KỸ NĂNG SOẠN THẢO HỢP ĐỒNG TRONG THƯƠNG MẠI

LS. ĐỖ ĐĂNG KHOA – Công ty Vinaland Invest Corp

Hầu hết các công ty ở các nước phát triển luôn đề cao quy trình soạn thảo và ký kết hợp đồng, hợp đồng thương mại của họ rất chi tiết, chặt chẽ và dự liệu cả những tình huống hiếm khi xảy ra. Ví dụ: ông Bill Gate, trong một lần phỏng vấn các ứng viên thi tuyển vào Tập đoàn Microsoft đã đặt câu hỏi: “Theo các bạn đâu là yếu tố duy trì sự ổn định và thành công của các hoạt động kinh doanh ngày nay ? ” Một ứng viên tiêu biểu đã trả lời: “Đó chính là tính chặt chẽ của hợp đồng”. Nhiều người khi đó đã nghi ngờ tính nghiêm túc trong câu trả lời của ứng viên này, nhưng Bill Gate không nghĩ vậy. Ông đã cho ứng viên này điểm tối đa và nhận anh ta vào làm việc.

Trong khi đa số các Công ty của Việt Nam hiện nay chưa quan tâm nhiều đến vấn đề này, vẫn sử dụng những mẫu hợp đồng khuôn sáo, đơn điệu – “năm câu ba điều”, khó hiểu và thậm chí lạc hậu so với pháp luật hiện hành. Hậu quả là khi thực hiện hợp đồng rất khó khăn, dễ xảy ra tranh chấp và thường bị thua khi kiện tụng. Tình trạng này do nhiều nguyên nhân: văn hóa kinh doanh trọng tín hơn trọng lý, quy mô kinh doanh còn nhỏ, chưa có bài học đau xót trong giao thương quốc tế nên chưa sợ…đặc biệt là còn thiếu hiểu biết pháp luật và kỹ năng soạn thảo hợp đồng thương mại. Đó cũng chính là lý do tác giả viết bài này.

1. Những điểm chung cần quan tâm khi soạn thảo hợp đồng thương mại

a) Soạn thảo Dự thảo hợp đồng trước khi đàm phán:

Soạn dự thảo hợp đồng (bước 1), đàm phán, sửa đổi bổ sung dự thảo (bước 2), hòan thiện – ký kết hợp đồng (bước 3) là một quy trình cần thiết. Soạn dự thảo hợp đồng giúp cho doanh nghiệp văn bản hóa những gì mình muốn, đồng thời dự liệu những gì đối tác muốn trước khi đàm phán. Nó giống như một bản kế hoạch cho việc đàm phán, khi có một dự thảo tốt coi như đã đạt 50% công việc đàm phán và ký kết hợp đồng. Nếu bỏ qua bước 1 chỉ đàm phán sau đó mới soạn thảo hợp đồng thì giống như vừa xây nhà vừa vẽ thiết kế, nên thường dẫn đến thiếu sót, sơ hở trong hợp đồng, đặc biệt đối với những thương vụ lớn.

Continue reading

KINH DOANH BẢO HIỂM – Một hoạt động dịch vụ của ngân hàng thương mại

THS. NGUYỄN THỊ MINH NGUYỆT

Bảo hiểm được coi là dịch vụ tài chính, là một hoạt động dịch vụ của ngân hàng thương mại (NHTM), khi NHTM làm đại lý bảo hiểm, thành lập công ty liên doanh bảo hiểm, hay thành lập công ty con kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm trực thuộc.

NHTM cũng có thể tham gia kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm thông qua hình thức đầu tư vốn mua cổ phần, trở thành cổ đông chính trong các công ty bảo hiểm.

Bảo hiểm cũng là đối tác cạnh tranh của NHTM, bởi vì lĩnh vực kinh doanh này thu hút một lượng vốn nhàn rỗi khá lớn của dân cư. Các công ty kinh doanh bảo hiểm là đối tác kinh doanh của NHTM, khi tổ chức này đầu tư vốn vào NHTM dưới các hình thức tiền gửi, mua trái phiếu, tín phiếu hay uỷ thác đầu tư.

Hoạt động bảo hiểm có mối quan hệ mật thiết với hoạt động của NHTM, bởi vì nó làm cho hoạt động của NHTM trở nên an toàn hơn, dù trong lĩnh vực cho vay vốn, đầu tư vốn, hay thẻ tín dụng, thuê mua,…

Nói tóm lại, bảo hiểm là một loại hình dịch vụ tài chính trong nền kinh tế, có thể là một nghiệp vụ của NHTM, nhưng phổ biến là các công ty, tổng công ty, tập đoàn kinh doanh bảo hiểm riêng. Đối với các công ty bảo hiểm đây là một loại hình kinh doanh rủi ro. Còn đối với các tổ chức và cá nhân mua bảo hiểm thì đó là một công cụ phòng ngừa rủi ro. Bảo hiểm đã có lịch sử hình thành và phát triển từ lâu trên thế giới.

Continue reading

KINH DOANH BẢO HIỂM – MỘT HOẠT ĐỘNG DỊCH VỤ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

THS. NGUYỄN THỊ MINH NGUYỆT

Bảo hiểm được coi là dịch vụ tài chính, là một hoạt động dịch vụ của ngân hàng thương mại (NHTM), khi NHTM làm đại lý bảo hiểm, thành lập công ty liên doanh bảo hiểm, hay thành lập công ty con kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm trực thuộc.

NHTM cũng có thể tham gia kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm thông qua hình thức đầu tư vốn mua cổ phần, trở thành cổ đông chính trong các công ty bảo hiểm.

Bảo hiểm cũng là đối tác cạnh tranh của NHTM, bởi vì lĩnh vực kinh doanh này thu hút một lượng vốn nhàn rỗi khá lớn của dân cư. Các công ty kinh doanh bảo hiểm là đối tác kinh doanh của NHTM, khi tổ chức này đầu tư vốn vào NHTM dưới các hình thức tiền gửi, mua trái phiếu, tín phiếu hay uỷ thác đầu tư.

Hoạt động bảo hiểm có mối quan hệ mật thiết với hoạt động của NHTM, bởi vì nó làm cho hoạt động của NHTM trở nên an toàn hơn, dù trong lĩnh vực cho vay vốn, đầu tư vốn, hay thẻ tín dụng, thuê mua,…

Nói tóm lại, bảo hiểm là một loại hình dịch vụ tài chính trong nền kinh tế, có thể là một nghiệp vụ của NHTM, nhưng phổ biến là các công ty, tổng công ty, tập đoàn kinh doanh bảo hiểm riêng. Đối với các công ty bảo hiểm đây là một loại hình kinh doanh rủi ro. Còn đối với các tổ chức và cá nhân mua bảo hiểm thì đó là một công cụ phòng ngừa rủi ro. Bảo hiểm đã có lịch sử hình thành và phát triển từ lâu trên thế giới.

Continue reading

BÁN ĐẤU GIÁ TÀI SẢN: LUẬT QUÁ "MỞ" – KHÓ QUẢN LÝ

THIÊN LONG

Cả nước hiện nay có 373 đấu giá viên làm việc tại 62 trung tâm bán đấu giá tài sản (BĐGTS) trực thuộc các Sở Tư pháp và 56 doanh nghiệp đăng ký kinh doanh trong lĩnh vực này. Đấy là chưa kể các Hội đồng đấu giá cấp tỉnh, huyện, Trung tâm phát triển quỹ đất, Tổ quản lý và phát triển quỹ đất thuộc Sở Tài nguyên & Môi trường, Ban GPMB được thành lập theo Quyết định của UBND tỉnh để thực hiện bán đấu giá quyền sử dụng đất, Hội đồng BĐGTS tại các cơ quan, tổ chức. Tuy nhiên, vì còn những bất cập trong hệ thống pháp luật về BĐGTS đã dẫn đến tình trạng mạnh ai nấy làm, tạo cơ hội cho tiêu cực xảy ra.

Mạnh ai nấy làm

BĐGTS là một hoạt động đảm bảo xử lý khách quan, hiệu quả các tài sản thi hành án, tang vật, phương tiện vi phạm hành chính do cơ quan có thẩm quyền bắt giữ, tài sản tịch thu sung quỹ Nhà nước, nhằm thu lại được số tiền tương ứng giá trị của tài sản, phục vụ cho các mục đích liên quan.

Nhiều chuyên gia pháp lý nhận xét, qua 3 năm thực thi, đến thời điểm này, Nghị định số 05/2005/NĐ-CP ngày 18.1.2005 của Chính phủ về BĐGTS đã bộc lộ nhiều bất cập, không còn phù hợp với thực tế khách quan của cuộc sống, nhất là trong lĩnh vực BĐGTS. Hậu quả làm cho hoạt động BĐGTS thiếu minh bạch, xuất hiện nhiều tiêu cực (thông đồng, dàn xếp kết quả, “cò” trong hoạt động BĐGTS…). Hoạt động BĐGTS ở nước ta chưa mạnh là do các chế tài đối với các hành vi vi phạm qui định về BĐG còn nhẹ, chưa cụ thể và thiếu tính răn đe. Tình trạng mạnh ai nấy làm, các cơ quan quản lý Nhà nước cũng không nắm hết, quản hết được tổ chức, hoạt động của một số doanh nghiệp BĐGTS diễn ra khá phổ biến.

Continue reading

KINH DOANH CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM ĐIỀU GÌ CÓ THỂ RÚT RA TỪ MỘT HỢP ĐỒNG MUA BÁN CỔ PHẦN?

TS. PHAN VĂN TÍNH – PHI LAO

Hoạt động của thị trường chứng khoán Việt Nam trong những năm gần đây, đã có những đóng góp tích cực cho phát triển và hội nhập đối với nền kinh tế nước nhà. Tuy nhiên, để thị trường hoạt động có hiệu quả, an toàn và ổn định chắc chắn cần phải nghiên cứu để phát hiện những tồn tại và yếu kém nhằm có biện pháp khắc phục để hoàn thiện. Con đường đi ngoằn nghèo của một lô cổ phần mà tác giả sẽ đề cập dưới đây, phần nào, cho chúng ta thấy những gì và cần làm gì để thị trường phát triển một cách ổn định? Vì những lý do khác nhau, trong bài viết tên các doanh nghiệp và cá nhân liên quan được thay đổi.

1. Hành trình dài của một lô cổ phần

Đoạn trường thứ nhất: Ngày 17/11/2005, một cá nhân tên là ông Tkm ký hợp đồng “góp vốn đầu tư”(gọi là HĐ1) với Công ty cổ phần Ctn. Nội dung HĐ1: ông Tkm góp vốn với Ctn để đầu tư mua lô cổ phần của công ty NĐP. Tổng giá trị hợp đồng là 30.600 triệu đồng; 90% vốn là do Ctn dàn xếp; ông Tkm đặt cọc 10%. Ctn cam kết chuyển nhượng cổ phần lại cho ông Tkm, nếu mua được; giá chuyển nhượng lại bằng giá trúng thầu cộng với lãi 11,1% trên 90% số tiền của Ctn. Lợi tức phát sinh ông Tkm hưởng.

Đoạn trường thứ hai:

– Ngày 18/11/2005 (ngay sau khi HĐ1 ký kết), Ctn ký hợp đồng với Ngân hàng Inba (HĐ2). Nội dung cơ bản của hợp đồng này cũng tương tự HĐ1.

Continue reading

NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI – NHÀ NHƯỢNG QUYỀN VIỆT NAM CẦN BIẾT

NGUYỄN HOÀNG ÂN

Nhượng quyền thương mại cùng với các hình thức kinh doanh khác đã tạo nên một bức tranh sống động của nền kinh tế thế giới. Hình thành từ thế kỷ thứ 19, hình thức này không ngừng được mở rộng, phát huy tính hiệu quả trong kinh doanh.

Hàng năm hệ thống này tạo ra hàng triệu công ăn việc làm, đạt doanh số trên 1000 tỷ USD và phát triển không ngừng trên thế giới. Theo báo cáo của Lãnh sự quán Hoa kỳ năm 2004, tại Mỹ có trên 90% doanh nghiệp kinh doanh theo hình thức này tồn tại sau 10 năm trong khi đó có trên 82% doanh nghiệp kinh doanh độc lập bị đóng cửa cũng trong thời gian như vậy.

Rõ ràng, hình thức này đã phát huy nhiều tính ưu việt so với các hình thức kinh doanh khác. Tại Việt Nam, hình thức nhượng quyền thương mại hình thành vào những năm 90 của thế kỷ 20 và mang tính tự phát rất cao. Trung Nguyên có thể coi là nhà tiên phong tại Việt Nam áp dụng hình thức kinh doanh này bằng cách phát triển hệ thống đại lý của mình theo hình thức nhượng quyền.

Cũng như các nước khác, hình thức này cũng đã phát huy tính hiệu quả của nó trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Đến nay theo Hiệp hội Nhượng quyền Quốc tế, Việt Nam có trên 70 hệ thống kinh doanh nhượng quyền và ngày càng phát triển.

Continue reading

LÀM THẾ NÀO ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CỦA LOẠI HÌNH TÍN DỤNG CHO VAY BẤT ĐỘNG SẢN TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

house_for_sale THS. NGUYỄN THỊ MỸ DUNG

Bất động sản (BĐS) là tài sản có giá trị rất lớn nên hành vi lựa chọn và quyết định mua bán hoàn toàn khác biệt so với các sản phẩm dịch vụ thông thường. Một khi phát huy được vai trò tín dụng BĐS, sẽ giúp hoạt động của thị trường BĐS trở nên nhộn nhịp, từ đó, tác động đến cung – cầu thị trường và kéo theo sự phát triển của các ngành khác. Do vậy, hoạt động tín dụng BĐS là tài trợ mua bán, xây dựng hoặc cũng có thể là nâng cấp tài sản thực như nhà cửa, khu căn hộ, nhà kho… và trong một số trường hợp còn bao gồm cả đất đai nhằm mục đích đầu tư và sử dụng.

Tín dụng BĐS thường là những khoản vay có giá trị lớn và thời gian dài. Đối tượng phục vụ của loại tín dụng này rất đa dạng, không những dành cho khách hàng là doanh nghiệp mà còn cả khách hàng là cá nhân. Khi đối tượng cho vay khách hàng là cá nhân thì chất lượng thông tin của khách hàng thường không cao, nên cho vay bất động sản là một lĩnh vực chứa nhiều tiềm ẩn rủi ro. Do vậy, các ngân hàng luôn thận trọng khi tham gia vào lĩnh vực này. Tuy nhiên, mỗi ngân hàng có một chiến lược kinh doanh cho từng đối tượng khách hàng khác nhau. Khi đánh giá mức độ tham gia của ngân hàng vào lĩnh vực BĐS, chúng ta cần phân biệt rõ hai trường hợp: Cho vay kinh doanh BĐS và cho vay mua BĐS để sử dụng cho chính nhu cầu của người vay. Việc cho vay kinh doanh BĐS sẽ chịu rủi ro trực tiếp khi thị trường BĐS có biến động giá hoặc bị đóng băng, do người kinh doanh BĐS không thể thu hồi hoặc thu hồi không đủ vốn từ việc bán các BĐS đã đầu tư. Còn trường hợp, việc cho vay mua BĐS để phục vụ cho chính nhu cầu của người vay, nếu người vay có nguồn thu nhập ổn định không phụ thuộc vào thị trường BĐS, thì khi thị trường BĐS biến động hoặc đóng băng, họ vẫn có khả năng trả nợ ngân hàng.

Continue reading

"ĐÒI NỢ PHẢI BẮT ĐẦU NGAY TỪ LÚC CHO VAY"

TUỆ VĂN  (Dịchh từ Secret Firmu)

Hầu như công ty nào cũng có các con nợ, và đòi nợ nhiều khi không đơn giản chút nào. Đặc biệt là khi vẫn cần phải giữ quan hệ với khách hàng-con nợ. Tạp chí Secret Firmy, Nga, đã có cuộc nói chuyện về đề tài này với Michael Johndjua, chuyên viên tư vấn và huấn luyện viên hợp tác thường xuyên với công ty tư vấn doanh nghiệp Eventum và 3 công ty tư vấn doanh nghiệp khác, từng huấn luyện cho cán bộ lãnh đạo của nhiều doanh nghiệp Nga và Latvia, đồng thời là giảng viên tại một số trường đại học lớn của Nga.

“Quan trọng là phải tỏ ra cho thấy công ty của bạn là một công ty rất nghiêm”
Tạp chí SF (SF): Nợ là điều không tránh khỏi?
Michael Johndjua (MJ): Tiếc rằng sự thật là như vậy. Bởi vì bán hàng chịu là một cách thu hút được thêm nhiều khách hàng hơn. Trong thời buổi hôm nay thì người bán hàng có lợi thế hơn không phải là người chào món hàng rẻ hơn, mà là người đưa ra được những đề nghị về điều kiện cho nợ hấp dẫn hơn. Và khách hàng rất dễ bị cám dỗ bởi ý định kéo dài thời hạn thanh toán: theo thống kê thì chỉ có 50% khách hàng là trả nợ đúng thời hạn mà thôi.
SF: Khi nói đến việc đòi nợ, nhiều người hay nghĩ ngay đến việc dùng những anh chàng cơ bắp để buộc khách hàng trả tiền…

Continue reading

NGHỆ THUẬT ĐÒI NỢ

TRUNG CƯƠNG THANH (dịch từ E-xecutive)

Michael Johndjua hiện là giám đốc công ty “Michael Johndjua và cộng sự”, chuyên gia về quản trị tín dụng và tư vấn kinh doanh đồng thời là tác giả của cuốn sách “Nghệ thuật đòi nợ”. Business World Portal xin trân trọng trích đăng một phần nhỏ trong cuốn sách này.

Viết thư cho khách hàng

Kinh nghiêm làm việc của tôi trong lĩnh vực quản trị tín dụng cho thấy rằng, phần lớn các chuyên gia về quản trị tín dụng đều tránh viết thư cho khách hàng, mà nếu có viết thì không viết dài. Việc nói chuyện qua điện thoại hoặc gặp nhau trực tiếp trên thực tế đúng là hiệu quả hơn, nhưng trong một số trường hợp, chúng ta không thể tránh được, và chính trong những trường hợp đó, chúng ta phải soạn thảo những bức thư “đòi nợ” sao cho hiệu quả nhất. Vậy những trường hợp đó là gì? 

Trước hết, đó là khi chúng ta có quá nhiều khách hàng nhỏ (ví dụ, 15 ngàn khách hàng với mức nợ dưới 5 USD). Trong trường hợp đó, bạn không thể gọi điện thoại cho từng người được, lại càng không thể gặp trực tiếp từng người. Không cần phải quá rõ ràng đối với những trường hợp đó và chúng không hợp với bất kỳ lo-gic nào. Chúng ta chỉ còn cách ngồi mà viết thư.  

Continue reading

TRAO ĐỔI VỀ BÀI “TÁC ĐỘNG CỦA CÁC HÌNH THỨC LỖI ĐẾN VIÊC XÁC ĐỊNH TRÁCH NHIÊM HỢP ĐỒNG NHÌN TỪ GÓC ĐỘ TRUNG THỰC VÀ THIÊN CHÍ”

THS. NGUYỄN XUÂN QUANG –  ĐH Luật TP. Hồ Chí Minh

Trên Tạp chí Khoa học pháp lý số 1(38)/2007 có đăng bài “Tác động của các hình thức lỗi đến việc xác định trách nhiệm hợp đồng nhìn từ góc độ trung thực và thiện chí” của hai tác giả TS Dương Anh Sơn và ThS Nguyễn Ngọc Sơn. Trong bài viết trên, các tác giả đã đề cập đến vấn đề xác định thời hiệu trong Bộ luật Dân sự(BLDS). Theo đó, những kiến nghị mà các tác giả đưa ra có thể nói, đã đề xuất một cách tiếp cận khá mới mẻ so với phương pháp tiếp cận truyền thống ở nước ta về vấn đề thời hiệu đã được thừa nhận trong BLDS. Cách tiếp cận mới này có thể mở ra một chiều tư duy mới về vấn đề xác định thời điểm khởi kiện về giao dịch vô hiệu cũng như thời điểm khởi kiện các tranh chấp dân sự nói chung.

Một mặt đánh giá cao phương pháp tiếp cận trên cũng như những nội dung khác của bài viết. Mặt khác, sau khi đọc bài viết này chúng tôi thấy còn một số vấn đề cần trao đổi lại với các tác giả trên quan điểm khoa học về những ý kiến mà các tác giả đưa ra.Cụ thể là vấn đề các vấn đề sau:

Thứ nhất, về thời điểm tính thời hiệu khởi kiện xin tuyên bố giao dịch vô hiệu tại các Điều 130, 131, 132, 133 và 134 BLDS trong trường hợp lừa dối, đe dọa.

– Đối với trường hợp khởi kiện xin tuyên bố giao dịch vô hiệu do bị lừa dối. Các tác giả cho rằng lừa dối là hành vi có chủ định được che dấu một cách rất khôn khéo nên bên bị lừa dối đã không thể biết được khi giao kết. Theo đó, thời hiệu khởi kiện là hai năm kể từ thời điểm giao kết là không hợp lý. Thời điểm hai năm tính thời hiệu cần phải quy định tính từ khi bên bị lừa dối biết được hay buộc phải biết được là mình bị lừa dối thì sẽ chính xác hơn.

Continue reading

BÀN VỀ ƯU ĐÃI THANH TOÁN

MINH AN (Tổng hợp)

Trong kinh doanh, để có được khách hàng, khá nhiều công ty không ngần ngại đưa ra các hình thức ưu đãi và giảm giá. Nhưng đó lại là con dao hai lưỡi, nếu bạn dành cho khách hàng những điều kiện ưu đãi thanh toán mà không có đủ thông tin về họ hay sơ hở trong việc kết hợp điều kiện cơ sở giao hàng với phương thức thanh toán không đủ sức ràng buộc trách nhiệm của người mua hàng thì rủi rõ sẽ vô cùng lớn.

Là hãng kinh doanh đồ điện lạnh khá uy tín tại Pháp, Jean Francois Co.Ltd đã mở rộng thị trường của công ty sang nhiều thị trường lớn tại châu Á như Hồng Kông, Ấn Độ, Nhật Bản,… Hãng rất chú trọng đến việc khai thác và phát triển thị trường Trung Quốc, một thị trường đầy tiềm năng và rất rộng lớn.

Từ tháng 4 năm 2004, sau nhiều nỗ lực, Jean Francois đã có được những hợp đồng xuất khẩu đầu tiên sang Trung Quốc cho một doanh nghiệp thương mại Trung Quốc là công ty Limex Shanghai. Những hợp đồng suôn sẻ ngày càng thắt chặt mối quan hệ thân tình giữa Jean Francois và Limex Shanghai. Không những thế, qua lời giới thiệu của một số doanh nhân Pháp sống tại Trung Quốc thì Limex Shanghai cũng là doanh nghiệp khá có uy tín, nên Jean Francois hoàn toàn yên tâm trong các giao dịch sau đó.

Continue reading

TÁC ĐỘNG CỦA CÁC HÌNH THỨC LỖI ĐẾN VIỆC XÁC ĐỊNH TRÁCH NHIỆM HỢP ĐỒNG NHÌN TỪ GÓC ĐỘ NGUYÊN TẮC TRUNG THỰC VÀ THIỆN CHÍ

TS. DƯƠNG ANH SƠN –  Khoa Kinh tế – Đi hc Quc gia TP. H Chí Minh

THS. NGUYỄN NGỌC SƠN  –  Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

1. Đặt vấn đề: Trung thực, thiện chí là một trong những nguyên tắc nền tảng của việc ký kết và thực hiện hợp đồng, được ghi nhận không những trong pháp luật hợp đồng của Việt Nam mà còn được quy định trong pháp luật của nhiều nước[1]. Giữa hành vi vi phạm hợp đồng với nguyên tắc nói trên tồn tại mối quan hệ tương hỗ. Chúng tôi cho rằng, vi phạm hợp đồng cố ý là biểu hiện của sự không trung thực, thiện chí, còn không cố ý vi phạm hợp đồng có thể không vì không thiện chí, trung thực.

Lý thuyết về hợp đồng pháp luật của Việt Nam và pháp luật của các nước thuộc hệ thống pháp luật châu Âu lục địa sử dụng đã chỉ ra rằng, lỗi là một trong những căn cứ để xác định trách nhiệm pháp lý nói chung và trách nhiệm do vi phạm hợp đồng nói riêng. Trong khi đó pháp luật của các nước thuộc hệ thống pháp luật Anh-Mỹ lại không coi lỗi là một trong các yếu tố để xác định trách nhiệm hợp đồng. Sự khác biệt nói trên có lẽ là do truyền thống pháp luật, truyền thống được hình thành từ các nguồn gốc không giống nhau. Các văn bản pháp lý quốc tế về hợp đồng, ví dụ Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, có lẽ để hài hòa giữa hai hệ thống pháp luật nói trên, thay vì xác định bên vi phạm có lỗi hay không đã xác định hành vi vi phạm hợp đồng có phải là hậu quả của tình huống bất khả kháng hay không.

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 103/2008/NĐ-CP NGÀY 16/9/2008 CỦA CHÍNH PHỦ VỀ BẢO HIỂM BẮT BUỘC TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ CỦA CHỦ XE CƠ GIỚI

Chương I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới; quyền và nghĩa vụ của chủ xe cơ giới, doanh nghiệp bảo hiểm; trách nhiệm của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong việc thực hiện bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

1. Chủ xe cơ giới tham gia giao thông trên lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

2. Doanh nghiệp bảo hiểm được phép triển khai bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới theo quy định của pháp luật.

3. Trong trường hợp Điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của Nghị định này thì áp dụng quy định của Điều ước quốc tế đó.

Continue reading

FRANCHISE LÀ CÁI CHI CHI?

TAM HÁT – VietFranchise

Bấy lâu nay, chắc quý vị thường nghe báo chí nhắc đến mấy cụm từ: franchise, franchising, nhượng quyền thương mại, nhượng quyền kinh doanh, nhượng quyền thương hiệu… Vậy tất cả những cụm từ trên dùng để chỉ cái gì? Nhưng trước hết, tác giả xin có một đính chính nhỏ, nếu ai hay dùng cụm từ “nhượng quyền thương hiệu” để chỉ hoạt động franchise (hay franchising) là chưa chính xác, bỡi vì thương hiệu chỉ là một phần trong nội dung nhượng quyền.

Franchise, franchising, nhượng quyền thương mại hay nhượng quyền kinh doanh (gọi tắt là franchise) dùng để chỉ một phương thức kinh doanh đặc biệt, có nhiều định nghĩa về franchise trên thế giới.

Tại Hoa Kỳ, Ủy ban Thương Mại Liên Bang (FTC) đã định nghĩ rằng: “franchise là hợp đồng, thỏa thuận giữa các bên, mà trong đó một bên chủ thương hiệu cho phép bên kia được quyền kinh doanh sản phẩm, dịch vụ theo kế hoạch, hệ thống gắn liền với thương hiệu của chủ thương hiệu. Người được cấp quyền phải trả cho bên cấp quyền các khoản phí trực tiếp hay gián tiếp, gọi là phí franchise“.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 69/BXD-QLN NGÀY 8/9/2008 CỦA BỘ XÂY DỰNG VỀ CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN CHO THUÊ CĂN HỘ

Kính gửi: Tổng cục Thuế – Bộ Tài chính

Bộ Xây dựng nhận được công văn số 3140/ TCT– CS ngày 20/8/2008 Tổng cục Thuế – Bộ Tài chính gửi Bộ Xây dựng đề nghị cho ý kiến về hoạt động chuyển nhượng quyền cho thuê căn hộ đối với Công ty TNHHIndochina Riverside Towers . Sau khi nghiên cứu Bộ Xây dựng có ý kiến như sau :

Tại Tiết a Khoản 1 Điều 67 Nghị định 90/2006/NĐ-CP ngày 6/9/2006 của Chính phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở quy định: “ Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài thuê nhà tại Việt nam : 1. Đối tượng và điều kiện được thuê nhà ở bao gồm: a/ Tổ chức, cá nhân nước ngoài được phép vào Việt Nam có thời hạn ba tháng liên tục trở lên;..” Như vậy, đối với các tổ chức, cá nhân nước ngoài chưa được phép vào Việt Nam thì không được thuê nhà ở tại Việt Nam, do đó Công ty IRT ký kết hợp đồng cho các tổ chức nước ngoài thuê căn hộ khi các tổ chức đó chưa được phép vào Việt nam là trái với quy định của pháp luật.

Continue reading

ĐÀN PHÁN PHI CHÍNH THỨC – CON DAO HAI LƯỠI

negotiation LÊ KHẮC NHƯ Ý

“Đàm phán phi chính thức” được xuất phát từ đàm phán chính thức. Đó là bước bổ trợ và bước tiếp theo của đàm phán chính thức.

Muốn giành được thắng lợi trong một cuộc đàm phán, bạn nhất thiết không được coi nhẹ vai trò của các cuộc đàm phán phi chính thức.

Dù là đàm phán chính thức hay phi chính thức thì xét cho cùng cũng chỉ là bước bàn bạc trao đổi ý kiến giữa bên bán và bên mua mà thôi.

Trong một cuộc đàm phán phi chính thức bạn có thể thẳng thắn, thoải mái đưa ra ý kiến của mình, có thể nói về những điều lệ, quy định bất hợp lý của công ty, có thể nói đến những chuyện chiếm được cảm tình của nhau như hỏi về gia đình, người thân của đối phương… Qua những chuyện như vậy sẽ giúp hai bên thân mật với nhau hơn, giải quyết vấn đề một cách thuận lợi hơn.

Nhưng việc gì cũng có mặt tốt và xấu của nó, do vậy chúng ta phải hiểu được tính nguy hiểm của đàm phán phi chính thức đồng thời phải áp dụng các biện pháp dự phòng sau:

Continue reading

MỘT SỐ Ý KIẾN TRONG KÊ BIÊN, XỬ LÝ TÀI SẢN (NHÀ Ở)

LÊ LANH – Thi hành án Dân sự  TP Tuy Hòa, Phú Yên

Trong quá trình kinh doanh với nhau, vợ chồng bà A có vay mượn của ông B, số tiền 100 triệu đồng với lãi suất 1,1%/tháng. Quá trình kinh doanh thua lỗ vợ chồng A không có tiền trả nợ, cho nên ông B khởi kiện dân sự và trong quá trình hoàn giải hai bên thống nhất thoả thuận và được Toà án ra quyết định công nhận sự tự nguyện của các đương sự số 102/QD-DSST ngày 30/5/2005 với nội dung thoả thuận như sau:

Vợ chồng A chấp nhận trả nợ 100 triệu đồng và lãi suất 1,1%/tháng và đồng ý trả nợ gốc và lãi hàng năm cho ông B với thời gian và phương thức như sau:

– Năm 2005, trả gốc 10 triệu đồng cộng lãi hàng tháng/nợ gốc với lãi suất 1,1% và thời hạn cuối vào ngày 31/12/2005. Năm 2006 và những năm tiếp theo trả 15triệu với lãi suất như trên cho đến khi hết nợ ngày 31/12/2011. Trường hợp A không trả gốc và lãi đúng hạn cho B theo như thoả thuận thì ông B có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án phát mãi nhà 180 đường S để bán trả nợ gốc và lãi một lần cho B.

Continue reading

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUYỀN CHỌN TIỀN TỆ

THS. NGUYỄN PHÚ QUỐC

Trên thị trường ngoại hối có 5 nghiệp vụ cơ bản được giao dịch đó là: giao ngay (spot), kỳ hạn (forward), hoán đổi (swap), tương lai (future) và quyền chọn (Option). Trong đó, giao ngay được xem là nghiệp vụ cơ bản, các nghiệp vụ còn lại được xem là phái sinh. Phải nói rằng giao dịch quyền chọn tiền tệ là tương đối phức tạp, bởi lẽ trong mỗi giao dịch có tới hai đồng tiền là đồng tiền yết giá và đồng tiền định giá; và có tới hai tỷ giá là tỷ giá mua vào và tỷ giá bán ra.

Định nghĩa quyền chọn tiền tệ

Các hợp đồng ngoại hối kỳ hạn, hoán đổi và tương lai luôn phải được thanh lý giữa các đối tác tham gia. Cho dù một thực tế rằng, các hợp đồng tương lai có thể được chyển nhượng và những khoản phụ trội trên tài khoản ký quỹ có thể được rút ra: và chúng ta có thể thoát ra khỏi trạng thái của hợp đồng kỳ hạn bằng cách tiến hành một giao dịch kỳ hạn đối ứng (offsetting forward contract). Nhưng, cuối cùng thì mọi hợp đồng tương lai và kỳ hạn khi đáo hạn đều phải được các bên chấp nhận và thanh toán. Như vậy, những người nắm giữ hợp đồng kỳ hạn, hoán đổi và tương lai khi đến hạn phải giao dịch thanh toán với nhau. Điều này hàm ý, các đối tác không có bất cứ sự lựa chọn nào ngoài việc tiến hành thanh toán hợp đồng khi đáo hạn, kể cả trong những trường hợp bất lợi với họ.

Continue reading

CÁC LOẠI GIAO DỊCH, HỢP ĐỒNG VÀ GIÁ TRỊ, Ý NGHĨA CỦA VIỆC ĐĂNG KÝ GIAO DỊCH, HỢP ĐỒNG

TRUNG TÂM ĐĂNG KÝ GIAO DỊCH, TÀI SẢN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Đăng ký giao dịch bảo đảm bằng động sản, hợp đồng nhằm công khai thông tin, xác lập thứ tự ưu tiên thanh toán và hiệu lực đối kháng với bên thứ ba là cơ chế đã tốn tại khá lâu ở một số quốc gia phát triển (như Mỹ, Canada…). Tuy nhiên, tại Việt Nam cơ chế này còn khá mới mẻ (chính thức được triển khai từ ngày 12/3/2002). Sau đây chúng tôi xin giới thiệu những nét khái quát về cơ chế này để góp phần phục vụ cho việc tìm hiểu và thực hiện trong thực tiễn.

1. Các loại giao dịch, hợp đồng được đăng ký tại Trung tâm Đăng ký

Các loại giao dịch dân sự, hợp đồng được đăng ký và một số loại việc khác được giải quyết tại Trung tâm Đăng ký bao gồm:

– Giao dịch bảo đảm (tài sản bảo đảm không phải là bất động sản, tàu bay, tàu biển);

– Các loại hợp đồng (giao dịch) có tính chất bảo đảm;

– Thông báo của cơ quan thi hành án, chấp hành viên về tài sản bị kê biên để thi hành án;

Thông tin về các giao dịch bảo đảm, các hợp đồng, các trường hợp kê biên tài sản đã đăng ký và lưu trong Hệ thống dữ liệu sẽ được cung cấp công khai cho mọi tổ chức, cá nhân có nhu cầu tìm hiểu.

Continue reading