơn phải hoàn trả khoản phí tổn tố tụng cho chủ nợ là người ứng trả trước để đặt đơn mở TTVN khi người có nghĩa vụ không đặt đơn (khoản 3 Điều 26). Ngoài ra việc vi phạm nghĩa vụ đặt đơn cũng còn bị đe dọa bởi trách nhiệm hình sự với hình phạt tiền hoặc phạt tù đến 3 năm, trường hợp vô ý có thể bị phạt tiền hoặc phạt tù đến 1 năm11. Việc vi phạm nghĩa vụ đặt đơn cũng còn là một trong những yếu tố cấu thành tội phạm của một số tội danh thuộc nhóm “tội phá sản” được quy định trong Bộ luật hình sự.

IV. KHÁI NIỆM VỠ NỢ

Luật vỡ nợ không định nghĩa trực tiếp khái niệm vỡ nợ. Mà nó quy định rằng chỉ được mở TTVN nếu tồn tại một căn cứ cho việc mở thủ tục đó (Điều 16). Luật này đưa ra ba căn cứ để mở TTVN là con nợ mất khả năng thanh toán (Điều 17), bị đe dọa mất khả năng thanh toán (Điều 18) hoặc nợ của con nợ lớn hơn tài sản của nó (Điều 19).

1. Mất khả năng thanh toán là căn cứ chung để mở TTVN. Con nợ mất khả năng thanh toán nếu không còn khả năng thực hiện trách nhiệm thanh toán các khoản nợ đến hạn. Được phép suy đoán là con nợ mất khả năng thanh toán, nếu nó ngừng thanh toán. Như vậy sự ngừng thanh toán nợ không phải là một căn cứ độc lập để mở TTVN. Con nợ có thể chứng minh điều ngược lại để có thể dẫn đến việc tòa án bác đơn yêu cầu của chủ nợ.

2. Một trong những trọng tâm của cải cách pháp luật vỡ nợ là đưa ra các biện pháp nhằm ngăn ngừa sự khánh kiệt tài sản của con nợ, giảm thiểu nguy cơ TTVN đã được mở lại phải đình chỉ vì không có tài sản phân chia. Bởi vậy Luật vỡ nợ đã đưa ra một căn cứ mới để mở TTVN là con nợ bị đe dọa mất khả năng thanh toán. Điều đó xảy ra, nếu theo dự đoán thì con nợ sẽ không còn có khả năng thực hiện được nghĩa vụ thanh toán của mình vào thời điểm đến hạn. Việc thanh toán bị ngưng trệ với tính chất tạm thời không được xem là mất khả năng thanh toán. Như vậy ở đây việc xác định sự mất khả năng thanh toán có một yếu tố dự báo. Để tránh sự lạm dụng căn cứ này, luật quy định chỉ áp dụng căn cứ này trong trường hợp con nợ đặt đơn mở TTVN12. Chủ nợ không được sử dụng căn cứ này. Theo pháp luật công ty con nợ có quyền, nhưng không có nghĩa vụ phải đặt đơn mở TTVN bởi căn cứ này.

3. Một căn cứ tiếp theo để mở TTVN là tình trạng nợ của con nợ lớn hơn tài sản. Tuy nhiên căn cứ này chỉ áp dụng đối với con nợ là pháp nhân và công ty không có tư cách pháp nhân, nếu công ty này không có thành viên chịu trách nhiệm vô hạn nào là cá nhân, mà là pháp nhân hoặc một công ty không có tư cách pháp nhân, nhưng công ty thành viên này cũng không có thành viên chịu trách nhiệm vô hạn nào là cá nhân.

Tình trạng nợ lớn hơn tài sản xảy ra, nếu toàn bộ giá trị tài sản của con nợ nhỏ hơn tổng số nợ. Tuy nhiên việc định giá trị tài sản không dựa trên giá trị thanh lý, mà phải dựa trên giá trị của doanh nghiệp trong điều kiện tiếp tục hoạt động, nếu căn cứ vào các điều kiện cụ thể thì rất có khả năng doanh nghiệp tiếp tục hoạt động được. Điều đó có nghĩa là trong bước đầu tiên tòa án phải xem xét xem nợ của con nợ có lớn hơn giá trị thanh lý của tài sản hay không. Nếu điều đó không xảy ra thì tòa án bác đơn mở TTVN. Trường hợp xác định rằng nợ của con nợ lớn hơn giá trị thanh lý của tài sản thì tòa án phải tiếp tục xem xét khả năng doanh nghiệp có tiếp tục hoạt động được hay không. Nếu khả năng doanh nghiệp tiếp tục được hoạt động là không có, thì tòa án mở TTVN. Nếu căn cứ vào các điều kiện cụ thể mà doanh nghiệp có khả năng tiếp tục hoạt động được thì tòa án tiến hành xác định giá trị tài sản theo trị giá doanh nghiệp trong điều kiện tiếp tục hoạt động đó, xem giá trị này có nhỏ hơn tổng số nợ hay không.

Theo pháp luật công ty, pháp nhân cũng có nghĩa vụ đặt đơn mở TTVN khi căn cứ này xảy ra.

V. MỞ THỦ TỤC VỠ NỢ VÀ HẬU QUẢ

1. Trường hợp chủ nợ đặt đơn, mà đơn đó hợp lệ, thì tòa án phải thẩm vấn con nợ trước khi ra nghị quyết mở TTVN (Điều 14). Tòa án ra quyết định mở TTVN khi căn cứ mở thủ tục đó xảy ra (Điều 16). Khi quyết định mở TTVN tòa án bổ nhiệm một “người quản lý vỡ nợ” (sau đây: “người QLVN”), trừ trường hợp quyết định để con nợ tự quản lý hay trường hợp mở TTVN đối với người tiêu dùng (khoản 1 Điều 27). Tòa án quyết định dưới hình thức nghị quyết. Trong đó tòa phải yêu cầu các chủ nợ gửi các yêu cầu của mình trong thời hạn do tòa án quy định đến cho người QLVN (khoản 2 Điều 28). Thời hạn này tối thiểu là hai tuần và tối đa là ba tháng, kể từ thời điểm nghị quyết được công bố theo các quy định về công bố (các Điều 9 và 30), mặc dù nghị quyết này phải được tống đạt cho từng chủ nợ (khoản 2 Điều 30). Trong nghị quyết tòa còn phải yêu cầu các chủ nợ thông báo không chậm trễ cho người QLVN rằng họ đòi hỏi những quyền đảm bảo nào đối với các động sản và quyền tài sản của con nợ. Các chủ nợ phải nêu đích danh tài sản được dùng để đảm bảo, hình thức và lý do xác lập quyền được đảm bảo cũng như trị giá yêu cầu được đảm bảo. Chủ nợ chịu trách nhiệm cho việc vi phạm một cách có lỗi nghĩa vụ thông báo này (khoản 2 Điều 28). Tòa án cũng còn phải yêu cầu những người có nghĩa vụ đối với con nợ không thực hiện nghĩa vụ đối với con nợ nữa mà đối với người QLVN. Cũng trong nghị quyết tòa án định lịch cho một phiên họp của Hội nghị chủ nợ, mà trong đó trên cơ sở một báo cáo của người QLVN, Hội nghị chủ nợ sẽ quyết định về tiến trình của TTVN. Phiên họp này gọi là “phiên báo cáo”, nó cần được tiến hành sau không quá 6 tuần và không được phép tiến hành sau quá 3 tháng. Ngoài ra, trong nghị quyết này tòa án cũng đồng thời định lịch cho một phiên họp của Hội nghị chủ nợ để xem xét các yêu cầu của họ. Phiên họp này gọi là “phiên xem xét”. Khoảng thời gian từ khi kết thúc thời hạn gửi yêu cầu đến khi tiến hành phiên xem xét tối thiểu phải là 1 tuần và tối đa không quá 2 tháng. Tòa án cũng có thể gộp hai phiên họp này thành một (Điều 29).

2. Tòa án có thể bác đơn yêu cầu bởi vì một trong các căn cứ mở TTVN đã không xảy ra hoặc khi có khả năng tài sản của con nợ sẽ không đủ để thanh toán phí tổn tố tụng (Điều 26). Tuy nhiên khi trường hợp này xảy ra, tòa án vẫn có thể ra nghị quyết mở TTVN thay vì ra nghị quyết bác đơn, nếu chủ nợ ứng trả trước một khoản tiền tương ứng để trang trải phí tổn tố tụng hoặc trong trường hợp con nợ là một cá nhân và người đó đặt đơn xin giải phóng khỏi các món nợ còn lại và tòa án cho hoãn nghĩa vụ trả phí tổn tố tụng cho đến thời điểm quyết định cho giải phóng khỏi các khoản nợ còn lại (Điều 4a, Điều 26).

Trường hợp ra nghị quyết bác đơn bởi lý do có khả năng tài sản của con nợ sẽ không đủ để thanh toán phí tổn tố tụng, Tòa án tiến hành ghi tên con nợ vào Danh mục con nợ theo các quy định của BLTTDS. Thời hạn xóa tên trong danh mục này là 5 năm (khoản 2 Điều 26). Nếu con nợ có đăng ký trong Danh mục thương mại, Danh mục hợp tác xã, Danh mục công ty hợp danh hoặc Danh mục hiệp hội thì tòa án vỡ nợ phải chuyển đến cho tòa án đăng ký một bản Nghị quyết bác đơn mở TTVN, nếu con nợ là một pháp nhân hoặc một công ty không có tư cách pháp nhân. Trường hợp con nợ là pháp nhân hoặc là công ty không có tư cách pháp nhân thì nó phải tiến hành giải thể khi nghị quyết bác đơn mở TTVN có hiệu lực (Điều 31).

Người đặt đơn có quyền kháng nghị nếu quyết định bác đơn dựa trên lý do rằng căn cứ để mở TTVN không xảy ra; con nợ có quyền kháng nghị nếu quyết định bác đơn dựa trên lý do con nợ không đủ tài sản để thanh toán phí tổn tố tụng (Điều 34).

3. Việc mở TTVN đối với Công ty thương mại mở, Công ty hợp vốn đơn giản, Công

ty dân sự, đối với tài sản của một thành viên công ty dân sự hoặc đối với pháp nhân dẫn đến hậu quả là các công ty và pháp nhân này rơi vào tình thế pháp lý của sự giải thể13. Việc giải thể công ty thực hiện trong TTVN đó, trừ việc giải thể một công ty dân sự khi mở TTVN đối với tài sản của một thành viên công ty này. Việc giải thể công ty dân sự trong trường hợp này thực hiện ngoài phạm vi TTVN đối với tài sản của thành viên công ty (Điều 84). Công ty bị giải thể khi hoàn tất việc thanh lý tài sản. Tuy nhiên nếu TTVN bị đình chỉ trong khi đang tiến hành bởi con nợ không đủ hoặc chỉ đủ tài sản để thanh toán phí tổn tố tụng, thì công ty vẫn tiếp tục phải thực hiện thủ tục giải thể.

Với nghị quyết mở thủ tục vỡ nợ thì quyền quản lý và định đoạt của con nợ đối với tài sản vỡ nợ chuyển sang người QLVN (khoản 1 Điều 80). Một sự cấm con nợ hoặc quyết định của tòa án hoặc một cơ quan nhà nước cấm con nợ không được định đoạt theo các quy định tại Điều 135, 136 BLDS mất hiệu lực khi mở TTVN, nếu sự cấm hoặc quyết định đó chỉ nhằm để bảo vệ một số người nhất định nào đó. Tuy nhiên các quy định về hiệu lực của sự tịch biên tài sản để thi hành án hoặc tịch thu tài sản trong thủ tục cưỡng chế thi hành án không bị ảnh hưởng bởi việc mở TTVN (khoản 2 Điều 80). Mọi định đoạt của con nợ đối với tài sản thuộc tài sản vỡ nợ sau khi mở TTVN đều vô hiệu. Tuy nhiên Luật vỡ nợ cũng viện dẫn một số ngoại lệ được quy định trong một số luật khác14. Hậu quả của định đoạt vô hiệu là người QLVN phải trả lại cho phía bên kia khoản mà người này thực hiện đáp trả, nếu qua đó mà tài sản vỡ nợ được lợi thêm. Các định đoạt của con nợ về các khoản tiền lương hoặc tiền hưu trí trong tương lai cũng vô hiệu, trong chừng mực các định đoạt đó liên quan đến các khoản lương hưu hoặc tiền hưu trí cho thời gian sau khi kết thúc TTVN (Điều 81). Quy định này nhằm đảm bảo con nợ có thể nhượng quyền đòi hỏi các khoản tiền lương hoặc hưu trí đó cho người được ủy quyền quản lý để nhằm thanh toán nợ cho các chủ nợ trong thủ tục giải phóng con nợ khỏi các khoản nợ còn lại. Nếu sau khi mở TTVN mà một con nợ của con nợ thực hiện một nghĩa vụ đối với con nợ, mặc dù nghĩa vụ đó lúc này phải thực hiện đối với người QLVN, thì con nợ của con nợ đó chỉ được giải phóng khỏi trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ, nếu vào thời điểm thực hiện nghĩa vụ, người đó không biết việc mở TTVN. Nếu người này thực hiện nghĩa vụ trước khi công bố nghị quyết mở TTVN thì được suy đoán rằng người này không biết TTVN đã được mở (Điều 82). Nếu con nợ là người thừa kế mà thời điểm mở thừa kế xảy ra trước khi mở TTVN hoặc trong quá trình tiến hành TTVN, thì chỉ có con

nợ này có quyền nhận hay từ chối nhận di sản (Điều 83), chứ không phải là người QLVN. Nếu giữa con nợ và người thứ ba tồn tại một cộng đồng sở hữu chung hoặc một công ty dân sự, thì khi mở TTVN đối với con nợ, cộng đồng sở hữu đó hoặc công ty dân sự đó bị giải thể15. Những người có quyền yêu cầu xuất phát từ quan hệ sở hữu chung hoặc công ty đó có quyền yêu cầu được thanh toán trước từ phần quyền được xác định qua việc phân chia hoặc giải thể đó của con nợ (Điều 84). Một thỏa thuận mà qua đó quyền yêu cầu giải thể cộng đồng sở hữu chung bị loại bỏ hoàn toàn hoặc trong một khoảng thời gian nhất định hoặc yêu cầu giải thể chỉ có hiệu lực sau một thời hạn nhất định, đều mất hiệu lực khi mở TTVN. Người QLVN có thể tiếp nhận quyền và nghĩa vụ tố tụng đối với các tranh chấp về tài sản thuộc về tài sản vỡ nợ do con nợ khởi kiện mà chưa kết thúc vào thời điểm mở TTVN (khoản 1 Điều 85). Nếu người QLVN chậm trễ trong việc đó thì đối phương có quyền yêu cầu tòa án buộc người đó tiếp tục thực hiện tố tụng (khoản 1 Điều 85, khoản 2-4 Điều 239 BLTTDS). Nếu người QLVN từ chối tiếp nhận vụ kiện thì cả con nợ lẫn đối phương đều có thể tiếp tục vụ kiện (khoản 2 Điều 85). Còn các tranh chấp mà trong đó con nợ bị kiện và vụ kiện còn tiếp tục vào thời điểm mở TTVN thì có thể được người QLVN lẫn đối phương tiếp tục tiến hành, nếu các tranh chấp đó liên quan đến việc tách một tài sản ra khỏi khối tài sản vỡ nợ, đến quyền ưu tiên thanh toán trước hay liên quan đến các khoản nợ của tài sản vỡ nợ (là các khoản nợ được xác lập sau khi đặt đơn mở TTVN). Trường hợp người QLVN lập tức công nhận các yêu cầu này, thì đối phương chỉ có quyền yêu cầu thanh toán phí tổn tố tụng với tư cách là chủ nợ trong TTVN (Điều 86). Còn nếu một chủ nợ thông qua thủ tục cưỡng chế thi hành án mà có được một bảo đảm từ tài sản của con nợ thuộc về tài sản vỡ nợ trong thời gian một tháng trước khi đặt đơn mở TTVN hoặc sau đó, thì khi mở TTVN bảo đảm này mất hiệu lực (Điều 88).

Trong toàn bộ thời gian tiến hành TTVN không được phép cưỡng chế thi hành án cho các chủ nợ vỡ nợ vào khối tài sản vỡ nợ cũng như vào các tài sản khác của con nợ (khoản 1 Điều 89). Trong thời gian đó thì việc cưỡng chế thi hành án cho các chủ nợ không phải là chủ nợ vỡ nợ vào quyền đòi hỏi trong tương lai xuất phát từ quan hệ lao động hay công chức hoặc vào quyền đòi hỏi lương hưu của con nợ cũng không được phép, trừ phi đây là việc cưỡng chế thi hành án để buộc thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng hay nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do hành vi phạm pháp vào phần lương hoặc lương hưu mà các chủ nợ khác không có quyền tịch biên (khoản 2 Điều 89). Tòa án vỡ nợ có thẩm quyền quyết định đối với khiếu kiện về việc cưỡng chế thi hành án tại các quy định nói trên có được phép hay không. Trước khi quyết định, Tòa án có thể ra quyết định áp dụng biện pháp tạm thời; đặc biệt có thể quyết định tạm thời đình chỉ mà không đòi hỏi phải có đảm bảo hoặc với điều kiện có đảm bảo hoặc việc cưỡng chế thi hành án chỉ có thể tiếp tục nếu người yêu cầu thi hành án nạp một khoản tiền đảm bảo (khoản 3 Điều 89). Các giao dịch sau khi mở TTVN xác lập quyền tài sản đối với các tài sản cụ thể thuộc khối tài sản vỡ nợ (chẳng hạn đối với một động sản nhất định) đều không có hiệu lực, kể cả trường hợp việc xác lập đó xuất pháp từ giao dịch của người QLVN đối với người thứ ba, trừ một số ngoại lệ được quy định trong các luật khác16 (Điều 91). Trường hợp TTVN được mở đối với một công ty không có tư cách pháp nhân hoặc một Công ty hợp vốn bằng cổ phần, thì trong toàn bộ thời gian tiến hành thủ tục đó chỉ có người QLVN có quyền yêu cầu thành viên chịu trách nhiệm vô hạn thực hiện trách nhiệm tài sản vô hạn đó đối với các khoản nợ của công ty (Điều 93).

Ngoài các quy định về hiệu lực chung quan trọng nhất trình bày trên, Luật vỡ nợ cũng còn quy định các chi tiết quyền và nghĩa vụ của con nợ, của các chủ nợ, của người QLVN và của tòa án phát sinh từ việc mở TTVN (các điều 94 -102) cũng như tác động của nó đến việc thực hiện một số giao dịch (các điều 103-128), mà những quy định đó không thể trình bày hết được ở đây.

4. Tuy nhiên một công cụ quan trọng trong TTVN không thể không được nhắc tới là quyền phủ quyết một số giao dịch được xác lập trước thời điểm mở TTVN. Về nguyên tắc, các giao dịch pháp luật được xác lập trước khi mở TTVN và gây thiệt hại cho các chủ nợ có thể bị người QLVN phủ quyết theo các điều kiện được quy định tại các điều 130-146. Hậu quả của việc phủ quyết các giao dịch là, những gì đã được bán, được trao đi hoặc cho đi đều phải trả lại vào khối tài sản vỡ nợ. Các quy định về hậu quả của sự thu lợi không có căn cứ (các điều 812-822 BLDS) được áp dụng tương tự ở đây. Người nhận tài sản tặng cho chỉ phải hoàn trả lại những gì nhận được, nếu người này có lợi qua việc nhận tài sản tặng cho đó (Điều 143). Khi người nhận tài sản trên cơ sở giao dịch có thể bị phủ quyết hoàn trả lại khoản tài sản đó, thì quyền yêu cầu thanh toán của người đó được phục hồi, nhưng về nguyên tắc người này chỉ có quyền yêu cầu thanh toán với tư cách là chủ nợ vỡ nợ mà thôi (Điều 145). Quyền phủ quyết mất hiệu lực sau 2 năm kể từ thời điểm mở TTVN. Nhưng kể cả khi quyền phủ quyết mất hiệu lực, người QLVN vẫn có thể từ chối thực hiện nghĩa vụ xuất phát từ giao dịch chịu bị phủ quyết đó (Điều 146).

VI. PHỤC HỒI DOANH NGHIỆP VÀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA CON NỢ

1. Bởi vì mỗi TTVN đều nhằm đạt mục đích chung là thực hiện trách nhiệm tài sản của con nợ, nên luật không ưu tiên biện pháp thanh lý tài sản con nợ, phục hồi doanh nghiệp hay bán doanh nghiệp con nợ, mà dành quyền lựa chọn cho các chủ nợ. Hội nghị chủ nợ lựa chọn biện pháp thông qua nghị quyết sau khi bắt đầu một thủ tục áp dụng chung và thống nhất trong “phiên báo cáo”. Hội nghị chủ nợ có thể ủy nhiệm cho người QLVN soạn thảo một “Kế hoạch vỡ nợ” và ấn định trước mục tiêu cho nó. Vai trò của Kế hoạch vỡ nợ là tạo ra một khuôn khổ mềm dẻo cho việc cùng nhau giải quyết vụ việc. Kế hoạch này không phải là công cụ riêng cho biện pháp phục hồi, mà về mặt nội dung nó để ngỏ cho mọi biện pháp. Trường hợp chọn biện pháp phục hồi thì các điều kiện và các thức tiến hành cũng đều được ghi nhận trong Kế hoạch vỡ nợ. Và cũng trong kế hoạch đó các chủ nợ có thể dự liệu các tình huống xảy khi việc phục hồi không thành công. Như vậy các chủ nợ không phải tiến hành các biện pháp khác nhau theo những thủ tục độc lập.

2. Kế hoạch vỡ nợ phải được Hội nghị chủ nợ chấp thuận, con nợ đồng ý và tiếp đó phải được tòa án phê duyệt. Kế hoạch được phê duyệt có hiệu lực thi hành đối với tất cả các bên tham gia TTVN, kể cả đối với các chủ nợ không gửi yêu cầu của mình và đối với những người phản đối kế hoạch đó (Điều 254). Từ các quy định của kế hoạch này, các chủ nợ có thể yêu cầu cưỡng chế thi hành án đối với con nợ như trên cơ sở một bản án có hiệu lực thi hành. Khi Kế hoạch vỡ nợ có hiệu lực pháp luật, tòa án ra nghị quyết hủy bỏ TTVN. Nghị quyết này có hiệu lực kết thúc chức năng của người QLVN và của các thành viên Ủy ban chủ nợ. Con nợ được nhận lại quyền định đoạt về tài sản vỡ nợ. Tuy nhiên, trong Kế hoạch vỡ nợ có thể quy định rằng người QLVN và Ủy ban chủ nợ giám sát việc thực hiện kế hoạch này. Trong chừng mực đó, người quản lý vỡ nợ, các thành viên Ủy ban chủ nợ và tòa án vẫn tiếp tục có chức năng giám sát.

3. Để đảm bảo quyền lợi của con nợ, luật quy định con nợ có quyền tham gia tư vấn cho người QLVN khi người này soạn thảo Kế hoạch vỡ nợ. Bên cạnh đó bản thân con nợ cũng có quyền đệ trình một Kế hoạch vỡ nợ lên tòa án. Con nợ có thể đệ trình một kế hoạch như vậy cùng với đơn mở TTVN hoặc trong quá trình tiến hành tố tụng và chậm nhất là trước khi tiến hành phiên họp cuối cùng. Kế hoạch vỡ nợ đã được Hội nghị chủ nợ chấp thuận có thể bị con nợ từ chối. Kế hoạch bị con nợ từ chối không được tòa án phê duyệt, trừ phi theo kế hoạch đó vị thế của con nợ không bị kém đi so với trường hợp không có kế hoạch.

4. Quyền lợi của con nợ cũng còn được quan tâm bảo vệ thông qua các quy định về “tự quản lý” của con nợ đối với tài sản vỡ nợ (chương 7 Luật vỡ nợ). Tòa án áp dụng chế độ tự quản lý, nếu con nợ đề nghị điều đó, trường hợp một chủ nợ đặt đơn mở TTVN thì chủ nợ đó đã đồng ý với đề nghị của con nợ và căn cứ và tình hình cụ thể có thể cho rằng việc áp dụng chế độ tự quản lý không làm trì hoãn tiến độ thực hiện TTVN và không gây thiệt hại gì cho các chủ nợ. Chế độ tự quản này cũng có thể được áp dụng trong quá trình tiến hành thủ tục vỡ nợ. Nếu tòa án đã bác đơn đề nghị của con nợ, nhưng phiên họp đầu tiên của Hội nghị chủ nợ lại đề nghị áp dụng chế độ tự quản, thì tòa án quyết định áp dụng chế độ này. Theo chế độ này, dưới sự giám sát của “người quản lý sự việc”, con nợ có quyền quản lý và định đoạt khối tài sản vỡ nợ.

VII. BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA CHỦ NỢ

1. Quyền lợi của chủ nợ được luật cải cách chú trọng bảo vệ thông qua các quy định nhằm tăng cường quyền tự quyết của họ trong TTVN và quyền giám sát việc thực hiện Kế hoạch vỡ nợ sau khi hủy bỏ TTVN. Các chủ nợ có quyền lựa chọn các biện pháp tối ưu để thực hiện quyền yêu cầu của họ. Họ có thể thay đổi hoặc kết hợp các biện pháp với nhau trong quá trình tiến hành TTVN. Mặc dù khi mở TTVN, quyền định đoạt về tài sản vỡ nợ thuộc về người QLVN, nhưng điều đó cũng là để đảm bảo cho việc thực hiện quyền lợi của các bên tham gia tố tụng một cách hợp pháp và công bằng. Kế hoạch vỡ nợ có thể do con nợ, người QLVN tự mình hoặc với sự ủy nhiệm của Ủy ban chủ nợ đệ trình, nhưng đều phải được Hội nghị chủ nợ chấp thuận.

2. Các quy định về chế độ tự quản lý của con nợ cũng dành cho chủ nợ có quyền đồng ý hay từ chối áp dụng chế độ này và quyền yêu cầu hủy bỏ việc áp dụng chế độ này. Khi con nợ được tự quản lý, nó vẫn phải chịu sự giám sát của người quản lý sự việc là một chức trách tương tự như người QLVN nhưng không có thẩm quyền quản lý và định đoạt. Quyền tự do định đoạt của con nợ khi áp dụng chế độ tự quản cũng bị hạn chế bởi một số giao dịch quan trọng phải được người quản lý sự việc hoặc chủ nợ đồng ý. Hội nghị chủ nợ cũng có quyền yêu cầu tòa án quyết định một số giao dịch phải được sự chấp thuận của người quản lý sự việc.

VIII. TRÌNH TỰ THỦ TỤC VỠ NỢ

Đơn yêu cầu mở TTVN được đặt có hiệu lực như “khởi kiện vụ án” trong tố tụng dân sự thông thường. Nó bắt buộc tòa án phải xem xét đơn. Trong giai đoạn xem xét tòa án có thể áp dụng các biện pháp tạm thời, bổ nhiệm người quản lý tạm thời. Chức năng của người quản lý tạm thời được luật quy định chi tiết. Giai đoạn này kết thúc bằng việc tòa án ra nghị quyết mở hoặc bác đơn mở TTVN. Tòa quyết định mở TTVN, nếu một trong ba căn cứ (xem mục IV) mở thủ tục xảy ra và tài sản của con nợ ít nhất đảm bảo thanh toán được phí tổn tố tụng. Đơn mở thủ tục bị bác bỏ, nếu căn cứ mở thủ tục không xảy ra, hoặc tài sản của con nợ không đảm bảo ít nhất thanh toán được phí tổn tố tụng. Được phép kháng nghị quyết định của Tòa án (xem hậu quả của các quyết định của tòa án ở mục V). Tòa án có thể ra quyết đình chỉ TTVN, nếu trong quá trình tiến hành mà nhận thấy rằng tài sản của con nợ không đủ để đảm bảo thanh toán ít nhất là các phí tổn tố tụng. Sau khi Kế hoạch vỡ nợ được phê duyệt có hiệu lực, Tòa án ra quyết định kết thúc TTVN. Trường hợp tiến hành thanh lý tài sản con nợ không thông qua Kế hoạch vỡ nợ thì Tòa án ra quyết định kết thúc TVNN khi việc phân chia tài sản thanh lý đã hoàn thành. Về TTVN đối với người tiêu dùng và thủ tục giải phóng con nợ khỏi các khoản nợ còn lại xem bài viết nói ở lời mở đầu.

IX. TÀI SẢN VỠ NỢ

1. Tài sản vỡ nợ là tài sản thuộc về con nợ vào thời điểm mở TTVN và tài sản con nợ có được trong thời gian tiến hành thủ tục này (Điều 35). Các quyền yêu cầu hoàn trả của con nợ xuất phát từ việc phủ quyết một giao dịch được phép phủ quyết17 và cả những quyền yêu cầu chưa đến hạn thanh toán hoặc quyền yêu cầu có Điều kiện của con nợ đều được xem là tài sản thuộc về con nợ vào thời điểm mở TTVN (Điều 41).

2. Tuy nhiên các tài sản của con nợ không chịu bị cưỡng chế thi hành án theo BLTTDS18 thì không thuộc về tài sản vỡ nợ (khoản 1 Điều 36). Nhưng thuộc về tài sản vỡ nợ lại là sổ sách kế toán của con nợ và các tài sản không chịu bị cưỡng chế thi hành án theo Điều 811 khoản 1 điểm 4 và 9 BLTTDS (khoản 2 Điều 36). Các tài sản nói tại Điều khoản này là tài sản của con nợ là người sản xuất nông nghiệp, bao gồm các công cụ, gia súc và phân bón cần thiết để sản xuất cũng như các sản phẩm nông nghiệp cần thiết để đảm bảo đời sống của con nợ, gia đình con nợ và của người lao động của con nợ hoặc các sản phẩm tương tự cần thiết cho việc tiếp tục sản xuất cho đến mùa vụ tiếp theo; là các máy móc, dụng cụ chứa và hàng hóa cần thiết để kinh doanh hiệu thuốc của người kinh doanh hiệu thuốc.

3. Trường hợp cần xác định rằng một tài sản nhất định nào đó có phải là đối tượng chịu bị cưỡng chế thi hành án theo các quy định của BLTTDS hay không thì Tòa vỡ nợ có thẩm quyền quyết định. Thay vì chủ nợ, người QLVN có quyền đề nghị tòa án xem xét (khoản 4 Điều 36).

X. THỦ TỤC THANH LÝ

1. Thanh lý ở đây được hiểu theo nghĩa hẹp là biện pháp “thanh lý tài sản của con nợ”, nghĩa là biện pháp nhằm biến đổi các tài sản hiện vật hoặc các quyền yêu cầu thành tiền phục vụ cho việc thanh toán cho các chủ nợ. Sau khi Hội nghị chủ nợ quyết định biện pháp này người QLVN phải kịp thời tiến hành thanh lý các tài sản thuộc tài sản vỡ nợ (Điều 159). Trong quá trình thanh lý, một số giao dịch đặc biệt quan trọng của người QLVN được luật quy định chi tiết phải được sự đồng ý của Ủy ban chủ nợ hoặc Hội nghị chủ nợ (Điều 160-163). Tuy nhiên các giao dịch của người QLVN trên cơ sở vi phạm các quy định trên đây vẫn có hiệu lực (Điều 164). Quy định này nhằm đảm bảo an toàn cho giao dịch pháp luật. Quyền lợi của các bên tham gia TTVN được bảo vệ bởi quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người QLVN.

2. Việc thanh toán cho các chủ nợ không có đảm bảo chỉ được bắt đầu sau khi tiến hành Phiên xem xét (các Điều 176-177), mà trong phiên họp đó các quyền yêu cầu của các chủ nợ được xác định theo trị giá và thứ hạng ưu tiên thanh toán. Sau thời điểm đó việc thanh toán có thể tiến hành khi nào có đủ tiền mặt. Khi thanh toán từng phần thì các chủ nợ thứ hạng không được tham gia (Điều 187). Người QLVN thực hiện việc thanh toán. Nếu có Ủy ban chủ nợ thì mỗi lần thanh toán đều phải được ủy ban này đồng ý. Luật vỡ nợ cũng còn có các quy định nhằm đảm bảo cho việc thanh toán các khoản nợ đang tranh chấp, các khoản nợ có Điều kiện, các khoản nợ được thông báo muộn cũng như thanh toán cho các chủ nợ có đảm bảo (các Điều 189-192). Ủy ban chủ nợ quyết định phần nợ được thanh toán trong đợt thanh toán từng phần trên cơ sở đề nghị của người QLVN. Nếu không có Ủy ban chủ nợ thì người QLVN quyết định việc này (Điều 196).

3. Thanh toán lần cuối được tiến hành khi việc thanh lý kết thúc và được sự đồng ý của tòa án. Đồng thời với quyết định đồng ý, Tòa án định lịch cho Phiên họp kết thúc của Hội nghị chủ nợ. Khi việc thanh toán lần cuối kết thúc, tòa án ra nghị quyết kết thúc TTVN (Điều 200). Sau khi TTVN được hủy bỏ, các chủ nợ vỡ nợ có quyền đòi nợ không hạn chế đối với các khoản nợ không được thanh toán đối với con nợ (trường hợp con nợ là cá nhân, là thành viên chịu trách nhiệm vô hạn của công ty) (Điều 201). Nhưng ngay cả khi TTVN đã được hủy bỏ, Tòa án tự mình hoặc trên cơ sở đề nghị của người QLVN hoặc của một chủ nợ vỡ nợ ra quyết định mở đợt “thanh toán bổ sung” nếu lúc này các khoản được giữ lại có thể được dùng để phân chia, các khoản được thanh toán từ tài sản vỡ nợ được trả lại hoặc có tài sản khác thuộc tài sản vỡ nợ được phát hiện.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 So sánh §§ 105-160 Bộ luật thương mại (BLTM).

2 So sánh §§ 161-177a BLTM.

3 So sánh Luật công ty bạn hữu (Partners-chaftsgesetz v. 25.7.1994).

4 So sánh §§ 705-740 Bộ luật dân sự (BLDS).

5 So sánh Quyển V BLTM.

6 So sánh EWG-VO Nr. 2137/85 (ABl. EGNr. L 199 v. 31.7.1985).

7 Hệ thống Tòa án dân sự và hình sự bốn cấp này gồm Sở tòa, Phủ tòa, Tòa án Tiểu bang và Tòa án Liên bang.

8 Về vấn đề này so sánh Thomas/Putzo: Zivilprozessordnung (Bình luận BLTTDS), Muenchen 2002, Einleitung I.

9 Tòa án không có quyền từ chối đơn hay “trả lại đơn”. Tòa án nhận được đơn nghĩa là vụ việc được khởi kiện. Tòa án chỉ có thể bác đơn với lập luận rằng đơn không hợp lệ ( ) thông qua nghị quyết. Đương sự có quyền kháng nghị quyết định này.

10 So sánh khoản 2 Điều 92, 283 mục 14 Luật công ty cổ phần (Luật CTCP), Điều 64 Luật công ty TNHH (Luật CTTNHH).

11 So sánh Điều 401 LCTCP, Điều 84 Luật CTTNHH, Điều 130b BLTM.

12 Tham khảo Reinhard Bork, Insolvenzordnung, Dtv-Textausgabe, Muenchen 2002, Einf. II.3.

13 So sánh khoản 1 mục 3 Điều 131, khoản 2 Điều 161 Bộ luật thương mại; Điều 728 BLDS; khoản 1 mục 3 Điều 262 Luật CTCP; khoản 1 mục 4 Điều 60 Luật CTTNHH.

14 Đấy là các ngoại lệ quy định tại Điều 892, 893 BLDS, các điều 16,17 Luật về các quyền đối với tàu biển có đăng ký và các điều 16, 17 Luật về quyền đối với máy bay.

15 So sánh Điều 728 BLDS.

16 So sánh các điều 878, 892, 893 BLDS,khoản 3 , các điều 16, 17 Luật về đăng ký tàu biển; khoản 3 Điều 5, các điều 16,17 Luật về các quyền đối với máy bay và khoản 3 Điều 20 của Nghị định về phân chia quyền hàng hải.

17 So sánh Stefan Smid, Grundzuege des Insolvenzrechts, Muenchen 2002, § 18Rn. 1.

18 So sánh các điều 850, 850a, 850c, 850e, 850f khoản 1, các điều từ 850g-850i BLTTDS.

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ 6/2004

VÀI NÉT VỀ CÁC LOẠI HÌNH CÔNG TY THEO LUẬT CÔNG TY CỦA ÚC

THS. BÙI XUĀN HẢI   –  ĐH Luật TP. Hồ Chí Minh, NCS ĐH La Trobe Úc

1. Luật công ty (company law) của Úc, một quốc gia theo truyền thống thông luật, được hiểu là hệ thống các qui tắc pháp lý điều chỉnh về: (1) việc thành lập, chấm dứt hoạt động của các công ty và địa vị pháp lý của chúng; (2) mối quan hệ giữa các chủ thể -thành viên, người quản lý điều hành – trong công ty với nhau và giữa chúng với công ty; (3) một số vấn đề pháp lý của mối quan hệ giữa công ty với các đối tác bên ngoài công ty như khách hàng, chủ nợ…1. Luật công ty của Úc gồm có hai nguồn cơ bản là: (1) các văn bản pháp luật (legislations), trong đó có đạo luật công ty (the Corporations Act 2001) và các qui định về công ty (the Corporations Regulations) 2…vv; và (2) các án lệ (case law)- nguồn luật đặc trưng của các quốc gia theo truyền thống common law. Do các yếu tố lịch sử, các án lệ được coi là nguồn luật của luật công ty Úc không chỉ là án lệ của các Tòa án Úc mà còn bao gồm cả các án lệ của Tòa án nước Anh. Tuy nhiên, Đạo luật công ty

(Corporations Act 2001) được coi là có vị trí đặc biệt quan trọng, là xương sống của luật công ty Úc hiện nay.

2. Về các loại hình công ty

Việc phân loại các công ty theo luật công ty Úc chỉ có ý nghĩa chủ yếu trong việc xác định trách nhiệm của các thành viên công ty và vấn đề có hay không việc công ty huy động vốn từ công chúng qua việc phát hành cổ phiếu. Ngoài những vấn đề kể trên, hầu hết các qui định của luật thành văn (statutory law) và luật án lệ (case law) đều được áp dụng chung cho tất cả các loại hình công ty.

Theo Điều 112 (1) của Đạo luật công ty 2001, các nhà đầu tư có quyền đăng ký thành lập công ty tại Úc theo các hình thức dưới đây:

1. Công ty sở hữu chủ (proprietary company) 3. Loại công ty này gồm có hai hình thức: Công ty trách nhiệm hữu hạn (bởi) cổ phiếu (company limited by shares) và công ty trách nhiệm vô hạn (unlimited company with shares capital)

2. Công ty công cộng (public company). Loại công ty này gồm có bốn hình thức sau đây: (1) Công ty trách nhiệm hữu hạn (bởi) cổ phiếu (company limited by shares), (2) công ty trách nhiệm hữu hạn (bởi sự) bảo đảm (company limited by guarantee), (3) công ty trách nhiệm vô hạn (unlimited company with shares capital), và (4) công ty không trách nhiệm (no liability company).

2.1. Công ty công cộng và công ty sở hữu chủ

Theo luật Úc, các công ty đều được công nhận là pháp nhân (a separate legal entity), chỉ cần có ít nhất là một thành viên (có thể là thể nhân hoặc pháp nhân) và chúng phải đăng ký dưới hình thức là công ty công cộng hoặc công ty sở hữu chủ. Đạo luật công ty 2001 tuy có qui định cụ thể về các dấu hiệu pháp lý của công ty sở hữu chủ (Điều 113), nhưng không cần có các qui định trực tiếp về dấu hiệu của công ty công cộng. Theo Điều 113 (2) thì công ty sở hữu chủ không được có nhiều hơn 50 thành viên không phải là người lao động của công ty (non-employee shareholders), trong khi đó, các công ty công cộng thì không bị hạn chế số lượng thành viên. Trong thực tế, hầu hết các công ty sở hữu chủ được cơ quan thuế Úc (Australia Taxation Office) xếp vào loại kinh doanh nhỏ (small business), chúng có số lượng thành viên ít và họ thường có mối quan hệ gia đình với nhau. Về bộ máy quản lý Điều hành, nếu như công ty sở hữu chủ chỉ cần phải có ít nhất một giám đốc (director) và không bắt buộc phải có thư ký công ty (secretary), thì các công ty công cộng phải có ít nhất ba giám đốc và ít nhất một thư ký công ty 4. Hơn nữa, chỉ có công ty công cộng mới có quyền huy động vốn bằng việc phát hành cổ phiếu ra công chúng, và vì thế chúng phải tuân thủ thêm một số các qui định của pháp luật công ty và chứng khoán nhằm mục đích bảo vệ các cổ đông công chúng cũng như hoạt động lành mạnh của thị trường chứng khoán. Tuy nhiên, cũng giống như các công ty cổ phần ở Việt nam, không phải tất cả các công ty công cộng của Úc đều có cổ phiếu niêm yết ở thị trường chứng khoán. Đến giữa năm 2003, trong tổng số trên 20 ngàn công ty công cộng, chỉ có khoảng 1400 công ty niêm yết cổ phiếu của mình tại thị trường chứng khoán mà thôi 5.

Do khác nhau về bản chất cho nên mức độ điều chỉnh của pháp luật đối với các công ty sở hữu chủ được giảm nhẹ đi rất nhiều so với các công ty công cộng. Chẳng hạn, khác với công ty công cộng, các công ty sở hữu chủ thường không phải nộp báo cáo tài chính hàng năm, có thể không cần triệu tập họp đại hội đồng cổ đông thường niên, không cần phải mở cửa văn phòng công ty hàng ngày, bộ máy quản lý điều hành đơn giản hơn… Với các lợi thế của mình, mô hình công ty sở hữu chủ được coi là rất thích hợp cho qui mô kinh doanh vừa và nhỏ. Vì vậy, có tới 97% trong tổng số gần 1,3 triệu công ty (thời điểm giữa năm 2003) ở quốc gia chỉ có khoảng 20 triệu dân này là các công ty sở hữu chủ 6.

2.3. Bốn loại hình công ty theo chế độ trách nhiệm của thành viên

Việc phân loại công ty theo chế độ trách nhiệm của các thành viên cũng đã được thể hiện trong Điều 112 (1) của Đạo luật công ty 2001. Cho dù là công ty công cộng hay công ty sở hữu chủ thì tất cả đều phải đăng ký dưới một trong bốn hình thức công ty dưới đây (tuy nhiên nếu là công ty sở hữu chủ thì chỉ có thể là công ty TNHH (bởi) cổ phiếu hoặc công ty trách nhiệm vô hạn):

1. Công ty trách nhiệm hữu hạn (bởi) cổ phiếu (company limited by shares)

2. Công ty trách nhiệm hữu hạn (bởi sự) bảo đảm (company limited by guarantee),

3. Công ty trách nhiệm vô hạn (unlimited company with shares capital),

4. Công ty không trách nhiệm (no-liability company)7.

a. Công ty trách nhiệm hữu hạn (bởi) cổ phiếu (company limited by shares)

Có thể khẳng định chắc chắn rằng, đây là loại hình công ty có vị trí tuyệt đối trong nền kinh tế Úc (với số lượng trên 1, 2 triệu, chiếm tới khoảng 98% tổng số các công ty). Công ty TNHH bởi cổ phiếu có thể đăng ký dưới hình thức là công ty công cộng hay công ty sở hữu chủ, chúng phải có vốn cổ phần, cổ phiếu của công ty được coi là tài sản riêng của mỗi thành viên và chúng được tự do chuyển nhượng. Theo qui định tại Điều 9 và Điều 516 của Đạo luật công ty 2001 thì công ty TNHH bởi cổ phiếu là công ty được thành lập trên nguyên tắc trách nhiệm của các thành viên là có giới hạn chỉ trong phạm vi số vốn chưa góp (nếu có) trên các cổ phiếu mà họ nắm giữ 8. Khi công ty bị mất khả năng thanh toán, các thành viên của công ty không có nghĩa vụ dùng tài sản riêng của mình để trả các khoản nợ của công ty.

b. Công ty trách nhiệm hữu hạn (bởi sự) bảo đảm (company limited by guarantee),

Mô hình công ty này đã tồn tại khá lâu ở Anh, Úc và cả ở Malaysia, Hongkong 9. Tuy nhiên, các công ty loại này chỉ chiếm khoảng 1% tổng số các công ty ở Úc. Trước đây, Úc cho đăng ký cả loại hình công ty TNHH bởi sự bảo đảm và cổ phiếu (companies limited both by shares and by guarantee), nhưng theo Đạo luật công ty 2001 thì chúng đã không còn được cho đăng ký thành lập nữa. Khác với công ty TNHH bởi cổ phiếu, công ty TNHH bởi sự bảo đảm không có vốn cổ phần (share capital) và chỉ có thể đăng ký dưới hình thức công ty công cộng chứ không thể là công ty sở hữu chủ. Vì thế, cho dù có qui mô nhỏ, loại công ty này vẫn không được hưỡng sự ưu ái “giảm nhẹ” nghĩa vụ mà pháp luật dành cho các công ty sở hữu chủ trong sự so sánh với nghĩa vụ của các công ty công cộng.

Theo Điều 9 của Đạo luật công ty 2001, công ty TNHH bởi sự bảo đảm là công ty được thành lập trên nguyên tắc trách nhiệm của các thành viên là hữu hạn trong phạm vi số vốn mà thành viên đó đã cam kết đóng góp vào tài sản của công ty khi công ty bị thanh lý (chấm dứt hoạt động). Khác với công ty TNHH bởi cổ phiếu, các thành viên của công ty TNHH bởi sự bảo đảm không phải đóng góp vốn ngay khi công ty được thành lập và cả trong quá trình công ty đang hoạt động, cho nên công ty này không có vốn cổ phần và do vậy, rất khó khăn trong việc huy động vốn từ đó nó bị hạn chế tham gia các hoạt động kinh doanh. Chính vì lẽ đó, loại công ty này được cho là không thích hợp cho hoạt động kinh doanh, đặc biệt là kinh doanh thương mại; song, chúng thích hợp cho các mục tiêu phi lợi nhuận như các trường học hay câu lạc bộ, các hội từ thiện, … mà chủ yếu hoạt động bằng nguồn vốn từ bên ngoài bởi sự đóng góp của các hoạt động mang tính xã hội10.

Khác với công ty TNHH bởi cổ phiếu, thành viên của công ty này chỉ có nghĩa vụ đóng góp tài sản (vốn) khi mà công ty bị thanh lý, chấm dứt hoạt động (winding up), tuy nhiên nghĩa vụ đóng góp của mỗi thành viên cũng chỉ là hữu hạn trong phạm vi mà họ đã cam kết bảo đảm (guarantee) mà thôi11. Bởi thế cho nên, khi công ty TNHH bởi sự bảo đảm không có khả năng trả nợ, nếu muốn thu hồi nợ, các chủ nợ của công ty cần phải làm thủ tục để yêu cầu thanh lý công ty, bởi vì chỉ bằng cách thanh lý công ty các thành viên của loại công ty này mới bị bắt buộc phải góp vốn (tài sản) cho dù chỉ là hữu hạn trong phạm vi mà họ đã cam kết vào tài sản của công ty.

c. Công ty trách nhiệm vô hạn (unlimited company with share capital)

Chỉ có khoảng vài trăm công ty loại này ở Úc, chúng được thành lập trên nguyên tắc trách nhiệm của các thành viên là vô hạn đối với các nghĩa vụ của công ty12. Trước năm 1998, Úc cho đăng ký thành lập đối với cả các công ty trách nhiệm vô hạn không có vốn cổ phần, nhưng sau đó nước này chỉ cho đăng ký loại công ty này nếu chúng có vốn cổ phần (share capital) mà thôi. Công ty trách nhiệm vô hạn có thể đăng ký dưới hình thức công ty sở hữu chủ hoặc công ty công cộng.

Theo Luật công ty Úc, mặc dù tất cả các công ty đều được coi là pháp nhân, nhưng điều đó không có nghĩa là các nghĩa vụ của pháp nhân chỉ được thanh toán bằng tài sản riêng của chính nó, cũng không có nghĩa là các thành viên của pháp nhân đều được hưởng chế độ trách nhiệm hữu hạn. Thế nhưng, cần phải hiểu rằng, theo luật công ty Úc, chế độ trách nhiệm vô hạn của thành viên công ty phải được hiểu là đối với công ty chứ không phải đối với các chủ nợ của công ty. Vì thế các chủ nợ của loại công ty này không có quyền trực tiếp khởi kiện đòi các thành viên phải thanh toán số nợ mà công ty của họ không trả được trong khi công ty đó còn đang hoạt động. Do vậy, để thu hồi nợ các chủ nợ của công ty sẽ phải tiến hành thủ tục đòi thanh lý công ty, khi tiến hành thanh lý công ty thì các nguyên tắc pháp lý về trách nhiệm vô hạn của thành viên sẽ được áp dụng, nếu

tài sản của công ty không đủ đáp ứng việc thanh toán cho các chủ nợ, thì mỗi thành viên công ty sẽ phải chịu trách nhiệm không có giới hạn về các nghĩa vụ của công ty 13. Đặc điểm này tương đối giống với chế độ trách nhiệm vô hạn của các thành viên trong hợp danh, tuy nhiên, hợp danh theo pháp luật của các bang ở Úc có một số điểm bất lợi hơn trong kinh doanh so với mô hình công ty trách nhiệm vô hạn.

Với chế độ trách nhiệm vô hạn của thành viên như thế, loại công ty này được cho là không thích hợp cho hoạt động kinh doanh thương mại và hoạt động kinh doanh có qui mô lớn. Một số lĩnh vực hoạt động kinh doanh mang tính nghề nghiệp đặc thù mà pháp luật yêu cầu các thành viên phải chịu trách nhiệm vô hạn, người ta thường thành lập công ty trách nhiệm vô hạn hơn là kinh doanh theo hình thức hợp danh bởi vì họ muốn có được những lợi ích của mô hình công ty như về tư cách pháp nhân, thuế, huy động vốn … trong sự so sánh với hợp danh 14

d. Công ty không trách nhiệm (No liability company)

Đây là mô hình công ty khá đặc biệt, nó được công nhận lần đầu tiên tại bang Victoria vào năm 1871 và gắn liền với sự phát triển của lĩnh vực công nghiệp khai thác mỏ ở Úc. Nói đến công ty không trách nhiệm, người Úc biết ngay đến lĩnh vực kinh doanh của nó là ngành khai thác mỏ. Theo qui định tại Điều 112 (2), Đạo luật công ty 2001, một công ty được đăng ký dưới hình thức công ty không trách nhiệm nếu như: (1)

nó có vốn cổ phần; (2) Điều lệ của công ty khẳng định rằng đối tượng duy nhất của nó là mục đích khai thác mỏ (mining purposes)15, và (3) Điều lệ của công ty không có qui định về việc công ty có quyền đòi hỏi các cổ đông phải góp đủ tiền trên các cổ phiếu mà họ chưa nộp đủ.

Để cảnh báo công chúng, pháp luật qui định ở phần cuối của tên công ty phải ghi rõ chữ no liability hay NL. Luật công ty Úc qui định loại hình công ty không trách nhiệm chỉ có thể đăng ký dưới hình thức công ty công cộng chứ không thể là công ty sở hữu chủ. Chế độ trách nhiệm của thành viên công ty không trách nhiệm chủ yếu thể hiện qua việc góp vốn cổ phần, phân chia giá trị còn lại của công ty và giới hạn trách nhiệm đối với các nghĩa vụ của công ty. Khác với các loại hình công ty đã nói ở trên, sự chấp nhận góp vốn vào công ty này không tạo nên quan hệ hợp đồng giữa người cam kết góp vốn và công ty trong việc đóng góp số vốn đó hay chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ khác của công ty (Điều 254M(2) Đạo luật công ty).

Thành viên công ty không có nghĩa vụ pháp lý phải thanh toán (góp) vốn cổ phần trên cổ phiếu của họ theo yêu cầu của công ty ngay cả khi công ty đang hoạt động và kể cả khi công ty bị thanh lý. Tuy nhiên, trong thời gian mà thành viên chưa nộp đủ tiền cổ phiếu, họ sẽ không có quyền được hưởng cổ tức và nếu yêu cầu góp vốn không được thực hiện trong một thời hạn nhất định thì các cổ phiếu đó sẽ bị mất quyền, khi đó công ty có thể tổ chức bán đấu giá công khai số cổ phiếu này trong thời hạn sáu tuần kể từ khi cổ phiếu đến thời hạn được thanh toán (Điều 254Q(2) ). Tuy vậy, luật vẫn cho phép người có cổ phiếu bị mất quyền được nộp tiền để chuộc lại số cổ phiếu đó bao gồm tiền cổ phiếu và các chi phí khác liên quan (Điều 254R(1)). Nếu thành viên công ty không kịp thời thanh tóan đủ tiền thì họ sẽ bị mất các lợi ích có được của các cổ phiếu đó.

Khi công ty không trách nhiệm chấm dứt hoạt động, gía trị còn lại sau khi thanh toán xong các khoản nợ của công ty sẽ được phân chia cho các cổ đông theo số lượng cổ phiếu mà họ đang nắm giữ mà không quan tâm đến số tiền mà họ đã thanh toán trên cổ phiếu, tuy nhiên những cổ phiếu mà chưa được cổ đông thanh toán đủ (nhưng chưa bị mất quyền) sẽ chưa được phân chia cho đến khi nào họ thanh toán đủ số tiền còn chưa đóng đủ (Điều 254 B (2)).

Mặc dù nhà đầu tư phải lựa chọn để đăng ký thành lập một trong số các loại công ty nói trên, nhưng trong quá trình hoạt động các công ty đều có thể làm thủ tục chuyển đổi loại hình khá dễ dàng, chẳng hạn từ một công ty sở hữu chủ thành công ty công cộng và ngược lại, cũng như từ một công ty trách nhiệm vô hạn sang công ty có chế độ TNHH (Điều 162). Tuy nhiên, các công ty chuyển đổi phải đáp ứng một số điều kiện nhất định và làm thủ tục đăng ký với văn phòng của Ủy ban chứng khoán và đđầu tư Úc (ASIC) (Điều 164). Bên cạnh sự chuyển đổi tự nguyện như trên, luật công ty Úc cũng có qui định  về việc ASIC có quyền yêu cầu một công ty sở hữu chủ buộc phải chuyển đổi thành công ty công cộng (và sau đó ASIC có thể tự quyết định việc chuyển đổi nếu công ty bị yêu cầu không thực hiện trong một thời hạn nhất định) nếu nó không còn thỏa mãn các dấu hiệu bắt buộc của một công ty sở hữu chủ theo Điều 113 của đạo luật công ty.16

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Xem H. Pamela, R. Ian & S. Geof. Commercial Applicatoin of Company Law, 5th ed, CCH Australia Limiter, Sydney, 2004, Sđd., tr. 23.

2 H. Pamela, R. Ian & S. Geof, Sđd , tr. 26, 35.

3 Theo Từ điển pháp luật – Black’s Law Dictionary, do West Group xuất bản năm 2001 (tr. 565) và Oxford Advanced Learner’s Dictionary xuất bản 2000 (tr. 1017) thì có thể tạm dịch là công ty sở hữu chủ. Tuy nhiên proprietary company cũng tương đồng với private company của Anh hay close corporation trong pháp luật Hoa Kỳ. Các công ty sở hữu chủ ở Úc cũng được luật công ty chia thành hai loại: loại lớn (large proprietary company) và loại nhỏ (small proprietary company); nếu là công ty loại lớn thì sẽ phải thực hiện nhiều hơn một số nghĩa vụ so với công ty loại nhỏ (chủ yếu là về báo cáo tài chính và kiểm toán).

4 Luật công ty Úc qui định các công ty có nhiều giám đốc (directors) và vai trò của mỗi giám đốc có thể khác nhau. Thư ký công ty (secretary) không có trong thực tiễn cũng như trong luật thực định của Việt Nam. Tuy nhiên cần phải hiểu rằng, thư ký công ty khác hoàn toàn với thư ký Giám đốc (Tổng giám đốc) có thể có trong các công ty ở nước ta.

5 H. Pamela, R. Ian & S. Geof, Sđd , tr. 7 & 92.

6 Số liệu của Ủy ban chứng khoán và đầu tư Australia (Uc Securities and Investments Commission) Annual Report 2002-2003,tr . 66. Đây chỉ là số liệu thống kê các công ty, không bao gồm các chủ thể kinh doanh khác như kinh doanh cá thể (sole trader), hợp danh (partnership), liên doanh (joint venture), …vv. Trong khi đó, nước ta với dân số khoảng 82 triệu, mặc dù đã có sự tăng lên rất nhanh từ khi có Luật doanh nghiệp, số lượng các doanh nghiệp của Việt nam cũng chỉ khoảng 150 ngàn đã phần nào phản ánh mức độ phát triển của nền kinh tế thị trường ở mỗi nước.

7 Ba loại công ty đầu tiên cũng là những loại hình công ty được công nhận ở trong luật công ty của nhiều nước như: Anh, Hongkong, Malaysia. Xem thêm: L.D. Paul. Gower and Davies’ Principles of Modern Company Law (7th ed), Thomson, Sweet & Maxwell, London, 2003, pp.7-9, 16; và K. Arjunan & Low. C.K. Lipton & Herzberg Understanding Company Law in Malaysia, LBC Information Services, Sydney, 1995, pp. 30-42; và K. Arjunan & Low. C.K. Lipton & Herzberg Understanding Company Law in Hongkong, LBC Information Services, Sydney, 1996, tr .29-36.

8 Australia Corporations And Securities Legislation- Vol 1, CCH Sydney, 2004.

9 H. Pamela, R. Ian & S. Geof, Sđd, tr. 92.

10 Xem L. Phillip & H. Abe, Understanding Company Law, Lawbook Co, Sydney,2004, tr. 65-66

11 Điều 517, Đạo luật công ty 2001.

12 Điều 9, Đạo luật công ty 2001.

13 L. Paul, Sđd, tr. 667.

14 S. Brendan & O. Jennifer. Law In Commerce, Butterworths, Sydney, 2001, p. 300 and L. Phillip & H. Abe, Sđd, tr. 66.

15 Mining purposes đã được định nghĩa khá cụ thể tại Điều 9 của Đạo luật công ty 2001.

16 Xem thêm điều 165 đạo luật công ty 2001.

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ 6/2004

TƯ HỮU HÓA THEO CÁCH NGA VÀ BÀI HỌC CHO CHÚNG TA

NGUYỄN VĂN MINH

Gần đây nói tới việc đẩy nhanh quá trình tư nhân hóa, giảm tỉ trọng cổ phần của nhà nước trong các doanh nghiệp cổ phần. Vì vậy việc tìm hiểu kinh nghiệm tư hữu hóa (THH) của nước Nga là một việc hết sức cần thiết và có ý nghĩa thiết thực.

Trước hết, cần phải nói ngay, THH và cổ phần hóa là hai khái niệm khác nhau. Cổ phần hóa là quá trình chuyển đổi cơ cấu quản trị: từ doanh nghiệp nhà nước sang doanh nghiệp cổ phần. Còn THH là quá trình chuyển đổi sở hữu: từ sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể sang sở hữu tư nhân. Như vậy, cổ phần hóa và THH sẽ có điểm gặp nhau khi quá trình thay đổi cơ cấu quản trị làm chuyển đổi cơ cấu sở hữu từ nhà nước sang tư nhân. Hiện nay, quá trình tư nhân hóa ở nước ta chưa diễn ra mạnh mẽ, nhưng đây sẽ là một làn sóng tất yếu trong tương lai không xa. Vì không cần chứng minh thì ai cũng biết sở hữu tư nhân là động lực cơ bản để phát triển kinh tế thị trường.

Tư hữu hóa ở Nga
Nhận thức rõ điều này, Chính phủ Nga ngay trong giai đoạn đầu cải cách 1990-1994 đã xem THH là một trong 4 nhiệm vụ cơ bản. Tuy nhiên, ngay từ đầu công cuộc THH ở Nga đã gây nhiều tranh cãi. Các nhà cải cách đứng trước hai lựa chọn. Một, sẽ tiến hành THH từ từ, từng bước, trao tài sản vào tay chủ sở hữu mới, thực sự sử dụng tài sản hiệu quả, với giá cao nhất có thể. Hai, tiến hành THH “chớp nhoáng”, nhanh chóng, phân phát không tài sản quốc hữu cho toàn dân. Dĩ nhiên, ai cũng hiểu cách làm thứ nhất sẽ mang lại cho quốc gia nhiều lợi ích hơn, nhưng nó lại đòi hỏi thời gian và một hệ thống chính trị ổn định. Cả hai thứ mà vào thời điểm đó (1990-1991) nước Nga non trẻ đều không có. Dưới nhiều áp lực về kinh tế, chính trị, thậm chí không ngoại trừ động cơ cá nhân và tác động mạnh mẽ của phương Tây, các nhà cải cách trẻ ở Nga đã quyết định lựa chọn phương án hai.
Kết quả là từ năm 1992-1994 trên toàn Nga đã có 125.514 doanh nghiệp nhà nước đăng ký THH, trong đó đã thực hiện chuyển đổi sở hữu được 88.814 doanh nghiệp. Nhà nước thu về 760 tỷ rúp (tương đương – 3.7 tỷ USD với giá cuối năm 1992) – một con số quá ít ỏi so với giá trị thực của tổng tài sản đã đưa ra chào bán. Sở hữu của nhà nước được chia nhỏ cho một nhóm người, tạo nên một giới kinh tế thượng lưu bao gồm các nhà tài phiệt và các ông trùm kinh tế “đen”. Có thể nhận thấy rõ điều này khi phân tích dữ liệu về thu nhập và tích luỹ xã hội. Theo đó 5% dân số thuộc tầng lớp giàu và rất giàu chiếm 73% tích luỹ toàn xã hội và 80% ngoại tệ lưu hành dưới dạng tiền mặt. Chênh lệch trong thu nhập giữa tầng lớp giàu – nghèo có lúc lên đến hàng nghìn lần (1360 lần theo số liệu năm 1997). Việc hóa giá các tài sản quốc gia, cố tình tạo quá trình phá sản ảo để giảm giá thành các nhà máy, tổ hợp kinh tế nhà nước đã trở thành bước đi quen thuộc của quá trình THH. Ví dụ: Tập đoàn khí đốt lớn nhất thế giới ROS “Gazprom” được định giá khoảng 300 tỷ rúp (tương đương 12 tỷ USD, trong khi giá của công ty Mỹ tương đương “Chevron Corp.” là 123 tỷ); ngân hàng tín dụng “Sberbank”, với hàng nghìn chi nhánh trên khắp nước Nga được đánh giá bằng 230 triệu USD, trong khi chi phí ngân hàng này bỏ ra để xây dựng trụ sở chính tại đường 60 năm Cách mạng tháng 10, Matxcơva (chỉ là một trong hàng nghìn trụ sở) đã vượt quá con số 300 triệu USD (!!!).
Điều đáng lưu ý là quá trình THH đã đưa đến kết cục: toàn bộ số lợi tức từ sử dụng tài nguyên thiên nhiên của Nga tập trung trong tay các nhà tài phiệt, các tập đoàn tài chính thân Chính phủ hoặc các tổ chức kinh tế “đen” – lực lượng này chiếm khoảng 7-10% dân số đất nước.

Bài học cho Việt Nam
Tất nhiên, hoàn cảnh kinh tế, chính trị của nước ta hôm nay khác nhiều so với nước Nga vào những năm 1990. Nhưng không phải vì thế mà chúng ta không học hỏi được gì từ những kinh nghiệm xương máu trong quá trình THH của nước Nga xa xôi. Những bài học đó là gì?
THH chỉ là công cụ chứ không thể là mục đích. THH trên con đường phát triển kinh tế thị trường, tự do hóa thương mại và hội nhập quốc tế là công việc tất yếu cần làm. Nhưng THH chỉ là một trong số nhiều công cụ để chúng ta tìm và tạo cho được các chủ sở hữu làm việc hiệu quả vì lợi ích cộng đồng. Việc chúng ta quên đi nhiệm vụ chính của quá trình THH là tìm cho được chủ sở hữu có đủ năng lực sử dụng tài sản quốc gia hiệu quả nhất là một sai lầm nghiêm trọng.
Muốn THH thành công cần thiết lập được một cơ chế định giá tài sản minh bạch và công khai. Việc hàng nghìn doanh nghiệp nhà nước của Nga đã được định giá thấp hơn hàng chục lần so với giá trị thực khi đem ra đấu giá là một minh chứng hùng hồn. Điều này đặc biệt quan trọng đối với hoàn cảnh kinh tế nước ta hiện nay. Các bạn chắc còn nhớ kết quả xếp hạng về chỉ số minh bạch của thị trường bất động sản (REIT-2006) do LaSalle Investment Management/Jones Lang LaSalle công bố cách đây không lâu. Theo đó, Việt Nam được xếp vào hàng thấp nhất của khu vực châu Á- Thái Bình Dương, đạt 4.69 điểm – thuộc loại không minh bạch (hạng dưới cùng của bảng xếp hạng). Mà bất động sản chỉ là một lĩnh vực trong vô số các lĩnh vực “nhạy cảm” khác còn chưa có điều kiện và khả năng để xếp hạng như: đầu tư, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm…
Tích lũy tư bản và trách nhiệm đối với lợi ích cộng đồng. Nếu chính phủ không hình thành được một cơ chế kiểm soát hữu hiệu thì có thể dễ dàng hình thành lên một lớp chủ sở hữu tư nhân mới, giàu có nhưng chỉ biết lo cho túi tiền của mình và hoàn toàn vô trách nhiệm (nếu không nói là quay lưng lại) với sự phát triển của cộng đồng. Điều này đặc biệt rất dễ xảy ra nếu một lúc nào đó chúng ta quyết định THH các doanh nghiệp khai thác tài nguyên thiên nhiên. Lợi tức có được từ khai thác khoáng sản sẽ không quay lại phục vụ cộng đồng mà thông thường sẽ được chuyển ra nằm im tích lũy ở các ngân hàng nước ngoài.
Chỉ giao tài sản vào tay những người chủ hiểu, quí trọng và biết cách ứng xử với tài sản. Mơ ước sau một đêm sẽ hình thành hơn 40 triệu chủ sở hữu của A. Chubaiz đã không thể thành hiện thực, bởi một lý do hết sức đơn giản. Làm chủ cũng là một nghề, mà là một nghề không đơn giản. Muốn làm chủ hiệu quả thì ngoài rất nhiều yếu tố cần thiết khác, người chủ trước hết phải biết quí trọng và hiểu được giá trị tài sản mà mình đang sở hữu. Và quan trọng hơn chính anh ta phải bỏ sức lao động ra để có được tài sản đó.
Quan hệ giữa nhóm lợi ích, giới quan chức và người dân. THH là một quá trình phức tạp, liên quan đến những tài sản khổng lồ. Lợi ích càng nhiều, nhóm lợi ích càng đa dạng và phong phú. Kết quả THH sẽ biến dạng hoàn toàn nếu các nhóm lợi ích cá nhân này phối hợp chặt chẽ, cùng chia sẻ quyền lợi với giới quan chức tham nhũng. Tài sản quốc gia sẽ dễ dàng trao không một cách đàng hoàng vào tay chủ sở hữu mới bất chấp lợi ích cộng đồng. Quá trình THH ở Nga đã diễn ra gần như thế và kết quả thế nào thì các bạn đã thấy. Và đây cũng là điều mà chúng ta lo ngại nhất. Nền kinh tế thiếu minh bạch, tham nhũng không thể đẩy lùi, vận động hành lang trục lợi ngấm ngầm nhưng mạnh mẽ… đó là những dấu hiệu của một môi trường không thuận lợi chút nào cho quá trình THH.
Có thể thấy, quá trình THH ở nước ta hiện nay đang đi theo một lộ trình khác hẳn với nước Nga. Nhưng như thế không có nghĩa là chúng ta sẽ không gặp phải những vấn đề như người Nga đã từng gặp.

SOURCE: TẠP CHÍ TIA SÁNG

ĐẤU GIÁ HÀ LAN – LỊCH SỬ VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ỨNG DỤNG

Đấu giá là quá trình mua và bán hàng hóa bằng cách đưa các mức giá cao dần, nhận giá đặt và bán cho bên nào có giá đặt tốt nhất. Trong lý thuyết kinh tế, đấu giá là phương pháp xác định giá trị của một hàng hóa có mức giá không thể xác định hoặc biến đổi quá nhiều. Bán đấu giá được thực hiện công khai.
Những hình thức đấu giá đầu tiên có thể tính về những năm 500 B.C. Cuộc đấu giá có thể là đấu giá đặt trước có hoặc không có mức tối thiểu, đấu giá tuyệt đối,… Chẳng hạn trong đấu giá đặt trước, sẽ có lệnh tối thiểu hoặc giá đặt trước, nếu quá trình đặt giá không đạt đến mức tối thiểu đó, sẽ không có giao dịch (nhưng người muốn đưa sản phẩm/hàng hóa ra đấu giá sẽ phải trả phí cho bên tổ chức). Trong đấu giá tuyệt đối hoặc đấu giá không đặt trước, việc bán là chắc chắn, chỉ có duy nhất ở mức giá nào là cần xác định qua đấu giá.

auction1.jpgỞ Hà Lan, đấu giá có một truyền thống lâu đời. Bắt đầu từ thế kỷ thứ 15, những nhà cầm quyền địa phương, quyền của các lãnh chúa như quyền đánh bắt cá, đã được phân xử theo hình thức đấu giá. Phiên đấu giá hàng hóa đầu tiên được tổ chức dành cho các loại hàng hóa nhanh hỏng, có thời gian tồn tại ngắn, cần được lưu thông ngay, tuy nhiên giá của chúng rất khó được thiết lập. Từ giữa thế kỷ thứ 15, hầu hết các cuộc đấu giá được thực hiện tại các chợ cá. Các tác phẩm nghệ thuật hoặc các hàng hóa cao cấp chỉ được bắt đầu được bán đấu giá từ thế kỷ 17.
Trong xã hội của Hà Lan, đấu giá đã trở nên rất phổ biến. Gần như tất cả mọi thứ đều được bán theo phương thức đấu giá: cá voi được bắt từ biển, lâu đài, biệt thự, các thiết bị, máy móc, các bộ phận của một con tàu, chiến lợi phẩm từ chiến tranh, các trang trại của các ông chủ trang trại bị vỡ nợ, các vật bị cầm cố quá hạn, củ hoa Tulip, hay các vật liệu có nguồn gốc từ động vật, đến các loại hàng hóa cao cấp như các sáng tác văn chương hay các tác phẩm hội họa. Thật ấn tượng khi chúng ta liệt kê được một danh mục các loại hàng hóa mà người Hà Lan đem đi đấu giá. Chỉ cần xem qua một tờ báo địa phương của Hà Lan, mỗi ngày có nhiều rất nhiều thành phố ngoài bốn thành phố lớn của Hà Lan là Amsterdam, The Hague, Leyden và Rotterdam tổ chức vài cuộc đấu giá.Vào năm 1720, xuất khẩu của Hà Lan tăng lên 10%, mà trong đó đấu giá chiếm một tỷ lệ rất lớn. Về cơ bản, các mặt hàng như cá, rượu, đường, gỗ, đã tăng lên rõ rệt. Nguyên nhân chính của việc đấu giá trở nên phổ biến chính là lý thuyết của Ricard đã được công nhận vào đầu thế kỷ 18.
Khi bắt đầu, các cuộc đấu giá có thủ tục rất phức tạp. Thông thường khi nhắc tới một cuộc đấu giá, người ta thường nghĩ ngay tới một số lượng người đặt giá (bidders) cạnh tranh nhau và tăng giá tới mức khi một người thắng và kết thúc với việc trả giá cao nhất cho món hàng được đem ra đấu giá. Hình thức này còn được gọi là đấu giá tăng dần hay đấu giá mức một. Đấu giá mức thứ 1, đấu giá giảm dần, người thắng cuộc sẽ là người trả giá cao nhất (ngày nay được biết đến là đấu giá kiểu Anh) là một hình thức đấu giá dường như phổ biến nhất.
Đấu giá giảm dần (hay còn được gọi là “mineing”, đấu giá mức hai), trong đó người thằng cuộc là người khẳng định hàng hóa đang được đấu giá là của mình, hình thức này thường được sử dụng phổ biến để bán cá, cũng như các loại mặt hàng khác. Đấu giá giảm dần đã và đang tiếp tục được xem như một hiện tượng đặc trưng của Hà Lan và hình thức đấu giá này đã được người Hà Lan giới thiệu rộng rãi. Ở Amsterdam, vào giữa thế kỷ thứ 17, loại đấu giá mức hai này mới được sử dụng để bán các hàng hóa như: tàu, gỗ, cá…
Khái niệm về đấu giá Hà Lan:
bid.jpgĐấu giá Hà Lan là một hình thức đấu giá mà trong cuộc đấu giá này, một món hàng được chào với một mức giá rất cao. Giá ban đầu được đưa ra này cao hơn rất nhiều giá trị món hàng và chẳng có người bán nào hy vọng bán được món hàng với giá cao như vậy. Vì bidders biết số lượng của lệnh đặt giá (bids), bids không được đóng dấu như trong các hình thức đấu giá khác.Giá được giảm xuống từ từ cho đến khi một bidder quyết định cái giá hiện tại đó. Bidders sẽ trả cái giá đó và trở thành người thắng cuộc.
Ví dụ: Một công ty tiến hành bán một chiếc xe công đã dùng theo hình thức đấu giá Hà Lan, giá ban đầu được ra là 15000 USD, bidders sẽ đợi đến khi giá giảm dần xuống tới 14000 USD, 13000 USD… 9000USD. Khi mà sự ra giá đạt tới 9000 USD mà có một bidder nào đó quyết định mua và ông ta là người đầu tiên làm thế thì ông ta thắng cuộc.
Đấu giá Hà Lan (Dutch Auction) có thể được biết đến trên thế giới với các tên như:

  • Đấu giá giảm dần (descending- price auction)
  • Dutch Tulip Auction: đấu giá Hà Lan thường được sử dụng để bán các loại hoa ở Hà Lan mà đặc biệt là hoa Tulip.
  • Tulip Auction
  • Vickrey Auction: William Vickrey là nhà kinh tế nhận được giải Nobel kinh tế năm 1996, ông đã phát minh ra Vickrey Auction, nó cũng được coi là một dạng của đấu giá Hà Lan.

Quy trình một cuộc đấu giá Hà Lan:

Đấu giá Hà Lan thường được tổ chức bởi các nhà tổ chức đấu giá lớn và có nhiều kinh nghiệm.

  • Thông thường cuộc đấu giá thường được thông báo cho bidders. Họ sẽ tiến hành trưng bày các hàng hóa được đấu giá để những người tham gia đấu giá có cơ hội xem xét các hàng hóa mà họ sẽ mua. Trước mỗi cuộc đấu giá, người tổ chức sẽ công bố số lượng gói hàng đem bán, giá trị bán lẻ, giá cược thế chấp, độ giảm giá cược, và thời gian đóng cửa đấu giá.
  • Bằng việc đặt cược giá, bạn đồng ý rằng bạn có thể và dự định mua.
  • Đầu tiên, hàng hóa được chia nhỏ thành các. Ví dụ: Auctioners muốn bán 5 thùng hoa Tulip với một mức giá X, và người mua đầu tiên chỉ mua 3 thùng.
  • Trong cuộc đấu giá, giá mở đầu thường được đưa ra rất cao. Mức giá này thường không có người nào mua nổi.Tiếp theo mức giá này được giảm dần với một mức định trước. Mức định trước này có thể hiều là một mức giảm định trước, một mức thời gian định trước, tùy theo cuộc đấu giá khác nhau mà các mức quy định này khác nhau. Auctioners đưa ra giá và chờ người nào đó đồng ý. Nếu không có ai đồng ý thì anh ta sẽ giảm giá theo mức đã định và hỏi lại các bidders. Mức giá cứ giảm dần cho đến khi một người mua xác nhận sản phẩm là của ông ta bằng cách kêu lên “mine”, hoặc ấn một cái nút để dừng một cái đồng hồ tự động đang chạy. Nếu bidder là người đầu tiên ra quyết định thì anh ta là người thắng cuộc. Người mua phải trả mức giá mà anh ta quyết định với một lượng hàng xác định. Cuộc đấu giá sẽ tiếp tục nếu vẫn còn hàng hóa cùng loại. Bidders còn lại tiếp tục tham gia đấu giá. Kết quả của quá trình đấu giá này, hàng hóa sẽ được bán với các mức giá khác nhau, các bidders khác nhau, và số lượng khác nhau, mà người đầu tiên quyết định giá sẽ là người trả giá cao nhất và người thắng cuộc cuối cùng là người trả giá thấp nhất. Ví dụ: Công ty trên không phải bán 1 ôtô mà là 3 chiếc ôtô đã dùng. Bidder A là người quyết định mua đầu tiên với mức giá là 9000 USD, tuy nhiên anh ta chỉ mua một chiếc ôtô, điều đó có nghĩa là phiên đấu giá chưa kết thúc. Bidder B có thể chờ mứ c giá giảm xuống 8000 USD thì ông ta mới ra quyết định. Lúc này còn một chiếc xe và một bidder nào đó có thể chờ giá giảm xuống 7000 USD và ra quyết định. Như vậy, bidder A đã mua chiếc xe với giá là 9000 USD- cao nhất và Bidder C mua chiếc xe với giá thấp nhất 7000 USD. Lưu ý là những chiếc xe này tương tự nhau.
  • Thời gian diễn ra cuộc đấu giá rất ngắn, mọi người tham gia cuộc đấu giá thường im lặng để chờ đến mức giá mà họ có thể quyết định mua. Điều này hoàn toàn ngược lại với không khí cạnh tranh sôi nổi của đấu giá tăng dần.
  • Khi hàng hóa đã được đem ra đấu giá và được mua hết thì cuộc đấu giá kết thúc.

auction2.jpg

Đặc điểm của đấu giá Hà Lan:

  • Hàng hóa được bán theo hình thức này thường là các hàng hóa giống nhau, có số lượng lớn hoặc hàng hóa mau hỏng.
  • Đấu giá Hà Lan có điểm đặc biệt là có nhiều hơn một gói hàng được đem ra bán, và có thể có nhiều người chiến thắng

Ưu điểm của Đấu giá Hà Lan :

Theo quy trình của đấu giá Hà Lan có thể khiến chúng ta nghĩ rằng người bán có thể bị lỗ tiền, nhưng sự thực thì họ thường được nhiều tiền hơn kiểu đấu giá leo thang truyền thống. Với một cuộc đấu giá leo thang, bidders tăng giá nhưng hiếm khi họ đạt đến mức giá trị thực của hàng hóa. Họ không có lý do để phải hành động thật nhanh vì họ biết chính xác khi nào thì cuộc đấu giá kết thúc và họ thường đợi đến phút cuối và chỉ tăng giá một chút. Tuy nhiên trong đấu giá Hà Lan, bidders sẽ hành động thật nhanh vì họ không biết khi nào thì cuốc đấu giá kết thúc. Vì vậy dù giá đang giảm thay vì tăng giá, bidders sẽ kết thúc việc trả giá với giá thậm chí cao hơn giá trị món hàng.
Tính cạnh tranh trong đấu giá Hà Lan là cạnh tranh ngầm giữa bidders muốn sở hữu món hàng diễn ra rất mạnh mẽ. Mức giá càng giảm thì bidders càng muốn mua và tính cạnh tranh ngày càng tăng.
Nhược điểm của Đấu giá Hà Lan :

  • Vì tính chất đặc biệt của đấu giá Hà Lan nên các cuộc đấu giá rất khó tổ chức. Auctioner phải là những người có kinh nghiệm và chuyên nghiệp thì mới điều hành được phiên đấu giá.
  • Số lượng Bidders tham gia cuộc đấu giá thường bị hạn chế.

Trường hợp sử dụng:
Thông thường, đấu giá Hà Lan thường được sử dụng để bán các loại hàng hóa có giới hạn tồn tại có nghĩa là các loại hàng hóa nhanh hỏng. Bên cạnh đấu giá Hà Lan thường được sử dụng để bán hoa tại Hà Lan, còn được sử dụng để bán cá tại Anh và Isarel, thị trường tín dụng ở Rumani, trao đổi ngoại thương ở Bolivia, Jamaca, Zambia…
Đấu giá Hà Lan thường được áp dụng trong trường hợp một hàng hóa không được chấp nhận khi đưa ra một mức giá cao hoặc một hàng hóa muốn được bán đi thật nhanh.
Trong giai đoạn hiện nay , đấu giá Hà Lan còn được xem là kiểu đấu giá trực tuyến và trở nên khá thịnh hành trên các trang web như Ebay, Google…

Boddie © SAGA 12/2007 – http://www.saga.vn

QUAN ĐIỂM CỦA NHẬT BẢN VỀ LUẬT DÂN SỰ

NGUYỄN VĂN CƯƠNG  

LTS: Những quan niệm của Nhật Bản về luật dân sự được nêu ra trong bài viết này gợi mở một số những ý tởng cho thực tiễn và lý luận về luật dân sự ở nước ta hiện nay

Nhật Bản là quốc gia Châu Á sớm biết áp dụng mô hình kinh tế thị trường làm mẫu hình cho việc tổ chức và vận hành của nền kinh tế nước mình. Khi áp dụng mô hình kinh tế dựa trên thị trường, tất yếu pháp luật cũng phải được xây dựng và hoàn thiện để cho nền kinh tế nh vậy vận hành an toàn. Như một quy luật chung đối với các nước áp dụng mô hình kinh tế thị trường, trong hệ thống pháp luật Nhật Bản, pháp luật đảm bảo sự trao đổi, phân bổ các nguồn lực của xã hội thông qua các thị trường (tức là thông qua quan hệ mua bán, trao đổi) trong đó điển hình là pháp luật dân sự (sở hữu, hợp đồng) luôn

được coi là bộ phận chiếm vị trí quan trọng vào bậc nhất. Sớm nhận thức được vấn đề này, ngay từ cuối thế kỷ 19, Nhật Bản đã quan tâm tới việc xây dựng và hoàn thiện Bộ luật Dân sự của riêng mình. Kể từ thời điểm đầu tiên Bộ luật Dân sự Nhật Bản phát sinh hiệu lực (năm 1889), đã trải qua hơn 110 năm, luật dân sự của Nhật Bản đã được tôi luyện trong một nền kinh tế Nhật với bao thăng trầm, nhất là hàng loạt thay đổi có tính thần kỳ khiến cho nhiều chuẩn mực giá trị của luật dân sự đã được định hình và trở thành tài sản quý góp vào kho tàng pháp lý nhân loại. Đi kèm với quá trình đó là việc

Nhật Bản xây dựng được một nền tảng lý luận về pháp luật dân sự tơng đối hoàn thiện.Trong lý luận về luật dân sự, đáng chú ý phải kể đến hai nội dung có tính mấu chốt là (1) quan niệm về tính chất của luật dân sự và (2) về vị trí của các quy phạm pháp luật dân sự trong hệ thống pháp luật.

1. Về tính chất của luật dân sự

Do ảnh hởng của hai quốc gia có truyền thống luật dân sự thành văn tơng đối mạnh là Pháp và Đức, nguồn luật dân sự chủ yếu của Nhật Bản chính là các đạo luật thành văn, trong đó Bộ luật Dân sự là nền tảng. Trong giới lý luận và thực tiễn của Nhật Bản có quan điểm khá nhất quán coi luật dân sự là luật tư, tức là luật điều chỉnh giữa các chủ thể bình đẳng với nhau về địa vị pháp lý, không bên nào được áp đặt bên nào, không bên nào được đối xử bất bình đẳng với bên nào. Với cách quan niệm nh thế, khi nói tới vai trò, chức năng của luật dân sự, giới lý luận và thực tiễn hầu nh không coi nó là công cụ thể hiện quyền lực nhà nước do Nhà nước ban hành để quản lý giao dịch, đảm bảo trật tự xã hội mà thay vào đó, luật dân sự trở thành phơng sách, là công cụ, là phơng tiện do Nhà nước cung cấp cho các bên khi các bên không có thoả thuận khác hoặc mặc dù các bên có thoả thuận cha đầy đủ, chưa chi tiết do thiếu thời gian, nguồn lực phục vụ cho việc thoả thuận. Nh vậy, luật dân sự là công cụ mà Nhà nước dùng để phục vụ người dân, giới doanh nghiệp, phục vụ sự vận hành của nền kinh tế, của xã hội. Chính vì lý do này, yếu tố tiện lợi, đảm bảo cho các bên có chỗ dựa để tin cậy, hiểu biết, tôn trọng nhau nhằm đi đến giao dịch quan hệ với nhau trở thành phơng châm chủ đạo khi xây dựng các quy phạm của luật dân sự. Cũng do nhất quán với quan điểm này, khi xây dựng và hoàn thiện pháp luật dân sự của Nhật Bản, các luật gia và các nhà lập pháp cố gắng loại bỏ hầu nh toàn bộ các quy phạm mang tính chất hành chính, mệnh lệnh của Nhà nước, thủ tục hành chính, thủ túc kiểm soát của Nhà nước đối với giao dịch dân sự.

Trong Bộ luật Dân sự Nhật Bản, hầu nh không thấy bóng dáng của cơ quan nhà nước đối với các giao dịch dân sự. Đây là điểm rất khác biệt giữa Bộ luật Dân sự Nhật Bản và Bộ luật Dân sự Việt Nam.

2. Về vị trí của các quy phạm pháp luật dân sự trong hệ thống pháp luật

Tầm quan trọng của vấn đề

Theo giới lý luận của Nhật Bản, việc xác định vị trí của các quy phạm pháp luật dân sự trong hệ thống pháp luật không đơn thuần là câu chuyện của các nhà lý luận, không đơn thuần là vấn đề hàn lâm. Bởi lẽ mấu chốt của vấn đề ở đây chính là việc giải quyết mối quan hệ giữa Bộ luật Dân sự với các đạo luật chuyên ngành (nhất là Đạo luật thương mại). Việc giải quyết thoả đáng mối quan hệ này sẽ cung cấp một cơ sở khoa học cho việc thiết kế trật tự các quy phạm trong hệ thống pháp luật, tránh được sự trùng lặp trong việc điều chỉnh, đặc biệt là sự mâu thuẫn trong bản thân hệ thống pháp luật. Cũng cần lu ý là, khi tồn tại tình trạng một quan hệ pháp luật lại bị nhiều quy phạm pháp luật có nội dung khác nhau điều chỉnh, nhất là khi chúng lại tồn tại trong nhiều quy phạm pháp luật khác nhau của cùng hệ thống pháp luật sẽ khiến cho người dân, doanh nhân hoặc các chủ thể khi tham gia quan hệ không biết phải chọn lựa và tuân theo quy định nào. Điều này sẽ khiến cho người dân, giới doanh nhân và các chủ thể khác không an tâm khi tham gia vào các giao dịch dân sự và nh thế sẽ

ảnh hởng tới sự vận hành bình thường của nền kinh tế. Khi đó, luật dân sự sẽ không tạo ra được sự tiện lợi cho các bên khi tham gia giao dịch nh là mục đích cơ bản của nó cần hớng tới nữa mà luật dân sự đã tự phủ định ý nghĩa, vai trò của mình. Nh đã trình bày, đây là điều mà không một người dân và giới lý luận nào của Nhật Bản mong muốn.

Nguyên tắc xác định vị trí của các quy phạm pháp luật dân sự trong hệ thống pháp luật

Bằng kinh nghiệm lập pháp của mình trong lĩnh vực dân sự hơn 100 năm, Nhật Bản đã xây dựng và chấp nhận 3 nguyên tắc cơ bản để xác định vị trí của các quy phạm pháp luật dân sự, hay cụ thể hơn là vị trí của các đạo luật về dân sự (nhất là Bộ luật Dân sự) trong hệ thống pháp luật.

Nguyên tắc tôn trọng tầm hiệu lực pháp lý của văn bản

Điều này có nghĩa là, khi xảy ra tình trạng cùng một quan hệ dân sự, nhng lại có quy phạm của hai văn bản pháp luật trở lên điều chỉnh với nội dung khác nhau, thì quy phạm của văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lý cao hơn sẽ được u tiên áp dụng. Có thể nói, việc áp dụng nguyên tắc này là điều dễ hiểu bởi lẽ nếu không, hệ thống pháp luật sẽ bị phá vỡ tính thống nhất của mình và thêm vào đó, sẽ phá vỡ tính thống nhất trong quyền lực nhà nước, phá vỡ sự tập trung quyền lực vào chính quyền

trung ơng, khuyến khích sự cát cứ, phân đoạn thị trường, lãnh thổ.

Nguyên tắc ưu tiên áp dụng quy phạm theo thời điểm ban hành

Nội dung cơ bản của nguyên tắc này là khi cùng một quan hệ được điều chỉnh bởi hai quy phạm pháp luật có nội dung khác nhau ở trong hai văn bản pháp luật có tầm hiệu lực pháp lý ngang nhau thì ưu tiên áp dụng quy phạm được ban hành sau. Một nội dung quan trọng của nguyên tắc này chính là việc cấm áp dụng hiệu lực hồi tố. Chỉ trong những trường hợp rất hãn hữu, pháp luật Nhật Bản mới thừa nhận việc áp dụng hiệu lực hồi tố bởi lẽ việc áp dụng hiệu lực hồi tố sẽ khiến cho con người phải gánh chịu cả những hậu quả pháp lý do hành vi của mình gây nên khi mà người này không thể biết được, không thể lờng được khi cân nhắc, chọn lựa cách xử sự cho mình.

Nguyên tắc ưu tiên áp dụng quy phạm pháp luật chuyên ngành

Nguyên tắc này rất quan trọng và được áp dụng khi một quan hệ pháp luật được điều chỉnh bởi cả quy phạm của đạo luật chung và đạo luật chuyên ngành. Các quy phạm pháp luật dân sự được coi là các quy phạm của luật chung, Bộ luật Dân sự được coi là đạo luật chung, còn các quy phạm điều chỉnh các quan hệ giữa các chủ thể bình đẳng về địa vị pháp lý (các quan hệ của luật t) trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội có tính đặc thù nh thương mại, bảo hiểm, chứng khoán, ngân hàng, dịch vụ… được coi là các quy phạm của luật chuyên ngành. Để làm được điều này, vấn đề xác định đâu là luật chuyên ngành, đâu là luật chung trở nên rất có ý nghĩa. Pháp luật Nhật Bản coi đối tợng điều chỉnh của các đạo luật là tiêu chí để phân định một đạo luật là đạo luật chuyên ngành hay là đạo luật chung. Song về mặt kỹ thuật lập pháp, trong một đạo luật được coi là đạo luật chuyên ngành phải có một điều khoản quy định rõ ràng rằng đạo luật chuyên ngành sẽ được u tiên áp dụng so với đạo luật chung. Do Bộ luật Dân sự có đối tợng điều chỉnh là hầu hết các quan hệ lợi ích giữa các chủ thể bình đẳng nhau về địa vị pháp lý nên Bộ luật Dân sự được coi là một đạo luật chung. Các quy phạm trong Bộ luật Dân sự được coi là các quy phạm pháp luật chung. Còn Đạo luật thương mại hoặc các đạo luật khác về chứng khoán, ngân hàng, bảo hiểm… chỉ điều chỉnh một bộ phận với nhiều điểm đặc thù trong hệ thống các quan hệ xã hội giữa các chủ thể bình đẳng với nhau về địa vị pháp lý nên các đạo luật này được coi là các đạo luật chuyên ngành. Quy phạm pháp luật trong các đạo luật này được coi là các đạo luật chuyên ngành. Trong trường hợp có sự khác nhau trong việc điều chỉnh cùng một quan hệ quy phạm của các đạo luật chuyên ngành kể trên sẽ được u tiên áp dụng so với quy phạm tồn tại trong Bộ luật Dân sự.

Thứ tự ưu tiên áp dụng giữa các nguyên tắc

Khi công nhận cả ba nguyên tắc có nội dung rất khác nhau kể trên, tất yếu nảy sinh vấn đề khi có sự mâu thuẫn giữa ba nguyên tắc thì thứ tự u tiên áp dụng giữa các nguyên tắc được giải quyết như thế nào. Để đảm bảo tính thống nhất của hệ thống pháp luật, cũng giống nh pháp luật của hầu hết các quốc gia khác, pháp luật Nhật Bản coi nguyên tắc u tiên áp dụng quy phạm pháp luật căn cứ vào tầm hiệu lực của văn bản chứa đựng quy phạm là nguyên tắc tối cao. Đây là điều hoàn toàn có thể hiểu được và không gây nhiều bàn cãi trong giới lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, đối với hai nguyên tắc còn lại, khi có sự mâu thuẫn giữa chúng thì nguyên tắc nào sẽ được u tiên áp dụng. Chẳng hạn, khi xảy ra tình trạng, quy phạm trong đạo luật chung ban hành về sau lại quy định khác đi so với quy phạm pháp luật chuyên ngành ban hành trước đó thì sự việc sẽ giải quyết nh thế nào. Với lập luận rằng, khi ban hành một đạo luật chuyên ngành, tính toán kỹ lưỡng để sản sinh ra những quy phạm phù hợp, trong khi đó, khi xây dựng các quy phạm của các đạo luật chung, công việc này sẽ ít được coi trọng hơn, vì vậy, pháp luật Nhật Bản đã chọn phơng án: mặc dù đạo luật chung được ban hành về sau có quy định khác với đạo luật chuyên ngành được ban hành trước đó, thì đạo luật chung được ban hành về sau cũng không được u tiên áp dụng so với đạo luật chuyên ngành được ban hành trước đó. Như vậy là nguyên tắc u tiên áp dụng quy phạm của đạo luật chung được xếp trên nguyên tắc u tiên áp dụng quy phạm tính theo thời điểm ban hành của nó. Như vậy, để giải quyết việc xác định vị trí của quy phạm pháp luật dân sự trong hệ thống pháp luật (khi so sánh với quy phạm pháp luật của các đạo luật chuyên ngành pháp luật khác nh thương mại, chứng khoán, bảo hiểm…), pháp luật Nhật Bản đã áp dụng được nguyên tắc theo thứ tự u tiên như sau:

1. Ưu tiên áp dụng quy phạm tồn tại trong văn bản pháp luật có tầm hiệu lực pháp lý cao hơn

2. Ưu tiên áp dụng quy phạm tồn tại trong các đạo luật chuyên ngành so với các quy phạm tồn tại trong các đạo luật chung.

3. Ưu tiên áp dụng quy phạm ban hành sau so với quy phạm ban hành trước đó.

Trên đây là một số quan điểm về mặt lý luận và thực tiễn về luật dân sự của Nhật Bản. Có thể nói, những quan điểm kể trên gợi mở rất nhiều ý tởng cho các nhà lập pháp về dân sự của nước ta trước nhiệm vụ không ít khó khăn trước mắt đó là thực hiện việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật Dân sự, nâng công tác pháp điển hoá pháp luật ở Việt Nam lên một tầm cao mới.

(Bài viết này có sử dụng một số tư liệu do Giáo s Morishima và Giáo s Nimi trình bày trong cuộc toạ đàm của nhóm Nghiên cứu chung Việt Nam- Nhật Bản chuẩn bị việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật Dân sự Việt Nam ngày 4/5/2001 tại Bộ Tư pháp)./

TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP SỐ 06/2001

Quan điểm của Nhật Bản VỀ LUẬT DÂN SỰ

NGUYỄN VĂN CƯƠNG  

LTS: Những quan niệm của Nhật Bản về luật dân sự được nêu ra trong bài viết này gợi mở một số những ý tưởng cho thực tiễn và lý luận về luật dân sự ở nước ta hiện nay

Nhật Bản là quốc gia Châu Á sớm biết áp dụng mô hình kinh tế thị trường làm mẫu hình cho việc tổ chức và vận hành của nền kinh tế nước mình. Khi áp dụng mô hình kinh tế dựa trên thị trường, tất yếu pháp luật cũng phải được xây dựng và hoàn thiện để cho nền kinh tế nh vậy vận hành an toàn. Như một quy luật chung đối với các nước áp dụng mô hình kinh tế thị trường, trong hệ thống pháp luật Nhật Bản, pháp luật đảm bảo sự trao đổi, phân bổ các nguồn lực của xã hội thông qua các thị trường (tức là thông qua quan hệ mua bán, trao đổi) trong đó điển hình là pháp luật dân sự (sở hữu, hợp đồng) luôn

được coi là bộ phận chiếm vị trí quan trọng vào bậc nhất. Sớm nhận thức được vấn đề này, ngay từ cuối thế kỷ 19, Nhật Bản đã quan tâm tới việc xây dựng và hoàn thiện Bộ luật Dân sự của riêng mình. Kể từ thời điểm đầu tiên Bộ luật Dân sự Nhật Bản phát sinh hiệu lực (năm 1889), đã trải qua hơn 110 năm, luật dân sự của Nhật Bản đã được tôi luyện trong một nền kinh tế Nhật với bao thăng trầm, nhất là hàng loạt thay đổi có tính thần kỳ khiến cho nhiều chuẩn mực giá trị của luật dân sự đã được định hình và trở thành tài sản quý góp vào kho tàng pháp lý nhân loại. Đi kèm với quá trình đó là việc

Nhật Bản xây dựng được một nền tảng lý luận về pháp luật dân sự tơng đối hoàn thiện.Trong lý luận về luật dân sự, đáng chú ý phải kể đến hai nội dung có tính mấu chốt là (1) quan niệm về tính chất của luật dân sự và (2) về vị trí của các quy phạm pháp luật dân sự trong hệ thống pháp luật.

1. Về tính chất của luật dân sự

Do ảnh hởng của hai quốc gia có truyền thống luật dân sự thành văn tơng đối mạnh là Pháp và Đức, nguồn luật dân sự chủ yếu của Nhật Bản chính là các đạo luật thành văn, trong đó Bộ luật Dân sự là nền tảng. Trong giới lý luận và thực tiễn của Nhật Bản có quan điểm khá nhất quán coi luật dân sự là luật tư, tức là luật điều chỉnh giữa các chủ thể bình đẳng với nhau về địa vị pháp lý, không bên nào được áp đặt bên nào, không bên nào được đối xử bất bình đẳng với bên nào. Với cách quan niệm nh thế, khi nói tới vai trò, chức năng của luật dân sự, giới lý luận và thực tiễn hầu nh không coi nó là công cụ thể hiện quyền lực nhà nước do Nhà nước ban hành để quản lý giao dịch, đảm bảo trật tự xã hội mà thay vào đó, luật dân sự trở thành phơng sách, là công cụ, là phơng tiện do Nhà nước cung cấp cho các bên khi các bên không có thoả thuận khác hoặc mặc dù các bên có thoả thuận cha đầy đủ, chưa chi tiết do thiếu thời gian, nguồn lực phục vụ cho việc thoả thuận. Nh vậy, luật dân sự là công cụ mà Nhà nước dùng để phục vụ người dân, giới doanh nghiệp, phục vụ sự vận hành của nền kinh tế, của xã hội. Chính vì lý do này, yếu tố tiện lợi, đảm bảo cho các bên có chỗ dựa để tin cậy, hiểu biết, tôn trọng nhau nhằm đi đến giao dịch quan hệ với nhau trở thành phơng châm chủ đạo khi xây dựng các quy phạm của luật dân sự. Cũng do nhất quán với quan điểm này, khi xây dựng và hoàn thiện pháp luật dân sự của Nhật Bản, các luật gia và các nhà lập pháp cố gắng loại bỏ hầu nh toàn bộ các quy phạm mang tính chất hành chính, mệnh lệnh của Nhà nước, thủ tục hành chính, thủ túc kiểm soát của Nhà nước đối với giao dịch dân sự.

Trong Bộ luật Dân sự Nhật Bản, hầu nh không thấy bóng dáng của cơ quan nhà nước đối với các giao dịch dân sự. Đây là điểm rất khác biệt giữa Bộ luật Dân sự Nhật Bản và Bộ luật Dân sự Việt Nam.

2. Về vị trí của các quy phạm pháp luật dân sự trong hệ thống pháp luật

Tầm quan trọng của vấn đề

Theo giới lý luận của Nhật Bản, việc xác định vị trí của các quy phạm pháp luật dân sự trong hệ thống pháp luật không đơn thuần là câu chuyện của các nhà lý luận, không đơn thuần là vấn đề hàn lâm. Bởi lẽ mấu chốt của vấn đề ở đây chính là việc giải quyết mối quan hệ giữa Bộ luật Dân sự với các đạo luật chuyên ngành (nhất là Đạo luật thương mại). Việc giải quyết thoả đáng mối quan hệ này sẽ cung cấp một cơ sở khoa học cho việc thiết kế trật tự các quy phạm trong hệ thống pháp luật, tránh được sự trùng lặp trong việc điều chỉnh, đặc biệt là sự mâu thuẫn trong bản thân hệ thống pháp luật. Cũng cần lu ý là, khi tồn tại tình trạng một quan hệ pháp luật lại bị nhiều quy phạm pháp luật có nội dung khác nhau điều chỉnh, nhất là khi chúng lại tồn tại trong nhiều quy phạm pháp luật khác nhau của cùng hệ thống pháp luật sẽ khiến cho người dân, doanh nhân hoặc các chủ thể khi tham gia quan hệ không biết phải chọn lựa và tuân theo quy định nào. Điều này sẽ khiến cho người dân, giới doanh nhân và các chủ thể khác không an tâm khi tham gia vào các giao dịch dân sự và nh thế sẽ

ảnh hởng tới sự vận hành bình thường của nền kinh tế. Khi đó, luật dân sự sẽ không tạo ra được sự tiện lợi cho các bên khi tham gia giao dịch nh là mục đích cơ bản của nó cần hớng tới nữa mà luật dân sự đã tự phủ định ý nghĩa, vai trò của mình. Nh đã trình bày, đây là điều mà không một người dân và giới lý luận nào của Nhật Bản mong muốn.

Nguyên tắc xác định vị trí của các quy phạm pháp luật dân sự trong hệ thống pháp luật

Bằng kinh nghiệm lập pháp của mình trong lĩnh vực dân sự hơn 100 năm, Nhật Bản đã xây dựng và chấp nhận 3 nguyên tắc cơ bản để xác định vị trí của các quy phạm pháp luật dân sự, hay cụ thể hơn là vị trí của các đạo luật về dân sự (nhất là Bộ luật Dân sự) trong hệ thống pháp luật.

Nguyên tắc tôn trọng tầm hiệu lực pháp lý của văn bản

Điều này có nghĩa là, khi xảy ra tình trạng cùng một quan hệ dân sự, nhng lại có quy phạm của hai văn bản pháp luật trở lên điều chỉnh với nội dung khác nhau, thì quy phạm của văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lý cao hơn sẽ được u tiên áp dụng. Có thể nói, việc áp dụng nguyên tắc này là điều dễ hiểu bởi lẽ nếu không, hệ thống pháp luật sẽ bị phá vỡ tính thống nhất của mình và thêm vào đó, sẽ phá vỡ tính thống nhất trong quyền lực nhà nước, phá vỡ sự tập trung quyền lực vào chính quyền

trung ơng, khuyến khích sự cát cứ, phân đoạn thị trường, lãnh thổ.

Nguyên tắc ưu tiên áp dụng quy phạm theo thời điểm ban hành

Nội dung cơ bản của nguyên tắc này là khi cùng một quan hệ được điều chỉnh bởi hai quy phạm pháp luật có nội dung khác nhau ở trong hai văn bản pháp luật có tầm hiệu lực pháp lý ngang nhau thì ưu tiên áp dụng quy phạm được ban hành sau. Một nội dung quan trọng của nguyên tắc này chính là việc cấm áp dụng hiệu lực hồi tố. Chỉ trong những trường hợp rất hãn hữu, pháp luật Nhật Bản mới thừa nhận việc áp dụng hiệu lực hồi tố bởi lẽ việc áp dụng hiệu lực hồi tố sẽ khiến cho con người phải gánh chịu cả những hậu quả pháp lý do hành vi của mình gây nên khi mà người này không thể biết được, không thể lờng được khi cân nhắc, chọn lựa cách xử sự cho mình.

Nguyên tắc ưu tiên áp dụng quy phạm pháp luật chuyên ngành

Nguyên tắc này rất quan trọng và được áp dụng khi một quan hệ pháp luật được điều chỉnh bởi cả quy phạm của đạo luật chung và đạo luật chuyên ngành. Các quy phạm pháp luật dân sự được coi là các quy phạm của luật chung, Bộ luật Dân sự được coi là đạo luật chung, còn các quy phạm điều chỉnh các quan hệ giữa các chủ thể bình đẳng về địa vị pháp lý (các quan hệ của luật t) trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội có tính đặc thù nh thương mại, bảo hiểm, chứng khoán, ngân hàng, dịch vụ… được coi là các quy phạm của luật chuyên ngành. Để làm được điều này, vấn đề xác định đâu là luật chuyên ngành, đâu là luật chung trở nên rất có ý nghĩa. Pháp luật Nhật Bản coi đối tợng điều chỉnh của các đạo luật là tiêu chí để phân định một đạo luật là đạo luật chuyên ngành hay là đạo luật chung. Song về mặt kỹ thuật lập pháp, trong một đạo luật được coi là đạo luật chuyên ngành phải có một điều khoản quy định rõ ràng rằng đạo luật chuyên ngành sẽ được u tiên áp dụng so với đạo luật chung. Do Bộ luật Dân sự có đối tợng điều chỉnh là hầu hết các quan hệ lợi ích giữa các chủ thể bình đẳng nhau về địa vị pháp lý nên Bộ luật Dân sự được coi là một đạo luật chung. Các quy phạm trong Bộ luật Dân sự được coi là các quy phạm pháp luật chung. Còn Đạo luật thương mại hoặc các đạo luật khác về chứng khoán, ngân hàng, bảo hiểm… chỉ điều chỉnh một bộ phận với nhiều điểm đặc thù trong hệ thống các quan hệ xã hội giữa các chủ thể bình đẳng với nhau về địa vị pháp lý nên các đạo luật này được coi là các đạo luật chuyên ngành. Quy phạm pháp luật trong các đạo luật này được coi là các đạo luật chuyên ngành. Trong trường hợp có sự khác nhau trong việc điều chỉnh cùng một quan hệ quy phạm của các đạo luật chuyên ngành kể trên sẽ được u tiên áp dụng so với quy phạm tồn tại trong Bộ luật Dân sự.

Thứ tự ưu tiên áp dụng giữa các nguyên tắc

Khi công nhận cả ba nguyên tắc có nội dung rất khác nhau kể trên, tất yếu nảy sinh vấn đề khi có sự mâu thuẫn giữa ba nguyên tắc thì thứ tự u tiên áp dụng giữa các nguyên tắc được giải quyết như thế nào. Để đảm bảo tính thống nhất của hệ thống pháp luật, cũng giống nh pháp luật của hầu hết các quốc gia khác, pháp luật Nhật Bản coi nguyên tắc u tiên áp dụng quy phạm pháp luật căn cứ vào tầm hiệu lực của văn bản chứa đựng quy phạm là nguyên tắc tối cao. Đây là điều hoàn toàn có thể hiểu được và không gây nhiều bàn cãi trong giới lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, đối với hai nguyên tắc còn lại, khi có sự mâu thuẫn giữa chúng thì nguyên tắc nào sẽ được u tiên áp dụng. Chẳng hạn, khi xảy ra tình trạng, quy phạm trong đạo luật chung ban hành về sau lại quy định khác đi so với quy phạm pháp luật chuyên ngành ban hành trước đó thì sự việc sẽ giải quyết nh thế nào. Với lập luận rằng, khi ban hành một đạo luật chuyên ngành, tính toán kỹ lưỡng để sản sinh ra những quy phạm phù hợp, trong khi đó, khi xây dựng các quy phạm của các đạo luật chung, công việc này sẽ ít được coi trọng hơn, vì vậy, pháp luật Nhật Bản đã chọn phơng án: mặc dù đạo luật chung được ban hành về sau có quy định khác với đạo luật chuyên ngành được ban hành trước đó, thì đạo luật chung được ban hành về sau cũng không được u tiên áp dụng so với đạo luật chuyên ngành được ban hành trước đó. Như vậy là nguyên tắc u tiên áp dụng quy phạm của đạo luật chung được xếp trên nguyên tắc u tiên áp dụng quy phạm tính theo thời điểm ban hành của nó. Như vậy, để giải quyết việc xác định vị trí của quy phạm pháp luật dân sự trong hệ thống pháp luật (khi so sánh với quy phạm pháp luật của các đạo luật chuyên ngành pháp luật khác nh thương mại, chứng khoán, bảo hiểm…), pháp luật Nhật Bản đã áp dụng được nguyên tắc theo thứ tự u tiên như sau:

1. Ưu tiên áp dụng quy phạm tồn tại trong văn bản pháp luật có tầm hiệu lực pháp lý cao hơn

2. Ưu tiên áp dụng quy phạm tồn tại trong các đạo luật chuyên ngành so với các quy phạm tồn tại trong các đạo luật chung.

3. Ưu tiên áp dụng quy phạm ban hành sau so với quy phạm ban hành trước đó.

Trên đây là một số quan điểm về mặt lý luận và thực tiễn về luật dân sự của Nhật Bản. Có thể nói, những quan điểm kể trên gợi mở rất nhiều ý tởng cho các nhà lập pháp về dân sự của nước ta trước nhiệm vụ không ít khó khăn trước mắt đó là thực hiện việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật Dân sự, nâng công tác pháp điển hoá pháp luật ở Việt Nam lên một tầm cao mới.

(Bài viết này có sử dụng một số tư liệu do Giáo s Morishima và Giáo s Nimi trình bày trong cuộc toạ đàm của nhóm Nghiên cứu chung Việt Nam- Nhật Bản chuẩn bị việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật Dân sự Việt Nam ngày 4/5/2001 tại Bộ Tư pháp)./

TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP SỐ 06/2001

TƯ NHÂN HOÁ Ở CÁC NƯỚC TÂY ÂU

TS. TÔ CHÍNH THẮNG

I. Tình hình tư nhân hoá ở Tây Âu Khoảng mười năm trước, mọi người đều cho rằng, tư nhân hoá là một phương pháp tốt để cải thiện tình hình kinh tế châu Âu. Các chính phủ thuộc các đảng phái khác nhau đều đã lựa chọn con đường tư nhân hoá do cựu Thủ tướng Margaret Thatcher vạch ra. Bằng cách chuyển các tài sản thuộc sở hữu nhà nước sang sở hữu tư nhân, thông qua việc bán các cổ phiếu, có thể mang lại hiệu quả kinh tế cao và qua đó thu được nhiều tiền cho ngân sách nhà nước.

Quá trình tư nhân hoá đã có những tác động rõ ràng. Tại Anh, các công ty nhà nước tạo ra 12% GDP năm 1979, nhưng chỉ tạo ra 2% GDP năm 1997. Lúc đó, thậm chí Chính phủ thuộc Đảng Xã hội Pháp cũng chấp nhận tư nhân hoá. Trong thời kỳ 1997-2002, Chính phủ của Thủ tướng Jospin thuộc Đảng Xã hội tiến hành tư nhân hoá còn mạnh tay hơn các chính phủ tiền nhiệm. Chính phủ Jospin đã phát hành lần thứ nhất 7,1 tỷ USD cổ phiếu để tư nhân hoá công ty viễn thông nhà nước France Telecom trên thị trường chứng khoán năm 1997, sau đó lại phát hành lần thứ hai 10,4 tỷ USD cổ phiếu để tiếp tục tư nhân hoá công ty này.

Tư nhân hoá đã lan rộng ra tất cả các nước châu Âu. Đức đã đem bán một số tài sản nhà nước, chẳng hạn như đã bán nhiều đợt tài sản của Công ty Viễn thông Deutsche Telecom trên thị trường chứng khoán năm 1997. Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha cũng đã tiến hành tư nhân hoá một cách tích cực, cụ thể là Tây Ban Nha đã bán toàn bộ một công ty nhà nước hàng đầu là Công ty Iberia trong năm 2001. Tư nhân hoá đã lan rộng đến mức nó không chỉ là hiện tượng ở châu Âu, mà trở thành một hiện tượng của toàn thế giới. Trong số 35 vụ phát hành cổ phiếu lớn nhất từ trước tới nay trên các thị trường chứng khoán, thì các vụ phát hành cổ phiếu tư nhân hoá đã chiếm 30 vụ.

Tuy vậy, đến nay, số lượng tư nhân hoá ở châu Âu đã giảm. Tại một số nước, bao gồm Hà Lan và Đức, các kế hoạch tư nhân hoá cơ sở hạ tầng như bưu điện, sân bay và đường sắt đã bị hoãn hoặc đình chỉ. Tại Italia, Chính phủ của Thủ tướng Silvio Berlusconi, một nhân vật nhiệt thành với tư nhân hoá, đã không tham gia vào quá trình tư nhân hoá. Qúa trình này đã bị ngăn chặn bởi cuộc tranh luận về các hậu quả chính trị do tư nhân hoá gây ra. ở Pháp, việc cánh tả chiếm đa số trong Nghị viện đã mang lại xung lực mới cho chương trình tư nhân hoá bị ngăn lại, nhưng vẫn có nhiều người lo ngại rằng, chính sách tư nhân hoá sẽ gây tác động không tốt về mặt chính trị.

Tư nhân hoá được tiến hành kém tích cực hơn trước là do thái độ của các nước châu Âu đối với tư nhân hoá đã có sự thay đổi đáng kể. Anh quốc, là nước đầu tiên tiến hành tư nhân hoá, bị phê phán là đi quá xa trong việc bán hệ thống đường sắt và đề ra các “sáng kiến tài chính tư nhân” trong ngành Dịch vụ y tế và Vận tải. Việc bán một phần hệ thống kiểm soát vận tải hàng không cũng gây ra nhiều cuộc tranh luận.

Chính phủ Anh cho phép phá sản Công ty Đường sắt tư nhân Railtrack là một sự kiện đáng ghi nhớ, vì việc này sẽ dẫn tới tái quốc hữu hoá đường sắt. Chính phủ Anh cũng đã trì hoãn các kế hoạch tư nhân hoá ngành Bưu điện vì đang có khó khăn về tài chính và là một ngành quốc doanh lớn, quan trọng còn lại ở Anh. Câu hỏi đặt ra cho các nước còn lại ở châu Âu là: nếu tư nhân hoá có những hạn chế ở một đất nước đã đẩy nó đi xa nhất, thì các nước khác có nên chú ý đến nó trong tương lai hay không.?

II. Các lý do làm chậm quá trình tư nhân hoá

Tư nhân hoá công ty quốc doanh đã bị chậm lại từ cuối thập kỷ 90 của thế kỷ XX. Theo ông Ladan Mahboobi thuộc Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), năm 2001 Chính phủ các nước OECD đã thu được một số tiền không lớn là 20,6 tỷ USD từ tư nhân hoá, trong đó, 3/4 số tiền này thu được tại các nước châu Âu. Trong những năm gần đây, quy mô tư nhân hoá không lớn như những năm trước, cụ thể là không có vụ tư nhân hoá nào thu được hơn 5 tỷ USD.

Paul Gibbs, chuyên gia phân tích của Tập đoàn J.P.Morgan đã tính toán doanh thu từ tư nhân hoá .Theo số liệu trong thời kỳ 1990-2002, tổng doanh thu từ tư nhân hoá ở châu Âu đạt 675 tỷ USD, một con số rất ấn tượng. Nhưng ông nhận thấy rằng, Chính phủ các nước châu Âu chỉ thu được 38 tỷ USD từ 103 vụ tư nhân hoá trong năm 2001, là một con số rất thấp so với số tiền 104 tỷ USD thu được từ tư nhân hoá trong năm đỉnh cao 1998.

Tư nhân hoá những năm gần đây bị giảm sút so với những năm trước là do ba nguyên nhân sau: Một là, các thị trường chứng khoán hoạt động yếu; Hai là, tâm lý bi quan của nhà đầu tư tăng lên; Ba là, nhiều người vẫn chưa hiểu rõ cơ sở để tư nhân hoá thực sự là gì?

Các thị trường chứng khoán hoạt động yếu đã đặt câu hỏi về triển vọng tiếp tục tư nhân hoá, mặc dù nhiều vụ tư nhân hoá được coi là một nguồn tài chính quan trọng để bảo đảm có đủ tài chính công tại các nước (như tại Pháp, Đức và Italy) hiện đang bị thâm hụt ngân sách. Các tham luận trong cuộc họp thượng đỉnh EU thời gian qua cho thấy, những thâm hụt ngân sách là mối đe doạ đối với sự ổn định và tăng trưởng của EU. Số tiền thu được từ tư nhân hoá không được sử dụng cho mục tiêu ổn định, nhưng vẫn có những giải pháp để tránh sự ràng buộc này.

Sự mất giá nhanh của các cổ phiếu viễn thông Telecom và các cổ phiếu công nghệ trên thị trường chứng khoán đã có tác động mạnh đến triển vọng tư nhân hoá, bởi vì các cổ phiếu này có giá trị thuộc loại lớn nhất trên thị trường. Các công ty viễn thông lớn như Deutsche Telecom và France Telecom có tầm cỡ rất lớn, không thể tư nhân hoá hoàn toàn sau một vụ phát hành cổ phiếu. Trước đây, việc phát hành cổ phiếu mới dễ được chấp nhận, vì giá cổ phiếu đang ở mức cao, thì nay việc này là không thể, khi mà giá cổ phiếu của các công ty tư nhân hoá bị giảm đột ngột.

Tình hình này được thể hiện ở Công ty Enel, một công ty phân phối điện lớn nhất Italy. Chính phủ bán 34,5% giá trị công ty này trong tháng 11 năm 1999, thu về 18,7 tỷ USD. Sau đó, Công ty này đã trả giá cao để thôn tính Công ty Viễn thông Telecoms. Vì vậy, mặc dù các nhà đầu tư trước đây đều ưa thích Công ty Enel, thì nay giá cổ phiếu bị giảm 30% so với thời điểm tư nhân hoá. Năm 2001, Chính phủ Italy đã hoãn thực hiện phát hành lần thứ hai cổ phiếu tư nhân hoá Công ty Enel, nhằm thu về hàng tỷ USD. Trong khi giá cổ phiếu Enel chưa phục hồi, thì việc phát hành cổ phiếu Enel đợt hai sẽ làm cho giá cổ phiếu Enel tiếp tục giảm sút. Do sự trì hoãn phát hành cổ phiếu đợt hai mà cổ đông lớn nhất của Công ty Enel vẫn là nhà nước.

Các nhà đầu tư cá nhân có lý do chính đáng để bi quan về các cổ phiếu của các công ty tư nhân hóa, nhiều cổ phiếu trong số đó đã có những lãi suất tầm thường. ý tưởng phát hành cổ phiếu nhằm vào các nhà đầu tư cá nhân, mà không nhằm vào một số ít các nhà đầu tư tổ chức lớn, đã nhận được hưởng ứng tích cực ở châu Âu. Ngân hàng Dự trữ Italy đã coi ý tưởng này là cách để khắc phục hệ thống truyền thống, theo đó, các ngân hàng đặt mua các cổ phiếu mờ ám. ở Đức, vụ bán Công ty Viễn thông Deutsche Telecom năm 1996 đã được đánh giá là một bước tiến lớn trong phát triển văn hóa cổ phiếu, có tác dụng hỗ trợ giải quyết cuộc khủng hoảng các qũy tiền hưu trí đang ngấp nghé.

III. Các vấn đề tồn tại trong tư nhân hóa

Việc tiếp tục tư nhân hoá còn gặp khó khăn bởi lợi ích nhà đầu tư đã không được bảo đảm khi họ mua cổ phiếu trong những vụ tư nhân hoá trước đây. Chẳng hạn, các nhà đầu tư cổ phiếu viễn thông France Telecom và Deutsche Telecom đã bị cháy túi đến mức họ có thể không mua cổ phiếu nữa trong thời gian tới. Điều này đặt ra câu hỏi các chính phủ có thể làm gì để lấy lại lòng tin của nhà đầu tư. Trong khi đó, các chính phủ cũng phải tìm cách giảm bớt cổ phần của mình trong các công ty này. Thí dụ, Chính phủ Italy đang xem xét khả năng phát hành loại trái phiếu chuyển đổi để thu hút tiền và đồng thời cho phép các nhà đầu tư có thể chuyển tiền gốc trái phiếu sang cổ phiếu. Đây có thể là một cách để tránh lặp lại vấn đề như đã xảy ra đối với Công ty Enel.

ở Pháp, Chính phủ cánh hữu mới bầu với Thủ tướng Jean-Pierre Raffarin đã có nhiều kế hoạch tư nhân hóa. Bộ trưởng Tài chính Francis Mer đã gợi ý rằng, các phần sở hữu nhà nước trong các công ty Hàng không Air France và công ty Điện tử Thales có thể được bán đi, để thu về 5 tỷ Euro (4,7 tỷ USD). Lãnh đạo công đoàn nói rằng, Chính phủ đã xem xét khả năng bán một nửa cổ phần của mình trong Công ty Gaz de France, trị giá 7 tỷ USD, và nhà nước chỉ còn nắm giữ 10% cổ phần trong Ngân hàng Crédit Lyonnais, một công ty đã tư nhân hóa năm 1999.

Ông Gibbs (Công ty J.P.Morgan) nói rằng, Chính phủ sẽ phải có cách làm phù hợp với từng đối tượng tư nhân hóa, tùy theo đặc điểm kinh doanh của họ. Chẳng hạn, Ngân hàng Crédit Lyonnais có thể bị thanh lý thông qua sự chuyển nhượng thương mại cho một định chế tài chính khác, chứ không bán nó trên thị trường chứng khoán. Việc tư nhân hóa Công ty Viễn thông Telecom được tiến hành theo các điều kiện thị trường, nhưng việc bán Công ty Air France lại có thể được quy định tùy theo tình hình hoạt động trong những năm vừa qua.

Nước Pháp có may mắn là một số tài sản nhà nước là các công ty điện, gas rất được các nhà đầu tư ưa thích. Công ty Điện Electricité de France là công ty điện quốc doanh độc quyền, công ty hàng đầu của Tập đoàn Gaz de France, và là một trong những công ty lớn nhất châu Âu, trị giá hơn 60 tỷ Euro đang là đối tượng hàng đầu cho tư nhân hóa các đợt tiếp theo.

Để tiến hành tư nhân hóa, cần có báo cáo về dự kiến các đợt tư nhân hoá sẽ tiếp tục thực hiện sau này, nhằm làm giảm sự can thiệp của Chính phủ vào hoạt động của doanh nghiệp tư nhân hoá. Việc tư nhân hoá Công ty Gaz de France hiện vẫn chưa được Chính phủ quyết định. Chính phủ còn phải cân nhắc việc bán đi hơn 49% tài sản Công ty Gaz de France. Có nhiều ý kiến phản đối vụ tư nhân hoá Công ty Điện EDF vì cho rằng, Công ty này có trách nhiệm bảo đảm an toàn hạt nhân và trách nhiệm này được chấp hành nghiêm chỉnh khi Công ty vẫn thuộc sở hữu nhà nước.

Ngoài ra, nhiều người cho rằng, Nhà nước cần tiếp tục nắm giữ các cổ phần của mình trong các công ty công nghiệp tư nhân hoá một phần, vì các công ty này thuộc loại “chiến lược”. Nếu cánh tả thắng cử ở Pháp, Chính phủ mới sẽ cam kết nắm giữ hơn 50% cổ phần của Công ty EDF.

Quan điểm cho rằng, Nhà nước cần có cổ phần của mình trong các công ty thuộc loại chiến lược, đã giải thích phần nào câu hỏi tại sao, chỉ có một số nhỏ các vụ tư nhân hóa đã loại bỏ hoàn toàn vai trò của nhà nước trong doanh nghiệp tư nhân hóa. Thực tế có khoảng 24 công ty lớn nhất ở châu Âu, xét theo giá trị thị trường, đều có cổ phần do Chính phủ nắm giữ. Điều này cho thấy, tư nhân hóa không phải lúc nào cũng hiển nhiên như nhiều người suy nghĩ.

Về vấn đề kiểm soát quản lý, Tổ chức OECD cho biết, các chính phủ ở Tây Âu đã thu được hơn 400 tỷ USD nhờ bán tài sản nhà nước từ năm 1990. Nhưng trong nhiều trường hợp tư nhân hóa, Chính phủ vẫn duy trì quyền kiểm soát doanh nghiệp bằng cách chỉ bán một phần các cổ phiếu khi tư nhân hóa, hoặc là bằng cách duy trì cái gọi là “các cổ phiếu vàng” cho quyền chống lại sự thôn tính quyền kiểm soát của nhà nước trong hoạt động của công ty.

Ngày 4 tháng 7 năm 2001, Tòa án Hiến pháp châu Âu đã ra chỉ thị chống lại các cổ phiếu vàng, quy định rằng, chúng chỉ được phép tồn tại trong những hoàn cảnh được xác định chặt chẽ. ủy ban châu Âu lý luận rằng, cổ phiếu vàng đã hạn chế sự vận động tự do của dòng vốn trong phạm vi Liên minh châu Âu và tuyên bố rằng, các nước như Đức và Italy sẽ bị đưa ra tòa xét xử vì chính phủ các nước này vẫn nắm giữ cổ phiếu vàng trong các công ty niêm yết.

Chính phủ của các nước có nhiều cách để can thiệp vào hoạt động quản lý các công ty tư nhân hóa. ở Italy, Thủ tướng Berlusconi sắp đặt các giám đốc mới vào các công ty Enel và Eni, là các công ty nhà nước độc quyền về điện và dầu. Vai trò của Chính phủ tiền nhiệm chỉ là nhà đầu tư tài chính trong các công ty này. Nhưng khi Chính phủ mới muốn thay thế các giám đốc, thì có thể hiểu rằng, Nhà nước là chủ nhân quyết định trong thực tế. Các cổ đông thiểu số lẽ ra có thể bầu chọn các giám đốc mới, nhất là ở Công ty Enel, khi ông giám đốc Franco Tato sắp mãn nhiệm. Nhưng trong thực tế, các cổ đông này không có vai trò gì trong việc lựa chọn giám đốc.

Từ trước đến nay, Italy luôn tỏ ra tích cực trong việc tư nhân hóa. Mặc dù hơn 110 tỷ USD đã thu được từ tư nhân hóa trong thập kỷ qua, các chính phủ kế tiếp đã lo lắng về việc nhường lại quyền kiểm soát hoàn toàn. Liên đoàn các xí nghiệp công nghiệp Italy đã xuất bản báo cáo về tác động của tư nhân hóa đến nền kinh tế Italy, trong đó, chỉ khoảng 1/3 số xí nghiệp lớn tư nhân hóa mới hoàn toàn thoát khỏi sự kiểm soát của nhà nước.

IV. Quyền kiểm soát và quyền sở hữu

Các nghiên cứu cho thấy, vai trò của các xí nghiệp quốc doanh ở các nước giàu đã giảm từ 8,5% GDP năm 1984 xuống còn 5% hiện nay. Nhưng mối quan hệ của chính phủ với doanh nghiệp vẫn còn mạnh hơn các con số này thể hiện. Có lẽ Pháp là một thí dụ. ở Pháp có ba làn sóng lớn tư nhân hóa, nhưng Nhà nước vẫn còn nắm giữ cổ phần trong nhiều công ty, trong số đó, một số được niêm yết trên thị trường chứng khoán. Cổ phần nhà nước chiếm 55,5% trong Công ty France Telecom, 56% trong Công ty Air France, 33% trong Công ty Thales v.v. Bảy trong số 40 công ty lớn nhất ở Pháp xét theo giá trị thị trường đều có phần vốn cổ phần quan trọng do Nhà nước nắm giữ, chẳng hạn trong Công ty Renault, Chính phủ nắm giữ 25% cổ phần.

Chính phủ Pháp còn nắm giữ nhiều công ty lớn không niêm yết trong nhiều ngành công nghiệp như hóa chất, giao thông vận tải, năng lượng v.v… Công ty Phân phối điện EDF là một trong những công ty gây ấn tượng mạnh nhất châu Âu vì nó phát triển rất mạnh bên ngoài nước Pháp, trong khi vẫn giữ độc quyền trong nước. Công ty này đang ở trung tâm các giải pháp tự do hóa (nới lỏng kiểm soát). Các giải pháp nới lỏng có liên hệ trực tiếp với tư nhân hóa.

Các chuyên gia kinh tế và các nhà quan sát có ý kiến khác nhau về đánh giá vai trò của tư nhân hóa và của các giải pháp nới lỏng kiểm soát nhằm thúc đẩy cạnh tranh. Italy, nước chậm tiến hành tư nhân hóa, nhưng đã rất tích cực trong việc nới lỏng kiểm soát, nhằm thúc đẩy cạnh tranh vào giữa thập kỷ 90 thế kỷ XX, các hiệu quả từ nới lỏng kiểm soát đã được thúc đẩy thêm bởi việc tái cơ cấu hệ thống ngân hàng. Các ngân hàng nhà nước được bán đi, nhằm cắt đứt phần lớn mối quan hệ giữa tài chính và tín dụng nhà nước với các ngành công nghiệp. Các quan chức ở ngân hàng dự trữ nói rằng, việc này là một dự báo quan trọng về triển vọng tư nhân hóa.

Việc áp dụng các giải pháp nới lỏng kiểm soát, nhằm khuyến khích cạnh tranh cũng gây ra các vấn đề cho các công ty quốc doanh được dự định tư nhân hóa. Bà Mahboobi, chuyên gia OECD bình luận rằng “Cạnh tranh và tư nhân hóa đôi khi là hai chính sách khó hoà hợp”. Các chuyên gia về cạnh tranh đã lấy trường hợp Công ty EDF làm ví dụ cho tình trạng căng thẳng này.

Công ty EDF và chủ nhân của nó là Chính phủ Pháp sẽ hài lòng khi thấy thị trường nội địa đóng lại đối với các đối thủ cạnh tranh càng lâu càng tốt, bất chấp các quy tắc của châu Âu. Bằng cách đó, Chính phủ Pháp có thể dùng lợi nhuận độc quyền để củng cố các vị thế quan trọng của EDF ở châu Âu. Việc Công ty EDF đột nhập vào Tây Ban Nha và Italy đã gây ra sự phản đối ở các nước này; và việc Pháp tỏ ra miễn cưỡng trong việc tự do hóa thị trường điện là nguyên nhân bất hòa với các nước láng giềng. Có thể thấy là sự phát triển nhanh của Công ty EDF dựa nhiều vào sự hỗ trợ của Chính phủ Pháp. Một khi EDF được tư nhân hoá hoàn toàn thì sự giúp đỡ của Chính phủ có thể cũng không còn.

Tương tự, Công ty Enel của Italy cũng bị chỉ trích mạnh vì dùng lợi nhuận của công ty điện độc quyền để xâm nhập vào ngành viễn thông ở châu Âu (mua số lượng lớn cổ phiếu viễn thông trên các thị trường chứng khoán). Các nhà phê bình nói rằng, Chính phủ Italy đã thất bại trong việc kết hợp tư nhân hóa với giải pháp nới lỏng thị trường điện năm 1999. ở Anh, cả hai chính sách đều được thực hiện và ngành công nghiệp bị chia ra nhiều thành phần để chúng cạnh tranh lẫn nhau.

Chỉ có Anh là chấp nhận sự rút lui của Nhà nước khỏi các ngành công nghiệp lớn nhất. Tuy rằng lúc đầu, sự rút lui này được thực hiện khá thận trọng. Chẳng hạn, loại cổ phần vàng được áp dụng rộng rãi để chống lại khả năng bị thôn tính nhanh (tư nhân hóa 100%) trong các ngành điện, gas. ở châu Âu, tư nhân hóa thường được coi là một giai đoạn để cải trang hiện thực kinh tế. Thông qua tư nhân hóa, các chính phủ huy động tiền cho ngân sách hoặc để nâng cấp bảng cân đối của các công ty quốc hữu. Nhưng trong nhiều trường hợp tư nhân hoá, các chính phủ không để mất quyền kiểm soát của mình và vẫn duy trì sự can thiệp vào doanh nghiệp.

Tóm lại, nhìn nhận theo hướng tích cực, quá trình tư nhân hóa diễn ra trong thời gian qua ở các nước Tây Âu đã để lại nhiều cơ hội tiếp tục phát triển trong tương lai. Để tiếp tục tư nhân hóa thì các chính phủ cần bỏ sự kiểm soát và cho phép các công ty được tự xoay sở trên các thị trường mới nổi ở châu Âu. Vấn đề ở chỗ, tư nhân hóa không thể thực hiện trong thời gian ngắn. Các thị trường chứng khoán lành mạnh hơn là một điều kiện tiên quyết. Nhưng có một đòi hỏi khẩn thiết hơn là sự sẵn sàng chấp nhận tư nhân hóa, và để tạo ra những lợi ích đầy đủ nhất thông qua tư nhân hóa thì các chính phủ cũng cần chấp nhận sự không can thiệp vào hoạt động các doanh nghiệp tư nhân hóa./.

SOURCE: TẠP CHÍ CÔNG NGHIỆP Số 14/2003 (trang 11)

CALIFORNIA: HỢP ĐỒNG VIẾT BẰNG MÁU CŨNG CÓ GIÁ TRỊ NHƯ VIẾT BẰNG MỰC

Vụ Jinsoo Kim kiện Stephen Son vi phạm hợp đồng cũng bình thường như những vụ kiện khác ngoại trừ điểm khác biệt, nội dung vụ kiện tập trung vào tính hợp pháp của bản hợp đồng được ký kết bằng máu.

Son đã dùng máu của mình viết bản giao ước sẽ trả lại khoản tiền vay của Kim và Kim kiện Son ra tòa án tối cao của Quận Cam để đòi lại những gì đã cho vay.

Giáo sư Joseph M. Perillo của Đại học Luật Fordham nói 40 năm qua ông đã đọc qua nhiều bản hợp đồng nhưng chưa bao giờ ông thấy một bản hợp đồng viết bằng máu như thế.

Theo đơn kiện, Kim đầu tư khoảng 170.000 USD vào công ty cổ phần Hàn Quốc của Son nhưng đã không được nhận lại số tiền anh ta đã cho vay.

Luật sư Vladimir Khiterer, người đại diện cho Son thừa nhận tháng 10-2004 thân chủ của mình đã viết bản giao ước bằng máu sau khi hai người đi nhậu ở một quán bar về và thảo luận công việc làm ăn khi đã ngà ngà say. Luật sư cho biết thêm chi tiết rằng thân chủ của mình chỉ nói “sẽ trả nợ bằng hết khả năng có thể” và việc bào chữa cũng đã diễn ra hết sức gay gắt tại tòa do bản hợp đồng không có cơ sở vững chắc.

Luật sư Richard J. Radcliffe, người đại diện của ông Kim đề nghị hội đồng xét xử nên để ý đến tình tiết là văn bản đã được viết bằng máu“. Tuy nhiên, các chuyên gia về luật thì cho biết việc bản hợp đồng có viết bằng máu hay không cũng chẳng có gì ảnh hưởng to lớn đến tính hợp pháp của nó. Ông Perillo nói “Anh có thể viết hợp đồng trên đá miễn là nói lên được những điều anh cần thể hiện trước pháp luật”.

****************************

TIỂU HY (Theo AP)

Việt Báo (Theo_TuoiTre)

HỒNG KÔNG SẮP THÔNG QUA LUẬT NGHE LÉN ĐIỆN THOẠI

Hội đồng lập pháp Hong Kong đang tiến hành những phiên họp cuối cùng để thông qua đạo luật qui định việc chính quyền có thể do thám và nghe lén các cuộc điện thoại bị tình nghi.

Tuy nhiên, đạo luật này cũng bị một số người theo chủ nghĩa bảo vệ quyền tự do công dân cho rằng luật đưa ra chỉ nhằm giúp giới chính quyền “thọc sâu” hơn nữa vào đời sống người dân.

Trong khi đó, chính quyền Hong Kong thì kiên quyết rằng luật không nhằm vào bất cứ mục đích chính trị nào và rằng luật sẽ vẫn đảm bảo những mức độ tự do cá nhân hợp pháp cho mọi công dân Hong Kong.

Mười năm trước, dưới thời cai trị của Anh quốc, Hong Kong đã từng “suýt” có đạo luật về do thám ở cấp chính phủ. Khi ấy, luật đã từng sắp sửa được phê chuẩn thì người đứng đầu chính phủ lúc ấy lại ra đi và luật đã không thể ra đời.

Hiện nay, những người làm luật vẫn tiếp tục tranh cãi, điều chỉnh luật này để giúp giới cảnh sát và những cơ quan thi hành luật sử dụng luật được đúng đắn hơn.

Chính bản chất gây nhiều tranh cãi của đạo luật khiến cho việc thông qua đạo luật vẫn còn đang trong vòng thảo luận. Một trong những nguyên nhân khiến mọi người phản bác sự ra đời của đạo luật này nó cho phép do thám luôn cả những người hoạt động chính trị bên phe đối lập. Tuy nhiên những người làm luật vẫn mong đợi sẽ có một số phiếu thuận đáng kể để luật được ra đời.

**************************************************

DOÃN KỲ (Theo BBC News)

Việt Báo (Theo_TuoiTre)

TÂY BAN NHA THÔNG QUA LUẬT BỒI THƯỜNG NỘI CHIẾN

Chính phủ Tây Ban Nha vừa thông qua một đạo luật gây tranh cãi cho phép bồi thường cho các nạn nhân cuộc nội chiến Tây Ban Nha theo sau chế độ độc tài của tướng Francisco Franco, một trong những chương đen tối nhất trong lịch sử hiện đại Tây Ban Nha.

Theo luật này, tất cả các nạn nhân cuộc nội chiến chống lại Franco, gồm những người bị lưu đày, cựu tù nhân và thân nhân những người bị tử hình, sẽ nhận được bồi thường là tiền bảo hiểm 1 năm.

Luật này cũng cấm các biểu tượng và các hình ảnh có liên quan tới chế độ của Franco giai đoạn 1939-1975 ở những tòa nhà công cộng và yêu cầu chính quyền địa phương đổi tên các con đường hay các quảng trường đã được đặt tên dưới chế độ độc tài Franco hay gợi nhớ chế độ này.

Theo phó thủ tướng Maria Teresa Fernandez de la Vega, luật này sẽ giúp hàn gắn và không làm khơi lại các vết thương cũ trong lòng người dân Tây Ban Nha. Bà bày tỏ hy vọng Tây Ban Nha “khép lại một chương bi thảm trong lịch sử”.

Phe bảo thủ đã phản đối việc bồi thường cho nạn nhân nội chiến, nói rằng việc này chống lại tinh thần hòa giải dân tộc của một đất nước dân chủ. Sau cái chết của Franco vào năm 1975, người Tây Ban Nha đã thông qua một hiệp ước không chú trọng vào các vết thương trong quá khứ mà thay vào đó là làm việc để tái xây dựng quốc gia.

“Xem xét lại lịch sử là một sai lầm lớn”, Mariano Rajoy, lãnh đạo Đảng Nhân dân nói. “Tây Ban Nha nên hướng về tương lai và giải quyết các vấn đề người dân thật sự quan tâm. Đa số người Tây Ban Nha không muốn nói về nội chiến hay Franco”.

Trong khi đó một số đảng cánh tả và các Hội nạn nhân chiến tranh cho rằng luật này chưa đầy đủ, thiếu phần kết tội chế độ Franco và các biện pháp như bãi bỏ các phiên xử giản lược của chế độ độc tài.

Luật này, do một ủy ban đặc biệt của chính phủ soạn thảo, dự kiến sẽ sớm được quốc hội thông qua.

**************************************

TƯỜNG VY (Theo AP)

Việt Báo (Theo_TuoiTre)

BỊ KIỆN VÌ KHUYẾN KHÍCH NGƯỜI TIÊU DÙNG SỬ DỤNG VIAGRA

Tổ chức phòng chống AIDS Healthcare Foundation (AHF) đã nộp đơn kiện công ty dược phẩm Pfizer Inc. vì khuyến khích người tiêu dùng sử dụng thuốc tăng lực Viagra như một sản phẩm “ăn chơi”.

Tổ chức AHF, một tổ chức phi lợi nhuận tại Mỹ, khẳng định họ muốn Viagra bị cấm bán nếu công ty dược phẩm Pfizer, nơi sản xuất loại thuốc điều trị chứng bất lực ở nam giới này, liên hệ sản phẩm của họ với một lối sống hưởng thụ tình dục hay như một cách thức tăng cường các quan hệ tình dục.

Theo AHF, thuốc Viagra đã khiến nam giới có nguy cơ tổn hại sức khỏe và tạo điều kiện cho việc gia tăng các ca nhiễm HIV cùng nhiều căn bệnh lây truyền qua đường tình dục.

AHF cáo buộc nhiều chương trình quảng cáo Viagra của công ty Pfizer phát trên các phương tiện thông tin đại chúng trong những năm gần đây là không chấp nhận được (hình ảnh một người đàn ông mỉm cười tự hỏi: “Bạn làm gì trước đêm Noel?” hay yêu cầu nam giới hãy là “cầu thủ” giỏi nhất trong ngày chủ nhật, hay những câu có nội dung gợi đến cuộc sống tình dục một cách dung tục) và những người đàn ông xuất hiện trong quảng cáo đa số là những thanh niên.

Ông Michael Weinstein, chủ tịch AHF nhận định dựa vào cáo quảng cáo trên, Viagra được xem là một loại “thuốc ăn chơi” dành cho hoạt động tình dục của những người đàn ông khỏe mạnh!

*****************************************

ĐỨC TRƯỜNG (Theo Reuters)

Việt Báo (Theo_TuoiTre)

LATVIA CÓ XU HƯỚNG RA LUẬT KHẮT KHE VỚI QUYỀN CÔNG DÂN

Latvia vừa nêu ra những đạo luật mới khắt khe hơn về quyền công dân. Theo đó, quyền công dân sẽ bị từ chối nếu ứng viên trong 3 lần liên tục không thi đậu bài kiểm tra về tiếng Latvia.

Tiếng Latvia được khôi phục và xem là ngôn ngữ chính kể từ khi Latvia tách ra khỏi Liên Xô vào năm 1991.

Tuy nhiên, vẫn có hơn 20% dân số còn nói tiếng Nga như tiếng mẹ đẻ và vẫn có hơn 400.000 người chưa được công nhận quyền công dân.

Suốt năm mươi năm dưới thời Liên Xô cũ, hàng ngàn người Latvia bị đưa ra sống ở các khu trại lao động ở Siberi trong khi hàng trăm ngàn người Nga, Belarus và Ukraina lại đến sống tại Latvia.

Phần lớn dân sống tại Latvia không được hưởng quyền công dân đều là dân gốc Nga. Những người này được mô tả như “những người không có quyền công dân”, họ không có hộ chiếu của EU dù Latvia đã gia nhập EU từ năm 2004 và dĩ nhiên họ cũng không có quyền bầu cử.

Luật mới với việc nâng cao khả năng sử dụng ngôn ngữ qua các kỳ thi bắt buộc dường như chỉ khiến cho việc nhập tịch trở nên khó khăn hơn.

Theo bà Liga Lukso, người đại diện cho Ủy ban Nhập tịch thì có khá nhiều người tham gia kỳ thi ngôn ngữ mà không chuẩn bị gì “điều này cho thấy những người dự thi này thiếu thái độ nghiêm túc đối với việc được cấp quyền công dân Latvia”.

Những sửa đổi về quyền công dân được chính phủ thông qua sẽ không cần quốc hội phê chuẩn.

***********************************

TIỂU HY (Theo BBC)

Việt Báo (Theo_TuoiTre)

NICARAGUA CẤM PHÁ THAI TRONG MỌI TRƯỜNG HỢP

Với 52 phiếu thuận và không có phiếu chống, hôm qua quốc hội Nicaragua đã thông qua dự luật cấm phá thai ngay cả trong trường hợp tính mạng người mẹ bị đe dọa.

Nicaragua hiện đã có luật khá chặt chẽ chống lại việc phá thai, với quy định phụ nữ và các bác sĩ tham gia phá thai sẽ bị phạt tù đến 6 năm. Trong dự luật mới có điều khoản đề nghị gia tăng hình phạt lên đến 30 năm, tuy nhiên không được các nghị sĩ chấp thuận.

Theo hãng tin Reuters, hàng trăm người đã biểu tình phản đối bên ngoài tòa nhà quốc hội ở thủ đô Managua. Ho cho rằng luật này là án tử hình đối với khoảng 400 phụ nữ có mang ngoài dạ con ở Nicaragua mỗi năm. “Họ đang buộc nhiều phụ nữ và các em gái đi vào chỗ chết”, một người phản đối tên Xiomara Luna nói.

Các tổ chức bảo vệ quyền phụ nữ cũng chống đối quyết liệt. Một nhóm nhân quyền có tên Phong trào tự trị phụ nữ đang chuẩn bị đệ đơn xin lệnh cấm của tòa án để ngăn luật này.

Hiện dự luật còn phải chờ Tổng thống Enrique Bolanos ký thông qua. Tuy nhiên, theo biên tập viên khu vực châu Mỹ của BBC, một cuộc thăm dò ý kiến tại Nicaragua, với khoảng 85% người theo đạo Thiên chúa, cho thấy đa số người ủng hộ luật này.

**************************

T.VY (Theo BBC, Telegraph)

Việt Báo (Theo_TuoiTre)

MỘT CÂU CHUYỆN VỀ QUẢN LÝ TÀI SẢN LÀ NGUỒN NGUY HIỂM CAO ĐỘ

Những người lái xe không khóa cửa ôtô và để mặc chúng tại các điểm công cộng ở Bỉ sẽ phải chịu khoản tiền phạt khá thích đáng 50 euro (tương đương 1 triệu đồng).

Giới lập pháp Bỉ kiên quyết bảo vệ qui định này với lập luận khá thuyết phục rằng không khóa cửa xe chính là một trong những nguyên nhân khiến nạn trộm cắp ôtô gia tăng ở nước này. Điểm gây tranh cãi ở đây là mức phạt quá cao trong khi đây là một lỗi nhẹ, không gây nguy hiểm cho người khác.

Cho đến ngày 31-3 vừa qua, lỗi này vẫn được coi như một lỗi nặng và bị phạt đến 150 euro. Tuần qua, điều trần trước quốc hội, Bộ Giao thông Bỉ và Bộ Tư pháp đã quyết định tiếp tục duy trì việc xử lý các trường hợp không khóa cửa xe, nhưng giảm mức phạt xuống.

Theo số liệu năm 2005, cảnh sát Bỉ đã lập biên bản 428 trường hợp với lý do không khóa cửa sau khi rời ôtô. Trong năm nay, tại Bỉ đã xảy ra 15.000 vụ trộm cắp xe hơi.

************************************************

SƠN NGUYỄN (Theo AHN)

Việt Báo (Theo_TuoiTre)

BỆNH NHÂN NGHÉP NỘI TẠNG BỊ ĐÁNH CẮP CÓ THỂ PHẢI RA TÒA

Hơn 40 bệnh nhân Anh đang có nguy cơ phải ra toà vì đã cấy ghép nội tạng người bị đánh cắp tại Mỹ. Trong khi đó, toà án New York (Mỹ) đã buộc tội bảy chủ công ty mai táng tại đây vì liên quan đến đường dây buôn lậu nội tạng người chết.

Theo khẳng định của văn phòng luật sư Irwin Mitchell tại Anh, những bệnh nhân này đã cấy ghép tủy từ hơn 1.000 thi thể, trong đó có Alistair Cooke – người giới thiệu chương trình của đài truyền hình BBC qua đời ở Mỹ, bị một băng nhóm có tổ chức đánh cắp tại các nhà xác ở New York để bán ra thị trường đen nội tạng người.

Một người phát ngôn của văn phòng này cho biết những bệnh nhân trên đang nằm trong tầm ngắm của vụ xét xử các “tổ chức và các cá nhân ở Anh và Mỹ” liên quan đến đường dây buôn lậu nội tạng người chết ở Mỹ.

Clive Garner, thành viên văn phòng luật sư cho biết họ vẫn chưa thể biết chính xác số bệnh nhân được ghép tuỷ trên. Trong khi đó, theo cơ quan y tế Anh, 25 bệnh viện Anh đã sử dụng các nội tạng bị đánh cắp này đồng thời nhấn mạnh sự việc trên gây ra những nguy cơ lây nhiễm các căn bệnh như AIDS và giang mai.

Tại Mỹ, bảy giám đốc công ty mai táng tại New York (Mỹ) bị toà án cáo buộc đã tham gia ở nhiều mức độ khác nhau vào một hệ thống buôn lậu xương và nội tạng có quy mô lớn. Đây là đường dây cung cấp nội tạng sang Anh. Theo cơ quan điều tra, hệ thống buôn lậu này đã thu bất chính hàng triệu USD từ những xác người bị đánh cắp.

Để đưa ra ánh sáng, một cuộc điều tra được tiến hành vào năm ngoái đối với công ty Mỹ Biomedical Tissue Services có trụ sở tại bang New Jersey, với cáo buộc đã không kiểm tra rõ ràng nhân thân của những người hiến tạng khi “xuất khẩu” 82 “đơn vị” tủy đến Anh. Từ sự việc trên, từ tháng 2-2006, hàng loạt cơ sở mai táng tại Rochester, Manhattan, Brooklyn và Bronx bị khám xét và bị cáo buộc đã cung cấp các tử thi bất hợp pháp.

Trong vòng năm năm, hệ thống buôn lậu này đã trích xuất nội tạng trên 1.077 tử thi và bán cho các công ty chuyên hoạt động trong lĩnh vực cung ứng cho các cuộc phẫu thuật ghép tạng trên thế giới. Trên thị trường hợp pháp, một tử thi có thể mang lại 250.000 USD cho các công ty này.

************************************************

ĐỨC TRƯỜNG (Theo AFP, Cyberpresse)

Việt Báo (Theo_TuoiTre

TRUNG QUỐC CẤM MUA BÁN TRỨNG, TINH TRÙNG BẤT HỢP PHÁP

Bộ Y tế Trung Quốc vừa ban hành lệnh cấm mua bán trứng, tinh trùng, hợp tử và phôi thai, đồng thời ban hành những quy định mới về việc hỗ trợ sinh sản (ART).

Một tuyên bố từ Bộ này cho biết họ đã thành lập một ủy ban bao gồm nhiều chuyên gia làm nhiệm vụ xem xét và thảo luận về việc cấp giấy phép cho các hoạt động hỗ trợ sinh sản và mở ngân hàng tinh trùng.

“Trung Quốc cấm mua bán dưới mọi hình thức trứng, tinh trùng, hợp tử, phôi thai và sẽ không cho phép bất kỳ hành vi thu gom trứng và tinh trùng bất hợp pháp nào. Những người vi phạm sẽ bị phạt thật nặng”, tuyên bố trên cho biết.

Bộ Y tế cũng đã ban hành quy định về việc quản lý các công nghệ hỗ trợ sinh sản, thành lập các ngân hàng tinh trùng và thủ tục xin giấy chứng nhận. Cũng theo thông báo, có 88 tổ chức đã được cho phép thực hiện điều trị hỗ trợ sinh sản tại Trung Quốc, và 10 tổ chức được chấp thuận thành lập các ngân hàng tinh trùng.

*******************************

Nguồn: tuoitreonline.com.vn

MỘT CÂU CHUYỆN VỀ KHÁI NIỆM TÀI SẢN VÀ SỞ HỮU

TRUNG QUỐC: cấm bán đất Mặt trăng

Cuối tuần rồi, tòa thượng thẩm Trung Quốc đã ra phán quyết rằng các vật thể vũ trụ không thuộc sở hữu của bất kỳ một ai, vì vậy việc buôn bán đất Mặt trăng của công ty “Đại sứ Mặt trăng ở Trung Quốc” là hành vi bất hợp pháp.

Theo đó, tòa thượng thẩm của Bắc Kinh đã ra quyết định tịch biên tài sản công ty “Đại sứ Mặt trăng ở Trung Quốc”, nơi đã sang nhượng các phần đất trên Mặt trăng với giá 600 nhân dân tệ/ha. Theo Tân Hoa Xã, chỉ trong ba ngày, công ty này đã sang nhượng trái phép cho hơn 30 khách hàng và bỏ túi hơn 14.000 nhân dân tệ. Tổng cộng công ty này đã bán 20 ha đất Mặt trăng cho 34 người.

Trước đó, vào tháng 10-2005, sau khi vụ việc diễn ra, tòa án sơ thẩm đã hủy bỏ giấy phép hoạt động của công ty và tuyên phạt 50.000 nhân dân tệ (6.500 USD). Theo tòa án, đây là hành vi mua bán, sang nhượng trái pháp luật bởi Trung Quốc đã ký kết hiệp ước quốc tế về không gian vào năm 1983 (qui định khoảng không vũ trụ, bao gồm Mặt trăng và các vật thể vũ trụ khác, không thuộc quyền chiếm hữu của bất kỳ quốc gia nào).

*******************************

Nguồn: tuoitreonline.com.vn

BỘ LUẬT DÂN SỰ PHÁP

Bộ luật Dân sự Pháp (tiếng Pháp: Code Civil) còn gọi là Bộ luật Napoléon là bộ luật về dân sự được kiến lập bởi Napoléon Bonaparte vào năm 1804. Với Code Civil có lẽ Napoléon đã tạo nên một tác phẩm luật quan trọng nhất của thời kỳ Hiện đại. Tại Pháp, về nhiều phần cơ bản, bộ luật Napoléon này vẫn còn hiệu lực cho đến ngày nay.

Lịch sử

Các phác thảo đầu tiên cho một bộ luật dân sự đã được tiến hành ngay từ trong những năm 1793 đến 1797 của cuộc Cách mạng Pháp. Năm 1800 Napoléon chỉ định một ủy ban bốn người dưới sự lãnh đạo của Jean-Jacques Régis de Cambacérès để tạo thống nhất trong luật pháp. Cho đến thời điểm đó trong miền Nam nước Pháp Luật La Mã vẫn còn hiệu lực, trong miền Bắc là luật theo tập quán được truyền lại cũng như là luật tạm thời của Cách mạng Pháp trong một vài năm. Mục đích của ủy ban là tạo nên một gạch nối giữa Luật La Mã và luật theo tập quán và đặc biệt là giữa Luật La Mã và luật cách mạng. Tư tưởng của cuộc Cách mạng Pháp thể hiện trước tiên là trong nguyên tắc tất cả đều bình đẳng trước pháp luật, bảo vệ và sự tự do của cá nhân và của sở hữu cũng như là chia cắt nghiêm ngặt giữa nhà thờ và quốc gia. Một tác phẩm 5 tập của luật sư Jean Domat được xem như là nguồn quan trọng cho bộ luật.

Bộ luật cũng được đưa vào áp dụng trong các quốc gia chịu ảnh hưởng lớn của Pháp trong thời gian từ 1807 đến 1814 (thí dụ như Đại công quốc Warszawa (tiếng Anh: Warsaw), Đại công quốc Luxembourg, Mexico, Ai Cập, một số bang của Hoa Kỳ hay Vương quốc Hà Lan). Tại Đức bộ luật này có hiệu lực trực tiếp trong các vùng tả ngạn sông Rhein do nước Pháp chiếm đóng, trong một số quốc gia của Liên minh Rhein (tiếng Đức: Rheinbund) (Vương quốc Westfalen, Frankfurt am Main, Berg, Anhalt-Köthen) bộ luật được đưa vào sử dụng không có thay đổi lớn.

Chỉ trong vòng vài năm bộ luật đã có hiệu lực từ Lissabon đến Vacsava và từ Hà Lan cho đến bờ biển Adria. Thất bại của Napoléon tại Waterloo đã không kìm hãm được việc truyền bá bộ luật này: đặc biệt là ở Tây Âu và Nam Âu cũng như là ở Bắc Mỹ và Nam Mỹ các bộ luật đều hướng về Code Civil. Tuy vậy một vài quy định có nguồn gốc từ cuộc cách mạng cũng là điểm yếu: tại nhiều vùng quyền kế thừa ngang nhau của tất cả các người con dẫn đến việc chia cắt sở hữu đất đai thành những mảnh đất nhỏ không còn mang lại lợi tức; phụ nữ bị đặt dưới quyền của một người giám hộ và vì vậy đã bị đặt vào một vị trí bất lợi chưa từng có, việc li dị ưu tiên một phía cho người đàn ông.

Tại Pháp trong số 2.285 điều khoản hiện đang có hiệu lực của bộ luật là vẫn còn 1.200 điều khoản phù hợp với tác phẩm nguyên thủy.

Năm 2004 tại 22 quốc gia đã có lễ kỷ niệm 200 năm ngày thành lập tác phẩm này.

Nội dung

Từ khi có hiệu lực vào năm 1804 Bộ luật Dân sự Pháp được chia thành 3 quyển:

  • Livre I: Des personnes (Cá nhân)
  • Livre II: Des biens et des différentes modifications de la propriété (Tài sản và thay đổi khác của sở hữu)
  • Livre III Des différentes manières dont on acquiert la propriété (Các cách khác nhau để đạt được sở hữu)

Năm 2000 quyển thứ tư (Dispositions applicables à Mayotte) được thành lập quy định về việc áp dụng của bộ luật trên lãnh thổ hải ngoại Mayotte.

*********************************

NGUỒN: http://vi.wikipedia.org