VAI TRÒ CỦA ÁN LỆ TRONG SỰ PHÁT TRIỂN CỦA PHÁP LUẬT HỢP ĐỒNG

PHẠM HOÀNG GIANG

Pháp luật của nhiều nước trên thế giới (trong đó có các nước theo hệ thống pháp luật Anh – Mỹ hay hệ thống pháp luật thành văn như Pháp, Đức, Ý…) thừa nhận án lệ là nguồn giải thích pháp luật và là nguồn của pháp luật trong lĩnh vực pháp luật hợp đồng.

1. Pháp luật của nhiều nước trên thế giới (trong đó có các nước theo hệ thống pháp luật Anh – Mỹ hay hệ thống pháp luật thành văn như Pháp, Đức, Ý…) thừa nhận án lệ là nguồn giải thích pháp luật và là nguồn của pháp luật trong lĩnh vực pháp luật hợp đồng. Theo pháp luật các nước này, án lệ đựơc hiểu là đường lối áp dụng của toà án về một vấn đề pháp lý đã trở thành tiền lệ mà các thẩm phán có thể theo đó để xét xử trong các trường hợp tương tự. án lệ có hai nhiệm vụ: một là giải thích và áp dụng pháp luật; hai là dự bị các cải cách pháp luật[1].

2. Ở những nước theo truyền thống án lệ, toà án không chỉ can thiệp vào quan hệ hợp đồng mà còn có vai trò cực kỳ quan trọng trong việc “sáng tạo” ra pháp luật thông qua các quyết định xét xử của mình. Các quy tắc pháp luật đã được đưa ra trong một phán quyết của toà án khi xét xử một vụ việc tương tự đều có hiệu lực ràng buộc đối với thẩm phán của các toà án cùng cấp hoặc cấp dưới (trừ phán quyết của toà án sơ cấp). Phán quyết của toà án tối cao không chỉ có hiệu lực ràng buộc với các toà án sơ cấp, mà với cả toà án cao cấp có vị trí thứ bậc thấp hơn toà án đó (ví dụ: các thẩm phán xét xử độc lập của toà án cao cấp thẩm quyền chung được coi là có vị trí thứ bậc thấp hơn so với hội đồng xét xử tập thể), thậm chí đối với cả toà án cùng cấp với toà án đó. Tuy nhiên, thẩm phán có thể không áp dụng quy tắc tiền lệ này trong trường hợp họ cho rằng, các tình tiết của vụ án mình đang xét xử không giống với các tình tiết trong vụ án đã xét xử trước đó (gọi là phương thức phân biệt). Ngay cả trong trường hợp các tình tiết được coi là giống nhau, thẩm phán cũng có quyền không chịu sự ràng buộc của một quy tắc tiền lệ đã được lập ra trong một phán quyết ban hành trước đó, nếu cho rằng quy tắc đó không phải là một căn cứ có tính chất quyết định (ratio decidendi), đặc biệt là trong trường hợp căn cứ đó chỉ có tính chất bổ sung (obiter dictum), còn đang được tranh cãi hay trong trường hợp quy tắc được đưa ra vượt quá khuôn khổ của vụ việc cần xét xử[2]. Với vai trò của án lệ như vậy, toà án có vai trò quan trọng trong việc hình thành nên pháp luật hợp đồng thông qua hoạt động xét xử.

Continue reading

THỰC HIỆN NGHĨA VỤ HỢP ĐỒNG TRÊN THỰC TẾ

NGUYỄN NGỌC KHÁNH

Về bản chất, nghĩa vụ hợp đồng là quan hệ tạm thời, và thậm chí là quan hệ ngắn hạn phải được chấm dứt vào một lúc nào đó. Phương thức thông thường nhất để chấm dứt nghĩa vụ hợp đồng là việc thực hiện đúng và đầy đủ hợp đồng[1]. ở nước ta, khi thực hiện hợp đồng, các bên không những chịu sự điều chỉnh trực tiếp của những quy định chung tại mục 7 Chương XVII, Bộ luật Dân sự năm 2005 (BLDS 2005) về thực hiện hợp đồng (từ Điều 412 đến Điều 422), mà còn phải tuân thủ những quy định chung tại mục 2 Chương XVII, BLDS 2005 về thực hiện nghĩa vụ dân sự (từ Điều 283 – Điều 301) và những quy định riêng của BLDS 2005 về thực hiện những hợp đồng thông dụng.

1. Đánh giá kết quả thực hiện hợp đồng

Khi đánh giá kết quả thực hiện hợp đồng, từ phía người có thẩm quyền bao giờ cũng nảy sinh hai câu hỏi độc lập: người có nghĩa vụ đã thực hiện những hành vi hai bên cam kết chưa? Nếu có, thì đã thực hiện như thế nào và có đúng không?[2] Trường hợp thứ nhất là nói về việc thực hiện những hành vi (hoặc không được thực hiện những hành vi) thuộc đối tượng của hợp đồng – hay còn gọi là việc thực hiện nghĩa vụ hợp đồng trên thực tế (NVHĐTT); trường hợp thứ hai là nói về “chất lượng” thực hiện nghĩa vụ đến đâu, tức là việc bên có nghĩa vụ có tuân thủ đúng hay không đúng các điều kiện về nghĩa vụ mà hai bên đã thỏa thuận (hoặc pháp luật có quy định), như: điều kiện về đối tượng, điều kiện về địa điểm, điều kiện về thời hạn, điều kiện về phương thức thực hiện … Nếu tuân thủ đúng các điều kiện này, có thể nói rằng, bên có nghĩa vụ đã thực hiện NVHĐTT và đồng thời thực hiện đúng nghĩa vụ. Ngược lại, nếu các điều kiện về nghĩa vụ không được tuân thủ nghiêm ngặt, bên có nghĩa vụ dù đã thực hiện những hành vi thuộc đối tượng của hợp đồng vẫn sẽ bị coi là thực hiện không đúng nghĩa vụ. Dựa trên sự khác biệt giữa hai trường hợp này, pháp luật nhiều nước nhìn chung đều thừa nhận vị trí riêng biệt của việc thực hiện NVHĐTT và việc thực hiện đúng nghĩa vụ. Điều này được thể hiện rất rõ trong thực tiễn xét xử cũng như trong luật thực định các nước như Anh, Nga, Đức …

Continue reading

TRANH CHẤP THỜI LẠM PHÁT

QUANG CHUNG – TIẾN TÀI

Giá nông sản, giá vật liệu xây dựng, giá nhà đất… cứ biến động như hiện nay thì chuyện đổ vỡ hợp đồng trong làm ăn tất yếu sẽ diễn ra, dẫn đến nhiều hệ lụy. Hiệp hội Điều Việt Nam đang bị khiếu nại do doanh nghiệp thành viên chậm giao hàng. Không ít công ty xây dựng phải vất vả thương lượng lại những hợp đồng đã lỡ ký. Nhiều cam kết mua bán nhà, đất đứng trước nguy cơ bị “bể kèo”…

Đổ vỡ cam kết…

Các doanh nghiệp nhập khẩu nhân điều của Mỹ và châu Âu vừa gửi thư khuyến nghị đến Hiệp hội Điều Việt Nam. Trong thư họ phàn nàn về việc một số doanh nghiệp xuất khẩu nhân điều Việt Nam vi phạm các hợp đồng đã ký kết; họ cảnh báo, nếu các doanh nghiệp Việt Nam không sớm khắc phục họ sẽ khởi kiện.

Hiện tượng “xù” hợp đồng xảy ra khi giá nhân điều trên thị trường thế giới tăng cao. Từ cuối năm 2007 đến nay, theo các nhà nhập khẩu, việc vi phạm hợp đồng đã ký kết của một số doanh nghiệp xuất khẩu nhân điều Việt Nam gây thiệt hại cho họ khoảng 45 triệu đô la Mỹ.

Giải thích sự việc này, Hiệp hội Điều cho rằng, đây là vấn đề “nan giải”. Khi ký hợp đồng xuất khẩu, giá điều thô chỉ 750-800 đô la Mỹ/tấn, nhưng đến cuối năm 2007, giá đã tăng lên 950-1.000 đô la Mỹ/tấn. Đồng thời, mùa vụ điều trong nước đến trễ và mất mùa; cộng với tình hình lạm phát bùng nổ, lãi vay ngân hàng tăng… gây khó khăn cho một số doanh nghiệp Việt Nam trong việc thực hiện các hợp đồng đã ký.

Hơn nữa, theo Hiệp hội Điều, các doanh nghiệp thành viên còn gặp khó khăn do bị một số đối tác nước ngoài “xù” hợp đồng bán nguyên liệu điều thô.

Continue reading

ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG: NHIỀU ĐIỀU CHƯA RÕ

LS. NGUYỄN HỮU PHƯỚC – Công ty Luật Phước & Partners

Trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế toàn cầu như hiện nay, việc cắt giảm chi phí hoạt động nói chung và chi phí lao động nói riêng là một trong những việc cấp thiết phải làm của các doanh nghiệp để có thể tồn tại.

Việc cắt giảm chi phí lao động nói chung có nhiều cách, ví dụ như không ký lại hợp đồng lao động (HĐLĐ) sắp hết hạn, không tăng lương và trợ cấp, không thưởng thành tích, cắt giảm các khoản vui chơi, giải trí của người lao động (NLĐ), cắt giảm các khoản phúc lợi không cam kết trong HĐLĐ hoặc thỏa ước lao động tập thể. Tuy nhiên, những cắt giảm này thường không thể triển khai nhanh và nhiều được. Cái có thể đạt mục đích nhanh nhất vẫn là việc người sử dụng lao động (NSDLĐ) đơn phương chấm dứt HĐLĐ với NLĐ.

Các quy định của luật

Bộ luật Lao động hiện hành cũng đã có dự liệu về trường hợp này. Cụ thể, điều 17 của bộ luật quy định NSDLĐ được quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ với NLĐ trong trường hợp “do thay đổi cơ cấu hoặc công nghệ” và NLĐ đã được đào tạo lại nghề để sử dụng cho công việc mới nhưng NSDLĐ không thể giải quyết được việc làm mới.

Cụm từ “do thay đổi cơ cấu hoặc công nghệ” được Chính phủ giải thích thêm tại điều 11 của Nghị định 39/2003 ngày 18-4-2003 là bao gồm một trong các trường hợp sau: (i) việc thay đổi một phần hoặc toàn bộ máy móc, thiết bị, quy trình công nghệ tiên tiến có năng suất lao động cao hơn; (ii) thay đổi sản phẩm hoặc cơ cấu sản phẩm dẫn đến việc sử dụng lao động ít hơn; hoặc (iii) thay đổi cơ cấu tổ chức, sáp nhập, giải thể “một số bộ phận” của đơn vị.

Continue reading

LÃI SUẤT CHO VAY TIÊU DÙNG CÁ NHÂN CHỈ THUA . . . TÍN DỤNG ĐEN

TRẦN THANH

Dù Ngân hàng Nhà nước vẫn giữ nguyên mức lãi suất cơ bản đồng Việt Nam là 7%/năm nhưng hiện nay nhiều ngân hàng thương mại lại cho vay tiêu dùng cá nhân với lãi suất quá cao, có ngân hàng nâng lên 26% năm (bằng 371,4% so với lãi suất cơ bản); bên cạnh đó các điểm cầm đồ cũng nâng lãi suất cho vay lên 60% năm. Nhiều gia đình lâm vào cảnh khó khăn về mặt tài chính tạm thời buộc phải vay tiền ngân hàng với lãi suất “cắt cổ”, chỉ thua tín dụng đen, tiệm cầm đồ chút ít.

Lãi suất “cắt cổ!”

Tôi bước vào Ngân hàng HSBC tại góc đường Nguyễn Du – Đồng Khởi, quận 1, TPHCM. Dòng chữ khá ấn tượng “Ngân hàng toàn cầu am hiểu địa phương” và gam màu đỏ tươi từ bàn ghế cho đến đồng phục nhân viên làm cho khách đến cảm thấy thân thiện hẳn.

Tôi đang đứng lóng ngóng trước dãy người đang xếp hàng chờ giao dịch thì một cô nhân viên trẻ, đẹp tiến lại chào và hỏi tôi cần gì? Tôi bảo: “Cần vay tiền để tiêu dùng cá nhân”. Cô nhân viên bảo tôi lên tầng lầu có nhân viên tư vấn đang trực.

Cô nhân viên tư vấn cho biết, HSBC có thể cho vay gấp 10 lần mức lương tháng, nếu thu nhập 10 triệu đồng thì có thể vay đến 100 triệu đồng, thời hạn vay tối đa 36 tháng, lãi suất 24%/năm. Thấy tôi kêu lãi suất cao, cô ta liền nói: “Ngân hàng tính trên số dư nợ giảm dần nên anh thấy cao, còn tính theo số dư nợ ban đầu cũng tầm 14%/năm”.

Continue reading

THỰC TIỄN THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM: ĐÒI BẢO HIỂM BỒI THƯỜNG, KHỔ ĐỦ ĐƯỜNG!

PHONG ĐIỀN

Lúc mua bảo hiểm ai cũng tưởng sẽ dễ dàng được bồi thường nếu xảy ra tai nạn nhưng khi đi đòi tiền bảo hiểm mới thấy… oải!

Quanh chuyện yêu cầu các đơn vị bảo hiểm bồi thường trong các vụ tai nạn giao thông lâu nay có không ít phiền toái. Hành trình đòi chi trả bảo hiểm xe máy của chị Nguyễn Thị Nương (xã Biển Bạch Đông, huyện Thới Bình, Cà Mau) là một câu chuyện dài đầy mệt mỏi mà phóng viên Pháp Luật TP.HCM vô tình ghi nhận được.

Mua bảo hiểm nơi này, chi trả nơi khác

Tháng 1-2009, chị Nương và chị ruột là Nguyễn Lệ Hoa đi xe máy đến địa phận xã Ninh Gia (huyện Đức Trọng, Lâm Đồng) thì bất ngờ bị hai chiếc xe tải lấn đường khiến chị Nương lạc tay lái ngã xuống đường. Khi tỉnh dậy, thấy chị Hoa nằm bất động bên cạnh, chị Nương gắng gượng gọi người dân đưa đi cấp cứu ở Trung tâm Y tế huyện Đức Trọng. Hai ngày sau, chị Hoa được chuyển lên Bệnh viện đa khoa Đà Lạt cấp cứu thì tử vong do chấn thương quá nặng. Chị Nương đành mang thi hài chị Hoa về quê ở Cà Mau lo ma chay, chôn cất.

Continue reading

Về điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm TRONG LUẬT KINH DOANH BẢO HIỂM

PHÍ THỊ QUỲNH NGA – Bảo Việt Việt Nam

Bất kể một hợp đồng nào muốn có hiệu lực phải đảm bảo các điều kiện nhất định của pháp luật. Thông thường, người ta quan tâm đến các điều kiện sau: điều kiện về ý chí, chủ thể, nội dung và mục đích giao kết hợp đồng, hình thức hợp đồng. Về mặt lý luận, nội dung của hợp đồng dân sự nói chung và hợp đồng bảo hiểm nói riêng là các điều khoản qua đó xác định phạm vi quyền và nghĩa vụ của các bên giao kết hợp đồng. Tuỳ thuộc vào từng trường hợp mà nội dung của hợp đồng này được xác định theo 1 trong 3 điều khoản đó là: điều khoản cơ bản, điều khoản thông thường và điều khoản tuỳ nghi.

Điều khoản cơ bản là điều khoản ghi nhận nội dung cơ bản chủ yếu của hợp đồng. Vì vậy, về nguyên tắc các bên phải thỏa thuận với nhau về điều khoản này thì hợp đồng mới được coi là đã được giao kết. Cơ sở để xác định điều khoản này là do pháp luật quy định hoặc dựa vào bản chất của hợp đồng.

Điều khoản thông thường là những điều khoản đã được pháp luật quy định trước nên khi giao kết hợp đồng các bên không cần thỏa thuận thì nó vẫn được coi là các bên đã mặc nhiên thỏa thuận và thực hiện nó đúng như pháp luật đã quy định. Khác với điều khoản cơ bản, các điều khoản thông thường không làm ảnh hưởng đến quá trình giao kết hợp đồng.

Continue reading

VỀ ĐIỀU KHOẢN LOẠI TRỪ TRÁCH NHIỆM BẢO HIỂM TRONG LUẬT KINH DOANH BẢO HIỂM

PHÍ THỊ QUỲNH NGA – Bảo Việt Việt Nam

Bất kể một hợp đồng nào muốn có hiệu lực phải đảm bảo các điều kiện nhất định của pháp luật. Thông thường, người ta quan tâm đến các điều kiện sau: điều kiện về ý chí, chủ thể, nội dung và mục đích giao kết hợp đồng, hình thức hợp đồng. Về mặt lý luận, nội dung của hợp đồng dân sự nói chung và hợp đồng bảo hiểm nói riêng là các điều khoản qua đó xác định phạm vi quyền và nghĩa vụ của các bên giao kết hợp đồng. Tuỳ thuộc vào từng trường hợp mà nội dung của hợp đồng này được xác định theo 1 trong 3 điều khoản đó là: điều khoản cơ bản, điều khoản thông thường và điều khoản tuỳ nghi.

Điều khoản cơ bản là điều khoản ghi nhận nội dung cơ bản chủ yếu của hợp đồng. Vì vậy, về nguyên tắc các bên phải thỏa thuận với nhau về điều khoản này thì hợp đồng mới được coi là đã được giao kết. Cơ sở để xác định điều khoản này là do pháp luật quy định hoặc dựa vào bản chất của hợp đồng.

Điều khoản thông thường là những điều khoản đã được pháp luật quy định trước nên khi giao kết hợp đồng các bên không cần thỏa thuận thì nó vẫn được coi là các bên đã mặc nhiên thỏa thuận và thực hiện nó đúng như pháp luật đã quy định. Khác với điều khoản cơ bản, các điều khoản thông thường không làm ảnh hưởng đến quá trình giao kết hợp đồng.

Continue reading

BÁN DỊCH VỤ CÓ KHÓ?

BÍCH NGỌC -  Bảo Việt Nhân thọ Bình Thuận (sưu tầm)

Khi mua bất kể một loại dịch vụ nào, khách hàng đều có cảm giác rằng họ có thể sẽ gặp phải một rủi ro nào đó, đơn giản là vì dịch vụ là một thứ sản phẩm vô hình. Khách hàng thật sự không thể biết trước mình sẽ nhận được những gì tốt đẹp cho đến khi họ bỏ tiền ra thử nghiệm dịch vụ đó. Nói cách khác, đi bán một dịch vụ chính là bán một lời hứa rằng doanh nghiệp sẽ đem đến cho khách hàng một điều gì đó có lợi. Làm thế nào để dễ dàng bán được một dịch vụ?

Khi phải ra quyết định có nên sử dụng một dịch vụ, khách hàng cần một điều gì đó hữu hình để được an tâm. Điều họ thường quan tâm nhất là giá cả, bởi vì đây là một yếu tố hữu hình, có thể giúp khách hàng so sánh dịch vụ này với dịch vụ khác. Nhưng nếu doanh nghiệp nào cũng cạnh tranh bằng giá thì cuối cùng chẳng có ai được lợi. Do đó, để bán được một dịch vô, điều căn bản nhất là xây dựng lòng tin của khách hàng vào lời hứa của doanh nghiệp. Đế làm điều này, doanh nghiệp có thể áp dụng các kỹ thuật sau:

1. “Sản phẩm hóa" dịch vụ

Điều này có nghĩa là biến cái vô hình thành cái hữu hình. Đây cũng là cách dễ thực hiện nhất. Cụ thể là doanh nghiệp sẽ soạn ra những tài liệu giới thiệu hướng dẫn sử dụng dịch vụ, trong đó có thể đưa ra những bí quyết giúp khách hàng sử dụng dịch vụ một cách hiệu quả.

Continue reading

ĐÒI NỢ THUÊ

LÊ NGA – ĐÀM HUY- HOÀNG TUẤN – QUANG HIỂN

Chưa bao giờ tình trạng đòi nợ thuê lại nhức nhối như hiện nay. Không chỉ riêng TP.HCM mà nhiều tỉnh thành trên cả nước đều diễn ra tình trạng này dưới nhiều hình thức khác nhau khiến nhiều người lo sợ.

I. Bắt người, tra tấn . . .

Mỗi khi túng thiếu hoặc cần gấp một số tiền, nhiều người dân, thậm chí cả doanh nhân, thường chấp nhận đi vay mượn tiền bên ngoài, dù biết lãi suất cao nhưng thủ tục nhanh gọn. Không cần tài sản thế chấp, chỉ cần photo CMND, thậm chí có trường hợp không cần mảnh giấy nào, chỉ “hợp đồng” miệng với nhau là có thể giao dịch hàng trăm triệu, thậm chí hàng tỉ đồng… Đơn giản thế, nhưng đố con nợ nào dám “xù”. Bởi chỉ cần chậm trả theo cam kết là chủ nợ, thường là những “ông trùm, bà trùm” có các băng nhóm thuộc thế giới ngầm bảo kê, sẽ kêu đàn em “xử” đẹp.

Mê cá độ bóng đá, Đ.N.B (27 tuổi, ngụ Q.Bình Thạnh, TP.HCM) vay 50 triệu đồng với lãi suất 5%/tháng. Trả được 6 – 7 tháng tiền lãi, B. không còn khả năng trả tiếp. Lập tức, B. bị chủ nợ cho người bắt đưa về nhốt ở một khách sạn thuộc Q.Tân Phú tra tấn, chụp hình gửi về cho gia đình buộc mang 157 triệu đồng (tính luôn tiền thời gian không đóng lãi suất) lên chuộc người. May mắn, sau đó anh B. trốn thoát và tố cáo sự việc với cơ quan chức năng.

Trường hợp Mỹ Lệ (35 tuổi, quê Hà Nội, là “má mì” một quán karaoke ôm ở Q.1, TP.HCM) lại khác. Lệ vay 100 triệu của một “trùm” cho vay nặng lãi tên Cường ở Q.1, bạc 60 (lãi suất 60%/tháng). Với lãi suất này, mỗi ngày mở mắt ra Lệ phải nộp cho Cường 2 triệu đồng. Trả được 1 năm, Lệ mất khả năng chi trả nên bị “đàn em” của Cường hành hung, đòi lấy mạng. Sợ chết khiếp, Lệ khăn gói trốn khỏi đất Sài Gòn.

Đầu tháng 4.2009, Công an thị xã Thủ Dầu Một (Bình Dương) ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, bắt tạm giam 5 nghi can về hành vi cướp tài sản. Nhưng sự thật vụ việc cũng phát xuất từ nợ. Nguyễn Thị Hạnh (ngụ P.Hiệp Thành, thị xã Thủ Dầu Một) mượn tiền của Ngô Thị Lý (ngụ xã Hòa Lợi, H.Bến Cát) nhưng hứa mãi không trả. Ngày 17.3, Lý cùng Nguyễn Duy Long đến nhà Hạnh đòi 5,6 triệu đồng. Hạnh xin trả trước 2 triệu đồng, khoản tiền còn lại sẽ trả sau nhưng Lý không đồng ý mà đòi siết xe gắn máy. Thấy “con nợ” chần chừ, Lý và Long gọi điện thoại cho một số “đàn em” kéo đến hỗ trợ. Một lúc sau, khi Hạnh cùng bạn điều khiển xe máy đang lưu thông trên đường thì bị nhóm Long ép té xe, hành hung rồi lấy luôn chiếc xe máy mang về nhà coi như trừ nợ!

Cách đây không lâu tại xã Đông Hòa, Dĩ An (Bình Dương) cũng đã xảy ra một vụ đòi nợ theo “luật đen” làm nhiều người kinh hoàng khiếp vía. Giữa tháng 12.2008, một nhóm thanh niên mặt mày bặm trợn, hùng hổ xông vào cửa hàng điện thoại di động (ĐTDĐ) Kim Ngân của chị Hồ Thị Thu Kim đập phá tài sản, lớn tiếng đòi nợ. Trước khi ra về, nhóm người này dùng tuốc-nơ-vít cạy tủ lấy đi 9 chiếc ĐTDĐ các loại và 20 sim card đang bày bán để siết nợ. Khi thấy lực lượng công an xuất hiện, nhóm thanh niên này còn manh động chống đối với thái độ rất hung hãn. Qua kiểm tra, lực lượng Công an xã Đông Hòa phát hiện Lê Trường Ân (SN 1988, ngụ KP Nhị Đồng, thị trấn Dĩ An) mang trong người 1 khẩu súng điện loại 80 KV, màu đen cùng với 5 viên đạn, 1 dao bấm màu trắng dài khoảng 15 cm.

Continue reading

NHỮNG QUAN ĐIỂM XUNG QUANH VẤN ĐỀ LÃI SUẤT CƠ BẢN

TRẦN ĐÀO

Bộ Chính trị và Chính phủ chủ trương trong những tháng cuối năm 2008 tiếp tục thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt, nhưng linh hoạt trong điều hành để vừa góp phần kiềm chế lạm phát, vừa thúc đẩy đầu tư sản xuất, kinh doanh. Đó là một nhiệm vụ rất nặng nề, đòi hỏi phải có sự điều hành thật khéo léo mới có thể thực hiện được. Ngân hàng Nhà nước vừa có hai quyết định để thực hiện chủ trương và nhiệm vụ trên- đó là Quyết định 1906/2008/QĐ-NHNN về giữ nguyên lãi suất cơ bản và Quyết định số 1907/2008/QĐ-NHNN về tăng lãi suất dự trữ bắt buộc. Vậy tinh thần “tiếp tục thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt để kiềm chế lạm phát” và “ linh hoạt trong điều hành để thúc đẩy đầu tư sản xuất, kinh doanh” đã được thể hiện trong hai quyết định này như thế nào?

Tiếp tục thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt để kiềm chế lạm phát được thể hiện trong quyết định thứ nhất, đó là giữ nguyên lãi suất cơ bản đã được thực hiện từ 11/6- 14%/năm.

Trong các cuộc hội thảo và trên các phương tiện thông tin đại chúng gần đây xuất hiện hai quan điểm gần như trái ngược nhau về lãi suất cơ bản.

Một quan điểm là Ngân hàng Nhà nước cần hạ lãi suất cơ bản xuống dưới 14%/năm- ít thì cũng xuống 13,5%/năm, nhiều thì trở về mức 12%/năm, để trên cơ sở đó hạ lãi suất cho vay và hạ lãi suất huy động. Lý giải đề xuất này, quan điểm trên đã đưa ra một số nguyên nhân. Có nguyên nhân do lạm phát đã được kiềm chế, khi tốc độ tăng giá tiêu dùng đã chậm lại. Tháng 7 giá tiêu dùng chỉ còn tăng 1,13%- thấp hơn mức lãi suất huy động của các ngân hàng thương mại hiện nay. Tháng 8, tổ Điều hành thương mại trong nước dự báo giá tiêu dùng sẽ tăng 1,8- 2,0%, nhiều chuyên gia còn dự báo sẽ tăng cao hơn, nhưng thực tế chỉ tăng 1,56%- bằng với mức lãi suất huy động kỳ hạn năm cao nhất của ngân hàng thương mại cổ phần. Nhiều chuyên gia đã dự báo, do nông nghiệp được mùa lớn nhất hiện nay, do giá lương thực và một số mặt hàng quan trọng khác trên thị trường thế giới bắt đầu có xu hướng giảm, do nhu cầu đầu tư và tiêu dùng không còn cao như cùng kỳ các năm trước, do các giải pháp kiềm chế lạm phát phát huy tác dụng…, nên lạm phát trong 4 tháng còn lại sẽ không vượt quá 1%/tháng, tức là thấp hơn mức lãi suất hiện nay của các ngân hàng thương mại. Có nguyên nhân do với mức lãi suất cơ bản hiện hành, thì lãi suất cho vay lên đến 21%/ năm. Với mức lãi suất vay cao như thế này, những doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh thông thường sẽ không thể có lãi; chỉ có những doanh nghiệp đầu tư vào những lĩnh vực nóng mới dám vay, nhưng những lĩnh vực này lại có nhiều rủi ro, kéo các ngân hàng thương mại bị rủi ro theo. Khi các khách hàng của các ngân hàng thương mại không có vốn hoặc không có lãi, thậm chí bị thua lỗ, thì sản xuất kinh doanh sẽ bị thu hẹp, thậm chí một số doanh nghiệp bị phá sản, người lao động sẽ không có hoặc thiếu công ăn việc làm, tăng trưởng kinh tế sẽ bị suy giảm…

Như vậy, theo quan điểm trên, hạ lãi suất cơ bản để trên cơ sở đó hạ lãi suất cho vay để hỗ trợ cho đầu tư sản xuất, kinh doanh. Muốn hạ lãi suất cho vay thì hạ lãi suất huy động, nhưng hạ lãi suất huy động, thì lãi suất huy động sẽ tiếp tục bị thực âm, mà lãi suất bị thực âm thì sẽ dẫn đến 4 hiệu ứng.

Continue reading

BIẾT SAI, NHƯNG VẪN “CHỨNG”

PHAN NHÂN

Công tác chứng thực ở UBND cấp xã hiện nay còn nhiều vấn đề phải bàn. Hiện có không ít văn bản do UBND cấp xã ở một số địa phương chứng thực không bảo đảm về mặt pháp lý, chưa bảo vệ được các bên trong giao dịch đã được UBND cấp xã chứng thực.

Chứng thực hợp đồng nhiều sai sót

Tham gia Đoàn kiểm tra công tác CCHC của tỉnh Đồng Tháp để kiểm tra việc thực hiện công tác chuyên môn ở UBND cấp xã (hộ tịch, chứng thực, địa chính…) chúng tôi thấy, hầu hết các hợp đồng không bảo đảm theo quy định, nhưng người có thẩm quyền chứng thực ở UBND xã đều ký tên và đóng dấu đỏ. Hiện nay ở cấp xã chủ yếu chứng thực các hợp đồng thực hiện quyền của người sử dụng đất theo hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 04/2006/TTLT-BTP-BTNMT. Quy trình chứng thực thường là, trên cơ sở những hợp đồng do các tổ chức tín dụng soạn sẵn và hai bên (bên vay và tổ chức tín dụng) thỏa thuận “bỏ trống” hầu hết các nội dung quan trọng trong các điều khoản của hợp đồng, như: địa chỉ của hai bên, người đại diện tổ chức tín dụng, không ghi số tiền vay, lãi suất; Không ký tên; Có ký tên trước nhưng không đóng dấu, không gửi mẫu chữ ký cho UBND cấp xã theo quy định; Lời chứng của UBND xã “có cũng như không” …. Đặc biệt là UBND xã không lưu các giấy tờ bản sao kèm theo hợp đồng và không yêu cầu xuất trình các giấy tờ theo quy định…Việc kiểm tra chứng thực tại cấp xã cũng cho thấy nhiều hợp đồng giao dịch có từ 2 trang trở lên không đóng dấu giáp lai, các bên giao dịch và người ký chứng thực không ký tắt vào các trang của hợp đồng giao dịch. Điều này trái với Nghị định số 75 và Thông tư liên tịch số 04.

Các hợp đồng thế chấp, mua bán tài sản là nhà ở, đất có liên quan đến vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân nhưng chỉ có một người đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở. Điều này trái với các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, hai vợ chồng đều ký tên chuyển nhượng, thế chấp hoặc mua bán.

Đất giao cho hộ gia đình khi tiến hành chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất, trong hợp đồng chỉ có chủ hộ, vợ hoặc chồng của chủ hộ ký chuyển nhượng, tặng cho hoặc thế chấp, còn các thành viên khác trong hộ  không ký vào hợp đồng (ký không đầy đủ, không có ủy quyền theo quy định) là trái với quy định của Bộ luật Dân sự và Nghị định 181/2004/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Đất đai.

Bên cho vay (các tổ chức tín dụng) không thực hiện ký tên (ký không đầy đủ hoặc ký trước mà không đăng ký chữ ký) vào các hợp đồng tại các cơ quan chứng thực nhưng UBND cấp xã vẫn thực hiện ký chứng thực. Một số hợp đồng, giao dịch còn thiếu nội dung thỏa thuận của các bên về số tiền vay, lãi suất, tên, địa chỉ của các bên vay và bên cho vay; Thậm chí không ghi tên, chữ ký và đóng dấu của người, cơ quan thực hiện chứng thực theo quy định.

Continue reading

XU HƯỚNG M&A TẠI VIỆT NAM: NHỮNG SAI LẦM NÊN TRÁNH

RUPERT CHAMBERLAIN & THANH BÌNH -  Công ty KPMG Vietnam

Hoạt động mua bán và sáp nhập doanh nghiệp tại thị trường Việt Nam tiếp tục phát triển mặc cho những khó khăn tạm thời của nền kinh tế. Tuy nhiên cán cân trên bàn đàm phán đã thay đổi và điều này có ý nghĩa như thế nào đối với việc phân tích tài chính của nhà đầu tư (NĐT) và sự thành công sau những thỏa thuận?

Điểm đến ưa thích

Dựa trên các báo cáo gần đây của Thomson Financials, Việt Nam đứng đầu khu vực về phương diện tăng trưởng hoạt động mua bán & sáp nhập (M&A) doanh nghiệp (DN) qua từng năm xét cả về mặt tuyệt đối hay tính theo tỷ lệ.

Đây là một số liệu thống kê rất ấn tượng và là bằng chứng cho thấy mức độ tin cậy cao của cộng đồng kinh tế quốc tế xem Việt Nam như là một điểm đến của đầu tư.

Việc nới lỏng quy định về việc mua bán cổ phần trong hoạt động M&A DN đang được xem xét và nếu được thông qua, nó sẽ dẫn đến việc gỡ bỏ giới hạn về quyền sở hữu trong đầu tư nước ngoài đối với các DN trong nước từ mức 30% như hiện nay lên đến 49%. Giới hạn trong việc giành quyền kiểm soát vẫn là trở ngại cuối cùng đối với các công ty nước ngoài khiến họ chùn bước trong hoạt động đầu tư của mình.

Tuy nhiên, điều này không có nghĩa đặt dấu chấm hết cho các thỏa thuận mua cổ phần thiểu số. Đối với nhiều NĐT, sự hợp tác ban đầu thông qua việc sở hữu phần vốn thiểu số để duy trì được sự tiếp cận DN về điều hành, tài chính và chiến lược cũng được quan tâm. Số khác cho rằng, việc đầu tư vẫn tiếp tục bị giới hạn bởi tính đặc thù của lĩnh vực kinh doanh hoặc bởi những quy chế điều hành hoạt động kinh doanh của họ.

Thay đổi môi trường

“Nếu chúng ta không quyết định vào tuần tới, chúng tôi sẽ bị trễ, "Có những NĐT khác đang chờ đợi" hay "Chúng tôi có thể phát hành cổ phiếu ra công chúng với mức cao hơn gấp nhiều lần", đây là những lời hô hào của những nhà kinh doanh vài tháng trước đây Tuy nhiên, những ngày huy hoàng đối với việc huy động vốn dường như đã thành quá khứ. Ngày nay, vấn đề được đề cập đến là việc bán tài sản để thu về tiền mặt, trì hoãn các kế hoạch phát hành cố phiếu, và định giá thấp giá trị của DN.

Mặc dù các vấn đề kinh tế đang là những tiêu điểm thì những lý do nền tảng thu hút đầu tư ở Việt Nam vẫn còn tồn tại, đó là cơ cấu dân số thuận lợi, sự gia tăng mức thu nhập, chiến lược "Trung Quốc+l", sự ổn định chính trị, đạo đức làm việc của người Viết Nam, và còn nhiều nữa. Nhìn lại những nước khác trên thế giới đã gặp phải những ảo tưởng tương tự trong đầu tư mà nhiều trong số đó Việt Nam đã trải qua, người ta cần nhìn thấy sự trưởng thành của quy trình đầu tư và sự phục hồi cho một sự tiếp cận cân bằng hơn trong việc thỏa thuận các giao dịch.

Continue reading

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM: TRANH CHẤP GIỮA AAA VÀ NGÂN HÀNG ĐẠI TÍN, ĐỪNG ĐỔ HẾT CHO BẢO HIỂM!

PHẠM HÙNG

Những tranh chấp về quyền lợi bảo hiểm không phải bây giờ mới có. Tuy nhiên, để tìm được tiếng nói chung của cả bên thiệt hại và DN bảo hiểm không hề đơn giản dù pháp luật đã quy định cụ thể. Câu chuyện của Ngân hàng TMCP Đại Tín và Cty cổ phần Bảo hiểm AAA là một minh chứng cụ thể.

Sự việc diễn ra đã khá lâu nhưng hai bên vẫn chưa thống nhất được với nhau về khái niệm: “rủi ro bất ngờ”.

“Rủi ro bất ngờ”?

Ngược lại thời gian, ngày 1/8/2008 một cơn mưa lớn đổ xuống tràn ngập hầu hết các tuyến đường ở TP HCM. Theo Đài khí tượng thủy văn TP HCM, từ 12h20 – 12h35 và từ 15h35 – 18h45 trời có mưa rào và lượng mưa tại quận 1 là 130 mm, lớn nhất trong các quận của thành phố.

Vì thế, lúc 16h, nước ngập đã tràn vào tầng hầm để xe của Ngân hàng Đại Tín (số 75 Hồ Hảo Hớn, phường Cô Giang, quận 1). Khoảng 1 tiếng rưỡi sau (17h30) nước dưới tầng hầm dâng cao 1m đã làm chiếc Mecerdes của Ngân hàng Đại Tín chìm trong nước.

Nhưng mãi 3 ngày sau (ngày 4/8), Ngân hàng Đại Tín mới thông báo sự việc này cho nhà bảo hiểm (theo giấy biên nhận của Cty Bảo hiểm AAA) với yêu cầu xác nhận thiệt hại và bồi thường vì phía ngân hàng cho rằng đây là sự kiện “rủi ro bất ngờ” và ngân hàng đã mua bảo hiểm cho chiếc xe này.

Tuy vậy, sau các thủ tục giám định, Bảo hiểm AAA xác định: “Thiệt hại hệ thống điện của xe BKS 52P -1980 không thuộc phạm vi bảo hiểm vật chất thân xe của Bảo hiểm AAA”. Vì sự việc trên không phải là rủi ro bất ngờ.

Ý kiến của chuyên gia

Đại diện cho ngành bảo hiểm, ông Phùng Đắc Lộc – Tổng Thư ký Hiệp hội Bảo hiểm VN khẳng định: “Trong trường hợp này, người tham gia bảo hiểm là Ngân hàng Đại Tín đã không mẫn cán trong việc khắc phục sự cố. Diễn biến nước mưa tràn ngập tầng hầm xe kéo dài từ 16h đến 17h30 nên không thể cho đó là yếu tố bất ngờ hoặc không lường trước được”.

Đồng tình với quan điểm của ông Lộc, Luật sư Bùi Quang Nghiêm – Phó Đoàn Luật sư TP HCM cho rằng: Cty CP Bảo hiểm AAA không có nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm cho Ngân hàng Đại Tín do không xảy ra sự kiện bảo hiểm theo sự thoả thuận giữa các bên, vì:

Ngân hàng Đại tín áp dụng điểm e Điều 12.1 Quyết định của TGĐ Cty cổ phần Bảo hiểm AAA để yêu cầu Bảo hiểm AAA trả tiền bảo hiểm. Tuy vậy, điểm e Điều 12.1 quy định: Bảo hiểm AAA bồi thường cho Chủ xe những thiệt hại vật chất do những tai nạn bất ngờ, ngoài sự kiểm soát của Chủ xe, lái xe trong những trường hợp:… e. Tai nạn rủi ro bất ngờ khác ngoài những điểm loại trừ quy định tại Điều 13 dưới đây.

Nhưng theo LS Nghiêm, việc ôtô mang BKS 52P-1980 bị thiệt hại nặng hệ thống điện do ngập nước là một rủi ro nhưng không mang yếu tố bất ngờ. Ngân hàng không thể cho rằng mình không thể lường trước được thiệt hại có thể gây ra cho chiếc xe do: đã có dự báo trước của Trung tâm Dự báo Khí tượng Thuỷ văn khu vực Nam Bộ là sẽ có mưa lớn bất thường trong năm ngày đầu tháng tám. Mặt khác, vào ngày 1/8/2008, mưa bắt đầu vào lúc 16.00 giờ, nước mưa ngoài đường bắt đầu tràn vào tầng hầm lúc 16 giờ 30 đến 17.00 nước trong tầng hầm dâng lên và đã ngập 0,5 m. Từ lúc bắt đầu mưa đến lúc nước ngập tầng hầm kéo dài 1 tiếng, lẽ ra ngân hàng phải nhìn thấy được rủi ro có thể xảy ra đối với chiếc xe. Như vậy, rủi ro là có thật và gây ra thiệt hại thực tế nhưng hoàn toàn không mang tính bất ngờ đối với ngân hàng. Continue reading

LUẬT CHO – KHÔNG DÁM, LUẬT CẤM – ĐƯỢC LÀM?

LS. TRƯƠNG THANH ĐỨC – Chủ tịch Công ty Luật BASICO

Trong một xã hội văn minh, các doanh nghiệp không được làm những gì mà pháp luật ngăn cấm và được làm tất cả những gì mà pháp luật không cấm đoán. Tuy nhiên, trong hoạt động tín dụng hiện nay, dường như khó làm được điều đơn giản ấy?

Luật cho phép mà vẫn không được làm

Điều 57, Hiến pháp và điều 7, Luật Doanh nghiệp khẳng định công dân và doanh nghiệp có quyền tự do kinh doanh các ngành, nghề mà pháp luật không cấm. Nhưng trong hoạt động tín dụng ngân hàng, có những điều pháp luật đã quy định rõ là được làm, mà các ngân hàng lại vẫn không dám làm.

Đó là việc thu các loại phí liên quan đến hoạt động cho vay như phí cấp hạn mức tín dụng, phí thẩm định tài sản bảo đảm tiền vay, phí gia hạn nợ… Các khoản phí này là bình thường theo thông lệ quốc tế và cũng rất hợp lý ở chỗ, ngân hàng sẽ thu thêm phí khác nhau đối với một số khoản vay, trong trường hợp phải bỏ ra nhiều thời gian và chi phí hơn, thay vì nâng lãi suất đồng loạt đối với khách hàng vay vốn. Điều 54, Luật Các tổ chức tín dụng có nhắc đến một trong những quyền của tổ chức tín dụng (TCTD) trong cho vay là “được miễn, giảm lãi suất, phí”.

Quy chế cho vay của TCTD đối với khách hàng do Ngân hàng Nhà nước (NHNN) ban hành cũng nêu rõ việc thu loại phí trả nợ trước hạn. Các loại phí khác tuy không được đề cập đến, nhưng tuyệt nhiên không có văn bản pháp luật nào ngăn cấm hay hạn chế thu phí tín dụng, kể cả các nghị định, thông tư về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực ngân hàng.

Tuy nhiên, ngày 10-6-2008, NHNN lại có Công văn số 5158, tiếp đó là Công văn số 5455 ngày 19-6-2008 yêu cầu “các tổ chức tín dụng không được thu phí liên quan đến hoạt động cho vay”.

Cho đến thời kỳ này, hai công văn này vẫn ràng buộc các ngân hàng không được thu bất kỳ loại phí cho vay nào, kể cả trường hợp cho vay dưới trần lãi suất.

Như vậy là pháp luật thì cho phép, nhưng NHNN chỉ bằng những công văn mà lại cấm thu tất cả các loại phí cho vay là không hợp lý, đặc biệt là loại phí trả nợ trước hạn đã được điều 478, Bộ luật Dân sự quy định rất rõ: “Bên vay có quyền trả lại tài sản trước kỳ hạn, nhưng phải trả toàn bộ lãi theo kỳ hạn, nếu không có thỏa thuận khác”.

Continue reading

TÁC ĐỘNG CỦA LÃI SUẤT CHO VAY TỚI HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT, KINH DOANH

TS. ĐỖ THỊ THÚY – Ngân hàng Công thương

Thị trường tài chính thường phân biệt 3 loại lãi suất: (i) lãi suất chính sách, là lãi suất mà các Ngân hàng Trung ương có thể kiểm soát được trực tiếp, ví dụ như Fed fund rate ở Mỹ hay lãi suất cơ bản ở Việt Nam; (ii) lãi suất liên ngân hàng, là lãi suất các ngân hàng thương mại (NHTM) cho vay lẫn nhau, ví dụ LIBOR, TIBOR, VIBOR, (iii) lãi suất thương mại, là lãi suất các NHTM vay hoặc cho vay các đối tượng không phải là ngân hàng trong nền kinh tế, ví dụ lãi suất huy động, lãi suất cho vay.

Về cơ bản 3 loại lãi suất này có liên hệ mật thiết với nhau và tuân thủ theo nguyên tắc: (i) < (ii) < (iii). Trong đó, lãi suất cho vay lại phải tuân thủ theo bất phương trình: L1 < L2 < L3 < L4 (với L1 là mức lạm phát, L2 là lãi suất huy động, L3 là lãi suất cho vay, L4 là tỷ suất lợi nhuận bình quân xã hội trong cùng kỳ hạn lãi suất. Trong một vài thời điểm, mối quan hệ trên có thể bị phá vỡ tạm thời, nhưng nếu nó bị phá vỡ trong 1 thời gian dài thì đó là dấu hiệu không tốt cho hệ thống ngân hàng và chắc chắn dòng vốn đang không được lưu thông một cách tự do và hiệu quả. Trong phạm vi bài viết này, tác giả chỉ bàn đến lãi suất cho vay và tác động của nó đến hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD) của doanh nghiệp (DN) và đề xuất một số giải pháp để xử lý vấn đề lãi suất một cách hợp lý, hiệu quả.

Lãi suất cho vay của NHTM và hoạt động của các DN

Trong quan hệ tín dụng giữa DN và Ngân hàng, lãi suất cho vay phản ánh giá cả của đồng vốn mà người sử dụng vốn là các DN phải trả cho người cho vay là các NHTM. Đối với các DN, lãi suất cho vay hình thành nên chi phí vốn và là chi phí đầu vào của quá trình SXKD. Do đó, mọi sự biến động về lãi suất cho vay trên thị trường cũng đều ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả SXKD hay nói cách khác là tác động trực tiếp đến lợi nhuận của DN và qua đó điều chỉnh các hành vi của họ các hoạt động kinh tế. Khi lãi suất cho vay của NHTM tăng sẽ đẩy chi phí đầu vào và giá thành sản phẩm tăng lên, làm suy giảm lợi nhuận cũng như khả năng cạnh tranh của DN, gây ra tình trạng thua lỗ, phá sản trong hoạt động SXKD. Xu hướng tăng lãi suất Ngân hàng sẽ luôn đi liền với xu hướng cắt giảm, thu hẹp quy mô và phạm vi của các hoạt động SXKD trong nền kinh tế. Ngược lại, khi lãi suất Ngân hàng giảm sẽ tạo điều kiện cho DN giảm chi phí, hạ giá thành, nâng cao hiệu quả kinh doanh và khả năng cạnh tranh. Lãi suất cho vay thấp luôn là động lực khuyến khích các DN mở rộng đầu tư, phát triển các hoạt động SXKD và qua đó kích thích tăng trưởng trong toàn bộ nền kinh tế.
Ở nước ta, do điều kiện thị trường tài chính chưa phát triển, các kênh huy động vốn đối với DN còn rất hạn chế nên nguồn vốn từ các Ngân hàng luôn đóng một vai trò hết sức quan trọng, do đó, lãi suất cho vay của các NHTM luôn có tác động rất lớn đến hoạt động của các DN. Trong năm 2008, dưới sức ép của tình trạng lạm phát tăng cao và tác động từ các giải pháp chống lạm phát của Chính phủ, mặt bằng lãi suất cho vay của các NHTM trên thị trường đã có những biến động bất thường và gây ra nhiều xáo trộn trong nền kinh tế, trong đó khu vực DN là nơi chịu nhiều ảnh hưởng nhất. Có lẽ mãi sau này người ta không thể quên được cảnh tượng “dòng người” xếp hàng để rút tiền từ nơi lãi suất thấp sang nơi lãi suất cao vì lãi suất tiền gửi được đẩy lên liên tục, cao nhất là 19-20%/năm. Theo đó lãi suất cho vay được đẩy lên đúng bằng lãi suất tối đa, 21%/năm. Những tác động tiêu cực của lãi suất đến các DN trong năm vừa qua có thể khái quát lại như sau:

Continue reading

SỬ DỤNG HỢP LÝ CÔNG CỤ LÃI SUẤT CƠ BẢN

TS. ĐOÀN THỊ HỒNG

Nhìn lại khoảng thời gian từ đầu năm 2008 đến nay, mặc dù chưa đầy một năm nhưng mọi ngành trong nền kinh tế nước ta đã trải qua nhiều thời điểm biến động ngoài dự tính. Xét riêng trong lĩnh vực tiền tệ, ngành ngân hàng đang ở vị trí cao trong danh mục đầu tư thì cũng đã lùi lại trước tác động của yếu tố lạm phát. 

Sự vận hành của thị trường đã đến lúc phải có sự can thiệp của nhà nước. Với chủ trương thắt chặt tiền tệ, kiểm soát lạm phát của Chính phủ, NHNN đã điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt thông qua các công cụ vĩ mô. Trong đó, lãi suất cơ bản được phát huy tác dụng bởi Quyết định 16/2008/QĐ-NHNN ngày 16/5/2008 của Thống đốc NHNN về cơ chế điều hành lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam. Theo đó, các TCTD ấn định lãi suất kinh doanh bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng không vượt quá 150% lãi suất cơ bản. Trong bối cảnh nền kinh tế xoay chiều đi theo hướng không thuận lợi, việc xác định nhân tố trọng yếu và tìm đối sách thích ứng kìm hãm lại chiều hướng đi xuống của nền kinh tế là vô cùng quan trọng. Một quyết định đúng đắn, đúng thời điểm sẽ mang lại hiệu quả vượt trội.

Sự cần thiết của việc điều hành chính sách tiền tệ bằng lãi suất cơ bản

Cuối năm 2007, lạm phát trong nước đã có dấu hiệu gia tăng, nếu để cho thị trường tiếp tục tự vận hành thì dẫn đến thất bại của thị trường. Do đó, cần phải có sự can thiệp của nhà nước để đưa thị trường đi đúng hướng. Việc điều hành lãi suất theo sát tín hiệu thị trường, có thể giúp các NHTM định hướng được mức lãi suất hợp lý, tạo nên mặt bằng lãi suất huy động và cho vay đảm bảo hài hoà lợi ích giữa người gửi, TCTD và người đi vay. Công cụ được NHNN chú trọng là lãi suất cơ bản, vốn tồn tại sau một thời gian dài mờ nhạt.   

Lãi suất cơ bản trước đây chỉ mang tính định hướng và tham khảo nhưng khi lạm phát tăng đột biến, cơn bão giá đã tác động đến mọi ngành trong nền kinh tế, an sinh xã hội bị ảnh hưởng càng làm tăng sức ép lên các nhà điều hành trong chính sách quản lý. Lãi suất cơ bản giờ đã được sử dụng như một thông điệp có tác động nhanh, mạnh đến cả nền kinh tế, là cơ sở để ấn định lãi suất kinh doanh, tính toán trong hoạt động của các TCTD. Sau những giải pháp mạnh của chính sách thắt chặt tiền tệ thì việc điều hành bằng công cụ lãi suất cơ bản ấn định trần lãi suất cho vay thay đổi linh hoạt theo tín hiệu thị trường, đã góp phần hạ nhiệt lãi suất huy động lúc đầu, giúp nền kinh tế dần trở lại nhịp độ phát triển.

Continue reading

QUI ĐỊNH CỤ THỂ VỀ BẢO HIỂM TRÁCH NHIỆM NGHỀ NGHIỆP ĐỐI VỚI CÔNG CHỨNG VIÊN

NGUYỄN XUÂN VIỄN

Luật Công chứng đã quy định rõ về việc mở Văn phòng công chứng; Trách nhiệm quản lý nhà nước về công chứng; Trách nhiệm bồi thường của cá nhân, tổ chức hành nghề công chứng khi gây thiệt hại. Tuy nhiên, theo quy định của Luật Công chứng và các văn bản hướng dẫn thi hành hiện nay, vấn đề còn vướng mắc là việc thực hiện bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp đối với công chứng viên.

Khoản 7, Điều 32 Luật Công chứng quy định về nghĩa vụ của tổ chức hành nghề công chứng: Văn phòng công chứng có nghĩa vụ mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho công chứng viên của tổ chức mình". Quy định này vướng và khó thực hiện.

Thứ nhất: Hiện chưa có văn bản pháp quy hướng dẫn về thời gian mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho công chứng viên. Như vậy, tổ chức hành nghề công chứng có thể thực hiện việc mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho công chứng viên trước khi đăng ký thành lập hoặc có thể thực hiện công việc đó sau khi Văn phòng công chứng được thành lập, đi vào hoạt động. Hơn nữa, Luật chưa quy định giới hạn về thời gian bắt buộc phải tiến hành nghĩa vụ mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho công chứng viên nên rất khó khăn cho khâu quản lý, kiểm tra của các cơ quan có thẩm quyền. Trên thực tế, việc mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho công chứng viên đang hành nghề tại các tổ chức hành nghề công chứng rất cần thiết. Bởi, công chứng, công chứng viên không bảo đảm được nguồn vật chất để thực hiện nghĩa vụ bồi thường thiệt hại về vật chất có thể xảy ra do lỗi của mình thì rất khó đảm bảo được quyền lợi cho các cá nhân, tổ chức có liên quan khi yêu cầu thực hiện việc công chứng. Mặt khác, Luật Công chứng lại không quy định việc ký quỹ hoặc một hình thức khác về vật chất đối với tổ chức hành nghề công chứng trước khi đăng ký hoạt động, vì vậy đã gây vướng mắc cho cơ quan quản lý Nhà nước khi đưa ra điều kiện vật chất bắt buộc đối với các tổ chức này khi chịu trách nhiệm bồi thường vật chất do lỗi của công chứng viên tổ chức mình gây ra.

Thứ hai: Theo quy định tại Điều 23 Luật công chứng thì Hình thức tổ chức hành nghề công chứng gồm: Phòng công chứng và Văn phòng công chứng. Như vậy, thuật ngữ "Phòng công chứng" và "Văn phòng công chứng" khác nhau. Thực tế Văn phòng công chứng – Phòng công chứng cũng khác nhau cả về cơ cấu tổ chức, hình thức quản lý, hoạt động. Tại khoản 7, Điều 32 Luật công chứng quy định: Văn phòng công chứng có nghĩa vụ mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho công chứng viên của tổ chức mình. Theo đó, chỉ có Văn phòng công chứng mới phải thực hiện nghĩa vụ mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho công chứng viên của tổ chức mình, còn đối với các công chứng viên đang công tác tại các Phòng công chứng thì không thực hiện việc mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp. Quy định như vậy chưa hợp lý. Dù là công chứng viên của các Phòng Công chứng hay các Văn phòng công chứng đều cần được mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp để yên tâm hành nghề. Mặt khác không nên phân biệt trách nhiệm, quyền lợi, nghĩa vụ giữa công chứng Nhà nước và công chứng tư nhân. Có như vậy mới tạo được niềm tin cho cá nhân, tổ chức có liên quan khi yêu cầu thực hiện công chứng và bảo đảm yêu cầu xã hội hóa trong lĩnh vực công chứng theo tinh thần chiến lược cải cách tư pháp.

Continue reading

NÊN TĂNG HAY GIẢM LÃI SUẤT CƠ BẢN?

VŨ HẠNH

Câu hỏi đặt ra là có nên tiếp tục giảm lãi suất cơ bản đối với VND hay không, và việc này có ảnh hưởng như thế nào đến gói hỗ trợ lãi suất 4% của Chính phủ? Theo phân tích của các chuyên gia kinh tế, trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, các nước hạ lãi suất ở mức thấp, một nước đang phát triển nếu không theo xu hướng như vậy sẽ phải trả một giá rất đắt cho sự ổn định của mình. Khi áp dụng vào Việt Nam, mức độ hạ lãi suất như thế nào thì phải tuỳ thuộc tình hình thực tiễn hiện nay.

Lãi suất lượn như… lươn

Theo Thạc sĩ Phạm Xuân Hoè – Giám đốc Chi nhánh Nam Thăng Long của Vietinbank, nhìn vào sơ đồ lãi suất của các Ngân hàng thương mại (NHTM) trong năm 2008 và những tháng đầu năm 2009 đã có 10 lần điều chỉnh lãi suất (6 tháng đi lên, 6 tháng đi xuống đạt đáy mới). Điều này đã tác động lên toàn bộ bảng cân đối của các ngân hàng. “Có những thời điểm, lãi suất 3 tháng lại cao hơn lãi suất (LS) 12 tháng và thậm chí lãi suất tuần của các NHTM lại rất gần với lãi suất 12 tháng, thậm chí có lúc cao hơn” – ông Phạm Xuân Hoè nói.

Trong giai đoạn này, các NHTM còn vướng vào một cái khó nữa là “LS đầu vào giảm rất chậm vì tất cả kỳ hạn huy động 6-9-12 tháng của dân cư không thể điều chỉnh được, còn với các hợp đồng của các tổ chức kinh tế thì phải trả giá thì mới điều chỉnh được LS”.

Từ thực tế huy động LS như trên, ông Phạm Xuân Hoè cho biết, đã dẫn đến tình trạng “Thu nhập cận biên (là thu nhập của phần lãi cho vay, đầu tư, trừ đi phần chi trả lãi, chia cho tài sản thì ra lãi thực tế-NIM) chi nhánh nào giỏi lắm chỉ còn 1,5-1,8%. Đây là con số rất thấp so với bình quân chung của thế giới và khu vực (ở mức 3-3,5%). NHTM chạy đua lãi suất, rồi chạy giảm lãi suất và đến bây giờ có xu hướng tăng lên”.

Tác động của chính sách tiền tệ và giải pháp tình thế tạo ra những tiền lệ ngược ở Việt Nam. Ví dụ, LS huy động tiền gửi ngắn hạn lại cao hơn huy động dài hạn. Điều này không phù hợp với thông lệ quốc tế và rất khó khăn cho các NHTM trong áp dụng biện pháp chống đỡ rủi ro lãi suất bằng cân đối kỳ hạn bình quân…

Một điều dễ nhận thấy nữa là trong quãng thời gian này các NHTM nhỏ dẫn dắt cuộc chơi chứ không phải là các NH lớn. Vì khi các NHTM nhỏ không đủ khả năng thanh khoản thì đẩy lãi suất huy động lên cao, thậm chí lãi suất tiết kiệm tuần rất cao… để hút vốn của các NHTM lớn.

Continue reading