ĐIỀU KHOẢN ĐIỀU CHỈNH HỢP ĐỒNG DO HOÀN CẢNH THAY ĐỔI TRONG PHÁP LUẬT NƯỚC NGOÀI VÀ KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

THS. LÊ MINH HÙNG – Đại học Luật TPHCM

Hợp đồng được thiết lập hợp pháp thì có hiệu lực như pháp luật đối với các bên từ thời điểm giao kết mà các bên không được tự ý sửa đổi, hoặc hủy bỏ (1). Đây chính là yêu cầu mang tính bản chất của hiệu lực hợp đồng và là nội dung cơ bản của nguyên tắc hiệu lực bất biến (pacta sunt servanda)(2) trong lĩnh vực hợp đồng. Nhưng quan hệ hợp đồng không phải là bất biến mà “ngày càng mang tính chất của một quá trình” và “hàm chứa nhiều loại rủi ro” (3).

Thật vậy, trong quá trình thực hiện các hợp đồng, nhất là các hợp đồng dài hạn, những người kinh doanh quốc tế thường đối mặt với những rủi ro bất thường từ thiên nhiên, xã hội, kinh tế, kỹ thuật, thậm chí là rủi ro về con người, làm đảo lộn sự cân bằng vốn có của hợp đồng, làm cho một bên gặp phải khó khăn đặc biệt trong việc thực hiện nghĩa vụ của mình, thậm chí không thể thực hiện được nghĩa vụ trong hợp đồng.

Ban đầu, những trường hợp này được giải quyết bằng các cơ chế giải phóng nghĩa vụ của luật hợp đồng cổ điển (4), như cho phép bên vi phạm được chấm dứt hợp đồng và được miễn trách dựa trên điều khoản bất khả kháng. Về sau, người ta thấy rằng, điều khoản bất khả kháng không còn thích hợp để giải quyết nhiều vấn đề được đặt ra từ thực tiễn (5), vì trong nhiều trường hợp, cách giải quyết dựa trên điều khoản này không bảo đảm được sự công bằng cho các bên. Để có cơ chế khác thích hợp hơn trong việc bảo đảm lợi ích các bên nhằm phân chia hợp lý rủi ro và tái lập sự cân bằng của hợp đồng, các nhà kinh doanh thương mại quốc tế đã đưa vào hợp đồng của họ một điều khoản cho phép bên gặp khó khăn đặc biệt được yêu cầu bên kia đàm phán lại hợp đồng. Điều khoản này được gọi là điều khoản đàm phán lại hợp đồng khi có sự thay đổi do hoàn cảnh dẫn đến khó khăn đặc biệt trong việc thực hiện hợp đồng, được gọi ngắn gọn là “hardship”. Khái niệm “hardship” và các khái niệm tương tự cũng đã được thừa nhận trong nhiều hệ thống pháp luật, như “force majeure”, “commercial impracticability”, “frustration of purpose”(6) hay “change of circumstances” trong Thông luật (7), “Wegfall der Geschaftsgrundlage” trong tiếng Đức, hoặc được các học giả người Đức dùng với thuật ngữ khác là “the foundation of the transaction” (8). Nhưng thuật ngữ “hardship” được sử dụng trong bảng tiếng Pháp của Bộ nguyên tắc UNIDROIT đã được chấp nhận rộng rãi trong thực tiễn thương mại quốc tế (9), nên sẽ được sử dụng thường xuyên trong bài viết này.

Hardship – hiểu nôm na là điều khoản quy định cho phép một bên trong hợp đồng có quyền xin điều chỉnh hợp đồng, khi có những thay đổi về hoàn cảnh và môi trường kinh tế, tới mức gây ảnh hưởng đặc biệt xấu đến quyền lợi của một bên, làm mất đi cân bằng kinh tế của hợp đồng, làm cho việc thực hiện hợp đồng trở nên cực kỳ khó khăn và tốn kém. Theo đó, điều khoản hardship quy định những cơ chế can thiệp hợp lý vào hiệu lực hợp đồng, như cho phép các bên yêu cầu tòa án điều chỉnh hoặc nếu không điều chỉnh được thì cho chấm dứt hợp đồng, nhằm tái lập sự cân bằng về lợi ích giữa các bên trong hợp đồng, theo những căn cứ, thủ tục, điều kiện chặt chẽ và hạn chế.

1. Điều khoản hardship trong pháp luật các nước và tập quán thương mại quốc tế

Khái niệm hardship xuất hiện trong thực tiễn thương mại vào những năm 1960 và được trình bày lần đầu tiên trong các nghiên cứu của Marcel Fontaine, in trong quyển “Pháp luật hợp đồng quốc tế”, xuất bản năm 1989 (10). Nội dung của điều khoản hardship cũng được thể hiện trong các hợp đồng thương mại quốc tế, dưới nhiều dạng điều khoản khác nhau. Theo Marcel Fontain, từ những năm 1975, nhóm nghiên cứu của ông tập hợp được hơn 120 điều khoản hardship từ thực tiễn thương mại (11). Một số điều khoản loại này đã được Henry Lesguillons khái quát lại và trình bày trong Hội thảo quốc tế tổ chức ở Hà Nội năm 2004 (12). Có nhiều nước trên thế giới từng công nhận và xây dựng khung pháp lý và án lệ cho điều khoản hardship để điều chỉnh hợp đồng trong trường hợp hoàn cảnh thay đổi. Có thể kể đến một số quốc gia sau đây:

Continue reading

TÌM GIẢI PHÁP THỰC HIỆN CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM CHÁY, NỔ BẮT BUỘC THEO NGHỊ ĐỊNH SỐ 130/2006/NĐ-CP CỦA CHÍNH PHỦ

THANH BÌNH

Để thực hiện chế độ bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc (BHCNBB), đã có các văn bản pháp luật như: Luật kinh doanh bảo hiểm (Điều 8 ) số 24/2000/QH10 ngày 09/12/2000, Nghị định số 130/2006/NĐ-CP ngày 8/11/2006 của Chính phủ quy định chế độ bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc; tiếp đó, ngày 24/4/2007, Bộ Tài chính và Bộ Công an đã ban hành Thông tư liên tịch số 41/2007/TTLT-BTC-BCA hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 130/2006/NĐ-CP ngày 08/11/2006 quy định chế độ bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc, Bộ Tài chính ban hành Quyết định số 28/2007/QĐ-BTC ngày 24/4/2007 ban hành Quy tắc và Biểu phí bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc .

Mặc dù các văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành được hơn một năm, nhưng theo đánh giá của các chuyên gia, số lượng tổ chức, doanh nghiệp và tư nhân tham gia BHCNBB còn rất hạn chế, nhiều doanh nghiệp né tránh hoặc tham gia mang tính chất đối phó. Việc mua bảo hiểm cháy, nổ sẽ giúp doanh nghiệp bảo toàn được vốn và tái sản xuất kinh doanh trong trường hợp không may xảy ra sự cố cháy, nổ. Bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm đều phải thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo đúng quy định của pháp luật về BHCNBB. Trong thực tế các doanh nghiệp bảo hiểm gặp nhiều khó khăn trong quá trình vận động thuyết phục khách hàng tham gia BHCNBB. Bên cạnh đó, cơ chế thông tin, phối hợp kiểm tra giữa doanh nghiệp bảo hiểm với Cơ quan Cảnh sát PCCC và cơ quan chức năng chưa rõ ràng cụ thể nên việc triển khai BHCNBB chưa triệt để và quyết liệt.

Tại buổi tọa đàm nhằm đánh giá thực trạng việc thực hiện Chế độ BHCNBB theo Nghị định 130/2006/NĐ-CP của Chính phủ năm 2007 và bàn phương hướng triển khai năm 2008 do Tổng Công ty Bảo hiểm Bảo Việt (Bảo hiểm Bảo Việt) – đơn vị thành viên của Tập đoàn Tài chính – Bảo hiểm Bảo Việt phối hợp với Cục Cảnh sát PCCC – Bộ Công an tổ chức tại Hà Nội, ngày 22/2/2008 đã có nhiều ý kiến xung quanh vấn đề này.

Theo ông Phùng Đắc Lộc – Tổng thư ký Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam, ngoài ý thức tham gia BHCNBB của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay, cũng như những khó khăn trong việc trích lập nguồn đóng phí BHCNBB của các tổ chức, doanh nghiệp hành chính sự nghiệp, sử dụng nguồn vốn ngân sách Nhà nước, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng tỏ ra không mấy mặn mà trong việc tham gia bảo hiểm. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài yêu cầu các văn bản pháp luật quy định về chế độ BHCNBB cần phải được dịch sang tiếng Anh để họ có thể đọc, hiểu và thực hiện. Tuy nhiên trên thực tế các cơ quan chức năng của Việt Nam chưa tính đến vấn đề này. Ông Lộc cũng cho rằng, với vai trò là doanh nghiệp dẫn đầu thị trường trên mọi phương diện và cả về doanh thu phí BHCNBB, Bảo hiểm Bảo Việt có đủ trình độ và nên là đầu mối chuyển tải các văn bản quy phạm pháp luật về BHCNBB sang tiếng Anh để trình Bộ Tài chính ban hành.

Continue reading

RẮC RỐI CÂU CHỮ TRONG HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM

HÀ THANH

Bỏ ra hàng chục triệu đồng để mua bảo hiểm, ai cũng mong quyền lợi của mình được bảo đảm khi xảy ra rủi ro. Tuy nhiên, đã có không ít trường hợp phát sinh tranh chấp giữa người mua và công ty bảo hiểm từ những cạm bẫy trong câu chữ của hợp đồng…

Cơn mưa chiều 1.8.2008 kết hợp với triều cường khiến nhiều tuyến đường trong TP.HCM biến thành sông. Nước ngập đường Hồ Hảo Hớn (Q.1), tràn vào tòa nhà Chi nhánh Ngân hàng Thương mại cổ phần Đại Tín (số 75 Hồ Hảo Hớn), làm tầng hầm đang chứa đầy xe bị ngập nước. Trong đó có chiếc xe Mercedes biển số 52P – 1980 bị hư hỏng nặng.

Theo tường trình của Ngân hàng Đại Tín tại UBND P.Cô Giang, Q.1 thì khoảng 16 giờ ngày 1.8.2008 cơn mưa bắt đầu. Nửa tiếng sau, nước tràn vào tầng hầm trụ sở. Đến 17 giờ, tầng hầm bị ngập trong nước hơn 0,5m. Toàn bộ nhân viên của ngân hàng đã tập trung xử lý để hạn chế thiệt hại xảy ra. Tuy nhiên, do mực nước dâng cao và độ dốc của đường hầm khá lớn nên không thể đem xe ra khỏi tầng hầm. Mực nước tiếp tục dâng cao hơn 1m làm ngập hệ thống dẫn điện vào tòa nhà. Toàn bộ nhân viên của ngân hàng phải sơ tán khỏi tòa nhà để tránh tai nạn về điện.

Sáng 2.8.2008, Ngân hàng Đại Tín đã thông báo tai nạn cho Bảo hiểm AAA qua điện thoại và dịch vụ cứu hộ mang xe đi giám định thiệt hại. Kết quả làm việc của các bên cho biết ngân hàng bị thiệt hại gần 400 triệu đồng do các hư hỏng của xe Mercedes 52P-1980.

Trước đó, Ngân hàng Đại Tín có ký kết hợp đồng số P080 – 710 – 08/0046 với Bảo hiểm AAA. Theo hợp đồng thì phạm vi bảo hiểm: âm va, lật đổ; hỏa hoạn, cháy nổ; bão, lũ lụt, sụt lở, sét đánh, động đất, mưa đá; mất toàn bộ xe; tai nạn rủi ro bất ngờ khác ngoài những điểm loại trừ. Sau khi nhận thấy trường hợp chiếc xe Mercedes nằm trong phạm vi tai nạn rủi ro bất ngờ, Ngân hàng Đại Tín đã yêu cầu AAA trả tiền bảo hiểm.

Continue reading

MUA BÁN, SÁP NHẬP VÀ DỊCH VỤ ĐIỀU TRA CHI TIẾT

LS. TRẦN THANH TÙNG – Văn phòng Luật sư Phuoc & Partners

Ở Việt Nam, hoạt động mua bán và sáp nhập doanh nghiệp (Merger and Acquisition – M&A) được dự báo là sẽ ngày càng sôi động, đặc biệt trong bối cảnh suy thoái kinh tế hiện nay. Tuy nhiên, M&A là hoạt động đầy rủi ro. Một số thống kê của các hãng tư vấn nổi tiếng thế giới cho thấy khoảng hai phần ba các vụ M&A thất bại.

Giao dịch rủi ro

Chúng ta đã từng “sốc” khi nghe tin doanh nghiệp cổ phần Doanh nghiệp trẻ Đồng Nai (Dona Corp) đã mua lại doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Cheerfield Vina với giá chỉ… 1 đô la Mỹ.

Tuy nhiên sau đó, Dona Corp đã gặp rắc rối khi người ký kết hợp đồng mua bán không được sự ủy quyền của các chủ đầu tư nước ngoài. Hay như vụ mua bán một hãng kem khá nổi tiếng đã gặp trục trặc chỉ vì hợp đồng mua bán đã không quy định về quyền sở hữu trí tuệ của các hình ảnh trên… khuôn kem.

Hoặc những vụ kiện liên quan đến mua bán doanh nghiệp mà rất lâu sau khi hai bên ký kết hợp đồng, chợt có người gõ cửa doanh nghiệp và yêu cầu doanh nghiệp trả những khoản nợ đã có từ trước khi mua bán.

Không kém phần lạ lẫm là những vụ M&A  đã hoàn tất thỏa thuận mua bán thì lại vướng ở khâu sau cùng – thủ tục đầu tư – vì thiếu các quy định pháp luật rõ ràng và nhất quán.

Có một nguyên nhân chung: sự thiếu thông tin của các bên về doanh nghiệp – đối tượng của hoạt động M&A – đã dẫn đến sự thất bại. Khi xúc tiến một hoạt động M&A, ít nhất có ba câu hỏi mà các bên cần quan tâm, đó là: Mua bán cái gì? Giá bao nhiêu? Trình tự mua bán và thủ tục như thế nào? 

Để trả lời cho các câu hỏi đó, các bên, đặc biệt là bên mua, cần đầy đủ thông tin. Đó là cơ sở cho một dịch vụ đặc thù chuyên hỗ trợ các vụ M&A: dịch vụ điều tra chi tiết. Dịch vụ này có nhiệm vụ nhận diện các rủi ro có thể có trong vụ M&A và từ đó tìm ra các giải pháp hạn chế rủi ro này.

Các dịch vụ điều tra chi tiết

Điều tra chi tiết (Due Diligence – DD), là quá trình nghiên cứu, xem xét toàn bộ hoạt động và nội tình của doanh nghiệp mục tiêu, đưa ra một bức tranh đầy đủ nhất, chi tiết nhất về doanh nghiệp đó. Quá trình DD được thực hiện bởi các chuyên gia với những kinh nghiệm chuyên sâu trong từng lĩnh vực.

Continue reading

DỊCH VỤ ĐÒI NỢ: NGHỀ KHÓ NHƯNG THU NHẬP CAO

DDDN – Sau một loạt doanh nghiệp (DN) làm dịch vụ thu nợ tại Hà Nội bị bắt vì những hành vi trái pháp luật khi thực hiện… ngành nghề của mình, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 104/2007/NĐ-CP về kinh doanh dịch vụ đòi nợ (DVĐN). Theo đó, chỉ những DN được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh DVĐN mới được phép hoạt động trong lĩnh vực này và DN đó không được kinh doanh bất kỳ ngành nghề nào khác ngoài DVĐN. Tuy vậy, theo tác giả Nguyễn Mạnh Hùng đây là một nghề cần được phát triển vì không một xã hội nào phát triển được nếu thiếu các khoản nợ.

Trong nền kinh tế thị trường nợ là bình thường đối với quốc gia, DN, cá nhân, hộ gia đình trong phạm vi cân đối được tài khoản phải thu, phải trả. Quan hệ nợ bình thường là sự liên kết, hợp tác của các bên vừa mang yếu tố kinh tế vừa chứa đựng thiện chí đồng thời thúc đẩy sự hình thành và thực hiện các ý tưởng kinh doanh. Nhiều chủ nợ, Cty dịch vụ đòi nợ đã tư vấn để khách nợ làm ăn có hiệu quả, trả nợ cũ vay mới. Có trăm ngàn cách vay, lý do phát sinh nợ quá hạn thì cũng có từng ấy cách… đòi nợ.

Chưa rõ thị trường cạnh tranh DVĐN

Hiện chúng ta đã có nhiều hình thức… đòi nợ mà thiết nghĩ nên gọi là xử lý nợ để mở rộng phương pháp hành nghề.

– Đối với Nhà nước có Cty mua, bán nợ và tài sản tồn đọng của DN thành lập theo Quyết định 109/2003/QĐ-TTg, là DNNN với vốn Điều lệ 2.000 tỷ đồng được ngân sách cấp, Cty được kinh doanh các ngành nghề khác;

– Các DN làm dịch vụ đòi nợ theo Luật DN và được điều chỉnh bằng Nghị định 104/2007/NĐ-CP ngày 14/6/2007.

– Các Cty xử lý nợ của các ngân hàng thương mại.


Một ví dụ khá thành công của dịch vụ thu nợ là Cty TNHH dịch vụ thu hồi nợ và tư vấn Nhật An (TP HCM) thành lập năm 1997 đến 2007 đã nhận được 15.000 đầu mối “tằm tơ”, trung bình mỗi năm có đến 1.000 hồ sơ. Cty đã giải quyết được 80% số hồ sơ đòi nợ với giá dịch vụ từ 22-25% tổng số tiền thu được, thu đến đâu khấu luôn đó. Nếu bình quân mỗi hồ sơ nợ Cty thu được 10 triệu đồng thì 10 năm qua Cty thu thuần từ dịch vụ đòi nợ được 120 tỷ đồng, xứng đáng cho một nghề khó nhưng có thu nhập cao, không những vậy còn góp phần chống các dịch vụ xiết nợ kiểu “xã hội đen”.


 

Continue reading

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM SỐ 24/2006/DS-GĐT NGÀY 07-9-2006 VỀ VỤ ÁN “TRANH CHẤP VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN NHÀ”

HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

Ngày 7 tháng 9 năm 2006, tại trụ sở Toà án nhân dân tối cao đã mở phiên toà giám đốc thẩm xét xử vụ án dân sự tranh chấp hợp đồng mua bán nhà giữa các đương sự:

Nguyên đơn:

1. Ông Trần Tấn Hiệp, sinh năm 1943;

2. Bà Vũ Thị Thục Đức, sinh năm 1943 (vợ ông Hiệp).

Cùng trú tại: Số 75 đường Âu Cơ, phường Quảng An, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội.

Bị đơn:

1. Ông Lê Trọng Đỉnh, sinh năm 1949;

2. Bà Nguyễn Thị Kim Hồng Thịnh, sinh năm 1952 (vợ ông Đỉnh).

Cùng trú tại: Số 6 đường Âu Cơ, phường Quảng An, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội.

NHẬN THẤY:

Tại đơn khởi kiện ngày 5-6-2002 và các lời khai tại Toà án ông Trần Tấn Hiệp và bà Vũ Thị Thục Đức trình bày: Ngôi nhà số 6 đường Âu Cơ, phường Quảng An, quận Tây Hồ, Hà Nội thuộc quyền sở hữu của vợ chồng chúng tôi. Từ tháng 3-2000 đến tháng 6-2000 vợ chồng chúng tôi đã vay ông Đỉnh nhiều lần tiền để kinh doanh; tháng 9-2000 vợ chồng chúng tôi đã cho vợ chồng ông Đỉnh vào ở nhờ ngôi nhà số 6 đường Âu Cơ. Khi đó hồ sơ về ngôi nhà vợ chồng chúng tôi đang thế chấp tại Ngân hàng Hàng Hải để vay tiền kinh doanh. Vợ chồng chúng tôi có vay ông Đỉnh một số tiền; sau này chúng tôi được biết số tiền ông Đỉnh cho chúng tôi vay thực chất là tiền của Công ty Bắc Sơn mà chúng tôi là đồng sở hữu, ông Đỉnh đã rút ra cho chúng tôi vay lại. Khoảng năm 2000 Ngân hàng Hàng Hải là nơi chúng tôi thế chấp ngôi nhà số 6 đường Âu Cơ để vay tiền đã thúc ép chúng tôi phải thanh toán tiền cho Ngân hàng, do vậy vợ chồng tôi đồng ý để ông Đỉnh nộp một phần tiền với tư cách chúng tôi nợ ông Đỉnh để trả nợ Ngân hàng Hàng Hải và giải chấp ngôi nhà trên. Ngày 01-02-2001, Ngân hàng Hàng Hải đã trả toàn bộ giấy tờ nhà cho chúng tôi. Sau khi giải
chấp ngôi nhà, do nghĩ là vợ chồng tôi đã nợ ông Đỉnh một số tiền lớn nên
ngày 06-3-2001, vợ chồng chúng tôi đã viết giấy nhận nợ ông Đỉnh 5 tỷ đồng, cùng ngày chúng tôi đưa ông Đỉnh toàn bộ giấy tờ của ngôi nhà. Mục đích chúng tôi đưa giấy tờ nhà cho ông Đỉnh là tạo điều kiện cho ông Đỉnh thế chấp nhà để vay tiền Ngân hàng.

Continue reading

MỘT VÀI KINH NGHIỆM ĐẨY MẠNH THU HỒI NỢ XẤU THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG

TRẦN MINH KHIẾT

Trong thời gian qua, trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, việc thu hồi nợ xấu của các ngân hàng thương mại thông qua hoạt động tố tụng tăng cao. Theo thống kê của Toà án nhân dân Thành phố thì số lượng án kinh tế, dân sự mà ngân hàng là nguyên đơn hoặc ngân hàng là người có quyền và nghĩa vụ có liên quan tăng 30% so với 6 tháng năm 2006, thậm chí có Toà án Quận tăng đến 60%.

Việc khởi kiện đòi nợ cho vay của các ngân hàng trước toà án không những là một biện pháp pháp lý mang lại hiệu quả không nhỏ cho ngân hàng mà ở đây còn mang tính phòng ngừa chung, tức là thông qua hoạt động tố tùng của ngân hàng mà góp phần răn đe, giáo dục những khách hàng dây dưa, chây ỳ không chịu trả nợ phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng đúng như cam kết trong các Hợp đồng tín dụng. Để đưa công tác thu hồi nợ xấu thông qua các hoạt động tố tụng trong hệ thống các ngân hàng thương mại được quản lý thống nhất và đảm bảo các bước quy trình theo quy định pháp luật, theo tôi, các phòng khách hàng (hoặc phòng nghiệp vụ kinh doanh) tại các chi nhánh trong hệ thống Ngân hàng thương mại cần thực hiện những nội dung sau đây:

1. Tập trung và rà soát lại tất cả những món nợ quá hạn từ nhóm 3 đến nhóm 5, tiến hành lên danh sách những khách hàng không có thiện chí trả nợ, căn cứ vào thời gian quá hạn nợ cụ thể của từng khách hàng mà đưa vào diện khởi kiện trong 06 tháng cuối năm 2007 và năm 2008.

(Lưu ý: Theo quy định pháp luật về tố tụng dân sự, ngân hàng chỉ có quyền khởi kiện trong thời hạn 02 năm kể từ ngày phát sinh tranh chấp hợp đồng tín dụng).

2. Chỉ đạo đôn đốc trả nợ bằng văn bản đối với những khách hàng nằm trong diện sẽ khởi kiện; ít nhất là 02 lần cho mỗi khách hàng (kể cả người thế chấp, bảo lãnh cho món vay) trước khi tiến hành làm hồ sơ khởi kiện bằng 02 hình thức: Biên bản đôn đốc trả nợ và Thông báo yêu cầu trả nợ.

Continue reading

THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM TRƯỚC CƠN BÃO KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH HIỆN NAY

TRẦN HÙNG DŨNG – Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam

Cuộc khủng hoảng cho vay dưới chuẩn ở Mỹ bắt đầu từ những tháng cuối năm 2007 đã lan rộng thành một cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu và tác động của nó ngày càng sâu rộng đến thị trường bảo hiểm ở Mỹ và toàn thế giới. Trước cơn bão tài chính đó, thị trường bảo hiểm Việt Nam đang bị tác động như thế nào, và sẽ phải làm gì để hạn chế tối đa những ảnh hưởng tiêu cực của nó?

Những tháng cuối năm 2008, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã bùng phát mạnh mẽ, buộc công ty bảo hiểm lớn nhất thế giới AIG rơi vào nguy cơ mất khả năng thanh toán trầm trọng. Công ty bảo hiểm nhân thọ Ya-ma-mo-to của Nhật Bản không được cứu nguy cho nên đã phải nộp đơn xin phá sản vào ngày 10-10-2008. Ủy ban Giám sát Bảo hiểm và trợ cấp nghề nghiệp của châu Âu thì vẫn đang sát sao theo dõi chặt chẽ diễn biến tình hình thị trường,…

Những tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới đến thị trường bảo hiểm Việt Nam

Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã làm cho tốc độ tăng trưởng kinh tế của tất cả các nước trên thế giới bị chững lại, suy thoái và nhiều nước trước đây có tốc độ tăng trưởng khá thì nay đã phải điều chỉnh tốc độ tăng trưởng giảm đi, trong đó có Việt Nam. Đây là vấn đề mấu chốt nhất có ảnh hưởng rất lớn đến thị trường tài chính nói chung và thị trường bảo hiểm Việt Nam nói riêng.

Những ảnh hưởng tiêu cực lớn nhất đến thị trường bảo hiểm Việt Nam phải kể đến là:

Thứ nhất, vốn đầu tư xã hội, vốn FDI và vốn ODA đang có dấu hiệu chững lại. Số dự án FDI đăng ký mới trong tháng 10-2008 là 68 dự án, với tổng số vốn là 2,02 tỉ USD, thấp hơn nhiều so với các tháng đầu năm. Khả năng giải ngân vốn FDI và vốn ODA trong cả năm 2008 cũng chịu ảnh hưởng đáng kể của cuộc khủng hoảng. Bên cạnh đó, do tình hình lạm phát diễn biến phức tạp nên đã có hơn 1.600 dự án bị hoãn lại hoặc cắt bỏ. Nhiều dự án lớn, do khó khăn về vốn, đã không bảo đảm đúng tiến độ, thời gian hoàn thành dự án bị kéo dài. Thực trạng này đã ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng khai thác để tăng doanh thu phí bảo hiểm, đến công tác quản lý rủi ro của các doanh nghiệp bảo hiểm đối với một loạt nghiệp vụ bảo hiểm chủ yếu như: bảo hiểm xây dựng và xây lắp, bảo hiểm thiết bị máy móc, bảo hiểm hỏa hoạn và bảo hiểm gián đoạn kinh doanh,…

Continue reading

KINH DOANH BẢO HIỂM Ở VIỆT NAM: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

TS. HOÀNG VĂN HOAN – Học viện Chính trị – Hành chính khu vực 1

Bảo hiểm là một lĩnh vực rất quan trọng đối với các quốc gia nói chung và với Việt Nam nói riêng. Không chỉ là một biện pháp di chuyển rủi ro, bảo hiểm ngày nay đã trở thành một trong những kênh huy động vốn hiệu quả cho nền kinh tế. Thực tế hoạt động kinh doanh bảo hiểm thời gian qua đã cho thấy sự lớn mạnh không ngừng của ngành bảo hiểm và nhiều tiềm năng phát triển trong tương lai. Tuy nhiên, thị trường bảo hiểm Việt Nam đang được đa dạng hóa với tốc độ cao, sức ép mở cửa thị trường và thách thức hội nhập ngày càng lớn. Ngành bảo hiểm Việt Nam sẽ phải làm gì để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước và đáp ứng yêu cầu của tiến trình hội nhập?

Kinh doanh bảo hiểm là kinh doanh rủi ro, chia sẻ tổn thất với khách hàng, sản phẩm bảo hiểm là những dịch vụ mang tính đặc thù, riêng có, trừu tượng nhưng lại rất cụ thể, và thực tế hơn tất cả những sản phẩm khác trên thị trường một khi những điều khoản trong hợp đồng bảo hiểm được thực thi kịp thời, hiệu quả.

Đối với khách hàng, đóng phí bảo hiểm là để mua lấy sự yên tâm trong công việc, chia sẻ lo ngại về những mầm mống rủi ro có thể xảy ra trong cuộc sống. Đối với cộng đồng, bảo hiểm góp phần to lớn trong việc điều hòa cán cân thu nhập, điều tiết lợi ích và ổn định xã hội….

Thị trường bảo hiểm ở nước ta trong những năm gần đây đã rất sôi động, đa dạng. Số lượng công ty hoạt động kinh doanh bảo hiểm ngày càng tăng; các loại hình sở hữu đa dạng ở cả bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ, thuộc cả ba lĩnh vực bảo hiểm con người, bảo hiểm tài sản và bảo hiểm trách nhiệm dân sự; tính cạnh tranh của các công ty đã và đang từng bước thoả mãn tốt hơn nhu cầu của các khách hàng.

Trên thị trường bảo hiểm đã xuất hiện nhiều sản phẩm mới và khá độc đáo trên cơ sở kết hợp giữa các yếu tố tiết kiệm – đầu tư bảo vệ, được công luận đánh giá cao như sản phẩm bảo hiểm tai nạn cá nhân cho người sử dụng thẻ ATM, bảo hiểm trách nhiệm sản phẩm của người chăn nuôi và sản xuất thức ăn gia cầm, bảo hiểm bệnh hiểm nghèo… Tốc độ tăng doanh thu phí của bảo hiểm Việt Nam ở mức khá cao so với thế giới và khu vực. Một số công ty bảo hiểm tuy mới đi vào hoạt động nhưng cũng đã đạt được tốc độ tăng trưởng cao như Bảo Minh, Prudential, PJICO… Vốn đầu tư cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm tăng lên và theo đó khả năng giữ lại phí bảo hiểm trong nước cũng được nâng lên tương ứng. Qui định của nhà nước về tái bảo hiểm bắt buộc qua VINARE đã giúp mức phí giữ lại của toàn thị trường tăng đều qua các năm. Tổng mức phí giữ lại chiếm khoảng 70% tổng phí bảo hiểm gốc, giảm được một lượng không nhỏ phí bảo hiểm chảy ra nước ngoài. Theo đánh giá của HHBHVN, hiện nay doanh thu phí bảo hiểm của thị trường mới đạt mức trên 2% GDP trong khi các nước phát triển trong khu vực thường đạt mức 8-10% GDP (bình quân thế giới khoảng 8%) do đó, tiềm năng phát triển của các DN bảo hiểm vẫn còn rất lớn.

Continue reading

TRAO QUYỀN TRONG DỊCH VỤ KHÁCH HÀNG

TUYẾT MAI (Dịch từ Customer Service Manager)

Việc trao quyền trong dịch vụ khách hàng đang ngày một trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Thật tuyệt vời nếu bạn có được những phương thức trao quyền hiệu quả cho các nhân viên để họ đảm bảo một dịch vụ khách hàng hiệu quả nhất.

Trong hoạt động dịch vụ khách hàng, trao quyền là một trong những yếu tố thiết yếu. Không ít nhà quản trị hay chủ doanh nghiệp thường cố gắng kiểm soát toàn bộ công việc, họ không bao giờ giao quyền và trách nhiệm cho các nhân viên dịch vụ khách hàng khác trong công ty. Tâm trí họ cho dù biết được những lợi ích của uỷ thác công việc nhưng vẫn luôn ám ảnh nỗi lo: “Biết đâu những nhân viên mình tin tưởng trao quyền có những hành động không hợp lý thì sao?…”.

Sẽ không có gì ngạc nhiên với số lượng ít ỏi các công ty ngày nay có những nhân viên dịch vụ khách hàng được trao quyền thích hợp để đưa ra các giải pháp, sáng kiến hiệu quả phục vụ khách hàng, qua đó lôi kéo họ quay trở lại với công ty. Quả vậy, các nhân viên dịch vụ khách hàng dường như không có nhiều quyền hành để thuyết phục các khách hàng bất mãn tiếp tục ở lại với công ty.

Một cách bất lực, các nhân viên dịch vụ khách hàng thường thực sự phớt lờ các yêu cầu của khách hàng cũng như những tuyên bố ý định rời bỏ công ty sau những trải nghiệm không mấy thú vị, thậm chí có nhân viên còn động viên các khách hàng tìm kiếm những công ty khác!

Họ thường xuyên lặp lại một vài cụm từ làm điên tiết khách hàng mà họ được phép nói hết lần này đến lần khác.

Continue reading

CẦN SỬA ĐỔI MỨC THU LỆ PHÍ CHỨNG THỰC GIAO DỊCH, HỢP ĐỒNG

THANH XUÂN

Ủy ban nhân dân các cấp (xã, huyện) là cơ quan có thẩm quyền chứng thực các giao dịch, hợp đồng của công dân khi có yêu cầu theo quy định của pháp luật. Khoản 2, Điều 2, Nghị định 75 về công chứng, chứng thực quy định UBND cấp xã, huyện có thẩm quyền chứng thực các việc như xác nhận sao y giấy tờ, hợp đồng, giao dịch và chữ ký của cá nhân trong các giấy tờ phục vụ cho thực hiện các giao dịch trong hoạt động dân sự của công dân.

Cũng theo quy định của Nghị định 75 thì người yêu cầu công chứng, chứng thực phải nộp lệ phí công chứng, chứng thực, khi yêu cầu công chứng, chứng thực đã được thực hiện. Trước đây, mức thu lệ phí công chứng, chứng thực được thực hiện theo quy định tại Thông tư liên tịch số 93/2001/TTLT/BTC-BTP ngày 21/11/2001 của Bộ Tài chính và Bộ Tư pháp hướng dẫn chế độ thu, nộp và quản lý sử dụng phí, lệ phí công chứng, chứng thực.

Theo đó, thông tư có quy định cụ thể mức thu lệ phí, chứng thực áp dụng đối với UBND cấp huyện trong đó có mức thu các loại hợp đồng, giao dịch như hợp đồng chuyển quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất (tính trên giá trị tài sản); chứng thực hợp đồng kinh tế, thương mại, đầu tư, kinh doanh (tính trên giá trị ghi trong hợp đồng); chứng thực hợp đồng vay tiền có hoặc không có cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, bảo lãnh; hoặc chỉ chứng thực hợp đồng cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, bảo lãnh (tính trên số tiền vay ghi trong hợp đồng vay). Nhưng Thông tư 93 lại không quy định mức thu lệ phí của UBND các cấp các hợp đồng liên quan đến quyền sử dụng đất như hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, hợp đồng góp vốn bằng quyền sử dụng đất, hợp đồng thuê quyền sử dụng đất… dẫn đến khó khăn cho cán bộ thực hiện việc chứng thực và công dân khi có yêu cầu chứng thực các loại hợp đồng, giao dịch trên. Cụ thể, đầu tháng 3/2009 bà Huỳnh Thị N. đến UBDN xã T.T yêu cầu chứng thực hợp đồng thuê quyền sử dụng đất, sau khi chứng thực hợp đồng cán bộ thụ lý không biết căn cứ vào mục nào để thu lệ phí chứng thực vì theo Thông tư liên tịch số 93 không quy định mức thu lệ phí đối với hợp đồng thuê quyền sử dụng đất nói trên.

Theo quy định của Luật Đất đai năm 2003 thì chỉ có UBND cấp xã và Phòng Công chứng mới có thẩm quyền công chứng hay chứng thực các loại hợp đồng, giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất theo các quy định của Thông tư liên tịch số 04 hướng dẫn việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện quyền của người sử dụng đất. Vì vậy, các quy định của Thông tư 93 về thu lệ phí chứng thực không còn phù hợp với các quy định của Luật Đất đai hiện hành vì quyền của người sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai mới đã được mở rộng.

Continue reading

THÔNG TƯ SỐ 01/2009/TT-BXD NGÀY 25/2/2009 CỦA BỘ XÂY DỰNG QUY ĐỊNH MỘT SỐ NỘI DUNG VỀ CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỞ HỮU NHÀ Ở VÀ HƯỚNG DẪN MẪU HỢP ĐỒNG MUA BÁN CĂN HỘ NHÀ CHUNG CƯ TRONG DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CỦA TỔ CHỨC KINH DOANH NHÀ Ở

BỘ TRƯỞNG BỘ XÂY DỰNG

Căn cứ Nghị định số 17/2008/NĐ-CP ngày 04 tháng 02 năm 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Xây dựng;
Căn cứ Nghị định số 90/2006/NĐ-CP ngày 06 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở;
Căn cứ Thông tư số 05/2006/TT-BXD ngày 01 tháng 11 năm 2006 của Bộ Xây dựng hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số 90/2006/NĐ-CP ngày 06 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở;
Theo đề nghị của Cục trưởng Cục Quản lý nhà và thị trường bất động sản,

THÔNG TƯ

Điều 1. Trách nhiệm làm thủ tục cấp giấy chứng nhận cho Bên mua và hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở lần đầu khi mua căn hộ nhà chung cư trong dự án đầu tư xây dựng

1. Tổ chức kinh doanh nhà ở (Bên bán) có trách nhiệm làm thủ tục để cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận cho Bên mua căn hộ nhà chung cư.

2. Hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu căn hộ nhà chung cư bao gồm hồ sơ cơ sở và hồ sơ từng căn hộ nhà chung cư.

2.1. Trong thời gian 30 ngày kể từ ngày nhà chung cư được nghiệm thu đưa vào sử dụng, tổ chức kinh doanh nhà ở (Bên bán) phải hoàn thành và nộp cho cơ quan cấp giấy chứng nhận hồ sơ cơ sở của nhà chung cư.

Hồ sơ cơ sở được lập chung cho tất cả các căn hộ, phần sở hữu riêng trong nhà chung cư, bao gồm:

a) Các giấy tờ về dự án đầu tư xây dựng nhà chung cư sau đây:

– Bản sao quyết định phê duyệt dự án hoặc quyết định đầu tư hoặc giấy chứng nhận đầu tư;

– Bản sao quyết định phê duyệt quy hoạch chi tiết tỉ lệ 1/500 của dự án (trường hợp không có bản sao quyết định phê duyệt quy hoạch này thì phải có bản sao thoả thuận tổng mặt bằng của khu đất có nhà chung cư);

b)  Một trong các giấy tờ về đất xây dựng nhà chung cư:

– Bản sao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;

– Quyết định giao đất và các chứng từ xác nhận đã nộp tiền sử dụng đất (trừ trường hợp được miễn hoặc được chậm nộp tiền sử dụng đất theo quy định của pháp luật);

c) Bản vẽ sơ đồ nhà ở, đất ở:

Sử dụng bản vẽ mặt bằng hoàn công phần kiến trúc hoặc bản vẽ thiết kế mặt bằng phần kiến trúc phù hợp với hiện trạng nhà ở (mà không phải đo vẽ lại), bao gồm: bản vẽ mặt bằng xây dựng của ngôi nhà chung cư, bản vẽ mặt bằng của tầng nhà có căn hộ; trong trường hợp bản vẽ mặt bằng của tầng nhà không thể hiện rõ kích thước của căn hộ thì phải có bản vẽ mặt bằng của căn hộ đó. Bản vẽ này là căn cứ để cơ quan cấp giấy chứng nhận thể hiện sơ đồ nhà ở trong giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở.

Continue reading

DỰ THẢO THÔNG TƯ LIÊN TỊCH HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN MỘT SỐ QUI ĐỊNH CỦA NGHỊ ĐỊNH SỐ 05/2005/NĐ-CP NGÀY 18 THÁNG 01 NĂM 2005 CỦA CHÍNH PHỦ VỀ BÁN ĐẤU GIÁ TÀI SẢN (Dự thảo ngày 9/9/2008)

Căn cứ Nghị định số 05/2005/NĐ-CP ngày 18 tháng 01 năm 2005 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản;

Căn cứ Nghị định số 93/2008/NĐ-CP ngày 22 tháng 8 năm 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp;

Căn cứ Nghị định số 77/2003/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2003 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính;

Liên tịch Bộ Tư pháp và Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện một số quy định của Nghị định số 05/2005/NĐ-CP ngày 18 tháng 01 năm 2005 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản (sau đây gọi tắt là Nghị định số 05/2005/NĐ-CP) như sau:

MỤC I. CÁC LOẠI TÀI SẢN BÁN ĐẤU GIÁ

1. Tài sản để thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án

Tài sản bán đấu giá để thi hành án là tài sản được cơ quan thi hành án kê biên và bán đấu giá theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.

2. Tài sản nhà nước được bán đấu giá theo quy định của pháp luật

2.1. Các tài sản bị tịch thu, sung quỹ nhà nước:

a) Tài sản là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu sung quỹ nhà nước theo quy định của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002, được sửa đổi, bổ sung năm 2008.

b) Tài sản của người bị kết án bị tịch thu sung quỹ theo quy định của pháp luật về hình sự;

c) Vật chứng vụ án bị tịch thu sung quỹ nhà nước theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự;

d) Tài sản do cơ quan Toà án ra quyết định tịch thu sung quỹ nhà nước và được cơ quan thi hành án ra quyết định thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.

Continue reading

CẦN THỐNG NHẤT THẨM QUYỀN CHỨNG THỰC HỢP ĐỒNG

NGUYỄN THANH XUÂN

Chứng thực các hợp đồng liên quan đến tài sản là nhà giữa các bên là cá nhân, tổ chức là công việc thường diễn ra trong các quan hệ dân sự. Nhu cầu về chứng thực các loại hợp đồng này rất phổ biến và cần thiết trong giao dịch của người dân. Yêu cầu chứng thực hợp đồng có đối tượng là nhà ở là một trong những yêu cầu chiếm tỷ lệ cao trong các vụ việc được giải quyết.

Hiện nay có nhiều văn bản pháp lý điều chỉnh, hướng dẫn hình thức, nội dung cũng như thẩm quyền chứng thực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền các loại hợp đồng liên quan đến tài sản là nhà ở. Nhưng thực tiễn giải quyết cho thấy còn nhiều vướng mắc và thẩm quyền chứng thực của các văn bản pháp luật chưa được thống nhất khi cơ quan có thẩm quyền giải quyết yêu cầu của người dân trong việc chứng thực các hợp đồng liên quan đến tài sản là nhà ở và điển hình nhất là đối với hợp đồng thuê nhà ở một trong các giao dịch phổ biến nhất của người dân.

Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 thì hình thức hợp đồng thuê nhà phải được lập thành văn bản cũng như phải công chứng, chứng thực nếu thời hạn thuê nhà từ sáu tháng trở lên. Luật Nhà ở cũng quy định hợp đồng về nhà ở phải có chứng nhận của công chứng hoặc chứng thực của UBND cấp huyện hay UBND cấp xã tùy vào tài sản là nhà ở có vị trí ở đô thị hay ở nông thôn. Hình thức, nội dung của hợp đồng thuê nhà ở cũng được quy định tại Nghị định 90/2006/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở. Trước khi Luật Nhà ở được thông qua và có hiệu lực thì các hợp đồng thuê nhà ở được lập với nhiều hình thức nội dung khác nhau và thông thường người dân thường căn cứ vào hình thức, nội dung của Hợp đồng thuê tài sản gắn liền với đất hay Hợp đồng thuê quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo Thông tư liên tịch số 04/2006/TTLT-BTP-BTNMT của Bộ Tư pháp – Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện quyền của người sử dụng đất. Theo quy định của Thông tư liên tịch này thì các loại hợp đồng liên quan đến quyền của người sử dụng đất chỉ được hai cơ quan có thẩm quyền công chứng, chứng thực là Phòng Công chứng và UBND cấp xã, thông tư không quy định thẩm quyền chứng thực cho UBND cấp huyện đối với các loại hợp đồng nêu trên.

Thực tiễn từ những quy định pháp lý trên tạo nên nhiều bất cập cho việc giải quyết yêu cầu của người dân trong việc chứng thực các hợp đồng thuê nhà ở. Đơn cử, Ông Trần Văn Lâm đến UBND thị trấn L.V yêu cầu chứng thực hợp đồng thuê tài sản gắn liền với đất là nhà ở của ông tại khóm 1, thị trấn L.V. UBND thị trấn L.V không giải quyết yêu cầu của ông vì cho rằng theo Luật Nhà ở thì thẩm quyền chứng thực thuộc UBND cấp huyện. Về phía UBND cấp huyện cho rằng hình thức, nội dung hợp đồng thuê tài sản gắn liền với đất là nhà ở của ông Lâm được soạn thảo theo Thông tư liên tịch số 04 nên chỉ có UBND cấp xã hoặc Phòng Công chứng mới có thẩm quyền công chứng, chứng thực hợp đồng trên và hướng dẫn cho ông về UBND thị trấn L.V chứng thực. UBND thị trấn vẫn từ chối chứng thực vì cho rằng mình không có thẩm quyền và hợp đồng của ông Lâm vẫn không được chứng thực. Như vậy, từ thực tiễn giải quyết của cơ quan có thẩm quyền cho thấy chưa có sự thống nhất thẩm quyền chứng thực hợp đồng thuê nhà ở trong các văn bản hướng dẫn, hệ quả là yêu cầu của người dân không được giải quyết trong khi họ đang cần một hành lang pháp lý để đảm bảo cho các giao dịch về tài sản của họ với một cá nhân khác. Văn bản pháp lý hiện tại cũng không giải quyết vấn đề này, trong thực tiễn nếu cá nhân soạn thảo nội dung, hình thức hợp đồng thuê tài sản là nhà ở gắn liền với đất theo Thông tư liên tịch 04 thì UBND cấp huyện có thẩm quyền chứng thực hay không nếu tài sản gắn liền với đất là nhà ở đô thị hay chỉ có Phòng Công chứng và UBND cấp xã mới có thẩm quyền công chứng, chứng thực theo Thông tư liên tịch 04.

Cũng có ý kiến cho rằng Luật Nhà ở có giá trị pháp lý cao hơn Thông tư liên tịch 04 phải áp dụng Luật Nhà ở. Nhưng Nghị định 90 hướng dẫn các hợp đồng thuê nhà ở khác phải được lập thành văn bản quy định cụ thể các quyền và nghĩa vụ của hai bên theo quy định của Luật Nhà ở và Bộ luật Dân sự và mẫu hợp đồng thuê nhà ở được lập theo hướng dẫn được ban hành kèm theo Nghị định này. Do đó, nếu người dân lập hợp đồng theo mẫu Thông tư liên tịch 04 nhưng nội dung liên quan đến giao dịch cho thuê nhà ở tại đô thị thì UBDN cấp huyện có thẩm quyền chứng thực hợp đồng trên. Hiện tại UBND cấp huyện và xã đều chưa có sự thống nhất vấn đề này gây ra nhiều khó khăn cho người dân khi thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình trong các giao dịch từ việc thuê nhà ở.

   Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người dân trong các giao dịch dân sự các loại hợp đồng liên quan đến đối tượng là nhà ở ngày càng được mở rộng, đa thì những quy định về thẩm quyền công chứng, chứng thực cần được phân định rõ ràng và thống nhất hơn tạo hành lang pháp lý an toàn trong các giao dịch của người dân./. 

SOURCE: CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ BỘ TƯ PHÁP

Trích dẫn từ:

http://www.moj.gov.vn/p/tag.idempotent.render.userLayoutRootNode.target.n406.uP

TÌM HIỂU VỀ HỢP ĐỒNG TƯƠNG LAI VÀ THỊ TRƯỜNG TƯƠNG LAI

image– Hiện nay, ở Việt Nam, hợp đồng tương lai và các giao dịch trên thị trường tương lai còn là những khái niệm khá mới mẻ với nhiều các nhân, tổ chức. Nhưng ở các nước có thị trường tài chính phát triển, nó đã hình thành, phát triển khá lâu đời, cùng tồn tại song song và đóng vai trò quan trọng không kém so với thị trường chứng khoán. Bài viết này xin giới thiệu sơ lược về hợp đồng tương lai và cách thức để tham gia giao dịch trên thị trường này.

1. Trước hết, ta cần phân biệt sự khác biệt giữa hợp đồng tương lai và hợp đồng kỳ hạn

Hợp đồng tương lai cũng như hợp đồng kỳ hạn, khác với options (có quyền không cần thực hiện hợp đồng) ở chỗ là có sự bắt buộc phải thực hiện hợp đồng vào ngày giao hàng đã thỏa thuận trước. Bên mua của hợp đồng được gọi là bên giữ thế trường vị (long position) của hợp đồng, bên bán của hợp đồng được gọi là bên giữ thế đoản vị (short position) của hợp đồng. Cả hai loại hợp đồng đều được ấn định rõ loại hàng hóa, số lượng, chất lượng, giá tương lai, ngày giao hàng và địa điểm giao hàng. Cả hai đều là một trò chơi có tổng bằng 0, khoản lời của bên này chính là khoản lỗ của bên kia. Tuy vậy, giữa chúng cũng có một vài điểm khác biệt sau:

– Hợp đồng tương lai là hợp đồng được tiêu chuẩn hóa, chỉ có giá là được thỏa thuận, mỗi hợp đổng đều được quy định một số lượng hàng hóa nhất định (gọi là contract size),ngày giao hàng và nơi giao hàng được ấn định cụ thể trên thị trường, không có sự đàm phán giữa hai bên tham gia vào hợp đồng. Ngược lại,mọi đều khoản của hợp đồng kỳ hạn đều có thể được thỏa thuận, đàm phán giữa hai bên.

– Hợp đồng tương lai được giao dịch trên các thị trường tương lai. Các bên có thể kết thúc hoặc chấm dứt vị thế của mình một cách dễ dàng. Bên giữ thế trường vị (người mua) có thể kết thúc vị thế của mình bằng cách bán lại  hợp đồng tương lai với cùng loại hàng hóa và cùng ngày giao hàng. Ngược lại,bên giữ thế đoản vị (người bán) cũng có thể kết thúc vị thế của mình bằng cách mua một hợp đồng tương lai tương tự. Ngược lại, ngoài thị trường hợp đồng kỳ hạn lãi suất  và thị trường kỳ hạn ngoại tệ, hầu hết các thị trường kỳ hạn đều rất kém thanh khoản.

Continue reading

THANH TOÁN BẰNG VÀNG THEO HỢP ĐỒNG QUYỀN CHỌN VÀ PHƯƠNG PHÁP HẠCH TOÁN

NGUYỄN TRUNG LẬP

Ngày nay, việc sử dụng vàng để thanh toán trong các giao dịch mua, bán diễn ra hết sức phổ biến. Tuy nhiên, giá vàng trên thị trường thường xuyên biến động nên việc sử dụng vàng trong thanh toán gặp rất nhiều rủi ro, nhất là các hợp đồng dài hạn. Để hạn chế rủi ro liên quan đến việc thanh toán bằng vàng thì sử dụng Hợp đồng quyền chọn là một trong những giải pháp tối ưu, mang lại hiệu quả kinh tế cao trong thanh toán.

Hiện nay, việc sử dụng các công cụ này ở các doanh nghiệp còn chưa phổ biến và cũng chưa có chuẩn mực hướng dẫn cụ thể. Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi đề xuất một số giải pháp hạch toán liên quan đến việc lựa chọn hợp đồng quyền chọn trong việc thanh toán các giao dịch mua bán bằng vàng.

Hợp đồng quyền chọn là hợp đồng diễn ra giữa các tổ chức tài chính, hoặc giữa một bên là các tổ chức tài chính và một bên là các doanh nghiệp.

Hợp đồng quyền chọn có hai loại:

– Hợp đồng quyền chọn mua (call option): là thỏa thuận cho phép người mua có quyền mua vàng của các tổ chức tài chính với mức giá định sẵn vào ngày đáo hạn hợp đồng.

– Hợp đồng quyền chọn bán (put option): là thỏa thuận cho phép người bán bán vàng cho các tổ chức tài chính với giá định sẵn vào ngày đáo hạn hợp đồng.

Hợp đồng quyền chọn có đặc điểm:

– Không bắt buộc các bên phải mua hoặc bán vàng.

– Chỉ quy định quyền mua hay bán, mà không bắt thuộc thực hiện nghĩa vụ của mình.

– Người mua có thể thực hiện quyền hoặc bán quyền cho người khác hay không thực hiện quyền. Để thực hiện quyền này, khi ký kết hợp đồng người mua phải trả quyền phí, giá trong hợp đồng gọi là giá thực hiện và ngày định trong hợp đồng là ngày đáo hạn. Tương tự như vậy đối với người bán trong hợp đồng quyền chọn bán.

Continue reading

THỦ TỤC CÔNG CHỨNG HỢP ĐỒNG, GIAO DỊCH VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA CÔNG CHỨNG VIÊN

PHAN THỦY – Vụ Hành chính Tư pháp, Bộ Tư pháp

Ở nước ta, trong giai đoạn hiện nay khi nền kinh tế thị trường đang ngày càng phát triển, các giao dịch, hợp đồng về dân sự, kinh tế, thương mại đang ngày càng gia tăng, mức độ phức tạp ngày càng lớn thì nguy cơ xảy ra tranh chấp là không thể tránh khỏi. Vì vậy, việc phòng ngừa tranh chấp đối với các hợp đồng, giao dịch là một trong những vấn đề cần thiết được đặt ra.

Luật Công chứng được Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 29/11/2006 có hiệu lực vào ngày 01 tháng 7 năm 2007 đã có các quy định về thủ tục công chứng hợp đồng, giao dịch và trách nhiệm của công chứng viên đối với việc công chứng hợp đồng, giao dịch. Trong bài viết này xin được giới thiệu với bạn đọc về thủ tục công chứng hợp đồng, giao dịch và trách nhiệm của công chứng viên đối với việc công chứng hợp đồng, giao dịch để tham khảo khi cần. Từ đó, để lựa chọn cho cá nhân, tổ chức mình một địa chỉ tin cậy nhằm phòng tránh được các hậu quả đáng tiếc xảy ra.

Trách nhiệm của công chứng viên trong việc công chứng hợp đồng, giao dịch

Có thể khẳng định rằng, đối với người yêu cầu công chứng hợp đồng, giao dịch thì vai trò công chứng viên ở đây là luật gia, là “thẩm phán phòng ngừa” được nhà nước giao trách nhiệm giúp cho các bên tham gia hợp đồng, giao dịch thực hiện đúng quy định của pháp luật. Công chứng viên được Luật công chứng giao nhiệm vụ chứng nhận việc công chứng hợp đồng, giao dịch. Hợp đồng, giao dịch được công chứng viên chứng nhận luôn bảo đảm an toàn pháp lý và phòng ngừa được tranh chấp. Luật công chứng quy định: “ Công chứng là việc công chứng viên chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch khác (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch) bằng văn bản mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu phải công chứng”.

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC ĐIỀU CHỈNH LÃI SUẤT CƠ BẢN

NGUYỄN CAO KHÔI – VIETCOMBANK

Trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) sử dụng nhiều công cụ khác nhau, trong đó có lãi suất, để thực hiện điều hành chính sách tiền tệ quốc gia thông qua việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền của mình. Tuỳ theo chính sách, chủ trương của Đảng, chỉ đạo của Chính phủ trong từng thời kỳ và những diễn biến trên thị trường tài chính – tiền tệ trong nước, quốc tế mà NHNN quy định cơ chế điều hành lãi suất cho phù hợp.

Bên cạnh đó, các văn bản quy phạm pháp luật do NHNN ban hành quy định về cơ chế điều hành lãi suất phải bảo đảm nguyên tắc: đúng thẩm quyền và phù hợp với văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan Nhà nước cấp trên. Sau nhiều năm thực hiện điều hành cơ chế lãi suất thỏa thuận, ngày 16/5/2008, Thống đốc NHNN đã ban hành Quyết định số 16/2008/QĐ-NHNN quy định về cơ chế điều hành lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam (Quyết định số 16) trên cơ sở quy định của Bộ luật Dân sự được Quốc hội thông qua ngày 14/6/2005 (có hiệu lực ngày 01/01/2006). Theo đó, kể từ ngày 19/5/2008, NHNN xoá bỏ cơ chế lãi suất trần huy động bằng đồng Việt Nam và sử dụng công cụ lãi suất cơ bản để điều tiết lãi suất kinh doanh bằng đồng Việt Nam của các tổ chức tín dụng theo tín hiệu của thị trường. Việc NHNN thay đổi cơ chế điều hành lãi suất này đã làm cho nhiều ngân hàng và doanh nghiệp lúng túng xác định lãi suất cho vay trong các hợp đồng tín dụng đã được ký kết.

1. Lãi suất cho vay bằng VND trong hợp đồng tín dụng đã được ký kết

Trong những tháng đầu năm 2008, lạm phát diễn biến phức tạp và có xu hướng tăng, NHNN đã thực thi chính sách tiền tệ thắt chặt nhằm ưu tiên thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô. Chính vì vậy, các doanh nghiệp và ngân hàng Việt Nam đã gặp nhiều khó khăn trong kinh doanh. Cho đến giữa tháng 10/2008, khi nền kinh tế thế giới đã bước đầu được hồi phục bởi các biện pháp giải cứu, hỗ trợ của Ngân hàng Trung ương/Chính phủ các nước và tình hình lạm phát trong nước đã có những tín hiệu được kiềm chế (chỉ số giá tiêu dùng giảm, nhập siêu giảm…), NHNN ban hành một loạt các quyết định về giảm lãi suất cơ bản (từ 14%/năm xuống 13%/năm, 12%/năm), giảm lãi suất tái cấp vốn (từ 15%/năm xuống 14%/năm, 13%/năm), giảm lãi suất tái chiết khấu (từ 13%/năm xuống 12%/năm, 11%/năm), tăng lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc (từ 5%/năm lên tới 10%/năm) và cho phép các tổ chức tín dụng (nếu có nhu cầu) được thanh toán tín phiếu bắt buộc trước hạn… để tạo điều kiện cho các ngân hàng chủ động hơn về nguồn vốn, thanh khoản và giảm lãi suất cho vay. Ngay sau khi NHNN ban hành các quyết định nêu trên, nhiều ngân hàng thương mại (Agribank, SeAbank, ABBank, Techcombank, VPBank, ACB…) đã hạ lãi suất cho vay để hỗ trợ các doanh nghiệp vay vốn phát triển sản xuất kinh doanh, phục vụ mục tiêu tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội. Mức giảm lãi suất cho vay cụ thể tùy thuộc vào chính sách cho vay, nguồn vốn huy động hiện có và khả năng, điều kiện thực tế của mỗi ngân hàng. Mức lãi suất cho vay bằng đồng Việt Nam được đa số các ngân hàng áp dụng hiện nay là khoảng từ 15%/năm – 16%/năm.

Continue reading

CÁC LOẠI HỢP ĐỒNG GIAO DỊCH TRÊN THỊ TRƯỜNG HÀNG HÓA GIAO SAU

THS. VŨ THỊ MINH NGUYỆT

Thị trường giao sau (futures market) là một thị trường tập trung có tổ chức rất cao, chỉ mua bán các sản phẩm dẫn xuất từ thị trường hàng hóa thực là các hợp đồng giao sau (HĐGS – futures contract). Thị trường đã ra đời và phát triển cùng với phương thức giao dịch thông qua các hợp đồng mua bán giao sau các loại hàng hoá thực. HĐGS được tiêu chuẩn hóa: về số và chất lượng hàng hóa, nơi giao hàng, thể thức thanh toán, tỷ lệ chiết khấu, tỷ lệ ký qũy bảo đảm thanh toán,… Nơi mua bán các HĐGS này người ta quen gọi là sàn giao dịch (pit) hay sở giao dịch (exchange).

Từ đây, người ta thường dùng thuật ngữ thị trường hàng hóa giao sau hay thị trường giao sau để ám chỉ sở giao dịch các HĐGS, bởi các hợp đồng giao sau chỉ được mua bán trong các sở giao dịch mà thôi. Cũng chính bởi lý do chỉ mua bán các hợp đồng giao sau tại sàn, hàng hóa cơ sở được giao nhận tại một nơi khác, nên nó có thể xem như một cái chợ ảo. Cùng với sự phát triển vượt bậc của công nghệ viễn thông, thị trường giao sau ngày nay sở hữu khoảng 70% lưu lượng vốn toàn cầu vào – ra thị trường hàng ngày. Có được sự tăng trưởng nhanh chóng vậy cũng cần phải kể đến các dạng công cụ được giao dịch trên thị trường ngày càng phức tạp và tinh vi, giúp người tham gia thị trường nhiều cơ hội kinh doanh và phòng chống rủi ro.

Các dạng hợp đồng chuyển giao rủi ro

§ Các dạng hợp đồng truyền thống được sử dụng trên thị trường hàng hóa

o Hợp đồng giao ngay (spot contract ): là loại hợp đồng mà giá cả gọi là giá giao ngay (giá cả của hàng hóa được mua bán trên thị trường ngay tại thời điểm này), nghĩa là việc giao hàng và thanh toán chỉ có thể diễn ra trong vòng 1 hay 2 ngày (làm việc) kể từ khi bản hợp đồng được ký kết.

Continue reading