LUẬT BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG MALAYSIA 1999

PHẦN I : QUY ĐỊNH CHUNG

1. Giới thiệu và chú thích

(1) Luật này có thể được viện dẫn như Luật bảo vệ người tiêu dùng năm 1999.

(2) Bộ trưởng sẽ quy định ngày có hiệu lực của luật này qua thông báo của Công báo. Bộ trưởng có thể chỉ định ngày có hiệu lực khác cho một số điều khoản của Luật này

2. Đối tượng điều chỉnh

(1) Theo quy định của tiểu mục (2), Luật này được áp dụng đối với hàng hóa và dịch vụ được chào bán hoặc cung cấp cho một hoặc một số người tiêu dùng

(2) Luật này không áp dụng đối với:

(a) Chứng khoán được quy định trong Luật kinh doanh chứng khoán 1983 [Luật 280]

(b) Đối với hợp đồng trong tương lai quy định trong Luật kinh doanh hàng hóa mua bán giao sau 1993 [Luật 499]

(c) Đối với hợp đồng được ký kết trước khi Luật này có hiệu lực

(d) Liên quan đến đất hoặc các quyền lợi gắn với đất trừ trường hợp được quy định chi tiết trong Luật này

(e) Đối với dịch vụ được cung cấp bởi những nhà cung cấp thuộc các lĩnh vực được điều chỉnh bởi văn bản luật khác

(f) Đối với dịch vụ chăm sóc sức khỏe do nhà cung cấp sức khỏe chuyên nghiệp hoặc các cơ sở y tế cung cấp; và

(g) Đối với các giao dịch thương mại được tạo bởi các phương tiện điện tử trừ trường hợp do Bộ trưởng quy định

(3) Dù có quy định tại tiểu mục (1) và (2), Luật này vẫn có thể được áp dụng cho mọi vấn đề quy định tại Điều 103

(4) Việc áp dụng Luật này sẽ được bổ sung và không ảnh hưởng đến bất kỳ luật nào điều chỉnh quan hệ hợp đồng

3. Giải thích thuật ngữ

(1) Trong luật này, trừ khi có quy định khác, “có được” liên quan đến

(a) hàng hóa, bao gồm hàng hóa có được do mua, trao đổi hoặc thuê (động sản hoặc bất động sản), hoặc thuê mua

(b) dịch vụ, bao gồm chấp nhận dịch vụ bằng bất kỳ cách thức nào và “có được” cũng sẽ được hiểu như vậy

“Quảng cáo” bao gồm các hình thức quảng cáo, có hoặc không có lời nói hoặc viết hoặc các âm thanh, chữ viết khác và có hoặc không được chứa đựng hoặc phát hành trong các ấn phẩm và bao gồm sự quảng cáo-

(a) Bằng việc thể hiện thông báo;

(b) Bằng các phương tiện như ca-ta-lô, danh sách giải, giấy báo gửi khách hàng, nhãn, thẻ hoặc các văn bản hoặc chất liệu khác

(c) bằng triển lãm phim, tranh hoặc hình ảnh hoặc

(d) bằng các phương tiện rađiô, tivi, viễn thông hoặc các phương tiện tương tự

“Kinh doanh” là mọi cam kết được thực hiện để đạt được hoặc trao cho và do đó thu nhận hoặc cung cấp hàng hóa với một giá nhất định

“Người tiêu dùng” là người –

Continue reading

MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG UCRAINA

Luật “Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng” của Ucraina quy định rõ ràng quyền lợi và trách nhiệm của cả người bán hàng và người mua hàng trong hoạt động kinh doanh buôn bán. Luật này cũng chỉ rõ những cơ sở pháp lý và trình tự giải quyết trong trường hợp nảy sinh mâu thuẫn giữa hai bên. Xin tóm tắt những phần quy định chính trong điều luật này, để mọi người tham khảo.

Quyền hạn người tiêu dùng khi mua phải hàng kém chất lượng:

Điều 8, Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng quy định về quyền hạn của người tiêu dùng trong trường hợp mua phải hàng hóa kém chất lượng, như sau:

Trường hợp phát hiện hàng kém chất lượng trong thời hạn bảo hành, người tiêu dùng có quyền yêu cầu người bán:

1. Giảm giá trị hàng hóa.

2. Sửa chữa hàng hóa miễn phí trong thời hạn nhất định.

3. Bồi thường chi phí cho việc sửa chữa hàng hóa.

Trường hợp hàng hóa hỏng hóc nghiêm trọng do lỗi của nhà sản xuất hay người bán hàng, hoặc hàng hóa không đúng chất lượng, chủng loại, người tiêu dùng có quyền yêu cầu người bán hàng hoặc nhà sản xuất:

1. Trả lại tiền mua hàng.

2. Đổi hàng khác cùng mẫu mã, chất lượng trong số hàng hóa đang có.

Quyền hạn người tiêu dùng khi mua hàng chất lượng:

Điều 9, Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng nói về quyền hạn của người tiêu dùng trong trường hợp mua hàng chất lượng, như sau:

1. Người mua hàng có quyền yêu cầu đổi hàng chất lượng (trừ những mặt hàng trong danh sách quy định miễn đổi) sang loại hàng tương đương, nếu hàng hóa đã mua không đáp ứng được yêu cầu về hình thức, chủng loại, kích cỡ, màu sắc, hoặc vì những nguyên nhân khác, dẫn đến việc không thể sử dụng được hàng hóa theo đúng chức năng, tác dụng.

Người tiêu dùng có quyền đổi hàng chất lượng trong vòng 14 ngày, không kể ngày mua hàng. Hàng hóa có thể được đổi trong trường hợp chưa sử dụng, hoặc đã qua sử dụng nhưng còn mới, vẫn đảm bảo giá trị sử dụng, dấu, nhãn mác…

2. Trong trường hợp không có mặt hàng tương đương tại thời điểm đổi hàng, người tiêu dùng có quyền đổi sang loại hàng khác đang được bày bán, sau khi tính chênh lệch giá cả giữa hai mặt hàng; hoặc yêu cầu trả lại tiền; hoặc đợi đổi đúng loại hàng đã mua.

Continue reading

NHÀ Ở XÃ HỘI: KINH NGHIỆM CỦA CÁC NƯỚC PHÁT TRIỂN

TS. NGUYỄN NGỌC ĐIỆN

Ở các nước phát triển, nhà ở xã hội chủ yếu dành cho người có thu nhập ổn định thuộc loại thấp so với mặt bằng chung. Người quan tâm đến loại nhà ở này thường là lao động phổ thông thuộc các ngành nghề, cả trong hai khu vực công và tư. Các chung cư xã hội còn có thể dung nạp những người thuộc các thành phần khác, như sinh viên hoặc công chức trẻ, nhưng sự hiện diện của họ không mang tính tiêu biểu

Trong trường hợp điển hình, cư dân trong nhà ở xã hội là những người đã bước sang tuổi trung niên. Sau bao nhiêu năm vật vã với cuộc mưu sinh, họ hầu như đã an phận, chấp nhận vị trí xã hội khiêm tốn của mình, tương ứng với năng lực tạo của cải cũng khiêm tốn. Không (hoặc không còn) nuôi mộng cao xa, họ chỉ mong có một nơi nương thân, cho họ và gia đình, phù hợp với khả năng chi trả.

Tư tưởng chủ đạo của chính sách nhà ở xã hội là làm thế nào để người có thu nhập thấp được định cư trong những điều kiện tốt nhất có thể. Điều đó cần thiết cho việc bảo tồn lực lượng lao động không thể thiếu trong xã hội. Xây dựng chung cư xã hội cũng góp phần xây dựng các cộng đồng thị dân có tổ chức, nhằm hạn chế khả năng hình thành một cách tự phát các khu dân cư của người có thu nhập thấp, nhếch nhác, bẩn thỉu, còn gọi là khu nhà ổ chuột, với đầy rẫy vấn nạn xã hội nhức nhối.

Chắc chắn không thể chỉ dựa vào lòng nhân đạo hoặc ý thức tự giác của nhà đầu tư bất động sản để hiện thực hoá ý tưởng tốt đẹp ấy; Nhà nước chủ động can thiệp bằng cách đặt ra khung pháp lý cho sự hình thành chung cư xã hội, đặc biệt là xây dựng bộ tiêu chí kỹ thuật cho căn hộ trong chung cư xã hội. Dù mang tên “xã hội”, căn hộ phải có đầy đủ các tiện nghi đặc trưng cho cuộc sống thị dân, như điện, nước, nhà tắm, phòng ăn, nhà bếp, hệ thống truyền hình cáp, điện thoại,… Tất nhiên, các thiết bị tiện ích không thể thuộc các loại hàng hiệu đắt tiền, mà chỉ cần thoả mãn yêu cầu phục vụ tốt cho cuộc sống hàng ngày của con người.

Tư tưởng chủ đạo của chính sách nhà ở xã hội là làm thế nào để người có thu nhập thấp được định cư trong những điều kiện tốt nhất có thể. Điều đó cần thiết cho việc bảo tồn lực lượng lao động không thể thiếu trong xã hội

Người có thu nhập thấp có hai sự lựa chọn: mua hoặc thuê căn hộ. Do được trang bị tiện nghi khá, nhà ở xã hội thường có giá thành tương đối cao, dù trên nguyên tắc, đây là sản phẩm của các dự án đầu tư bất động sản phi lợi nhuận. Không có nhiều tiền dành dụm, người có thu nhập thấp trong hầu hết trường hợp thích thuê hơn là mua nhà.

Continue reading

ĐIỀU KHOẢN ĐIỀU CHỈNH HỢP ĐỒNG DO HOÀN CẢNH THAY ĐỔI TRONG PHÁP LUẬT NƯỚC NGOÀI VÀ KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

THS. LÊ MINH HÙNG – Đại học Luật TPHCM

Hợp đồng được thiết lập hợp pháp thì có hiệu lực như pháp luật đối với các bên từ thời điểm giao kết mà các bên không được tự ý sửa đổi, hoặc hủy bỏ (1). Đây chính là yêu cầu mang tính bản chất của hiệu lực hợp đồng và là nội dung cơ bản của nguyên tắc hiệu lực bất biến (pacta sunt servanda)(2) trong lĩnh vực hợp đồng. Nhưng quan hệ hợp đồng không phải là bất biến mà “ngày càng mang tính chất của một quá trình” và “hàm chứa nhiều loại rủi ro” (3).

Thật vậy, trong quá trình thực hiện các hợp đồng, nhất là các hợp đồng dài hạn, những người kinh doanh quốc tế thường đối mặt với những rủi ro bất thường từ thiên nhiên, xã hội, kinh tế, kỹ thuật, thậm chí là rủi ro về con người, làm đảo lộn sự cân bằng vốn có của hợp đồng, làm cho một bên gặp phải khó khăn đặc biệt trong việc thực hiện nghĩa vụ của mình, thậm chí không thể thực hiện được nghĩa vụ trong hợp đồng.

Ban đầu, những trường hợp này được giải quyết bằng các cơ chế giải phóng nghĩa vụ của luật hợp đồng cổ điển (4), như cho phép bên vi phạm được chấm dứt hợp đồng và được miễn trách dựa trên điều khoản bất khả kháng. Về sau, người ta thấy rằng, điều khoản bất khả kháng không còn thích hợp để giải quyết nhiều vấn đề được đặt ra từ thực tiễn (5), vì trong nhiều trường hợp, cách giải quyết dựa trên điều khoản này không bảo đảm được sự công bằng cho các bên. Để có cơ chế khác thích hợp hơn trong việc bảo đảm lợi ích các bên nhằm phân chia hợp lý rủi ro và tái lập sự cân bằng của hợp đồng, các nhà kinh doanh thương mại quốc tế đã đưa vào hợp đồng của họ một điều khoản cho phép bên gặp khó khăn đặc biệt được yêu cầu bên kia đàm phán lại hợp đồng. Điều khoản này được gọi là điều khoản đàm phán lại hợp đồng khi có sự thay đổi do hoàn cảnh dẫn đến khó khăn đặc biệt trong việc thực hiện hợp đồng, được gọi ngắn gọn là “hardship”. Khái niệm “hardship” và các khái niệm tương tự cũng đã được thừa nhận trong nhiều hệ thống pháp luật, như “force majeure”, “commercial impracticability”, “frustration of purpose”(6) hay “change of circumstances” trong Thông luật (7), “Wegfall der Geschaftsgrundlage” trong tiếng Đức, hoặc được các học giả người Đức dùng với thuật ngữ khác là “the foundation of the transaction” (8). Nhưng thuật ngữ “hardship” được sử dụng trong bảng tiếng Pháp của Bộ nguyên tắc UNIDROIT đã được chấp nhận rộng rãi trong thực tiễn thương mại quốc tế (9), nên sẽ được sử dụng thường xuyên trong bài viết này.

Hardship – hiểu nôm na là điều khoản quy định cho phép một bên trong hợp đồng có quyền xin điều chỉnh hợp đồng, khi có những thay đổi về hoàn cảnh và môi trường kinh tế, tới mức gây ảnh hưởng đặc biệt xấu đến quyền lợi của một bên, làm mất đi cân bằng kinh tế của hợp đồng, làm cho việc thực hiện hợp đồng trở nên cực kỳ khó khăn và tốn kém. Theo đó, điều khoản hardship quy định những cơ chế can thiệp hợp lý vào hiệu lực hợp đồng, như cho phép các bên yêu cầu tòa án điều chỉnh hoặc nếu không điều chỉnh được thì cho chấm dứt hợp đồng, nhằm tái lập sự cân bằng về lợi ích giữa các bên trong hợp đồng, theo những căn cứ, thủ tục, điều kiện chặt chẽ và hạn chế.

1. Điều khoản hardship trong pháp luật các nước và tập quán thương mại quốc tế

Khái niệm hardship xuất hiện trong thực tiễn thương mại vào những năm 1960 và được trình bày lần đầu tiên trong các nghiên cứu của Marcel Fontaine, in trong quyển “Pháp luật hợp đồng quốc tế”, xuất bản năm 1989 (10). Nội dung của điều khoản hardship cũng được thể hiện trong các hợp đồng thương mại quốc tế, dưới nhiều dạng điều khoản khác nhau. Theo Marcel Fontain, từ những năm 1975, nhóm nghiên cứu của ông tập hợp được hơn 120 điều khoản hardship từ thực tiễn thương mại (11). Một số điều khoản loại này đã được Henry Lesguillons khái quát lại và trình bày trong Hội thảo quốc tế tổ chức ở Hà Nội năm 2004 (12). Có nhiều nước trên thế giới từng công nhận và xây dựng khung pháp lý và án lệ cho điều khoản hardship để điều chỉnh hợp đồng trong trường hợp hoàn cảnh thay đổi. Có thể kể đến một số quốc gia sau đây:

Continue reading

CHẾ ĐỊNH THU HỒI TÀI SẢN TRONG CÔNG ƯỚC LIÊN HỢP QUỐC VỀ CHỐNG THAM NHŨNG VÀ KHẢ NĂNG ĐÁP ỨNG CỦA VIỆT NAM

THS. NGUYỄN QUỐC VĂN – Vụ Hợp tác quốc tế, Thanh tra Chính phủ

Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng (sau đây gọi tắt là Công ước) là một điều ước quốc tế đa phương do các quốc gia và tổ chức quốc tế thoả thuận xây dựng nên, với mục tiêu là hình thành một khuôn khổ pháp lý toàn cầu cho sự hợp tác giữa các quốc gia nhằm phòng ngừa và đấu tranh có hiệu quả với tình trạng tham nhũng đang trở thành vấn đề bức xúc của cộng đồng quốc tế.

Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng (sau đây gọi tắt là Công ước) là một điều ước quốc tế đa phương do các quốc gia và tổ chức quốc tế thoả thuận xây dựng nên, với mục tiêu là hình thành một khuôn khổ pháp lý toàn cầu cho sự hợp tác giữa các quốc gia nhằm phòng ngừa và đấu tranh có hiệu quả với tình trạng tham nhũng đang trở thành vấn đề bức xúc của cộng đồng quốc tế. Công ước đã được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 07/10/2003 trong phiên họp lần thứ 58 tại Niu -oóc. Việt Nam đã tham gia đầy đủ 07 vòng đàm phán xây dựng Công ước trong thời gian từ tháng 3 năm 2002 đến tháng 10 năm 2003. Ngày 10/12/2003, tại Hội nghị cấp cao để ký Công ước được tổ chức tại Mê -hi-cô, thừa uỷ quyền của Thủ tướng Chính phủ, Tổng Thanh tra nhà nước đã cùng đại diện của 95 quốc gia khác tham gia ký Công ước. Theo quy định của Luật Quốc tế, việc mỗi quốc gia ký Công ước chủ yếu là biểu đạt thiện chí chính trị mà chưa ràng buộc về mặt pháp lý với Công ước. Để trở thành thành viên chính thức của Công ước, các quốc gia phải thực hiện việc phê chuẩn hay gia nhập Công ước.

Trong quá trình nghiên cứu, chuẩn bị đề xuất cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam phê chuẩn Công ước được tiến hành từ năm 2004 đến nay, thì vấn đề thu hồi tài sản tham nhũng được quy định tại Công ước đã thu hút sự quan tâm chú ý đặc biệt của các bộ, ngành, các chuyên gia nghiên cứu và các cán bộ công tác thực tiễn, nhất là khi đánh giá các yêu cầu của Công ước đối với các quốc gia thành viên về vấn đề này và bàn về khả năng đáp ứng của pháp luật và thực tiễn Việt Nam.

Việc nghiên cứu, tìm hiểu các quy định của Công ước về vấn đề thu hồi tài sản tham nhũng, đồng thời rà soát, đánh giá thực trạng và khả năng đáp ứng của pháp luật và thực tiễn Việt Nam ở thời điểm hiện tại và trong tương lai, đồng thời tham chiếu kinh nghiệm của nước ngoài là sự cần thiết khách quan đối với các cơ quan chức năng của Việt Nam trong quá trình chuẩn bị đề xuất phê chuẩn thực thi Công ước. Những vấn đề cụ thể đã và đang đặt ra trong quá trình nghiên cứu là: (1) nhận thức đúng và thống nhất về chế định thu hồi tài sản tham nhũng và các quy định có liên quan; (2) đánh giá khả năng đáp ứng của pháp luật và thực tiễn Việt Nam ở thời điểm hiện tại và trong tương lai; (3) khẳng định việc Việt Nam có bảo lưu hay không bảo lưu chế định này khi phê chuẩn Công ước; (4) nhận định những khó khăn của Việt Nam khi thực hiện chế định này sau khi phê chuẩn Công ước; (5) đề xuất nội luật hoá để thực thi các quy định này phù hợp với điều kiện thực tiễn Việt Nam. Trong bài viết này, chúng tôi xin trao đổi xung quanh các vấn đề trên.

Continue reading

PHẠM VI TƯƠNG TRỢ TƯ PHÁP VỀ DÂN SỰ

HOÀNG THU HÀ – Vụ Hợp tác quốc tế, bộ Tư pháp

Cùng với sự phát triển của xã hội và xu hướng hội nhập, toàn cầu hoá ngày một lớn mạnh giữa các quốc gia, đòi hỏi sự phát triển quan hệ hợp tác giữa các quốc gia trên mọi lĩnh vực và ở các cấp độ khác nhau. Sự hợp tác này làm phát sinh ngày một nhiều các vấn đề dân sự, hình sự, hành chính, thương mại, lao động, hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài. Sự hợp tác giữa các quốc gia trên thực tế có thể tiến hành theo nguyên tắc có đi có lại hoặc trên cơ sở điều ước quốc tế với mục đích chính là đảm bảo sự thừa nhận về quyền nhân thân và quyền tài sản của cá nhân và pháp nhân của quốc gia này trên phạm vi lãnh thổ của một quốc gia khác.

Để tiến hành hoạt động này, các quốc gia thực hiện việc ký kết các điều ước quốc tế trong đó thừa nhận và điều chỉnh sự hợp tác giữa các cơ quan tư pháp của hai bên về các vấn đề: xác định thẩm quyền của các Toà án, áp dụng pháp luật, đảm bảo các quyền tố tụng của cá nhân và pháp nhân nước ngoài, thực hiện các uỷ thác tư pháp, công nhận và thi hành các quyết định của Toà án hoặc Trọng tài nước ngoài về các vấn đề dân sự, chuyển giao tài liệu, dẫn độ tội phạm và các vấn đề khác thuộc lĩnh vực hình sự.

Trong tất cả các vấn đề được nêu ở trên, việc thực hiện các uỷ thác tư pháp, công  nhận và thi hành các quyết định của Toà án hoặc Trọng tài nước ngoài về các vấn đề dân sự, chuyển giao tài liệu, dẫn độ tội phạm và các vấn đề khác thuộc lĩnh vực hình sự được gọi chung là hoạt động tương trợ tư pháp quốc tế. Do đó, hoạt động tương trợ tư pháp quốc tế được hiểu là hoạt động mang tính trợ giúp về mặt pháp lý giữa các quốc gia, nếu không có sự trợ giúp này các cơ quan tư pháp của các quốc gia rất khó có thể thực hiện việc điều chỉnh cũng như thi hành pháp luật đối với cá nhân và pháp nhân của quốc gia mình.

Do vậy có thể khẳng định hoạt động tương trợ tư pháp quốc tế là việc các quốc gia (chủ yếu thông qua các cơ quan tư pháp như Toà án, Kiểm sát, Công an) giúp đỡ nhau về các vấn đề tư pháp (bao gồm cả dân sự và hình sự) trên cơ sở điều ước quốc tế liên quan hoặc trên nguyên tắc có đi có lại, nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nước, công dân và pháp nhân mỗi nước trên lãnh thổ của nhau. Để các hoạt động tương trợ tư pháp đạt hiệu quả và giữ vững chủ quyền, an ninh quốc gia, hoạt động tương trợ tư pháp phải tuân theo những nguyên tắc nhất định. Việc tương trợ tư pháp giữa các cơ quan tư pháp của Việt Nam và cơ quan tư pháp của các nước được thực hiện trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và cũng có lợi, phù hợp với các điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc gia nhập, phù hợp với pháp luật Việt Nam. Trong trường hợp Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước ngoài chưa ký kết hoặc gia nhập điều ước quốc tế có quy định về tương trợ tư pháp thì việc tương trợ tư pháp được Toà án Việt Nam chấp nhận trên nguyên tắc có đi có lại nhưng không được trái pháp luật Việt Nam, pháp luật và tập quán quốc tế [1].

Continue reading

LUẬT BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG ĐÀI LOAN BAN HÀNH 11 THÁNG 01 NĂM 1994, CÓ HIỆU LỰC TỪ NGÀY 13/01/1994

(Bổ sung các Điều 7-1, 10-1, 11-1, 19-1, 44-1, và từ 45-1 đến 45-5 và sửa đổi các Điều 2, 6, 7, 13, 14, 15, 16, 17, 35, 38, 39, 41, 42, 49, 50, 57, 58, và 62 vào ngày 22 tháng 1 năm 2003; bổ sung Điều 22-1 vào tháng 5 năm 2005)

Chương I – Những quy định chung

Điều 1

Luật bảo vệ người tiêu dùng (sau đây được gọi là “Luật này”) được ban hành với mục đích bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng, tạo Điều kiện an toàn và cải thiện chất lượng cho đời sống tiêu dùng của người dân.

Công tác bảo vệ người tiêu dùng phải tuân theo quy định của Luật này, trong trường hợp luật này không có các quy định cụ thể, các văn bản pháp luật khác sẽ được xem xét áp dụng.

Điều 2

Trong Luật các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. “Người tiêu dùng” là những người tham gia vào các giao dịch, sử dụng hàng hoá hoặc dịch vụ vì mục đích tiêu dùng.

2. “Doanh nghiệp kinh doanh” là những doanh nghiệp tham gia vào quá trình đặt kế hoạch, chế tạo, sản xuất, nhập khẩu hay phân phối hàng hoá, hoặc cung cấp dịch vụ.

3. “Quan hệ tiêu dùng” là quan hệ pháp lý phát sinh giữa người tiêu dùng và doanh nghiệp kinh doanh trong trong quá trình mua bán hàng hoá hoặc cung cấp dịch vụ.

4. “Tranh chấp trong tiêu dùng” là tranh chấp phát sinh do việc mua bán hàng hoá hoặc cung cấp dịch vụ giữa người tiêu dùng và doanh nghiệp kinh doanh.

5. “Vụ kiện trong tiêu dùng” là việc kiện tụng phát sinh do tranh chấp trong tiêu dùng được khởi kiện tại Tòa án.

6. “Nhóm bảo vệ người tiêu dùng” là nhóm người đại diện hợp pháp hoạt động vì mục đích bảo vệ người tiêu dùng được thành lập phù hợp với các quy định pháp luật.

7. “Điều khoản hàng loạt của Hợp đồng” là các Điều khoản được các doanh nghiệp kinh doanh đơn phương soạn thảo khi tham gia quan hệ hợp đồng với các bên không xác định với số lượng lớn. Ngoài dạng văn bản, những Điều khoản cơ bản của hợp đồng còn được thể hiện trên các bảng thông báo công cộng, máy bay, thông điệp nơi công cộng, Internet và các phương tiện khác.

Continue reading

Kinh nghiệm hòa giải ở cơ sở THEO PHÁP LUẬT CỦA LIÊN BANG ÚC

ĐẶNG HOÀNG ANH – Bộ Tư pháp

1. LEADR (Hiệp hội các nhà Giải quyết Tranh chấp)

LEADR là một tổ chức phi lợi nhuận lớn, được thành lập năm 1989, hoạt động theo cơ chế thành viên nhằm mục đích nâng cao chất lượng dịch vụ giải quyết tranh chấp ngoài Toà án (ADR). Đây là tổ chức liên lục địa Úc-Á, có văn phòng tại Australia, New Zealand, Indonesia, Malaysia, Ấn Độ, Thái Lan và Nhật Bản. Tổ chức này có chức năng đảm bảo các dịch vụ giải quyết tranh chấp bằng ADR có chất lượng cao trong khu vực thông qua các hoạt động đào tạo và công nhận hoà giải viên và trọng tài; thúc đẩy đào tạo và nghiên cứu về ADR; cấp nhật các thông tin về ADR trong nước và quốc tế cho các thành viên; cung cấp các dịch vụ đào tạo nhằm nâng cao trình độ chuyên môn một cách liên tục cho các hoà giải viên chuyên nghiệp; tạo điều kiện tiếp cận đơn giản và có hiệu quả với các hoà giải viên chuyên nghiệp; hỗ trợ các tổ chức trong việc phát triển các quy trình giải quyết tranh chấp bằng ADR có hiệu quả.

LEADR có quyền công nhận tư cách hoà giải viên theo Tiêu chuẩn Quốc gia về Hoà giải có hiệu lực vào ngày 1/1/2008. Với hơn 10 năm kinh nghiệm quản lý hệ thống công nhận hoà giải viên của mình và sự hiểu biết sâu sắc về các Tiêu chuẩn quốc gia của Úc về Hoà giải viên mới được ban hành trên đây, LEADR cung cấp một quy trình công nhận hoà giải viên chuyên nghiệp và có uy tín. LEADR đánh giá kinh nghiệm và chất lượng đào tạo của các cá nhân để quyết định các yêu cầu đào tạo bổ sung, trên cơ sở đó đánh giá dựa trên năng lực về kỹ năng của hoà giải viên. Việc được LEADR công nhận sẽ là một sự đảm bảo về chất lượng dịch vụ cho các khách hàng của các hoà giải viên.

Continue reading

KINH NGHIỆM HÒA GIẢI Ở CƠ SỞ THEO PHÁP LUẬT CỦA LIÊN BANG ÚC

ĐẶNG HOÀNG ANH – Bộ Tư pháp

1. LEADR (Hiệp hội các nhà Giải quyết Tranh chấp)

LEADR là một tổ chức phi lợi nhuận lớn, được thành lập năm 1989, hoạt động theo cơ chế thành viên nhằm mục đích nâng cao chất lượng dịch vụ giải quyết tranh chấp ngoài Toà án (ADR). Đây là tổ chức liên lục địa Úc-Á, có văn phòng tại Australia, New Zealand, Indonesia, Malaysia, Ấn Độ, Thái Lan và Nhật Bản. Tổ chức này có chức năng đảm bảo các dịch vụ giải quyết tranh chấp bằng ADR có chất lượng cao trong khu vực thông qua các hoạt động đào tạo và công nhận hoà giải viên và trọng tài; thúc đẩy đào tạo và nghiên cứu về ADR; cấp nhật các thông tin về ADR trong nước và quốc tế cho các thành viên; cung cấp các dịch vụ đào tạo nhằm nâng cao trình độ chuyên môn một cách liên tục cho các hoà giải viên chuyên nghiệp; tạo điều kiện tiếp cận đơn giản và có hiệu quả với các hoà giải viên chuyên nghiệp; hỗ trợ các tổ chức trong việc phát triển các quy trình giải quyết tranh chấp bằng ADR có hiệu quả.

LEADR có quyền công nhận tư cách hoà giải viên theo Tiêu chuẩn Quốc gia về Hoà giải có hiệu lực vào ngày 1/1/2008. Với hơn 10 năm kinh nghiệm quản lý hệ thống công nhận hoà giải viên của mình và sự hiểu biết sâu sắc về các Tiêu chuẩn quốc gia của Úc về Hoà giải viên mới được ban hành trên đây, LEADR cung cấp một quy trình công nhận hoà giải viên chuyên nghiệp và có uy tín. LEADR đánh giá kinh nghiệm và chất lượng đào tạo của các cá nhân để quyết định các yêu cầu đào tạo bổ sung, trên cơ sở đó đánh giá dựa trên năng lực về kỹ năng của hoà giải viên. Việc được LEADR công nhận sẽ là một sự đảm bảo về chất lượng dịch vụ cho các khách hàng của các hoà giải viên.

Continue reading

PHÁP LUẬT VỀ LÝ LỊCH TƯ PHÁP CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

THS. NGUYỄN MINH PHƯƠNG

Xây dựng Luật Lý lịch tư pháp (LLTP) là một vấn đề rất mới ở Việt Nam và tương đối phức tạp. Do vậy, tham khảo pháp luật về LLTP của nước ngoài là điều cần thiết. Từ đó, chúng ta tiếp thu những yếu tố hợp lý, vận dụng có chọn lọc phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội của Việt Nam.

1. Pháp luật LLTP ở Cộng hòa liên bang Đức

Ở CHLB Đức, cơ quan chuyên cung cấp các thông tin cần thiết về công dân cho các cơ quan tư pháp và hành chính có tên gọi là Cơ quan Đăng ký liên bang trung ương (CQĐKTW), có trụ sở chính đặt tại Bonn. CQĐKTW do Văn phòng Tư pháp liên bang quản lý dưới sự lãnh đạo của Bộ Tư pháp liên bang.

Để các thông tin lưu trữ tại CQĐKTW được cập nhật kịp thời, liên tục và hiệu quả, hiện nay, có ba cơ quan đăng ký được duy trì tại CQĐKTW, đó là:

– Cơ quan đăng ký tội phạm trung ương, bao gồm cả đăng ký tội phạm thanh niên;

– Cơ quan đăng ký các vi phạm về thương mại và công nghiệp;

– Cơ quan đăng ký trung ương về thủ tục tố tụng đang diễn ra.

Ba cơ quan đăng ký nêu trên nằm trong CQĐKTW và hoạt động trên cơ sở công nghệ thông tin hiện đại.

Continue reading

KINH NGHIỆM PHÁP LUẬT NƯỚC NGOÀI: BI KỊCH TRONG MỘT VỤ "ĐẺ MƯỚN" Ở ẤN ĐỘ

PHAN ANH

DÂN TRÍ – Tương lai của một bé gái 12 ngày tuổi được một phụ nữ Ấn Độ sinh ra đang trở nên mù mịt khi cặp vợ chồng người Nhật, những người đi thuê “đẻ mướn”, đã ly hôn.

Manji Yamada chào đời vào ngày 25/7 vừa qua sau khi các bác sỹ dùng tinh trùng của người đàn ông Nhật Bản, Ikufumi Yamada, 45 tuổi, thụ tinh cho trứng được một phụ nữ Ấn Độ “hiến tặng”, rồi cấy ghép vào tử cung của một phụ nữ “đẻ mướn” Ấn Độ khác.

Nhưng ông Ikufumi Yamada lại ly dị vợ sau đó và người vợ cũ của ông không còn muốn có em bé đó nữa.

Theo như ban đầu, em bé sau khi được sinh ra, có quốc tịch Ấn Độ, sẽ được cha đẻ người Nhật nhận nuôi. Tuy nhiên, luật pháp Ấn Độ lại không cho phép một người cha độc thân nhận nuôi con gái.

“Phức tạp ở chỗ, người cha này mới ly dị vợ, và luật cho nhận con nuôi của Ấn Độ không cho phép đàn ông độc thân nhận nuôi bé gái”, Sanjay Arya, vị bác sỹ hiện đang chăm sóc bé Manji cho biết.

Continue reading

KINH NGHIỆM PHÁP LUẬT NƯỚC NGOÀI VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI: VƯƠNG QUỐC ANH – NẠN NHÂN BỊ HIẾP TRONG KHI SAY RƯỢU VẪN ĐƯỢC BỒI THƯỜNG

MINH NHỰT (Theo Daily Mail)

Báo Daily Mail (Anh) ngày 13-8 đưa tin: Chính phủ Anh vừa yêu cầu điều tra sau khi có thông tin một số nạn nhân bị cưỡng hiếp đã bị cắt xén đến 25% tiền bồi thường tổn thương vì có uống rượu trước khi bị cưỡng hiếp.

Tại rượu nên mới bị…

Vụ việc được đưa ra ánh sáng khi mới đây, cô Helen (tên đã thay đổi) nhận được thư của Cơ quan Bồi thường thương tích do tội phạm gây ra (CICA) thông báo tiền bồi thường cho cô từ 11.000 bảng bị giảm xuống còn 8.250 bảng (từ 350 triệu giảm còn 264 triệu đồng VN).

Cách đây bốn năm, cô Helen lúc đó 25 tuổi đã bị kẻ xấu hãm hiếp khi đi chơi đêm ở thủ đô London. Theo báo cáo của nhân viên cảnh sát có mặt tại hiện trường vụ án, cô Helen đã uống nhiều rượu và hành vi say xỉn của cô có thể đã tạo cơ hội cho bọn xấu gây án.

Continue reading

VĂN BẢN, TÀI LIỆU VỀ PHÁP LUẬT DÂN SỰ BẰNG TIẾNG ANH

VĂN BẢN PHÁP LUẬT VỀ DÂN SỰ CỦA CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

   
1 THE CIVIL CODE OF THE REPUBLIC OF ARMENIA
   
2 THE CIVIL CODE OF FRANCE
   
3 THE CIVIL CODE OF THE PHILIPPINES
   
4 THE CIVIL CODE OF THE ISLAMIC REPUBLIC OF IRAN
   
5 THE CIVIL CODE OF THE STATE OF CALIFORNIA
   
6 THE CIVIL CODE OF THE RUSSIAN FEDERATION
   
7 THE CIVIL CODE OF MONGOLIA
   
8 THE CIVIL CODE OF INDONESIAN
   
9 THE CIVIL CODE OF THE REPUBLIC OF ALBANIA
   
10 THE CIVIL CODE OF THE REPUBLIC OF BELARUS
   
11 CALIFORNIA LAW – USA
   
12 THE CIVIL CODE OF THAILAND
   
13 THE CIVIL CODE OF JAPAN (Act No. 89 of 1896)
   
14 THE CODE OF HAMMURABI {2250 BC}
   
15 U.S. CODE COLLECTION
   

TÀI LIỆU THAM KHẢO VỀ PHÁP LUẬT DÂN SỰ TRÊN THẾ GIỚI

   
  INTELLECTUAL PROPERTY EDUCATION – JAPAN’S EXPERIENCES FOR VIETNAM By Nguyen Nhu Quynh – Hanoi Law University, Vietnam
   
  CONSEQUENCES OF VOIDNESS UNDER ARTICLE 81(2) OF THE EC TREATY AND VIETNAMESE LAW – Master Thesis – Nguyen Minh Oanh –  HLU
   
  THE STORY OF LAW
   
  THE SPIRIT OF LAWS by Charles de Montesquieu
   
  REAL PROPERTY LAW – UK
   
  REAL PROPERTY LAW AND EUROPEAN PRIVATE  – A Sketch of an Unsurveyed Territory
   
  REAL PROPERTY LAW AND PROCEDURE IN THE EUROPEAN UNION
   
  THE EU AND FAMILY LAW
   
  COMMON – LAW MARRIAGE  – INFORMAL MARRIAGE
   
  LAW & ECONOMICS OF MARRIAGE AND DIVORCE
   
  SUMMARY OF CONSTITUTIONAL RIGHTS, POWERS AND DUTIES RECOGNIZED OR ESTABLISHED IN THE U.S. CÓNTITUTION By John Roland
   
  THE LAW OF TORTS: A TREATISE ON THE PRINCIPLES OF OBLIGATIONS ARISING FROM CIVIL WRONGS IN THE COMMON LAW (4TH ED.) [1886]
   
  THE TREATISE OF THE LAWS OF NATURE
   
 
   
  INSTITUTES OF ROMAN LAW
   
  AN ESSAY ON THE HISTORY OF THE CIVIL SOCIETY
   
  THE WORKS OF JEREMY BENTHAM, VOL. 1 (PRINCIPLES OF MORALS AND LEGISLATION, FRAGMENT ON GOVERNMENT, CIVIL CODE, PENAL LAW) [1843]
   
  FREEDOM AND THE LAW (1961 ed.) [1961]
   
  LECTURES ON THE EARLY HISTORY OF INSTITUTIONS [1874]
   
  SELECT ESSAYS IN ANGLO – AMERICAN LEGAL HISTORY VOL.1
   
  SELECT ESSAYS IN ANGLO – AMERICAN LEGAL HISTORY VOL.2
   
  SELECT ESSAYS IN ANGLO – AMERICAN LEGAL HISTORY VOL.3
   
  EBOOKS VỀ PHÁP LUẬT SINGAPORE
   
  EBOOKS VỀ PHÁP LUẬT DÂN SỰ
   
  EBOOKS VỀ PHÁP LUẬT HÔN NHÂN – GIA ĐÌNH
   
  EBOOKS VỀ PHÁP LUẬT THƯƠNG MẠI
   
  EBOOKS VỀ PHÁP LUẬT HỢP ĐỒNG
   
  EBOOKS VỀ PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ
   
  EBOOKS VỀ PHÁP LUẬT VỀ GIỚI
   
  EBOOKS VỀ PHÁP LUẬT TÀI SẢN
   
  MIXED LEGAL SYSTEMS AND CIVIL PROCEDURE
   
  THÔNG TIN VỀ PHÁP LUẬT GIA ĐÌNH CỦA NHẬT BẢN
   
  THE RULE OF LAW IN TAIWAN
   
  CIVIL CASES – SUING AND BEING SUED
   
  FEATURES – THE FEDERAL CIVIL CODE OF MEXICO
   
 
   
   

CIVILLAWINFOR TỔNG HỢP THÔNG TIN TỪ CÁC NGUỒN CHO PHÉP PHỔ BIẾN

PHÁP LUẬT BỒI THƯỜNG NHÀ NƯỚC CỦA TRUNG QUỐC VÀ MỘT SỐ Ý KIẾN TRONG VIỆC XÂY DỰNG LUẬT BỒI THƯỜNG NHÀ NƯỚC CỦA VIỆT NAM

image THS. NGUYỄN ĐỖ KIÊN – Vụ Tổ chức cán bộ – Bộ Tư pháp

I. Sự hình thành và phát triển chế độ bồi thường nhà nước của Trung Quốc

Nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa được thành lập năm 1949. Năm 1949 “Cương lĩnh cộng đồng” do Đảng Cộng sản Trung Quốc và các đảng phái dân chủ khác của Trung Quốc cùng phối hợp soạn thảo và thống nhất ban hành với nội dung có ý nghĩa như một bản Hiến pháp. Năm 1954, Trung Quốc ban hành Hiến pháp nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, trong đó, Điều 99 Hiến pháp đã lần đầu tiên ghi nhận vấn đề bồi thường đối với hành vi vi phạm pháp luật do cơ quan nhà nước hoặc nhân viên của cơ quan nhà nước xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Đồng thời, chính sách và pháp luật của Trung Quốc trong thời kỳ này cũng đã qui định nhiều nội dung liên quan đến bồi thường nhà nước trong các văn bản pháp luật khác nhau.

Continue reading

CHẾ ĐỊNH TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG NHÀ NƯỚC TRONG PHÁP LUẬT CỘNG HOÀ PHÁP[1]

381819075_1a6737187a_m TS. NGUYỄN THỊ THU VÂN

1. Sự ra đời chế định trách nhiệm bồi thường Nhà nước trong pháp luật Cộng hoà Pháp
Khác với một số quốc gia theo hệ thống pháp luật thành văn khác (như Nhật Bản, Trung Quốc), Cộng hoà Pháp không có một đạo luật riêng biệt về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Chế định về trách nhiệm bồi thường Nhà nước trong pháp luật Pháp nằm tản mạn ở nhiều văn bản khác nhau và có phạm vi khá rộng. Vào thời điểm khi mới hình thành, chế định này không phải là kết quả trực tiếp của một quy trình pháp điển hoá các quy phạm pháp luật cụ thể, nghĩa là không xuất phát từ ý chí của nhà lập pháp, mà nó là kết quả của thực tiễn xét xử của các toà án Pháp. Sau nhiều năm, việc hoàn thiện chế định này mới được thực hiện qua việc ban hành một số đạo luật. Hiện nay, Pháp cũng không có hướng ban hành một đạo luật riêng biệt điều chỉnh vấn đề này.
Quá trình phát triển chế định bồi thường Nhà nước của Cộng hoà Pháp cho thấy, trước năm 1873, trong pháp luật Pháp cũng như trong thực tiễn xét xử không tồn tại chế định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước đối với cá nhân. Trong thời kỳ này, trừ một số trường hợp ngoại lệ mà cơ quan Nhà nước phải bồi thường thiệt hại do việc thực hiện công trình công cộng gây ra, Nhà nước không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho công dân. Chỉ đến ngày 8/02/1873, lần đầu tiên, qua Bản án Blanco[2] – bản án tạo ra một điểm mốc quan trọng trong sự hình thành chế định bồi thường Nhà nước của Cộng hoà Pháp và được coi là một “hòn đá tảng” trong nền pháp luật hành chính của Pháp – các thẩm phán của Toà án xung đột thẩm quyền đã thừa nhận trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

Continue reading

TÌM HIỂU PHÁP LUẬT BỒI THƯỜNG NHÀ NƯỚC Ở CANADA

image CAO ĐĂNG VINH –      Vụ PL Dân sự – Kinh tế, Bộ Tư pháp

Ngày 14 tháng 5 năm 1953, Luật về Trách nhiệm Nhà nước (Crown Liability Act) của Liên bang Canada được ban hành có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định trách nhiệm của Nhà nước đối với tất cả các loại thiệt hại do vi phạm ngoài hợp đồng gây ra do lỗi cố ý vi phạm cũng như do những lỗi bất cẩn của các cơ quan/công chức Nhà nước. Luật đã đi theo hướng xác định Nhà nước có thể phải chịu trách nhiệm về thiệt hại do cơ quan/công chức của mình gây ra như các cá nhân khác theo quy định của pháp luật dân sự nói chung.

Năm 1990, Luật về Trách nhiệm Nhà nước được sửa đổi thành Luật về Thủ tục và Trách nhiệm Nhà nước (Crown Liability and Proceedings Act). Luật này bao gồm Lời nói đầu, giải thích thuật ngữ và 2 phần, với tổng số 36 điều (section). Bên cạnh đó, Chính phủ Canada cũng ban hành Quy định hướng dẫn các nguyên tắc và thủ tục liên quan đến thủ tục tố tụng ở Toà án cấp bang theo quy định tại Phần II của Luật về Thủ tục và Trách nhiệm Nhà nước. Trên cơ sở các quy định chung của Liên bang, nhiều bang cũng ban hành Luật riêng hướng dẫn như bang Manibota ban hành Luật về Thủ tục khởi kiện Nhà nước năm 1990, bang Ontario ban hành Luật về Thủ tục khởi kiện Nhà nước năm 1990 (được sửa đổi năm 1994, 1997, 2004), bang Nova Scotia ban hành Luật về Thủ tục khởi kiện Nhà nước năm 1989 (được sửa đổi năm 1991), …

Continue reading

MỘT SỐ LUẬT BẢO VỆ NGUỜI TIÊU DÙNG CỦA HỢP CHỦNG QUỐC HOA KỲ

THƯƠNG VỤ VIỆT NAM TẠI HỢP CHỦNG QUỐC HOA KỲ

Các công ty kinh doanh tại Hoa Kỳ cần phải biết rằng Hoa Kỳ có rất nhiều luật để bảo vệ người tiêu dùng. Những luật này được áp dụng cho gần như mọi sản phẩm sản xuất, phân phối hay bán trên thị trường này.

Các nguồn luật bảo vệ người tiêu dùng bao gồm các luật của liên bang và các bang. Hoa Kỳ theo hệ thống luật Anh – Mỹ (common law system – hay được dịch là hệ thống thông luật) nên các phán quyết của tòa án diễn giải các luật bảo vệ người tiêu dùng cũng trở thành luật.

Luật về trách nhiệm đối với sản phẩm

Theo thông luật bảo vệ người tiêu dùng (Common Law Consumer Protection) hay còn gọi là Luật về trách nhiệm đối với sản phẩm (Products Liability Law), cơ quan luật pháp Hoa Kỳ yêu cầu các nhà sản xuất, phân phối và bán lẻ phải có trách nhiệm đối với thương tật và thiệt hại do những khuyết tật của sản phẩm gây ra cho người sử dụng hoặc những người ở gần sản phẩm đó. Trách nhiệm sản phẩm thường dựa trên các nguyên tắc pháp lý về sự bất cẩn, vi phạm bảo hành hoặc trách nhiệm tuyệt đối.

Continue reading

MỸ: DÀN CẢNH ĐỤNG XE ĐỂ LĨNH TIỀN BẢO HIỂM

TỰU NGÔ

Tại Mỹ, mỗi lần gây tai nạn, chi phí bảo hiểm của người lái xe phạm lỗi có thể tăng từ 200-300 USD một năm để bù lại các thiệt hại đền bù của hãng bảo hiểm. Tuy nhiên, loại trừ tai nạn ngẫu nhiên xảy đến, những tai nạn khác có thể là cái bẫy của một số người xấu chuyên dàn cảnh đụng xe để gian lận tiền bảo hiểm.

Thiệt hại 30 tỷ USD mỗi năm

Ước tính mỗi năm số tiền thiệt hại do các vụ dàn cảnh đụng xe để gian lận tiền bảo hiểm lên đến 30 tỷ USD. Đây là một trong những nguyên nhân đẩy chi phí bảo hiểm và y tế tăng cao.

Continue reading

LUẬT BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG ĐÀI LOAN

(ban hành ngày 11 tháng 1 năm 1994, và có hiệu lực kể từ ngày 13/01/1994)

(bổ sung các Điều 7-1, 10-1, 11-1, 19-1, 44-1, và từ 45-1 đến 45-5 và sửa đổi các Điều 2, 6, 7, 13, 14, 15, 16, 17, 35, 38, 39, 41, 42, 49, 50, 57, 58, và 62 vào ngày 22 tháng 1 năm 2003)

(bổ sung Điều 22-1 vào tháng 5 năm 2005)

Chương I – Những quy định chung

Điều 1

Luật bảo vệ người tiêu dùng (sau đây được gọi là “Luật này”) được ban hành với mục đích bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng, tạo Điều kiện an toàn và cải thiện chất lượng cho đời sống tiêu dùng của người dân.

Công tác bảo vệ người tiêu dùng phải tuân theo quy định của Luật này, trong trường hợp luật này không có các quy định cụ thể, các văn bản pháp luật khác sẽ được xem xét áp dụng.

Continue reading