LUẬT LỆ LẮT LÉO, BÓP MÉO THỊ TRƯỜNG

LS. TRƯƠNG THANH ĐỨC

Lãi suất không chỉ là “món chính” của các ngân hàng, mà còn là “thực đơn” của một nền kinh tế 80 triệu dân. Thế nhưng, luật lệ liên quan đến lãi suất đã bao lần rơi vào tình cảnh lắt léo, tréo ngoe và bất khả thi. Nhà quản lý đau đầu, dân chúng hoang mang, ngân hàng lo sợ.

Bộ luật ngã vật trước… bộ, ngành (!?)

Lãi suất là chỉ số đo lường hoạt động và hiệu quả của nền kinh tế. Bộ luật Dân sự, Bộ luật Lao động, Bộ luật Hình sự và nhiều văn bản khác đều có những quy định lấy mức lãi suất do Ngân hàng Nhà nước (NHNN) làm căn cứ trong nhiều trường hợp. Tuy nhiên, trong nhiều năm qua, căn cứ mà các Bộ luật đã dựa vào hóa ra là ảo. Chẳng hạn, theo Luật Lao động, nếu doanh nghiệp chậm trả lương, phải đền bù cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng lãi suất tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn do NHNN công bố. Bộ luật Dân sự năm 1995 cũng quy định về nghĩa vụ trả chậm của bên vay là phải trả lãi theo lãi suất tiết kiệm do NHNN quy định. Các điều luật quy định thật cụ thể, rõ ràng, nhưng nếu phải áp dụng vào thực tế, thì cho ngay một đáp án: Bế tắc. Vì từ năm 1996 đến nay, hoàn toàn không có cơ sở pháp lý để xác định và áp dụng theo mức lãi suất tiết kiệm do NHNN công bố. NHNN cho mình là “vô can” trước việc “khai tử” các điều luật nói trên.

Một loạt quy định về lãi suất cho vay, lãi suất quá hạn, lãi suất chậm trả, lãi suất chậm thi hành án,… trong Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989, Bộ luật Hình sự năm 1985, Bộ luật Dân sự năm 1995, Luật Thương mại năm 1997,… cũng bất ngờ bị “tuyên án tử hình”, vì NHNN đã bỏ hẳn việc quy định về lãi suất tiết kiệm từ tháng 01/1996, bỏ ấn định cụ thể lãi suất nợ quá hạn từ tháng 6/1999 và bỏ quy định về lãi suất cho vay từ tháng 6/2002. (xem biểu đồ trần lãi suất cho vay).

Continue reading

VỀ THỜI HẠN CÓ HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM VÀ THỜI HẠN BẢO HIỂM

TS. PHẠM VĂN TUYẾT

1. Thời hạn có hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm

Thời hạn hiểu theo nghĩa chung nhất là một khoảng thời gian nhất định được xác định từ thời điểm này đến thời điểm khác. Hay nói cách khác, thời hạn là một khoảng thời gian được xác định bởi hai thời điểm là thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc của thời hạn. Thời hạn có thể do các bên xác thỏa thuận, có thể do pháp luật quy định. Thời hạn có hiệu lực của một hợp đồng bảo hiểm cũng tuân theo nguyên lý chung đó nên là một khoảng thời gian được xác định theo hai thời điểm sau:

– Thời điểm bắt đầu (là thời điểm có hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm)

Thời điểm có hiệu lực của một hợp đồng có ý nghĩa quan trọng đối với những người có quyền, nghĩa vụ từ hợp đồng đó. Càng quan trọng hơn đối với các hợp đồng bảo hiểm vì các rủi ro đối với người được bảo hiểm chỉ được coi là sự kiện bảo hiểm nếu rủi ro đó phát sinh sau thời điểm có hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm. Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng dân sự nói chung được Bộ luật dân sự 2005 quy định tại Điều 405 như sau: “Hợp đồng được giao kết hợp pháp có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.” Theo quy định này thì thời điểm có hiệu lực của một hợp đồng dân sự được xác định theo một trong ba căn cứ: Theo thời điểm giao kết của hợp đồng, theo thỏa thuận của các bên trong hợp đồng, theo quy định khác của pháp luật. Nguyên tắc để xác định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng phải theo thứ tự: Căn cứ vào thỏa thuận, trong trường hợp không có thoả thuận nhưng có quy định riêng của pháp luật thì căn cứ vào quy định riêng của pháp luật sau cùng, nếu không có thỏa thuận và cũng không có quy định riêng thì căn cứ vào thời điểm giao kết để xác định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng.

Hiện chưa có quy định riêng của pháp luật về việc xác định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm nên đối với các hợp đồng bảo hiểm mà các bên không có thoả thuận khác về thời điểm có hiệu lực của nó thì thời điểm có hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm đó được xác định theo thời điểm giao kết của hợp đồng. Đối với hợp đồng được giao kết bằng hình thức văn bản theo trình tự thông thường (không phải tuân theo trình tự mà pháp luật đã quy định) thì thời điểm giao kết của hợp đồng đó là thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản1.

Continue reading

BẤT TRẮC TỪ HỢP ĐỒNG GIA CÔNG

LS. ĐINH QUANG THUẬN – Công ty Luật TNHH P&P

Bài này đề cập một số bất trắc có thể xảy ra liên quan đến các hợp đồng gia công quần áo cho nước ngoài mà các đơn vị gia công trong nước có thể rút kinh nghiệm. Các hợp đồng gia công đầu tiên thường có nội dung đơn giản, trong đó bên giao gia công nước ngoài (bên giao gia công) đưa vật tư đến Việt Nam giao cho bên nhận gia công. Sau đó, bên nhận gia công sẽ gia công ra thành phẩm và giao lại cho bên giao gia công và nhận tiền.

Nghĩa vụ của bên nhận gia công chỉ gồm nhận vật tư tại cảng, kiểm tra, sản xuất theo mẫu và giao lại thành phẩm, hầu hết là theo phương thức FOB hoặc giao tại xưởng. Bên giao gia công sẽ tự thu xếp đưa thành phẩm đến giao cho các nhà nhập khẩu và phân phối tại các thị trường tiêu thụ (bên mua). Thực hiện những hợp đồng loại này, công việc của bên nhận gia công khá đơn giản, tuy phí gia công thấp nhưng tương đối an toàn.

Dần dần, cùng với nhu cầu đưa sản phẩm gia công đến thị trường tiêu thụ sớm nhất, giảm chi phí và nhân lực, sau này bên giao gia công thường yêu cầu bên nhận gia công sau khi hoàn tất công việc thay vì giao lại thành phẩm cho bên giao gia công thì chuyển thẳng đến thị trường tiêu thụ cho bên mua.

Công việc này thoạt nghe không có gì khó khăn. Tuy nhiên, trong thực tế nó khiến cho bên nhận gia công phải chịu thêm nhiều rủi ro như những trường hợp đã xảy ra trong thực tế sau đây.

1. Bên nhận gia công được bên giao gia công yêu cầu vận chuyển thành phẩm gia công bằng đường biển để giao cho bên mua tại thị trường Mỹ. Bên giao gia công đứng ra liên hệ với người vận chuyển (hãng tàu), cung cấp thông tin, thanh toán cước vận chuyển. Bên nhận gia công, theo sự sắp xếp của bên giao gia công, chỉ đứng tên là người gửi hàng trong vận đơn hàng hải.

Continue reading

BỎ HAY KHÔNG BỎ LÃI SUẤT CƠ BẢN?

DƯƠNG THU HƯƠNG – Tổng thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam

Trong quá trình thảo luận dự thảo Luật Ngân hàng Nhà nước (sửa đổi), có nhiều ý kiến xung quanh vấn đề lãi suất cơ bản. Vấn đề được nhiều người quan tâm nhất hiện nay là bỏ hay không bỏ lãi suất cơ bản trong dự thảo Luật Ngân hàng nhà nước? Theo dõi các phiên thảo luận của QH, tôi rất chú ý đến ý kiến của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu “… lãi suất cơ bản của chúng ta hiện nay là không có thực, vì lãi suất này không có mối quan hệ vay mượn nào giữa Ngân hàng trung ương với tổ chức tín dụng”.

Ngẫm nghĩ ý kiến này, tôi thấy rất tâm đắc và vì vậy, với tư cách là người đã “ở trong cuộc” được tham gia từ đầu việc xây dựng Luật Ngân hàng Nhà nước từ năm 1995, được QH thông qua năm 1997, tôi xin nêu một vài suy nghĩ của mình về vấn đề lãi suất cơ bản và “bỏ hay không bỏ lãi suất cơ bản trong dự thảo Luật Ngân hàng Nhà nước năm 2009.

Lãi suất cơ bản là gì?

Nhiều người đặt câu hỏi: Lãi suất cơ bản là gì? Luật Ngân hàng Nhà nước năm 1997 cho ra một định nghĩa “… là lãi suất do Ngân hàng Nhà nước công bố làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh”. Với định nghĩa này, có hai vấn đề còn mập mờ và phiến diện.
Mập mờ vì “là lãi suất do Ngân hàng nhà nước công bố”. Vậy Ngân hàng Nhà nước căn cứ vào cơ sở nào để xây dựng và công bố lãi suất cơ bản? Vì lãi suất cơ bản không được dùng để giải quyết mối quan hệ vay mượn thực của Ngân hàng Nhà nước với các tổ chức tín dụng nên nó không phản ánh được mối quan hệ giữa cung cầu về vốn trên thị trường tiền tệ; không phản ánh được vai trò phát đi tín hiệu của chính sách tiền tệ, chưa kể đến việc hình thành nên nó còn thiếu cơ sở kinh tế. Tại sao là 6%? Tại sao là 8%? Có lúc Ngân hàng Nhà nước đề nghị giữ nguyên lãi suất cơ bản là 7% thì có nhiều chuyên gia đề nghị xuống 5%… Con số này được dựa trên cơ sở nào?

Continue reading

GIẢI THÍCH HỢP ĐỒNG

TS. NGUYỄN MINH HẰNG

Trong nhiều trường hợp, khi soạn thảo hợp đồng, các bên sử dụng những thuật ngữ không chính xác hoặc tối nghĩa, dẫn đến bất đồng về cách hiểu. Vậy, cần giải thích những thuật ngữ đó theo nguyên tắc nào ?

Tranh chấp giữa một Cty của Mỹ và một Cty của Áo về thuật ngữ “consignment” – “ủy thác” trong hợp đồng kí kết giữa hai bên. Hai bên có cách hiểu khác nhau về nghĩa của thuật ngữ này. Tranh chấp đã được xét xử tại Tòa án phúc thẩm Mỹ, Bản án số 05-13995, tuyên ngày 12/09/2006.

Diễn biến tranh chấp

Hai Cty đã ký hai hợp đồng theo đó, nguyên đơn – Cty Áo đồng ý bán một lượng bột kim loại công nghiệp là Tantalum Carbide (TaC) cho bị đơn – Cty Mỹ, giao hàng tháng 10 và tháng 12/2000. Nguyên đơn đã giao hàng theo đúng hai hợp đồng. Bị đơn đã trả một phần tiền cho những phần hàng mà bị đơn đã sử dụng. Song đến ngày 23/8/2001, bị đơn từ chối thanh toán cho phần hàng mà mình không muốn dùng của nguyên đơn.

Nguyên đơn đành phải bán số TaC mà bị đơn từ chối nhận với giá rẻ hơn so với giá ghi trong hợp đồng thỏa thuận với bị đơn. Sau đó, nguyên đơn gửi đơn kiện bị đơn đòi bồi thường thiệt hại theo hai hợp đồng nói trên. Hai bên tranh luận với nhau về nghĩa của thuật ngữ “ủy thác” trong Điều khoản giao hàng tại hai hợp đồng đã ký kết.

Bị đơn cho rằng, theo CISG (điều 9.2) về áp dụng các tập quán, một thuật ngữ trong hợp đồng được hiểu theo nghĩa thông thường trong ngành, trừ khi hai bên thỏa thuận với nhau cách hiểu khác. Bị đơn đã mời các chuyên gia trong ngành công nghiệp kim loại để xác nhận rằng thuật ngữ “ủy thác” theo cách dùng thông thường trong ngành có nghĩa là: Không có mối quan hệ mua bán nào xảy ra trừ khi hoặc cho đến khi bị đơn thực sự sử dụng mặt hàng TaC. Vì thế, bị đơn chỉ trả tiền cho những phần hàng đã sử dụng là hợp lý và có quyền trả lại phần hàng mình không sử dụng.

Continue reading

VỀ VẤN ĐỀ QUI ĐỊNH LÃI SUẤT CƠ BẢN: MỘT TIỀN LỆ ĐẸP CỦA PHƯƠNG PHÁP LẬP PHÁP

BẠCH LONG

Dự án Luật Ngân hàng Nhà nước (sửa đổi) đã được trình QH cho ý kiến tại Kỳ họp thứ Sáu và hiện đang trong quá trình tiếp thu, chỉnh lý trình UBTVQH xem xét. Tuy nhiên, tại Hội thảo lấy ý kiến về dự án Luật này do Ủy ban Kinh tế vừa tổ chức thì các nhà lập pháp và các nhà kinh tế học vẫn tranh luận quyết liệt về những vấn đề lớn của dự án Luật. Đây cũng là một trong những trường hợp khá hãn hữu đối với các dự án Luật đã được chuyển sang giai đoạn tiếp thu, chỉnh lý.

Vấn đề nóng nhất và cũng là tiêu điểm tranh luận quyết  liệt giữa các nhà lập pháp và các nhà kinh tế tại Hội thảo lấy ý kiến về dự án Luật Ngân hàng Nhà nước (sửa đổi) chính là việc dự thảo Luật đề nghị bãi bỏ quy định về lãi suất cơ bản.

Ủng hộ quan điểm của Ngân hàng Nhà nước, cơ quan chủ trì soạn thảo dự án Luật, một số chuyên gia kinh tế cho rằng: lãi suất cơ bản thiếu cả cơ sở lý thuyết chặt chẽ và cơ sở thực tiễn. Mặc dù đã được luật hóa từ năm 1997 nhưng cho đến giữa năm 2008 lãi suất cơ bản trên thực tế không được sử dụng như một cơ sở để các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất như mong muốn. Bằng chứng là trong khoảng thời gian này, lãi suất trên thị trường hầu như không có bất cứ mối tương quan nào với lãi suất cơ bản. Phó giám đốc nghiên cứu, giảng dạy Chương trình Fulbright Vũ Thành Tự Anh nêu dẫn chứng: trong suốt hai năm 2006-2007, mặc dù lãi suất qua đêm liên ngân hàng có lúc lên tới gần 9%, có lúc xuống tới 3% nhưng lãi suất cơ bản hoàn toàn đứng yên. Lãi suất cơ bản chỉ được thực sự sử dụng như một công cụ của chính sách tiền tệ kể từ giữa năm 2008 khi chỉ số lạm phát so với cùng kỳ năm trước đã vượt quá 20%. Và, khi các ngân hàng thương mại tranh nhau đẩy lãi suất lên tới 15-16% (tức là gần gấp đôi lãi suất cơ bản ở thời điểm đó). Tuy nhiên, trong trường hợp khẩn cấp này, lãi suất cơ bản được sử dụng không phải như một cơ sở có tính định hướng thị trường mà thuần túy là một công cụ hành chính nhằm áp đặt trần lãi suất cho vay của các tổ chức tín dụng.

Continue reading

BÀN VỀ VẤN ĐỀ LÃI SUẤT TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ

DƯƠNG THU HƯƠNG – Tổng thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam

Một vài năm gần đây, vấn đề lãi suất trong Bộ luật Dân sự năm 2005 (khoản 1, điều 476) thu hút sự quan tâm của nhiều người. Và khi QH xem xét, cho ý kiến về dự án Luật Ngân hàng Nhà nước (sửa đổi) và dự án Luật Các tổ chức tín dụng (sửa đổi) thì vấn đề lãi suất lại nóng lên.

Trước khi đi vào các vấn đề cụ thể, cần phải làm rõ và thống nhất một vấn đề chung nhất: mục tiêu của “vấn đề lãi suất” trong từng luật là gì?

Mục tiêu của Bộ Luật Dân sự: quy định lãi suất là để “chống cho vay nặng lãi”, tuy nhiên phạm vi điều chỉnh của luật này lại quy định các chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử của cá nhân, pháp nhân… Vì vậy cả cá nhân, các doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng đều được coi như nhau và áp dụng cơ chế như nhau.

Mục tiêu của Luật Ngân hàng Nhà nước và Luật Các tổ chức tín dụng là: hoạt động ngân hàng phải tuân thủ theo nguyên tắc thị trường, mọi “giá cả” của hàng hoá tiền tệ được hình thành trên quan hệ cung cầu về vốn trên thị trường vốn và thị trường tiền tệ. Vì vậy hai luật này bắt buộc phải tuân theo tính thị trường của hoạt động ngân hàng, thể hiện trong việc hình thành lãi suất, tỷ giá… trên thị trường tiền tệ như Luật Chứng khoán đã thể hiện sự tôn trọng giá cả của các loại chứng khoán được hình thành trên quan hệ cung cầu về vốn trên thị trường vốn, kể cả thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp.

Vì thế, Bộ luật Dân sự và Luật Các tổ chức tín dụng, Luật Ngân hàng Nhà nước cần có những mục tiêu riêng biệt cho phù hợp với từng đối tượng. Sự ép buộc phải thực hiện theo một mục tiêu duy nhất của Bộ luật Dân sự khiến cho hoạt động của thị trường tiền tệ, hoạt động của ngân hàng không thuận lợi.

Continue reading

MỨC LÃI SUẤT PHẢI TRẢ DO NỢ QUÁ HẠN CHƯA HỢP LÝ

PHẠM THÁI

Pháp luật dân sự quy định, bên có nghĩa vụ trả tiền mà chậm thực hiện nghĩa vụ thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả. Biện pháp này một mặt bảo đảm giá trị cũng như khả năng sinh lợi của đồng tiền cho bên có quyền; mặt khác, cũng là một hình thức phạt để hạn chế bên có nghĩa vụ cố tình dây dưa, không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ. Tuy nhiên, quy định của pháp luật về vấn đề này vẫn còn bất cập nên không phát huy tác dụng.

Khi các chủ thể tham gia vào các quan hệ dân sự, phải tuân thủ nguyên tắc: thiện chí, trung thực, tôn trọng các quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể khác. Do đó, khi bên có nghĩa vụ không thực hiện, hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự với bên có quyền. Để bảo đảm thực hiện trách nhiệm dân sự, tại khoản 2 Điều 313 Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 1995 quy định: “Trong trường hợp người có nghĩa vụ chậm trả tiền, thì người đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất nợ quá hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”. Để cụ thể hoá quy định này, ngày 19.6.1997 Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp và Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư liên tịch số 01/TTLT hướng dẫn việc xét xử và thi hành án về tài sản (Thông tư 01). Theo hướng dẫn của Thông tư 01, đối với nghĩa vụ là các khoản tiền bồi thường, tiền hoàn trả, tiền công, tiền lương, tiền chia tài sản, tiền đền bù công sức, tiền cấp dưỡng, tiền vay không có lãi, tiền truy thu thuế, tiền truy thu do thu lợi bất chính thì ngoài việc bên có nghĩa vụ phải chịu tiền lãi quá hạn từ thời điểm phát sinh nghĩa vụ, đến khi xét xử sơ thẩm còn phải chịu lãi cả từ thời điểm bên có quyền làm đơn yêu cầu thi hành án đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền phải trả. Trước đây, theo cơ chế điều hành lãi suất cho vay của các tổ chức tín dụng (TCTD), ngoài việc quy định lãi suất tái cấp vốn, mức trần lãi suất cho vay, Ngân hàng Nhà nước còn quy định cả lãi suất nợ quá hạn. Căn cứ vào mức lãi suất nợ quá hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định, khi xét xử và thi hành án, các Toà án và Cơ quan Thi hành án Dân sự buộc bên có nghĩa vụ phải trả một khoản tiền lãi theo mức lãi suất nợ quá hạn cho bên có quyền.

Continue reading

BỐI CẢNH HỢP ĐỒNG

THS. TRẦN THANH TÙNG – THS. CAO THỊ HÀ GIANG

Nếu hợp đồng là một bức tranh thì bối cảnh chính là tờ giấy vẽ tranh. Bức tranh sẽ như thế nào nếu các bên ký kết chưa biết được tờ giấy của mình to hay nhỏ, vuông hay tròn?

Câu hỏi này có thể khiến một số người giật mình vì không nhiều người nghĩ đến bối cảnh khi soạn hợp đồng.

Hợp đồng cần bối cảnh

Hợp đồng là công cụ pháp lý không thể thiếu trong hoạt động kinh doanh. Một khi được ký kết, hợp đồng chính là “luật” của các bên tham gia. Như những văn bản khác, hợp đồng thể hiện một hoàn cảnh cụ thể với những bên cụ thể, những mong muốn cụ thể.

Sẽ không có một hợp đồng mẫu phù hợp với mọi hoàn cảnh và mọi đối tượng. Bối cảnh khác nhau thì hợp đồng sẽ khác nhau, bối cảnh thay đổi thì hợp đồng cần phải thay đổi theo. Vậy bối cảnh hợp đồng là gì và ảnh hưởng như thế nào đến giá trị pháp lý của hợp đồng?

Bối cảnh hợp đồng ghi nhận những sự kiện, hoàn cảnh làm cơ sở cho các bên ký kết, như tư cách, chức năng của các bên, địa vị kinh tế, cơ sở pháp lý, kết quả mong muốn đạt được khi giao kết hợp đồng, sơ lược nội dung giao dịch…

Những sự kiện trong phần bối cảnh là những thông tin tiền đề cho việc ký kết, thực hiện hợp đồng. Trong một hợp đồng cụ thể, bối cảnh thường được nêu ngay trong phần “căn cứ”, “dẫn nhập” hoặc “recital”, “whereas” trong các hợp đồng thương mại quốc tế.

Phải nhìn nhận rằng phần bối cảnh hợp đồng hiện còn khá xa lạ đối với các doanh nghiệp Việt Nam.

Continue reading

CHUYỂN GIAO CÔNG CHỨNG HỢP ĐỒNG, GIAO DỊCH: CẦN QUAN TÂM CÁI KHÓ CỦA NGƯỜI DÂN

XUÂN PHÚC

Mới đây, Bộ Tư pháp có văn bản chỉ đạo các địa phương thực hiện chuyển giao công chứng hợp đồng, giao dịch cho các tổ chức hành nghề công chứng. Đây là bước đi phù hợp với lộ trình xã hội hóa hoạt động công chứng, theo quy định của Luật Công chứng, nhưng người dân sẽ khó khăn hơn và tình trạng quá tải ở các phòng công chứng trước đây có nguy cơ tái diễn.

Luật công chứng và Nghị định số 79 ngày 15.7.2007 đã phân biệt rõ hai loại hoạt động công chứng và chứng thực. Theo đó, công chứng là việc công chứng viên chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch; Phòng Tư pháp cấp huyện, UBND cấp xã có thẩm quyền chứng thực bản sao giấy tờ từ bản chính, chứng thực chữ ký.

Áp lực chuyển giao

Theo quy định trên thì các loại việc sau: Chứng nhận hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất; chứng hợp đồng thuê quyền sử dụng đất; chứng nhận di chúc, văn bản thoả thuận phân chia di sản, văn bản khai nhận di sản; hợp đồng vay tiền; hợp đồng thế chấp tài sản, cầm cố tài sản; hợp đồng mua bán nhà… (gọi chung là hợp đồng, giao dịch) đều phải thực hiện công chứng tại các tổ chức hành nghề công chứng. Tuy nhiên, theo quy định của Bộ luật Dân sự 2005, Luật Nhà ở, Luật Đất đai và Nghị định 181 (đang có hiệu lực), thì các loại hợp đồng, giao dịch trên người dân có thể chọn lựa việc công chứng tại các phòng công chứng hoặc chứng nhận tại UBND cấp xã. Và, trên thực tế đến nay ở nhiều địa phương, UBND cấp xã vẫn còn chứng nhận hợp đồng, giao dịch chưa chuyển giao cho các tổ chức hành nghề công chứng.

Continue reading

ĐỂ SẢN PHẨM BẢO HIỂM NHÂN THỌ TIẾP CẬN CHO NGƯỜI DÂN DỄ HƠN

NGUYỄN TIẾN HÙNG – Trưởng Bộ môn Bảo Hiểm – Đại học Kinh tế TP.HCM

1. “Tính khó hiểu” hay “khó tiếp cận” của hợp đồng bảo hiểm nói chung, hợp đồng bảo hiểm nhân thọ nói riêng đối với người dân

1.1. Trên phương diện lý luận

1.1.1. Tính “Khó hiểu” – Hệ qủa của các tính chất riêng có của hợp đồng bảo hiểm nói chung

– Thứ nhất, tính may rủi (aléatoire/ aleatory) gắn liền với biến cố không chắc chắn. Chính vì vậy mà nhà bảo hiểm khi chấp bút phải đưa ra nhiều tình huống giả định (nếu thế này thì.., nếu thế kia thì…, ngoại trừ…. v..v…). Điều này làm cho câu văn sử dụng để diễn đạt luôn là câu phức, hơn nữa, nhà bảo hiểm miêu tả các trường hợp giả định ở mức độ khái quát cao làm người đọc phải cố gắng hình dung ra các trường hợp đó. Tất nhiên, vì trình độ rất khác nhau và lĩnh vực hoạt động rất khác nhau nên không phải ai nếu không nói là ít người có thể có trình độ, hiểu biết chuyên môn đầy đủ để hiểu tường tận một cách thống nhất với nhà bảo hiểm. Sự khó hiểu của hợp đồng bảo hiểm, vì vậy, e rằng khó tránh khỏi;

– Thứ hai, tính gia nhập cho thấy hợp đồng bảo hiểm là hợp đồng theo mẫu, mở sẵn và do nhà bảo hiểm chấp bút (và được Bộ Tài chính chấp nhận) chứ không phải hình thành từ việc đàm phán trực tiếp của hai bên như các hợp đồng mua bán khác. Điều này đòi hỏi người mua bảo hiểm phải đọc thật kỹ để thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ trước khi ký kết và trong khi thực hiện hợp đồng bảo hiểm. Nhưng, ngay cả khi đọc kỹ, nếu không có sự giúp đỡ, tư vấn của người hoạt động chuyên ngành, chưa chắc người mua bảo hiểm có thể hiểu đúng và thống nhất với người chấp bút các điều khoản.

Continue reading

GIỚI THIỆU VỀ TÁI BẢO HIỂM

THÔNG TIN VỀ TÁC GIẢ CHƯA ĐƯỢC CẬP NHẬT

CHƯƠNG I

BẢN CHẤT, CHỨC NĂNG VÀ LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA TÁI BẢO HIỂM

I. BẢN CHẤT VÀ CHỨC NĂNG CỦA TÁI BẢO HIỂM

1. Bản chất của tái bảo hiểm

Bảo hiểm là một phạm trù kinh tế. Nó bao gồm các quá trình phân phối lại nhằm đáp ứng nhu cầu đảm bảo của xã hội. Đặc trưng của nó là việc thành lập mang tính chất tập thể một quỹ dự trữ tài chính thông qua sự vận dụng các quy luật thống kê và nguyên tắc cân đối cũng như việc phân phối mang tính chất riêng rẽ quỹ đó để đáp ứng những nhu cầu có thể dự đoán được trong tương lai phát sinh ra từ những sự cố bất ngờ gây thiệt hại hay xảy ra.
Phân tích sâu hơn ta thấy khái niệm bảo hiểm chứa đựng hai yếu tố cơ bản sau:

– Tính tập thể của việc thành lập quỹ dự trữ, có nghĩa là mỗi thành viên tham gia bảo hiểm đều phải đóng góp một khoản tiền nhất định (phí bảo hiểm). Phí này được tính dựa trên quy luật thống kê (bao gồm thống kê tổn thất và mức độ trung bình của các tổn thất, thống kê các đơn vị rủi ro) và nguyên tắc cân đối (có nghĩa là tổng số phí thu phải bằng tổng số tiền chi trả bồi thường).

– Tính riêng rẽ của việc phân phối quỹ dự trữ, có nghĩa là chỉ phân phối quỹ cho những thành viên khi có rủi ro bất ngờ gây thiệt hại thuộc phạm vi bảo hiểm xảy ra. Những rủi ro bất ngờ này về tổng thể phải dự đoán được và hay xảy ra.
Trên đây cũng là những yếu tố cơ bản cần phải chú ý khi tiến hành việc lập, quản lý và phân phối quỹ tiền tệ thông qua hình thức bảo hiểm. Do có đặc thù trên nên bảo hiểm có sự đóng góp nhất định vào việc đảm bảo tính liên tục, sự ổn định và hiệu quả của quá trình sản xuất, lưu thông và tiêu dùng xã hội. Dựa theo các rủi ro được bảo hiểm, các ngành kinh tế khác nhau và các quá trình tiến hành bảo hiểm được chia thành nhiều loại và được tổ chức thành một hệ thống độc lập của nền kinh tế quốc dân (ở nhiều nước nó còn được gọi là ngành kinh tế bảo hiểm). Một trong những loại hình đó là tái bảo hiểm.

Continue reading

GỠ VƯỚNG BỘ LUẬT DÂN SỰ: KHI NÀO HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU?

THANH LƯU – ÁI NHÂN

Nên dựa vào ý chí các bên khi lập hợp đồng thay vì quá chú trọng đến hình thức?

Ngày 18-12-2009, các chuyên gia pháp luật đã tiếp tục mổ xẻ những bất cập về chế định hợp đồng trong hội nghị tổng kết thi hành BLDS của Bộ Tư pháp.

Quá chú trọng đến hình thức

Theo PGS-TS Dương Đăng Huệ (Vụ trưởng Vụ Pháp luật dân sự-kinh tế Bộ Tư pháp), các quy định hiện hành trong BLDS khiến cho việc tuyên hợp đồng vô hiệu trở nên rất dễ dàng. Điều này khiến quyền lợi của các bên không được đảm bảo và vô hiệu hóa nguyên tắc thỏa thuận của BLDS.

Cụ thể, Điều 401 BLDS quy định hợp đồng không bị vô hiệu trong trường hợp có vi phạm về hình thức nhưng lại thòng thêm một câu “trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”. Quy định này khiến cho nhiều luật chuyên ngành mở rộng ra rất nhiều trường hợp bắt buộc hợp đồng phải làm bằng văn bản. Hướng sửa đổi dự kiến theo TS Huệ là chỉ quy định hạn chế một số loại hợp đồng dứt khoát phải làm bằng văn bản.

Cạnh đó, BLDS hiện hành cũng quy định vi phạm bất cứ điều cấm nào của pháp luật cũng bị tuyên vô hiệu, không phân biệt vi phạm đó là nghiêm trọng hay không. Theo TS Huệ, điều này hoàn toàn không cần thiết vì một số vi phạm có thể sử dụng chế tài hành chính hoặc bồi thường thiệt hại. Chỉ có những vi phạm nghiêm trọng dẫn đến phạm tội mới có thể bị vô hiệu.

Đồng tình, TS Đỗ Văn Đại (giảng viên Trường Đại học Luật TP.HCM) cho rằng những quy định của BLDS đang… ủng hộ sự bội ước. Ở nước ta, trong trường hợp những hợp đồng không công chứng theo quy định thì tòa án sẽ cho ba tháng để khắc phục. Nếu không khắc phục được thì tòa sẽ tuyên vô hiệu. Ngược lại, ở một số nước, nếu đã quy định bắt buộc mà anh (người bán) không công chứng thì tòa sẽ công nhận luôn vì anh đã thể hiện sự gian dối.

Continue reading

KÝ KẾT HỢP ĐỒNG: LINH HOẠT ĐIỀU KHOẢN GIÁ

TS. NGUYỄN MINH HẰNG – Đại học Ngoại thương

Điều khoản giá là một trong những điều khoản quan trọng trong hợp đồng. Vì thế, các DN khi ký kết hợp đồng cần có những lưu ý thích đáng để tránh những tranh chấp phát sinh từ việc hiểu lầm hay không thống nhất về mức giá và cách thức xác định giá.

Tranh chấp giữa người mua Pháp – Cty Fauba Fidis GC Electronique và người bán Đức – Cty Fujitsu Mikroelectronik Gmbh. Tranh chấp phát sinh trong quá trình giao kết hợp đồng và liên quan đến việc xác định giá của hàng hóa. Tranh chấp được giải quyết tại Tòa Phúc thẩm Paris. Điều 14 của Công ước Vienna năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG) đã được áp dụng để giải quyết tranh chấp.

Diễn biến tranh chấp

Người mua gửi một đơn chào mua các linh kiện điện tử đến người bán. Trong đơn chào mua có quy định, giá mua do người mua đưa ra có thể được xem xét theo sự suy giảm của giá thị trường vào thời điểm giao hàng. Nhận được đơn chào mua, người bán trả lời là giá cần được xem xét theo cả sự tăng lên và sự suy giảm của giá thị trường vào thời điểm giao hàng. Người mua đã đồng ý về việc này. Hàng hóa được người bán gửi cho người mua theo đúng đơn chào mua, nhưng người mua lại đơn phương hủy đơn chào mua của mình và không nhận hàng. Người mua cho rằng điều khoản giá quy định như vậy là chưa đủ rõ ràng để hình thành hợp đồng giữa hai bên. Vì Pháp và Đức là hai quốc gia thành viên của CISG nên tòa án áp dụng CISG để giải quyết tranh chấp. Tòa Phúc thẩm Paris trích dẫn điều 14 khoản 1 CISG, theo đó “Một đề nghị ký kết hợp đồng gửi cho một hay nhiều người xác định được coi là một chào hàng nếu nó đủ chính xác và chỉ rõ ý chí của người chào hàng muốn tự ràng buộc mình trong trường hợp có sự chấp nhận chào hàng đó. Một đề nghị là đủ chính xác khi nó nêu rõ hàng hóa và ấn định số lượng và giá cả một cách rõ ràng hoặc ngầm định hoặc quy định các yếu tố để xác định số lượng và giá cả”.

Continue reading

KỸ NĂNG SOẠN THẢO HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ

ĐỖ MINH TUẤN – Công ty Luật Châu Á (AsiaLaw)

Hợp đồng mua bán hàng hóa giữa hai chủ thể có trụ sở kinh doanh đặt tại các quốc gia khác nhau được coi là hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có rủi ro rất lớn. Để ngăn ngừa và hạn chế rủi ro, doanh nghiệp cần xây dựng một hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế hợp pháp, đầy đủ và chi tiết.

Với khuôn khổ một bài viết, chúng tôi không thể đề cập được một cách cụ thể và toàn diện về các nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế mà chỉ trình bày những vấn đề quan trọng nhất trong một hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế mà các doanh nghiệp cần lưu tâm trong quá trình soạn thảo.

1.   Xác định chủ thể giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế:

Khi giao kết, tham gia bất kỳ một hợp đồng nào, điều đầu tiên mà các bên phải kiểm tra đó chính là đối tác giao kết, tham gia và thực hiện hợp đồng.

1.1.    Bên bán và bên mua

Trong thực tế giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, nhiều khi xẩy ra hiện tượng:

a)    Công ty mẹ là bên bán/mua đích thực (bên có và thực hiện quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng với tư cách là bên bán/bên mua) nhưng bên ký hợp đồng lại là công ty con.

b)    Bên bán/bên mua là pháp nhân nhưng bên đứng ra ký kết hợp đồng chỉ là đơn vị trực thuộc của pháp nhân như chi nhánh, văn phòng đại diện, phòng kinh doanh,…

c)    Bên ký kết hợp đồng là một công ty nhưng bên thực hiện một phần hoặc toàn bộ hợp đồng lại là một công ty liên kết của công ty ký kết hợp đồng.

Continue reading

LÃI SUẤT CƠ BẢN VÀ TRẦN LÃI SUẤT

NGUYỄN QUANG A

Trong thảo luận về Dự thảo Luật Ngân hàng Nhà nước, nhiều đại biểu Quốc hội đã không nhất trí với việc Ngân hàng Nhà nước tìm cách loại bỏ "lãi suất cơ bản", một công cụ hữu hiệu "để Nhà nước định hướng và kiểm soát lãi suất"; "để Nhà nước xác định mức trần lãi suất cho vay của các tổ chức, cá nhân, trong đó có các tổ chức tín dụng".

Một phó chủ nhiệm Uỷ ban Tư  pháp của Quốc hội nói rằng Uỷ ban của bà đã bốn lần bác bỏ những đề nghị của Ngân hàng Nhà nước về lãi suất cơ bản. Thậm chí bà còn gay gắt đặt câu hỏi, rằng việc làm đó của Ngân hàng Nhà nước nhằm mục đích "bảo vệ cho lợi ích của ai, của Nhà nước, của nhân dân để ngăn chặn việc cho vay lãi nặng, ổn định thị trường tiền tệ, hay bảo vệ lợi ích cục bộ của các tổ chức tín dụng?".

Tôi cũng nhiều khi không tán thành các chính sách của Ngân hàng Nhà nước và cũng có nhiều ý kiến về Dự thảo Luật Ngân hàng Nhà nước. Ý kiến của tôi nhiều lúc cũng khá gay gắt. Nhưng tôi thực sự ngạc nhiên về thái độ góp ý có phần quy chụp như vậy của một đại biểu Quốc hội. Còn ngạc nhiên hơn khi được biết ý kiến của một số đại biểu khác "đã bày tỏ thái độ đồng thuận với bà".

Riêng về lãi suất cơ bản, tôi ủng hộ Ngân hàng Nhà nước, không chỉ trong Dự thảo Luật Ngân hàng Nhà nước mà còn trong các kiến nghị trước của họ đã bị Uỷ ban của bà Phó chủ nhiệm bác bỏ. Theo tôi, liên quan đến lãi suất cơ bản, những người soạn thảo và Ngân hàng Nhà nước đã thực sự bảo vệ lợi ích của đất nước.

Tất cả các ngân hàng trung ương đều dùng lãi suất chiết khấu hoặc lãi suất cho vay tối thiểu của mình (bank rate) khi chiết khấu các hối phiếu của các ngân hàng thương mại  hay cho chúng vay. Đây là một công cụ mà không ngân hàng trung ương nào từ bỏ để kiểm soát soát lãi suất và tín dụng. Lãi suất cơ sở hay cơ bản (base rate) là lãi suất mà các ngân hàng thương mại lấy làm cơ sở để định ra lãi suất cho vay hay lãi suất tiền gửi của  mình.

Continue reading

KINH DOANH BẤT ĐỘNG SẢN: CẦN THIẾT PHẢI HIỂU RÕ HỢP ĐỒNG

KHÁNH NGỌC

Các doanh nghiệp, cá nhân khi tham gia vào hoạt động kinh doanh bất động sản cần phải hiểu rõ những quy định của pháp luật về hợp đồng đối với loại hình kinh doanh này cũng như các giao dịch bất động sản cần thiết phải xác lập thông qua hợp đồng theo quy định của pháp luật để tránh rủi ro sau này.

Theo quy định của Luật Kinh doanh bất động sản hiện hành, hoạt động kinh doanh bất động sản có hai loại là kinh doanh bất động sản và kinh doanh dịch vụ bất động sản. Theo đó, kinh doanh bất động sản là việc bỏ vốn đầu tư tạo lập, mua, nhận chuyển nhượng, thuê, thuê mua bất động sản để bán, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, cho thuê mua nhằm mục đích sinh lợi. Kinh doanh dịch vụ bất động sản là các hoạt động hỗ trợ kinh doanh bất động sản và thị trường bất động sản, bao gồm các dịch vụ môi giới bất động sản, định giá bất động sản, sàn giao dịch bất động sản, tư vấn bất động sản, đấu giá bất động sản, quảng cáo bất động sản, quản lý bất động sản.

Các loại hợp đồng kinh doanh bất động sản

Hợp đồng kinh doanh bất động sản bao gồm: Hợp đồng mua bán nhà, công trình xây dựng; Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất; Hợp đồng thuê bất động sản; Hợp đồng thuê mua nhà, công trình xây dựng.

Hợp đồng kinh doanh dịch vụ bất động sản bao gồm: Hợp đồng môi giới bất động sản; Hợp đồng định giá bất động sản; Hợp đồng tư vấn bất động sản; Hợp đồng đấu giá bất động sản; Hợp đồng quảng cáo bất động sản; Hợp đồng quản lý bất động sản.

Hợp đồng kinh doanh bất động sản có nhiều đặc điểm, nhưng những đặc điểm sau là những đặc điểm chủ yếu: Hợp đồng kinh doanh bất động sản, hợp đồng kinh doanh dịch vụ bất động sản phải được lập thành văn bản, các bên được tự do, tự nguyện thoả thuận với nhau về giá cả, phương thức thanh toán, thời điểm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ; Hợp đồng kinh doanh bất động sản phải đăng ký với cơ quan Nhà nước…

Continue reading

TÌM HIỂU VỀ HỢP ĐỒNG TƯƠNG LAI VÀ THỊ TRƯỜNG TƯƠNG LAI TRÊN THỊ TRƯỜNG QUỐC TẾ

GIAVANG.NET – Hiện nay, ở Việt Nam, hợp đồng tương lai và các giao dịch trên thị trường tương lai còn là những khái niệm khá mới mẻ với nhiều các nhân, tổ chức. Nhưng ở các nước có thị trường tài chính phát triển, nó đã hình thành, phát triển khá lâu đời, cùng tồn tại song song và đóng vai trò quan trọng không kém so với thị trường chứng khoán. Bài viết này xin giới thiệu sơ lược về hợp đồng tương lai và cách thức để tham gia giao dịch trên thị trường này.

1. Trước hết, ta cần phân biệt sự khác biệt giữa hợp đồng tương lai và hợp đồng kỳ hạn

Hợp đồng tương lai cũng như hợp đồng kỳ hạn, khác với options (có quyền không cần thực hiện hợp đồng) ở chỗ là có sự bắt buộc phải thực hiện hợp đồng vào ngày giao hàng đã thỏa thuận trước. Bên mua của hợp đồng được gọi là bên giữ thế trường vị (long position) của hợp đồng, bên bán của hợp đồng được gọi là bên giữ thế đoản vị (short position) của hợp đồng. Cả hai loại hợp đồng đều được ấn định rõ loại hàng hóa, số lượng, chất lượng, giá tương lai, ngày giao hàng và địa điểm giao hàng. Cả hai đều là một trò chơi có tổng bằng 0, khoản lời của bên này chính là khoản lỗ của bên kia. Tuy vậy, giữa chúng cũng có một vài điểm khác biệt sau:

– Hợp đồng tương lai là hợp đồng được tiêu chuẩn hóa, chỉ có giá là được thỏa thuận, mỗi hợp đổng đều được quy định một số lượng hàng hóa nhất định (gọi là contract size),ngày giao hàng và nơi giao hàng được ấn định cụ thể trên thị trường, không có sự đàm phán giữa hai bên tham gia vào hợp đồng. Ngược lại,mọi đều khoản của hợp đồng kỳ hạn đều có thể được thỏa thuận, đàm phán giữa hai bên.

Continue reading

RỦI RO CỦA HỢP ĐỒNG ỦY QUYỀN ĐỊNH ĐOẠT NHÀ ĐẤT

TS. NGUYỄN QUỐC VINH – Học viện Tư pháp

Những giao dịch đường vòng mà phổ biến nhất là lập hợp đồng ủy quyền để che giấu giao dịch mua bán ngôi nhà hoặc khu đất thường tiềm ẩn rất nhiều rủi ro.

Khi nào lập hợp đồng ủy quyền?

Vì nhiều lý do, thông thường là bên mua nhà chưa đủ điều kiện được sở hữu nhà tại Việt Nam hoặc ngôi nhà chưa đủ điều kiện để bán theo điều 91 Luật Nhà ở 2005 (phải có sổ hồng/sổ đỏ và sắp tới đây là sổ hồng mới) hoặc để trốn thuế, nhu cầu mua bán “vượt qua pháp luật” đã thôi thúc các bên tạo ra những giao dịch đường vòng mà phổ biến nhất là lập hợp đồng ủy quyền để che giấu giao dịch mua bán ngôi nhà hoặc khu đất (sau đây gọi chung là bất động sản). Cụ thể, các bên sẽ giao kết hai hợp đồng: hợp đồng mua bán bất động sản (trong một số trường hợp đặc thù là hợp đồng vay) và hợp đồng ủy quyền. Hợp đồng mua bán ghi nhận ý chí đích thực của các bên trong giao dịch mua bán như đặc điểm bất động sản, giá bán, đặt cọc, thanh toán…

Tuy nhiên, khác với giao dịch mua bán bất động sản theo pháp luật Việt Nam, hợp đồng mua bán này không được công chứng và việc chuyển nhượng không được đăng ký vì những lý do như đã nêu trên.

Để hợp pháp hóa việc chuyển giao bất động sản, các bên lập song song với hợp đồng mua bán một hợp đồng ủy quyền trong đó, bên bán giữ vai bên ủy quyền, ủy quyền cho bên mua – giữ vai trò bên được ủy quyền – toàn quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt bất động sản. Hợp đồng ủy quyền này sẽ giúp các bên chuyển giao “quyền sở hữu” từ bên bán (bên ủy quyền) sang bên mua (bên được ủy quyền) vì bằng hợp đồng ủy quyền bên được ủy quyền đã hưởng mọi quyền của một chủ sở hữu tài sản theo pháp luật Việt Nam (quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản). Để cho chắc chắn việc ghi nhận “chuyển quyền sở hữu” này, các bên thực hiện công chứng hợp đồng ủy quyền tại phòng công chứng hoặc chứng thực tại ủy ban nhân dân xã, phường.

Continue reading