HOÀN THIỆN CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ VỀ XÁC LẬP HỢP ĐỒNG

TS. NGUYỄN NGỌC ĐIỆN – Phó trưởng khoa Kinh tế – Luật, Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh

Có những nét tương đồng rất cơ bản giữa Việt Nam và các nước theo văn hoá pháp lý romano -germanic trong việc xây dựng chế độ pháp lý về hợp đồng và, nói riêng, các giải pháp cho bài toán về điều kiện xác lập hợp đồng.

Có những nét tương đồng rất cơ bản giữa Việt Nam và các nước theo văn hoá pháp lý romano – germanic trong việc xây dựng chế độ pháp lý về hợp đồng và, nói riêng, các giải pháp cho bài toán về điều kiện xác lập hợp đồng. Pháp luật hợp đồng của Việt Nam đã tiếp nhận và vận dụng khá nhiều khái niệm và chế định đặc trưng của hệ thống đó (1). Các thành tựu của văn hoá pháp lý Anh – Mỹ cũng được tiếp nhận và xuất hiện trong luật Việt Nam như là những yếu tố đóng góp bổ sung vào việc hoàn thiện hệ thống pháp lý (2). Tuy nhiên, do được xây dựng trong một hệ thống tư duy mang tính thực dụng cao, nhiều điểm cơ bản trong lý thuyết hợp đồng trong luật học Anh – Mỹ không phù hợp với tư duy pháp lý truyền thống và đạo đức truyền thống Việt Nam. Bởi vậy, việc hoàn thiện pháp luật hợp đồng Việt Nam nên được thực hiện chủ yếu trên cơ sở xem xét, so sánh, tham khảo và vận dụng có chọn lọc các thành tựu của hệ thống romano – germanic.

Trong khuôn khổ xây dựng Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2005, người làm luật phân chia các điều kiện xác lập hợp đồng thành hai nhóm: các điều kiện chung, áp dụng cho tất cả các loại giao dịch, trong đó có hợp đồng, và các điều kiện riêng đối với hợp đồng. Về phương diện khoa học luật, có thể tiếp cận các điều kiện này theo một góc nhìn khác, cho phép phân chia các điều kiện thành hai nhóm: nội dung và hình thức.

1. Điều kiện về nội dung

1.1. Ý chí

1.1.1. Sự tồn tại của ý chí

Đề nghị và chấp nhận đề nghị. Điều chắc chắn là không thể có hợp đồng một khi ít nhất một bên không hề mong muốn giao kết. Sự gặp gỡ của ý chí là điều kiện để một hợp đồng được xác lập. Thế nhưng, có điều kiện còn tiên quyết hơn nữa, đó là ý chí giao kết phải hiện hữu. Luật của Pháp, của Anh – Mỹ, nói chung, của nhiều nước tiền tiến thừa nhận rằng sự hiện hữu của ý chí chỉ được ghi nhận một khi nó được bộc lộ ra ngoài và ở trong tình trạng có thể được người khác nhận biết. Luật Việt Nam hiện hành, vận dụng kinh nghiệm của các nước, có xây dựng các khái niệm về đề nghị và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng để mô tả và điều chỉnh quá trình bộc lộ đi đến sự gặp gỡ ý chí của các bên trong quan hệ kết ước.

Continue reading

LÚNG TÚNG KHI THỰC HIỆN CHUYỂN GIAO QUYỀN CHỨNG THỰC

PHẠM VĂN CHUNG

Ngay sau khi Chính phủ ban hành Nghị định số 79/2007/NĐ-CP về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính… Sở Tư pháp đã tham mưu cho UBND tỉnh Kon Tum ban hành chỉ thị về việc triển khai thực hiện và tập trung tổ chức tập huấn nghiệp vụ chuyên môn cho đội ngũ cán bộ trực tiếp làm công tác chứng thực trên địa bàn. Quá trình thực hiện đã đạt kết quả bước đầu, tuy nhiên vẫn còn những vướng mắc, lúng túng …

Ở cấp huyện, UBND đã chỉ đạo Phòng Tư pháp và UBND các xã, phường, thị trấn triển khai thực hiện Chỉ thị của UBND về công tác công chứng, chứng thực… Phòng Tư pháp xây dựng kế hoạch, tổ chức tuyên truyền rộng rãi về thẩm quyền chứng thực, những thủ tục cần thiết khi có nhu cầu chứng thực để người dân nắm được. UBND cấp xã cũng được hướng dẫn làm thủ tục khắc mẫu dấu chứng thực; Chủ tịch, Phó chủ tịch UBND và cán bộ phụ trách công tác chứng thực được tập huấn và hướng dẫn nghiệp vụ chứng thực theo thẩm quyền. Công tác chứng thực khi được chuyển giao về cấp xã, lãnh đạo UBND đã chủ động bố trí thêm mỗi xã, thị trấn 1 cán bộ tư pháp – hộ tịch làm công tác này. Hầu hết các huyện, thành phố và một số xã, phường, thị trấn đã tổ chức làm việc ngày thứ Bảy, tạo thuận lợi cho nhân dân và giải quyết rốt ráo công việc chung trên địa bàn. Trong hơn 2 năm thực hiện Nghị định 79, cấp huyện đã chứng thực được 18 hợp đồng giao dịch, 4.701 bản sao với tổng lệ phí thu được là 12.409.000đồng; cấp xã đã chứng thực được 88.003 hợp đồng giao dịch, 429.634 bản sao, 16.842 chữ ký, tổng lệ phí thu được 1.409.888.450đồng.

Bên cạnh kết quả đã đạt được, sau 2 năm thực hiện việc chuyển giao chứng thực về cho cấp xã đã nảy sinh một số vướng mắc cần sớm khắc phục. Cụ thể, hiện có nhiều văn bản pháp luật quy định về hoạt động chứng thực, nhất là hoạt động cấp bản sao từ sổ gốc. Do vậy, khi thực hiện, cơ quan chức năng không phân biệt được giữa công tác hộ tịch và công tác chứng thực. Theo Nghị định 79, “Bản chính là bản do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp lần đầu tiên có giá trị pháp lý để sử dụng, là cơ sở để đối chiếu và chứng thực bản sao”, trong khi đó pháp luật hiện hành lại có quy định: bản chính cấp lại hoặc bản chính được đăng ký lại, tức là bản chính được cấp từ lần thứ 2 trở lên, nên khi thực hiện chứng thực sao từ bản chính, nhiều địa phương thực hiện không thống nhất. Mặt khác, Nghị định 79 không quy định việc phải hợp pháp hóa lãnh sự trước khi thực hiện chứng thực bản dịch, do vậy khi thực hiện còn lúng túng và cần phải có hướng dẫn chính thức từ cơ quan có thẩm quyền.

Continue reading

CƠ CHẾ ĐIỀU CHỈNH LÃI SUẤT CƠ BẢN: GIẢI PHÁP PHÙ HỢP VỚI THỰC TRẠNG NỀN KINH TẾ HIỆN NAY

TS. NGUYỄN NGỌC BẢO – Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ – Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Trong những thập kỷ gần đây, thị trường tài chính – tiền tệ thế giới có sự phát triển vượt bậc về quy mô và chiều sâu, cơ chế điều hành lãi suất của Ngân hàng Trung ương (NHTW) các nước thay đổi theo hướng tự do hoá. Tuy nhiên, ở mỗi nước, NHTW căn cứ vào luật định, điều kiện và bối cảnh phát triển kinh tế – xã hội, thị trường tài chính – tiền tệ, cũng như địa vị pháp lý của NHTW, mục tiêu của chính sách tiền tệ (lạm phát hoặc đa mục tiêu) để áp dụng cơ chế điều hành lãi suất phù hợp trong từng thời kỳ nhằm ổn định và phát triển thị trường tiền tệ, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động ngân hàng và sự phân bổ có hiệu quả các nguồn vốn trong nền kinh tế.

Đối với nước ta, cơ chế điều hành lãi suất có sự thay đổi qua nhiều giai đoạn; từ giữa tháng 5/2008 đến nay, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam áp dụng cơ chế điều hành lãi suất cơ bản:

– Thực hiện cơ chế điều hành lãi suất cơ bản, mà theo đó, các NHTM ấn định lãi suất cho vay tối đa bằng 150% lãi suất cơ bản do NHNN công bố trong từng thời kỳ. Đây là công cụ trực tiếp để kiểm soát lãi suất kinh doanh của NHTM; đồng thời, NHNN tiếp tục điều hành linh hoạt các mức lãi suất nghiệp vụ thị trường mở, lãi suất tái cấp vốn và tái chiết khấu để điều tiết lãi suất thị trường tiền tệ. Lãi suất cơ bản được xác định và công bố trên cơ sở xu hướng biến động cung – cầu vốn thị trường, mục tiêu của chính sách tiền tệ và các nhân tố tác động khác của thị trường tiền tệ, ngoại hối ở trong và ngoài nước.

– Thiết lập một hành lang lãi suất thị trường liên ngân hàng với biên độ chênh lệch khoảng 2% để điều tiết lãi suất thị trường: (i) "Trần" là lãi suất tái cấp vốn, "sàn" là lãi suất tái chiết khấu (hiện nay là 7% – 5%/năm); lãi suất cơ bản và lãi suất nghiệp vụ thị trường mở biến động trong phạm vi hành lang này; (ii) Lãi suất nghiệp vụ thị trường mở đóng vai trò định hướng và thực hiện việc "bơm" tiền ra hoặc "hút" tiền về, từ đó tác động đến cung – cầu vốn, lãi suất thị trường liên ngân hàng và lãi suất huy động, cho vay của NHTM.

Continue reading

HỆ THỐNG PHÁP LUẬT HỢP ĐỒNG HIỆN HÀNH TẠI VIỆT NAM: NHỮNG VẤN ĐỀ QUAN TRỌNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP

TRẦN MINH SƠN

Đã từ lâu pháp luật về hợp đồng chiếm một vị trí rất quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam, bởi vì, hầu hết các giao dịch trong xã hội, dù có mục đích kinh doanh hay nhằm đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt thông thường, đều liên quan đến hợp đồng. Chính vì lẽ đó mà các chế định về hợp đồng và các vấn đề liên quan đến hợp đồng trong Bộ luật Dân sự năm 2005 chiếm một vị trí nòng cốt với hơn 300 điều trên tổng số 777 điều. Mục đích của pháp luật về hợp đồng là nhằm bảo vệ quyền tự do ý chí của các bên. Quyền tự do ý chí này chỉ bị hạn chế bởi một số ngoại lệ nhằm bảo vệ trật tự công hoặc nhằm bảo đảm quyền lợi hợp pháp của bên thứ ba.

Pháp luật về hợp đồng của Việt Nam hiện nay được quy định trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau như Bộ luật Dân sự, Luật Thương mại, Luật Kinh doanh bảo hiểm…, tuy nhiên, Bộ luật Dân sự được coi là luật gốc quy định các vấn đề chung về hợp đồng, là nền tảng cho pháp luật về hợp đồng, điều chỉnh các quan hệ hợp đồng được xác lập trên nguyên tắc bình đẳng, tự nguyện, tự thoả thuận và tự chịu trách nhiệm. Các quy định về hợp đồng trong Bộ luật Dân sự được áp dụng chung cho tất cả các loại hợp đồng, không phân biệt hợp đồng dân sự hay hợp đồng kinh tế, hợp đồng có mục đích kinh doanh hay hợp đồng nhằm đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt hàng ngày. Trên cơ sở các quy định chung về hợp đồng của Bộ luật Dân sự, tuỳ vào tính chất đặc thù của các mối quan hệ hoặc các giao dịch, các luật chuyên ngành có thể có những quy định riêng về hợp đồng để điều chỉnh các mối quan hệ trong lĩnh vực đó, ví dụ như các quy định về hợp đồng mua bán hàng hoá trong Luật Thương mại, hợp đồng bảo hiểm trong Luật Kinh doanh bảo hiểm… Các quy định về hợp đồng trong Bộ luật Dân sự được coi là các quy định chung còn các quy định về hợp đồng trong các luật chuyên ngành được coi là các quy định chuyên ngành và các quy định này được ưu tiên áp dụng.

Continue reading

TỪ MỘT VỤ TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI NGHĨ THÊM VỀ QUYỀN TÀI SẢN

PGS.TS. PHẠM DUY NGHĨA – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Vụ án dưới đây chỉ là một trong số hàng vạn tranh chấp về nhà đất ở Việt Nam. Năm 1995 ông Bùi Văn Thanh mua nhà đất của bà Nguyễn Thị Nương tại ấp 7, xã Thanh Hòa, Lộc Ninh, Bình Phước; việc mua bán được làm bằng giấy viết tay. Năm 1996, bà Nương được UBND huyện Lộc Linh cấp sổ đỏ cho lô đất kể trên. Dựa trên sổ đỏ đó, bà này khởi kiện, đòi ông Thanh phải trả lại nhà đất, với lí do việc mua bán đất là vô hiệu. Qua các cấp xét xử, TAND huyện Lộc Ninh (Bản án sơ thẩm số 40/DSST ngày 31/12/2002), TAND tỉnh Bình Phước (Bản án phúc thẩm số 38/DSPT ngày 15/04/2003) đều xác nhận việc mua bán nhà đất là có thực, song tuyên bố hợp đồng này vô hiệu, vì vào năm 1995 người bán chưa được cấp sổ đỏ nên chưa có quyền bán đất, sau khi bán hai bên lại không làm thủ tục đăng kí chuyển nhượng sổ đỏ. Tuyên hợp đồng mua bán nhà đất vô hiệu, tòa buộc ông Thanh phải trả lại đất cho bà Nương; ngược lại, bà Nương có nghĩa vụ trả lại cho ông Thanh số tiền bán nhà đất đã nhận.

Vụ tranh chấp kể trên không phải cá biệt, mà ngược lại, là một hiện tượng phổ biến ở Việt Nam. Từ vụ tranh chấp kể trên có nhiều vấn đề pháp lí cơ bản dưới đây cần được thảo luận: (i) nhà đất đang chờ sổ đỏ có thể mua bán được hay không, (ii) hợp đồng mua bán nhà đất viết tay có hiệu lực hay không, (iii) tòa án cần can thiệp như thế nào đối với những trường hợp tương tự.

 Mua bán nhà đất đang chờ sổ đỏ

 Pháp luật phải ghi nhận và bảo hộ quyền tài sản tư của người dân (gọi đó là quyền sử dụng đất hay quyền thuê đất), kể cả khi đất đó chưa được cấp sổ đỏ. Điều này dễ hiểu như một người vừa mua một chiếc xe máy từ cửa hàng mà chưa kịp đăng kí; xe chờ đăng kí cũng giống như nhà đất chờ cấp sổ đỏ. Nếu người ta có thể mua bán, tặng cho xe chưa đăng kí, thì nhà đất chờ cấp sổ đỏ cũng là một thứ tài sản không thể bị cấm lưu hành.

Thực ra sổ đỏ với đất, sổ hồng với nhà đều là sự ghi chép của nhà nước phục vụ minh bạch hóa quyền tài sản, chứ các ủy ban nhân dân không có cái quyền ban phát sở hữu, cũng như cái giấy khai sinh chỉ ghi nhận, chứ cái giấy đó không đẻ ra con người. Quyền tài sản, từ thủa hồng hoang cho tới nay, đều hình thành qua vài con đường, hoặc do cưỡng đoạt, hoặc do khẩn khai, tôn tạo, hoặc do thừa kế hay mua sắm mà có. Điều ấy cũng đúng với nhà đất, quyền tài sản đối với nhà đất đã được xác lập bởi nhiều phương cách khác nhau. Chước bạ thời xưa hay sổ đỏ thời nay chỉ là sự ghi chép, chứ không thể sinh ra quyền tài sản. Nếu xem xét như vậy, thì nhà đất chờ sổ đỏ tất phải là quyền tài sản của người dân và tất yếu phải được lưu hành. Continue reading

Quy định của pháp luật Việt Nam về lãi suất trong hợp đồng vay tiền VÀ MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ

DƯƠNG THU PHƯƠNG – Lớp DS32C, Đại học Luật Hà Nội

1. Lãi suất và đặc điểm của lãi suất

Trong hầu hết các hợp đồng cho vay tiền, người vay thường phải trả thêm một phần giá trị ngoài phần vốn gốc ban đầu. Tỉ lệ phần trăm của phần tăng thêm này so với phần vốn vay ban đầu được gọi là lãi suất (interest rate). Lãi suất phải được trả bởi lẽ đồng tiền ngày hôm nay có giá hơn đồng tiền nhận được ngày mai khi tính đến giá trị thời gian của tiền tệ. Khi người cho vay chuyển quyền sử dụng tiền cho người khác có nghĩa là anh ta đã hi sinh quyền sử dụng tiền tệ ngày hôm nay của mình với hi vọng có được lượng tiền lớn hơn ngày mai. Sẽ không có sự chuyển nhượng vốn nếu không có phần lớn lên thêm đó hoặc là nó không đủ đề bù đắp cho giá trị thời gian của tiền tệ.

Có nhiều cách định nghĩa về lãi và lãi suất. Theo Quy định phương pháp tính và hoạch toán thu, trả lãi của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các tổ chức tín dụng Ban hành kèm theo Quyết định số 652/2001/QĐ-NHNN ngày 17-5-2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước thì Lãi được hiểu là khoản tiền bên vay, huy động vốn hoăc bên thuê trả cho bên vay, đầu tư chứng khoán, gửi tiền hoặc bên cho thuê về việc sử dụng vốn vay, vốn huy động hoặc tài sản cho thuê. Lãi được tính toán căn cứ vào số vốn, thời gian sử dụng vốn và lãi suất ([1]).

Cũng có định nghĩa cho rằng: lãi suất là giá cả của quyền được sử dụng vốn vay trong một thời gian nhất định mà người sử dụng vốn phải trả cho người sở hữu vốn([2]).

Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, lãi suất được định nghĩa là tỷ lệ của tổng số tiền phải trả so với tổng số tiền vay trong một khoảng thời gian nhất định. Lãi suất là giá mà người vay phải trả để được sử dụng tiền không thuộc sở hữu của họ và là lợi tức người cho vay có được đối với việc trì hoãn chi tiêu.

Continue reading

QUI ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ LÃI SUẤT TRONG HỢP ĐỒNG VAY TIỀN VÀ MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ

DƯƠNG THU PHƯƠNG – Lớp DS32C, Đại học Luật Hà Nội

1. Lãi suất và đặc điểm của lãi suất

Trong hầu hết các hợp đồng cho vay tiền, người vay thường phải trả thêm một phần giá trị ngoài phần vốn gốc ban đầu. Tỉ lệ phần trăm của phần tăng thêm này so với phần vốn vay ban đầu được gọi là lãi suất (interest rate). Lãi suất phải được trả bởi lẽ đồng tiền ngày hôm nay có giá hơn đồng tiền nhận được ngày mai khi tính đến giá trị thời gian của tiền tệ. Khi người cho vay chuyển quyền sử dụng tiền cho người khác có nghĩa là anh ta đã hi sinh quyền sử dụng tiền tệ ngày hôm nay của mình với hi vọng có được lượng tiền lớn hơn ngày mai. Sẽ không có sự chuyển nhượng vốn nếu không có phần lớn lên thêm đó hoặc là nó không đủ đề bù đắp cho giá trị thời gian của tiền tệ.

Có nhiều cách định nghĩa về lãi và lãi suất. Theo Quy định phương pháp tính và hoạch toán thu, trả lãi của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các tổ chức tín dụng Ban hành kèm theo Quyết định số 652/2001/QĐ-NHNN ngày 17-5-2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước thì Lãi được hiểu là khoản tiền bên vay, huy động vốn hoăc bên thuê trả cho bên vay, đầu tư chứng khoán, gửi tiền hoặc bên cho thuê về việc sử dụng vốn vay, vốn huy động hoặc tài sản cho thuê. Lãi được tính toán căn cứ vào số vốn, thời gian sử dụng vốn và lãi suất ([1]).

Cũng có định nghĩa cho rằng: lãi suất là giá cả của quyền được sử dụng vốn vay trong một thời gian nhất định mà người sử dụng vốn phải trả cho người sở hữu vốn([2]).

Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, lãi suất được định nghĩa là tỷ lệ của tổng số tiền phải trả so với tổng số tiền vay trong một khoảng thời gian nhất định. Lãi suất là giá mà người vay phải trả để được sử dụng tiền không thuộc sở hữu của họ và là lợi tức người cho vay có được đối với việc trì hoãn chi tiêu.

Continue reading

LÃI SUẤT TRONG HỢP ĐỒNG VAY TIỀN VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐẾN NỀN KINH TẾ HIỆN NAY

CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG “SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC”
ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI – NĂM 2009

 

Người thực hiện: Dương Thu Phương 

Giới tính: Nữ   

Dân tộc: Kinh

Lớp: DS32C

Năm thứ: 3/4      

Khoa: Luật Dân Sự

Người hướng dẫn: Nguyễn Minh Oanh

THS. GV

Khoa: Luật Dân Sự

     

LỜI NÓI ĐẦU

Trong quá trình tiến hành công cuộc đổi mới kinh tế, Đảng và Nhà nước ta luôn luôn nỗ lực tìm kiếm các giải pháp nhằm đưa nền kinh tế nước nhà phát triển một cách toàn diện và hội nhập có hiệu quả với nền kinh tế thế giới. Những giải pháp đưa ra và được thực hiện trên thực tế đã thu được những kết quả khả quan, trong đó có những biện pháp quy định về lãi suất (interest rate). Việc điều chỉnh lãi suất hợp lí sẽ giúp phát triển nền kinh tế.

Tuy nhiên, hiện nay những quy định của pháp luật về hợp đồng vay tài sản và đặc biệt là lãi suất có những bất cập nhất định. Những bất cập đó thể hiện ở chỗ những quy định pháp luật này còn thiếu cụ thể, lỗi thời không phù hợp với thực tế. Sự quy định của pháp luật đã bộc lộ những khiếm khuyết khi những quy định này được áp dụng trong cuộc sống. Và khi có rất nhiều tranh chấp xảy ra cộng với tình hình phức tạp của nền kinh tế hiện nay thì một đòi hỏi nhất thiết là phải sửa đổi luật để đảm bảo lợi ích cho các chủ thể và xây dựng một hàng rào pháp luật vững chắc.

Continue reading

CẦN QUI ĐỊNH PHÙ HỢP VỚI ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG BÁN ĐẤU GIÁ TÀI SẢN

NGUYỄN XUÂN VIỄN

Ngày 18.1.2005, Chính phủ đã ban hành Nghị định 05/2005/NĐ-CP về bán đấu giá tài sản. Qua thời gian thi hành cho thấy, Nghị định 05 còn một số quy định chưa rõ, cần bổ sung, hướng dẫn thêm. Do đó, ngày 20.8.2009, Bộ Tư pháp đã tham mưu cho Chính phủ Dự thảo Nghị định mới thay thế Nghị định số 05 nhằm tháo gỡ những vướng mắc về thủ tục, trình tự, bảo vệ quyền bán đấu giá tài sản và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân trong quá trình tham gia đấu giá. Tuy nhiên, Dự thảo Nghị định mới vẫn có một số điểm còn bất cập.

Thứ nhất, theo Dự thảo Nghị định mới: “Hội đồng bán đấu giá tài sản cấp huyện do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện thuộc tỉnh quyết định thành lập để bán đấu giá tài sản là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính do người có thẩm quyền từ cấp huyện trở xuống quyết định xử phạt và chuyển giao theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính. Theo đó, Hội đồng  bán đấu giá tài sản cấp huyện không bắt buộc phải có đấu giá viên tiến hành, điều hành cuộc bán đấu giá tài sản. Bên cạnh đó, Điều 4 của Dự thảo quy định về nguyên tắc bán đấu giá tài sản cũng không có khoản, điểm nào bắt buộc phải có đấu giá viên điều hành cuộc bán đấu giá tài sản đối với Hội đồng bán đấu giá tài sản cấp huyện. Quy định như vậy chưa phù hợp, không bảo đảm hiệu quả của các cuộc bán đấu giá đối với các Hội đồng bán đấu giá tài sản cấp huyện. Trên thực tế, việc bán đấu giá tài sản khá quan trọng lại mang nhiều rủi ro, đòi hỏi trách nhiệm cá nhân đối với những thiệt hại do quá trình bán đấu giá tài sản gây ra. Và, trách nhiệm cá nhân ở đây phải là trách nhiệm cụ thể của Đấu giá viên – người trực tiếp điều hành cuộc bán đấu giá. Không thể quy trách nhiệm chung chung cho cả Hội đồng bán đấu giá tài sản cấp huyện. Vì lẽ đó, Ban soạn thảo nên quy định rõ về vấn đề này. Cụ thể, phải quy định bắt buộc các Hội đồng bán đấu giá tài sản cấp huyện trong quá trình bán đấu giá thuộc thẩm quyền phải có Đấu giá viên điều hành; nếu các địa phương chưa có Đấu giá viên thì phải ký kết hợp đồng bán đấu giá tài sản với Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản cấp tỉnh tiến hành cuộc bán đấu giá. Có như vậy mới tránh được những sai sót, thiệt hại có thể xảy ra đối với cá nhân, tổ chức liên quan.

Continue reading

CẦN CẢNH GIÁC RỦI RO PHÁP LÝ VỀ GIAO DỊCH CHO VAY TIỀN MẶT BẰNG NGOẠI TỆ

LS. NGUYỄN ĐĂNG LIÊM

Do tâm lý thực tế sợ đổi ra tiền đồng Việt Nam bị mất giá, nên trong giao dịch vay mượn lẫn nhau, một số cá nhân thường dùng ngoại tệ mặt để giao dịch. Những giao dịch như vậy nếu “trót lọt”, hai bên vay mượn giữ chữ tín với nhau thì êm, nhưng nếu xảy ra tranh chấp thì rủi ro sẽ phát sinh hậu quả “mất tiền” (đôi khi khá lớn) đối với bên cho vay.

Điển hình rủi ro pháp lý về sử dụng ngoại tệ mặt cho vay qua vụ kiện “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” mà bản thân người viết đã tham gia với tư cách luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn là thân chủ của mình. Diễn tiến của vụ tranh chấp dân sự này như sau:

Nguyên từ giữa tháng 8 năm 1997, bà S.Diễm, Việt kiều Mỹ, vì muốn giúp đỡ hỗ trợ đứa em của người bạn nối khố tên H.N qua năn nỉ thuyết phục của người bạn này, nên đã cho vay 12.000USD với lãi suất 200USD/tháng và 25 lượng vàng SJC 9999 với lãi suất qui ra tiền đồng là 2%/tháng bằng cam kết vay nợ giấy tay do bên vay viết. Do bên vay, chị H.N quá lình xình, trục trặc trong việc trả lãi và trong suốt thời gian vay chỉ trả được một phần lãi cho phần vốn vay ngoại tệ 12.000USD. Còn phần vốn vay vàng thì hầu như không được trả đồng lãi nào. Và đến ngày 10/6/2008, thì bên vay, chị H.N “tịt ngòi” luôn và bị bà S.Diễm sai cháu ruột mình đi đòi nhiều lần không được gì vì bên vay tránh mặt và khi hiếm hoi gặp được, bên vay còn ra mặt “tráo trở” nói ngang là sắp tới khi có tiền sẽ chi trả vốn từ từ, chứ không trả lãi nữa vì “sạch túi rồi”, mặc dù chị ta mới bán được căn nhà đến 600 lượng vàng SJC 9999.

Continue reading

Ý KIẾN TRAO ĐỔI ĐỂ HOÀN THIỆN QUI ĐỊNH VỀ HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN

LS. ĐIỀN ĐỨC THÀNH

Thực hiện hợp đồng vay có kỳ hạn; nhưng lại không qui định hình thức hợp đồng vay tài sản như thế nào thì luật không qui định, mà chỉ qui định hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên.

Các vụ án tranh chấp về hợp đồng vay tài sản chiếm đa số trong các vụ án dân sự; trừ số ít vụ án “đòi nợ” có hợp đồng vay tín dụng với ngân hàng, còn phần lớn các vụ án đòi nợ được xác lập giữa các bên không có hợp đồng vay tài sản. Chứng cứ của bên cho vay chỉ là giấy mượn, giấy vay tiền, giấy xác nhận nợ…, những loại giấy này chỉ được bên vay đơn phương viết và ký xác nhận.

Với những loại chứng cứ trên, việc đòi nợ, thì nội dung vụ án rất là phức tạp, khi các bên không công nhận việc vay nợ lẫn nhau, tỷ lệ lãi suất phải trả, phần lớn các vụ án bị đơn lại không chấp nhận số tiền ghi trên giấy nợ do chính bị đơn viết và viện dẫn rằng đây là tiền chơi hụi, tiền cho vay nặng lãi. Nguyên đơn đã yêu cầu hoặc dồn ép bị đơn phải viết giấy nợ lại, nhưng lại không hủy giấy nợ cũ, nay nguyên đơn lợi dụng giấy nợ cũ để làm chứng đòi nợ bị đơn.

Từ những vụ án đòi nợ phức tạp đã qua, thiết nghĩ cần phải có hướng dẫn cụ thể dựa vào Điều 471 BLDS năm 2005 về hình thức hợp đồng vay tài sản bằng văn bản. Ví dụ như đối với hợp đồng vay tài sản có giá trị từ bao nhiêu trở lên, có thể từ 5 triệu hay 10 triệu đồng trở lên cần phải lập bằng văn bản có chứng nhận của công chứng hoặc chứng thực của ủy ban nhân dân phường, xã hoặc là luật sư xác nhận làm chứng (vì địa vị của luật sư không thể làm chứng gian dối được) thì lúc đó văn bản hợp đồng vay vốn  mới có giá trị pháp lý, lúc đó người đi vay không có lý do gì  để phủ nhận việc vay của mình, người cho vay cũng không có lý do gì ép người vay hoặc lợi dụng giấy tờ vay không rõ ràng để khởi kiện đòi nợ. Có như vậy mới giúp cho tòa án xét xử về hợp đồng vay được đúng đắn và khách quan, bảo đảm sự công bằng của pháp luật đến mọi người dân.

Continue reading

HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG PHẦN VỐN GÓP

NGUYỄN HỒNG ANH

Phần vốn góp, cổ phần trong công ty có tư cách pháp nhân (“Phần Vốn Góp”) là các tài sản vô hình có thể chuyển giao trong giao lưu dân sự thông qua hợp đồng chuyển nhượng. Hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng làm phát sinh không những quyền và nghĩa vụ của các bên đối với nhau mà còn liên quan tới công ty phát hành Phần Vốn Góp (“Công Ty”). Ta thử lần lượt tìm hiểu các vấn đề pháp lý liên quan đến hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng Phần Vốn Góp đối với các bên giao kết và đối với Công Ty cũng như đối với người thứ ba.

1. Đối với các bên giao kết hợp đồng

Phần Vốn Góp là một tài sản vô hình. Tài sản này không chiếm hữu được. Đó chỉ là quyền định giá được bằng tiền và không gắn liền với bất kỳ vật cụ thể, xác định nào. Luật pháp Việt Nam gọi chung những tài sản vô hình đó là quyền tài sản. Việc mua bán quyền tài sản được điều chỉnh bởi Điều 442 Bộ luật dân sự và một số các quy định riêng tại luật chuyên ngành như Luật Doanh Nghiệp, Luật Đầu Tư…

Giống như hợp đồng mua bán có đối tượng là một vật, hợp đồng chuyển nhượng quyền tài sản (Phần Vốn Góp) được đặc trưng bởi việc bên chuyển nhượng có nghĩa vụ chuyển quyền sở hữu Phần Vốn Góp cho bên nhận chuyển nhượng. Đổi lại, bên nhận chuyển nhượng phải trả tiền cho bên chuyển nhượng (Điều 442 khoản 1 Bộ luật dân sự).

Ta thừa nhận rằng, nghĩa vụ chuyển quyền sở hữu tài sản là nghĩa vụ quan trọng nhất của bên chuyển nhượng trong hợp đồng chuyển nhượng. Thế nhưng chỉ có chừng đó nghĩa vụ liệu có đủ để đảm bảo cho quyền lợi của bên giao kết còn lại của hợp đồng? Ở các hợp đồng mua bán có đối tượng là một vật, người bán có nghĩa vụ cung cấp các thông tin cần thiết về tài sản, bảo đảm chất lượng vật mua bán và bảo hành đối với vật mua bán cho người mua.

Continue reading

CƠ CHẾ KHIẾU NẠI TRỰC TIẾP CỦA NẠN NHÂN TRONG CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM BẮT BUỘC: TỪ LÝ THUYẾT ĐẾN THỰC TIỄN Ở VIỆT NAM

THS. NGUYỄN TIẾN HÙNG

Chế độ bảo hiểm bắt buộc trong lĩnh vực bảo hiểm thương mại

Thị trường bảo hiểm là nơi gặp nhau giữa một bên là những người có nhu cầu đảm bảo cho các rủi ro mà họ có thể gặp trong quá trình sinh hoạt, sản xuất với một bên là các doanh nghiệp bảo hiểm – người cung cấp loại hình dịch vu tài chính đặc biệt này. Về nguyên tắc, mối quan hệ này diễn ra trên cơ sở thỏa thuận, hoàn toàn tự nguyện của hai bên. Thế nhưng, trong lĩnh vực bảo hiểm thuơng mại, người ta ngày càng thấy nhiều hơn những loại hình bảo hiểm bắt buộc, đặc biệt, là những loại hình bảo hiểm trách nhiệm dân sự (TNDS), với toàn bộ các nội dung của hợp đồng bảo hiểm là do pháp luật quy định.

Chế độ bảo hiểm bắt buộc trong lĩnh vực bảo hiểm thương mại xuất hiện đầu tiên và rất sớm ở các nước châu Âu. Ví dụ: Loại hình bảo hiểm TNDS chủ xe cơ giới bị bắt buộc đầu tiên ở Anh từ năm 1930. Đến nay, trên thế giới, có đến hơn 90 loại hình hoạt động nghề nghiệp mà người thực hiện nó bắt buộc phải mua bảo hiểm cho trách nhiệm nghề nghiệp của mình. Phân tích danh mục các hoạt động đó, chúng ta có thể nhận thấy có ba nhóm chính sau:

– Những hoạt động mà chỉ những sơ suất cá nhân nhỏ, đơn giản có thể dẫn đến những thiệt hại về con người trầm trọng. Vi dụ: sử dụng xe cơ giới tham gia giao thông đường bộ, hoạt động săn bắn, hoạt động điều trị y tế,…

– Những hoạt động dịch vụ, sản xuất có nguy cơ gây ra tổn thất cho nhiều nạn nhân trong cùng sự cố. Ví dụ: kinh doanh vận chuyển hành khách, tổ chức thi đấu, biểu diễn thể thao nguy hiểm, hoạt động khai thác đường ống dẫn khí đốt – nhiên liệu,…

– Những hoạt động cung cấp “dịch vụ trí tuệ” có thể gây thiệt hại lớn về tài chính. Ví dụ: tư vấn thiết kế, giám sát thi công xây lắp, kiểm toán, tư vấn luật,…

Continue reading

ĐẤU GIÁ TÀI SẢN CÒN NHIỀU VƯỚNG MẮC

DÂN HÙNG

Sau khi có Nghị định 05 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản, UBND thành phố Đà Nẵng đã ban hành các văn bản, nhằm thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước, bảo đảm cho hoạt động bán đấu giá tài sản thực hiện đúng pháp luật. Tuy nhiên, hoạt động này còn rất nhiều vướng mắc.

Từ khi Nghị định 05 có hiệu lực, hoạt động bán đấu giá tài sản trên địa bàn TP Đà Nẵng ổn định và đạt hiệu quả cao hơn. Tuy nhiên, vẫn có những bất cập gây khó khăn cho hoạt động của các doanh nghiệp, trung tâm bán đấu giá tài sản và các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực này. Theo quy định tại Mục 9 Thông tư 03/2005/TT-BTP hướng dẫn thi hành Nghị định 05, Sở Tư pháp là cơ quan chuyên môn tham mưu giúp UBND thành phố thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác bán đấu giá tài sản tại địa phương, nhưng các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ bán đấu giá tài sản lại do Sở Kế hoạch và Đầu tư cấp giấy phép đăng ký kinh doanh. Vì vậy, việc thanh, kiểm tra về tổ chức, hoạt động của các doanh nghiệp bán đấu giá trên địa bàn gặp nhiều khó khăn. Trong khi đó, các văn bản hướng dẫn về bán đấu giá hiện nay không quy định cụ thể cơ chế phối hợp giữa Ngành Tư pháp và Kế hoạch – Đầu tư trong việc kiểm tra hoạt động của doanh nghiệp cũng như cung cấp thông tin về doanh nghiệp bán đấu giá tài sản tại địa phương. Chính vì vậy, cơ quan chuyên môn của UBND thành phố tiến hành thanh tra, kiểm tra về tổ chức và hoạt động của Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản mà chưa kiểm tra được hoạt động của doanh nghiệp bán đấu giá tài sản. Ngoài ra, theo quy định tại Điều 38 Nghị định 05 “ Định kỳ hàng năm, trung tâm và doanh nghiệp bán đấu giá tài sản báo cáo UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (nơi Trung tâm, doanh nghiệp đặt trụ sở chính) và Bộ Tư pháp về tổ chức và hoạt động của mình”. Song, thực tế chỉ có Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản thực hiện nghiêm túc quy định này; các doanh nghiệp bán đấu giá, khi đăng ký kinh doanh dịch vụ bán đấu giá không nghiên cứu văn bản pháp luật liên quan, không tuân thủ các quy định về báo cáo và cũng không được cơ quan cấp Giấy đăng ký kinh doanh hướng dẫn nên không thực hiện quy định về báo cáo tổ chức và hoạt động.

Continue reading

VỀ THẨM QUYỀN CHỨNG THỰC HỢP ĐỒNG NHÀ GẮN LIỀN VỚI ĐẤT

NGUYỄN XUÂN

Hiện nay, có nhiều văn bản quy định thẩm quyền chứng thực của UBND cấp xã và cấp huyện, dẫn đến một số quy định vênh nhau. Tuy nhiên, nếu áp dụng đúng hiệu lực của văn bản thì thẩm quyền chứng thực các loại hợp đồng liên quan quyền sử dụng đất và nhà ở không vướng mắc.

Không rối khi chứng thực hợp đồng có nhà và đất

Nghị định 75 về công chứng, chứng thực quy định UBND cấp huyện có thẩm quyền chứng thực hợp đồng, giao dịch liên quan đến bất động sản theo thẩm quyền địa hạt. Như vậy các loại hợp đồng, giao dịch liên quan đến bất động sản sẽ do UBND huyện chứng thực, UBND xã không có thẩm quyền chứng thực các hợp đồng, giao dịch liên quan đến bất động sản nêu trên. Khi Luật Đất đai, Thông tư liên tịch số 04 được ban hành thì lại giao thẩm quyền chứng thực các hợp đồng liên quan đến quyền sử dụng đất cho UBND cấp xã và Phòng Công chứng. Tuy nhiên, Điều 174 Bộ luật Dân sự quy định bất động sản là các tài sản bao gồm: Đất đai; Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả các tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng đó. Quy định này cho thấy, bất động sản không chỉ đất đai mà còn có nhà gắn liền với đất, nên UBND cấp huyện vẫn có thẩm quyền chứng thực các hợp đồng, giao dịch liên quan. Mặt khác, tại Khoản 3, Điều 93 Luật Nhà ở quy định hợp đồng về nhà ở phải có chứng nhận của công chứng hoặc chứng thực của UBND cấp huyện đối với nhà ở tại đô thị, chứng thực của UBND xã đối với nhà ở tại nông thôn. Điều 11 Luật Nhà ở cũng quy định, Giấy chứng nhận quyền sở hữu đối với nhà ở được cấp cho chủ sở hữu theo quy định: Trường hợp chủ sở hữu nhà ở đồng thời là chủ sử dụng đất ở, chủ sở hữu căn hộ trong nhà chung cư thì cấp một giấy chứng nhận là Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở; trường hợp chủ sở hữu nhà ở không đồng thời là chủ sử dụng đất ở thì cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở. Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở; Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, quy định tại khoản này được gọi chung là Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở. Như vậy, nếu sử dụng giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở thì theo quy định của Luật Nhà ở chắc chắn sẽ có thông tin về quyền sử dụng đất, vì nhà ở luôn gắn liền với đất. Do đó các hợp đồng, giao dịch của người dân liên quan đến quyền sở hữu nhà ở, trong đó có cả quyền sử dụng đất thì UBND cấp huyện có thẩm quyền chứng thực.

Continue reading

ĐẶC ĐIỂM CỦA HỢP ĐỒNG HỢP TÁC KINH DOANH VIỄN THÔNG Ở VIỆT NAM

THS. LÊ KIM GIANG – Công ty thông tin VMS

Từ những năm đầu thế kỷ XXI, Đảng ta đã có định hướng phát triển khoa học và công nghệ cụ thể là: “Đi thẳng vào công nghệ hiện đại đối với các ngành mũi nhọn, đồng thời lựa chọn các công nghệ thích hợp, không gây ô nhiễm và khai thác được lợi thế về lao động. Chú trọng nhập khẩu công nghệ mới, hiện đại” (1). Đồng thời Đảng ta xác định, phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Thực hiện những định hướng quan trọng trên đây, từ những năm cuối thập kỷ trước, ngành bưu chính viễn thông đã liên doanh được với nhiều nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực viễn thông. Có được thành công này chính là nhờ “công cụ pháp lý” quan trọng là hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC) trong lĩnh vực viễn thông.

1. Nguyên lý chung trong hợp đồng hợp tác kinh doanh dịch vụ viễn thông

Hợp đồng liên kết kinh doanh trong lĩnh vực viễn thông là một hình thức hợp đồng cụ thể ghi nhận nội dung những cam kết, thỏa thuận; ghi nhận quyền và nghĩa vụ cụ thể của mỗi bên.

Là một hợp đồng, nên hợp đồng liên kết kinh doanh trong lĩnh vực viễn thông cũng phải tuân theo nguyên tắc về tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận được quy định tại Điều 4 của Bộ luật Dân sự năm 2005: “Quyền tự do cam kết, thoả thuận trong việc xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự được pháp luật bảo đảm, nếu cam kết, thoả thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Trong quan hệ dân sự, các bên hoàn toàn tự nguyện, không bên nào được áp đặt, cấm đoán, cưỡng ép, đe doạ, ngăn cản bên nào. Cam kết, thoả thuận hợp pháp có hiệu lực bắt buộc thực hiện đối với các bên và phải được cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác tôn trọng”.

Continue reading

KHÓ KIỆN KHI NGƯỜI VAY NỢ BỎ TRỐN

XUÂN ĐỒNG

Vay tài sản là một trong những giao dịch phổ biến của người dân trong đời sống xã hội. Pháp luật dân sự có những quy định cụ thể cho việc ký kết các hợp đồng vay tài sản giữa cá nhân với nhau. Nhưng, thông thường các bên vay nợ chỉ thỏa thuận lập giấy viết tay với nhau và pháp luật dân sự cũng không bắt buộc đối với hợp đồng vay phải được lập thành biên bản; cũng không bắt buộc hợp đồng vay phải được công chứng hay chứng thực… Vì thế, dẫn đến những rắc rối và người cho vay có khi không bảo đảm được quyền lợi của mình.

Trên thực tế, các Tòa án xét xử tranh chấp về hợp đồng vay tiền cũng chỉ căn cứ vào biên nhận nợ và sự thỏa thuận về nội dung vay giữa các bên để làm cơ sở cho việc xét xử và tuyên án. Vì thế, cũng như các vụ án ly hôn, khi đương sự bỏ nơi cư trú, không tìm thấy nơi cư trú của bị đơn thì người yêu cầu ly hôn không thực hiện được quyền ly hôn của mình- trong hợp đồng vay tiền cũng vậy, khi người vay không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ vay và bỏ đi khỏi nơi cư trú, người cho vay không còn quyền khởi kiện tại Tòa án và có nguy cơ “mất trắng” số tiền đã cho vay. Điển hình là trường hợp bà Phạm Thị K. ngụ tại số 382, khóm1, thị trấn Lai Vung, huyện Lai Vung, Đồng Tháp cho vợ chồng ông Cao Văn T. và bà Lượng Thị C. vay số tiền là 38.000.000 đồng bằng biên nhận nợ viết tay giữa bà và vợ chồng ông T. Để tạo lòng tin cho bà K. vợ chồng ông T. đưa cho bà giữ một giấy chứng nhận quyền sử dụng 150 m2 đất như một tài sản thế chấp. Đầu tháng 5.2008, Bà K. khi phát hiện vợ chồng ông T. bỏ nơi cư trú và hiện nay không biết ở đâu vội làm đơn khởi kiện, yêu cầu vợ chồng ông T. thanh toán số tiền vay của mình. TAND huyện Lai Vung không thụ lý hồ sơ và trả lại đơn khởi kiện, vì bà K. không tìm được nơi cư trú của bị đơn. Khi bà K. đến khiếu nại Tòa án nhân dân huyện Lai Vung thì Chánh án cho biết, vụ kiện không thể thụ lý vì không tìm thấy nơi cư trú của bị đơn và theo pháp luật, còn phải bảo đảm quyền được biết bị khởi kiện của bị đơn thì vụ án mới được giải quyết. Do đó, Tòa án chỉ giải quyết khi bị đơn trở về nơi cư trú của mình, hoặc người khởi kiện tìm thấy nơi cư trú mới của bị đơn. Khi đó, Tòa án nơi cư trú mới của bị đơn sẽ có thẩm quyền giải quyết vụ kiện. Mặc dù có trong tay tài sản mà vợ chồng ông T. để lại nhưng bà K. không thể sử dụng cũng như chuyển nhượng, vì chứng nhận quyền sử dụng đất vẫn mang tên vợ chồng ông T.

Continue reading

KỸ NĂNG ĐÀM PHÁN TRONG GIAO DỊCH BẤT ĐỘNG SẢN

* Khái niệm đàm phán :

Đó là một khía cạnh của cuộc sống mà không có quy tắc thống trị. Nói dối không những được cho phép mà còn được sử dụng thường xuyên.

– Đó là việc chấp nhận một nhượng bộ như là sự thay thế cho điều mà bạn thực sự nghĩ bạn mong muốn.

– Đó là chuyến đi tới một vùng đất tưởng tượng mà không có bản đồ dẫn đường, trong đó tất cả các biển báo và chỉ dẫn đều bị sai lệch có chú ý.

Mục đích cuối cùng của một cuộc đàm phán, nhất là đàm phán bất động sản là kiếm được lợi nhuận. Tuy nhiên, lợi nhuận cũng có nhiều dạng. Tất nhiên dạng đầu tiên của lợi nhuận là tỷ lệ lãi suất cao hơn hay mức giá hời hơn. Nhưng đàm phán cũng có thể đưa lại kết quả khác cũng có giá trị ví dụ như việc hiểu kỹ hơn về một tài sản. Thường thường các bên tham gia đàm phán có mục đích tự nhiên là đạt được sự thoả mãn sau cuộc đàm phán và cảm thấy hài lòng về kết quả thu được. Đây là một dạng khác của " lợi nhuận" mà bạn muốn phía đối tác cảm thấy họ đã đạt được.

* Mục tiêu đàm phán :

Khi bắt đầu đàm phán các nhà đầu tư bất động sản đều tập trung vào các mục tiêu trước mắt sau đây :

Tìm hiểu vị thế của đối tác đàm phán. Nếu chúng ta biết được những gì đối tác muốn, chúng ta có thể tiến hành giao dịch để đáp ứng được nhu cầu của họ. Luôn có lý do này hay lý do khác để bên kia sẵn sàng xem xét thương lượng. Nếu bạn tìm được " câu chuyện bên trong" ẩn dấu những gì họ muốn và thực sự coi trọng, bạn có thể nêu ra vấn đề mà họ đang quan tâm.

Continue reading

ĐỪNG LƠ LÀ KHI SOẠN THẢO HỢP ĐỒNG

TRẦN THỊ THÚY

Một lần, Bia Gates hỏi: “Đâu là yếu tố duy trì sự ổn định và thành công của các hoạt động kinh doanh?”. Nhiều người cho rằng câu trả lời: "Tính chặt chẽ của hợp đồng" thật ngớ ngẩn, nhưng theo ông, đáp án đó đáng được điểm tối đa. Không chỉ thể hiện tính chuyên nghiệp, bản hợp đồng chặt chẽ còn thể hiện sự tôn trọng của bạn với đối tác khách hàng.

Khá nhiều tranh chấp xuất phát từ những sơ suất trong hợp đồng. Bởi vì trên thương trường, hầu hết các hoạt động kinh doanh đều được thể hiện thông qua hợp đồng. Đây chính là ràng buộc pháp lý về nghĩa vụ của các bên trong kinh doanh. Một câu hỏi được đặt ra ở đây: “Đâu là yếu tố quan trọng nhất của một thương vụ làm ăn?”. Phần lớn các chuyên gia kinh tế đều cho rằng, đó chính là tính chặt chẽ của hợp đồng.

Vai trò của hợp đồng

Ở Ford, một trong các hàng sản xuất xe hơi lớn nhất thế giới, bên cạnh hàng ngàn hợp đồng mua bán xe mỗi ngày, Hãng còn có nhiều giao dịch kinh doanh khác như đầu tư, phân phối, mua nguyên vật liệu… John Mene, cố vấn pháp luật của Ford, cho biết: “Trung bình, các giám đốc, trưởng phòng của chúng tôi phải ký gần 3.000 hợp đồng/ngày. Chỉ cần một hợp đồng có sai sót, cũng đủ để mất đi hàng triệu USD. Do vậy, quá trình soạn thảo, ký kết hợp đồng luôn được thực hiện chặt chẽ, có chữ ký của các nhân viên soạn thảo văn bản”.

Việc này trước hết giúp cho quyền lợi của công ty được bảo đảm, cụ thể là không thất thoát vốn. Thứ hai, hoạt động kinh doanh sẽ diễn ra trôi chảy vì công việc được sắp xếp theo lịch trình, kế hoạch. Vì thế, thận trọng trong các giao dịch với đối tác là yếu tố quan trọng giúp doanh nghiệp hoạt động hiệu quả.
Một ví dụ điển hình khác là việc hợp tác kinh doanh đua ngựa giữa Câu lạc bộ Phú Thọ (TP.HCM) và Công ty Thiên Mã vào năm 2005.

Continue reading