COI CHỪNG VI PHẠM HÌNH THỨC HỢP ĐỒNG

signing a contract - photo/picture definition - signing a contract word and phrase imageLÊ TRỌNG DŨNG – Văn phòng Luật sư Gia Phạm

Vụ án dưới đây chỉ là một trong số rất nhiều vụ án tranh chấp hợp đồng liên quan đến việc vi phạm hình thức ở Việt Nam.

Vợ chồng ông A rất thân với vợ chồng ông B và cho vợ chồng ông B mượn nhà để sinh sống. Khi cơ hội đến, vợ chồng ông A đã dùng căn nhà của mình đem thế chấp ngân hàng để vay tiền kinh doanh. Nhưng do việc làm ăn của vợ chồng ông A không thuận lợi, nợ nần quá nhiều, khiến vợ chồng ông B phải cho vợ chồng ông A vay tiền để trả ngân hàng và trang trải nợ nần.

Trước tình hình đó, vợ chồng ông A gợi ý bán căn nhà cho vợ chồng ông B. Sau nhiều lần thỏa thuận, hai bên đã lập bốn văn bản mua bán căn nhà có đầy đủ chữ ký của các bên nhưng không đem đi công chứng, chứng thực. Đang trong quá trình sang tên sổ đỏ, vợ chồng ông A lại làm đơn ra tòa yêu cầu hủy thỏa thuận mua bán căn nhà, buộc vợ chồng ông B phải trả lại nhà.

Qua các cấp xét xử, sơ thẩm rồi đến phúc thẩm, tòa án đều xác nhận việc mua bán căn nhà là có thực, song tuyên bố chấp nhận yêu cầu xin hủy thỏa thuận mua bán căn nhà của vợ chồng ông A và tuyên bố hợp đồng này vô hiệu. Lý do mà tòa án đưa ra là thỏa thuận mua bán căn nhà chưa được hai bên lập hợp đồng, công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật, vi phạm quy định về hình thức hợp đồng.

Tuyên bố hợp đồng mua bán căn nhà vô hiệu, tòa án buộc ông vợ chồng ông B phải trả lại căn nhà; ngược lại, vợ chồng ông A có nghĩa vụ trả lại cho vợ chồng ông B tiền bán căn nhà đã nhận.

Vi phạm về hình thức hợp đồng

Nhằm đảm bảo lợi ích công cộng, sự quản lý của nhà nước, lợi ích của các bên tham gia hợp đồng cũng như lợi ích của người khác, pháp luật quy định hợp đồng liên quan đến tài sản lớn phải được thể hiện dưới một dạng hình thức nhất định.

Continue reading

VỀ YẾU TỐ ƯNG THUẬN CỦA HỢP ĐỒNG (PHẦN 2)

TS. NGÔ HUY CƯƠNG – Khoa Luật, Đại học Quốc gia

Xem phần 1 > > >

2. 2. Lừa dối

Trong giao kết hợp đồng, lừa dối nhiều khi được xem như nhầm lẫn của một bên do bị bên kia hoặc người thứ ba cố ý gây nên. Vậy nên Bộ luật Dân sự 2005 quy định: “Lừa dối trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó” (Điều 132, đoạn 2). Quy định này cho thấy, trong sự đối chiếu với Điều 131 của Bộ luật Dân sự 2005, phạm vi được xác định rộng hơn bao gồm cả sự nhầm lẫn của một bên về chủ thể, đối tượng và nội dung của hợp đồng do bên kia cố ý gây nên. Giải thích cho vấn đề này, từ trước kia Vũ Văn Mẫu giải thích: đối với lừa dối vì là một sự nhầm lẫn do đối phương gây nên, do đó nhà làm luật chấp nhận tì ố này một cách không hạn chế bởi cần bảo vệ ý chí của người bị người khác lừa hơn là ý chí của người tự làm mình nhầm lẫn1. Các quy định vừa dẫn tại Điều 132, Bộ luật Dân sự 2005 có sự khác biệt về quan niệm lừa dối so với các quy định của Bộ luật Dân sự Pháp và của các Bộ luật Dân sự Việt Nam ở các chế độ cũ. Bộ luật Dân sự Pháp quy định:

“Sự lừa dối là căn cứ làm cho hợp đồng vô hiệu khi các thủ đoạn do một bên đã thực hiện mà nếu không có các thủ đoạn đó thì bên kia đã không ký kết hợp đồng.

Sự lừa dối không được suy đoán mà phải được chứng minh” (Điều 1116).

Quan niệm như vậy, Bộ luật Dân sự Bắc Kỳ qui định: “Khi nào có một bên lập mưu đánh lừa bên kia, đến nỗi giá không có mưu đó bên kia không giao – ước, thì sự đánh lừa đó là một duyên – cớ làm cho hiệp – ước vô – hiệu” (Điều thứ 659). Các quy định này được nhắc lại nguyên văn tại Điều thứ 695, Bộ luật Dân sự Trung Kỳ. Nhưng Bộ luật Dân sự 1972 được diễn giải lại với nội dung tương tự như sau: “Sự gian trá chỉ là một nguyên nhân là cho khế ước vô hiệu nếu những mưu gian, chước dối của một bên là nguyên nhân chính đã thúc đẩy bên khi kết ước” (Điều thứ 668).

Continue reading

CẦN ĐIỀU CHỈNH MỘT SỐ QUI ĐỊNH CỦA LUẬT CÔNG CHỨNG

NGUYỄN THỊ ĐÀO

Qua 2 năm thực hiện Luật Công chứng, hoạt động công chứng đã từng bước đáp ứng nhu cầu công chứng hợp đồng, giao dịch của cá nhân và tổ chức. Tuy nhiên, quá trình thực hiện Luật đã nảy sinh một số vướng mắc.

Thứ nhất, trường hợp yêu cầu công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản hoặc khai nhận di sản có đồng thừa kế là một số người hiện đang định cư tại nước ngoài. Người yêu cầu công chứng đã xuất trình các văn bản tặng, cho quyền hưởng di sản thừa kế, giấy ủy quyền… do cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam tại nước sở tại chứng thực, hoặc do Công chứng viên của nước sở tại công chứng và đã được hợp pháp hóa lãnh sự. Tuy nhiên, các cơ quan có thẩm quyền ở nước ngoài chỉ chứng nhận chữ ký trên các văn bản này mà không chứng nhận nội dung. Do đó đã nảy sinh hai luồng ý kiến khác nhau về vấn đề này, dẫn đến việc thực hiện không thống nhất. Ý kiến thứ nhất cho rằng, căn cứ vào khoản 2 Điều 142 Bộ luật Dân sự năm 2005 và Điều 16 Nghị định 138/2006/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành các quy định của Bộ luật Dân sự về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, các văn bản này phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam. Ý kiến khác lại yêu cầu các văn bản này nhất thiết phải được chứng nhận nội dung mới có giá trị sử dụng.

Thứ hai, trường hợp đất của những người đã định cư tại nước ngoài có nguyện vọng tặng cho con, cháu đang ở Việt Nam, hay chuyển nhượng nhưng chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở theo Nghị định số 60 của Chính phủ; chỉ có giấy tờ theo khoản 1, 2 Điều 50 Luật Đất đai, hoặc Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở được cấp theo quy định của pháp luật về nhà ở qua các thời kỳ, giấy chứng nhận tặng cho, đổi, thanh lý, hóa giá nhà ở, giấy tờ về thừa kế nhà ở, bản án, quyết định của Tòa án hoặc quyết định của cơ quan có thẩm quyền đã có hiệu lực pháp luật về sở hữu nhà ở. Theo quy định của Luật Đất đai và Luật Nhà ở, họ không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở. Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 2 Điều 66 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP “… người sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai vẫn được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho quyền sử dụng đất, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất” – tức là họ vẫn được thực hiện các quyền của người sử dụng đất. Tuy nhiên, do cách hiểu và áp dụng pháp luật chưa thống nhất giữa các cơ quan liên quan nên tại một số địa phương, hiện vẫn chưa giải quyết được các hồ sơ này.

Continue reading

HAI CẶP PHÂN LOẠI HỢP ĐỒNG CĂN BẢN

TS. NGÔ HUY CƯƠNG -  Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Tóm tắt. Phân loại hợp đồng thành hợp đồng song vụ và hợp đồng đơn vụ, hợp đồng có đền bù và hợp đồng không có đền bù có ý nghĩa to lớn trong xây dựng pháp luật và thực tiễn pháp lý. Tuy nhiên ở Việt Nam hiện nay, hai cặp phân loại này chưa được chú ý thích đáng. Bài giới thiệu nội dung chủ yếu của hai cặp phân loại này và bình luận pháp luật Việt Nam liên quan.

Phân loại hợp đồng có ý nghĩa quan trọng trong nghiên cứu, xây dựng pháp luật và thực tiễn pháp lý, và được nhìn nhận rất nghiêm túc bởi các luật gia trên thế giới. Tuy nhiên Bộ luật Dân sự 2005 mới chỉ dừng lại ở một số ít phân loại hợp đồng trong khi có rất nhiều cặp phân loại được đề cập tới ở các nền tài phán khác nhau. Cũng như vậy các giáo trình luật dân sự của các cơ sở đào tạo luật ở Việt Nam hiện nay, cũng như thực tiễn tư pháp chưa có sự chú ý thích đáng tới phân loại hợp đồng và việc sử dụng chúng. Để góp phần nghiên cứu về vấn đề này, bài viết này chỉ giới thiệu hai cặp phân loại hợp đồng căn bản.

1. Hợp đồng song vụ và hợp đồng đơn vụ

Luật dân sự Việt Nam từ trước tới nay tỏ ra đồng nhất trong việc coi phân loại hợp đồng song vụ và hợp đồng đơn vụ là phân loại đầu tiên được nhắc tới trong các Bộ luật Dân sự. Đó là các loại hợp đồng thông dụng theo quan niệm của Luật La Mã (luật nghiêm chính), theo đó hợp đồng đơn phương chỉ làm phát sinh nghĩa vụ đối với một bên trong hợp đồng (điển hình là hợp đồng vay mượn), cho nên gắn với nó là tố quyền condictio – tố quyền đòi lại đồ vật từ con nợ. Ngược lại hợp đồng song phương làm phát sinh hiệu lực với cả các bên đối ước, tức là họ có quyền và nghĩa vụ đối với nhau, nên gắn với nó là tố quyền judicia bonae fides [1]. Ngày nay Bộ luật Dân sự Québec (Canada) định nghĩa:

“Hợp đồng là ràng buộc hai bên, hay song phương, khi các bên tự ràng buộc mình một cách qua lại, mỗi bên đối với bên kia, để nghĩa vụ của một bên tương ứng với nghĩa vụ của bên kia.

Khi một bên tự ràng buộc mình với bên kia mà bên kia không có bất kỳ một nghĩa vụ nào về phần mình, thì hợp đồng đó là hợp đồng đơn phương” (Điều 1380).

Continue reading

CHẾ ĐỊNH HỢP ĐỒNG DÂN SỰ VÔ HIỆU TRƯỚC YÊU CẦU SỬA ĐỔI, BỔ SUNG BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005

THS. BÙI THỊ THANH HẰNG – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Theo Điều 121 Điều 410 Bộ Luật dân sự (BLDS) năm 2005 các quy định về giao dịch dân sự vô hiệu cũng được áp dụng đối với hợp đồng vô hiệu. Tuy nhiên, những điều kiện về hợp đồng dân sự vô hiệu không được qui định chi tiết mà được chỉ dẫn đến các qui định có liên quan của Bộ luật. Do vậy, bài viết đã xem xét hợp đồng dân sự vô hiệu trên cơ sở các phân tích trong mối liên hệ chặt chẽ với những quy định khác trong toàn bộ các qui định của BLDS 2005 như: định nghĩa hợp đồng dân sự vô hiệu; vi phạm điều kiện để hợp đồng dân sự có hiệu lực; hậu quả pháp lý của hợp đồng dân sự vô hiệu và thời điểm xác định thời hạn yêu cầu tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu… Trên cơ sở đó bài viết đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện chế định này.

1. Đặt vấn đề *

Theo Điều 121 BLDS 2005 hợp đồng dân sự là một dạng của giao dịch dân sự, theo logic này Điều 410 BLDS năm 2005 qui định: “Các quy định về giao dịch dân sự vô hiệu từ Điều 127 đến Điều 138 của BLDS 2005 cũng được áp dụng đối với hợp đồng vô hiệu”.

Như vậy, những hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự như: các bên phải “khôi phục lại tình trạng ban đầu” như khi chưa xác lập hợp đồng, “các bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận…” và “bên có lỗi phải bồi thường” được qui định tại Điều 137 BLDS 2005 cũng được áp dụng đối với hợp đồng dân sự vô hiệu với sự dẫn chiếu đến các các chế định khác của BLDS như quyền sở hữu, được lợi không có căn cứ pháp luật, thực hiện công việc không có ủy quyền và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

Theo Điều 127 BLDS 2005 một hợp đồng “không có” một trong các điều kiện được qui định tại Điều 122 của BLDS 2005 thì vô hiệu(1). Tuy nhiên, những điều kiện này không được qui định chi tiết mà được chỉ dẫn đến các qui định có liên quan của Bộ luật. Do vậy, khi xem xét vấn đề hợp đồng dân sự vô hiệu cần có sự liên hệ chặt chẽ với những quy định khác trong tổng thể BLDS 2005.

Continue reading

VỀ YẾU TỐ ƯNG THUẬN CỦA HỢP ĐỒNG (PHẦN 1)

TS. NGÔ HUY CƯƠNG – Khoa Luật, Đại học Quốc gia

Từ thời cổ đại, Gaius đã nhận định “Phàm nghĩa vụ đều do các khế ước hay các dân sự phạm phát sinh ra”1. Điều đó có nghĩa, hợp đồng là một nguồn gốc quan trọng của nghĩa vụ, mà có thể hiểu: chính nó – nghĩa vụ, là một trọng đề của pháp luật, là một chế định (hay tiểu phân ngành luật) nằm ở vị trí trung tâm của luật tư. Các ngành luật khác ít hay nhiều đều có sự vay mượn các kỹ thuật pháp lý có được từ việc nghiên cứu hợp đồng.

Nhấn mạnh hơn tới ý nghĩa pháp lý của hợp đồng, có tác giả định nghĩa hợp đồng là sự thống nhất ý chí nhằm xác lập các nghĩa vụ hay chuyển giao các quyền sản nghiệp (như các quyền đối vật, quyền đối nhân hay quyền sở hữu trí tuệ hay các quyền vô hình khác) từ người này sang người khác2. Có lẽ vì thế, các luật gia trước hết phải có những tri thức căn bản và hệ thống về luật hợp đồng. Các thương nhân, cũng như các nhà kinh tế học cũng cần phải có tri thức về hợp đồng ở mức độ nhất định, bởi “hợp đồng là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế thị trường”3. Nhưng trước hết cần phải hiểu hạt nhân quan trọng nhất của hợp đồng là sự ưng thuận.

1. Khái niệm về yếu tố ưng thuận của hợp đồng

Bởi hợp đồng từ thời La Mã cổ đại đã được xem là sự đồng thuận hay hiệp ý (consensus)4, cho nên sự ưng thuận của các bên kết ước bao giờ cũng được cho là điều kiện hay thành tố đầu tiên của hợp đồng. Reinhard Zimmermann xác nhận rằng, trong luật hợp đồng hiện đại, ưng thuận là khái niệm hạt nhân5. Khác hơn, Bộ luật Dân sự 2005 của Việt Nam coi năng lực giao kết hợp đồng là yếu tố đầu tiên để áp đặt điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, còn yếu tố tự nguyện được xếp ở hàng thứ ba. Trong một chừng mực nhất định có thể nói, năng lực giao kết hợp đồng là một bộ phận hay một phần không thể không xem xét đến của thành tố ưng thuận. Có lẽ vì thế mà Bộ luật Dân sự Tây Ban Nha không đề cập tới năng lực giao kết hợp đồng trong khi nói tới các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, mà chỉ nói tới nó khi phân tích điều kiện ưng thuận – một điều kiện có hiệu lực đầu tiên của hợp đồng theo Bộ luật này.

Continue reading

TÌM HIỂU CHẾ ĐỊNH HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM

LS. VŨ HƯƠNG THẢO

Trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm thì hợp đồng bảo hiểm là một nội dung cơ bản, quan trọng và không thể thiếu. Có lẽ vì thế mà trong Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (Luật KDBH), đã quy định về Hợp đồng bảo hiểm ở ngay chương II của luật sau phần những quy định chung. Trong bộ luật dân sự năm 2005 (BLDS) cũng đã có một mục quy định về Hợp đồng bảo hiểm và coi đây là một loại hợp đồng thông dụng. Tuy nhiên, trong Luật KDBH và Bộ luật dân sự có những quy định về hợp đồng bảo hiểm là chưa thống nhất và còn một số bất cập.

Cụ thể:

1.Chế định Hợp đồng bảo hiểm trong Luật KDBH có những quan điểm đúng đắn và phù hợp với thực tiễn hoạt động bảo hiểm hơn so với Bộ luật dân sự.

Khoản 1 điều 12 Luật kinh doanh bảo hiểm định nghĩa: "Hợp đồng bảo hiểm là sự thỏa thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm". Định nghĩa này có độ chênh so với định nghĩa về hợp đồng bảo hiểm được quy định tại Điều 567 Bộ luật dân sự 2005: "Hợp đồng bảo hiểm là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, còn bên bảo hiểm phải trả một khoản tiền bảo hiểm cho bên được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm". Qua hai định nghĩa này có thể thấy sự mâu thuẫn trong quan điểm về đối tượng được nhận tiền bảo hiểm, trong luật kinh doanh bảo hiểm đối tượng được nhận tiền bảo hiểm là người thụ hưởng hoặc người được bảo hiểm, Bộ luật dân sự không quy định về người thụ hưởng mà chỉ quy định về bên được bảo hiểm và trong luật cũng không làm rõ hơn về khái niệm bên được bảo hiểm.

Đi sâu tìm hiểu có thể thấy từ quan điểm khác nhau về đối tượng bảo hiểm dẫn đến định nghĩa khác nhau, và các quy định cụ thể về trả tiền bảo hiểm cũng khác nhau. Điều 578 Bộ luật dân sự 2005 quy định như sau về bảo hiểm tính mạng: "Trong trường hợp bảo hiểm tính mạng thì khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, bên bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho bên được bảo hiểm hoặc người đại diện theo uỷ quyền của họ; nếu bên được bảo hiểm chết, thì tiền bảo hiểm được trả cho người thừa kế của bên được bảo hiểm".

Continue reading

ĐỂ TUYÊN BỐ HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU CHÍNH XÁC

LÊ TRỌNG DŨNG – Văn phòng Luật sư Gia Phạm

Sự ra đời của Bộ luật Dân sự 2005 với những kế thừa các quy định pháp luật trước đây về hợp đồng vô hiệu, cùng với sự tiếp thu kinh nghiệm pháp luật trên thế giới đã phần nào khắc phục tình trạng nhiều hợp đồng bị tuyên vô hiệu một cách không cần thiết.

Tuy nhiên, bên cạnh những tiến bộ, một số quy định không rõ ràng và cách vận dụng pháp luật thiếu linh hoạt đã dẫn đến tình trạng Nhà nước can thiệp quá mức vào tự do hợp đồng, gây không ít hậu quả xấu cho các bên liên quan. Để tuyên bố hợp đồng vô hiệu một cách chính xác, có sức thuyết phục, cần hướng tới các vấn đề sau:

Tôn trọng tự do hợp đồng

Để đánh giá mức độ hoàn thiện pháp luật hợp đồng của một quốc gia, người ta thường xem xét các giá trị của tự do hợp đồng. Tự do hợp đồng được hiểu là khi tham gia quan hệ hợp đồng, các bên được tự do lựa chọn đối tác, tự do chọn loại hình hợp đồng thích hợp để đạt mục tiêu, tự do xác lập các điều khoản và tự do quyết định có giao kết hợp đồng hay không.

Một số người cho rằng để bảo vệ quyền tự do của người khác và lợi ích của cộng đồng nên phải hạn chế tự do hợp đồng. Và tự do hợp đồng bị vô hiệu khi các bên tham gia hợp đồng có thỏa thuận vi phạm trật tự công, đạo đức xã hội hoặc các bên tham gia hợp đồng không hoàn toàn tự nguyện.

Nhưng có lẽ tự do hợp đồng chỉ có một giá trị nổi bật nhất là hạn chế sự can thiệp của cơ quan có thẩm quyền vào tự do của công dân. Do đó, cần đảm bảo tự do hợp đồng của các bên trong quan hệ hợp đồng, đồng thời có những quy định pháp luật hạn chế ở mức thích đáng tự do hợp đồng nhằm bảo đảm trật tự công và đạo đức xã hội.

Continue reading

MỘT SỐ LƯU Ý ĐỂ HẠN CHẾ RỦI RO KHI GIAO KẾT HỢP ĐỒNG QUA FAX

Legal.moit.gov.vn – Hợp đồng qua fax đã được coi là có giá trị pháp lý tương đương với hợp đồng bằng văn bản. Vì vậy, hiện nay các doanh nghiệp thực hiện giao dịch ký kết hợp đồng qua fax khá phổ biến. Tuy nhiên, khi giao kết hợp đồng qua fax có rất nhiều các rủi ro có thể xảy ra như: nguy cơ giả mạo, dữ liệu qua fax bị thất lạc gây rò rỉ thông tin, giá trị pháp lý của tài liệu giao dịch qua fax dễ bị các bên phủ nhận… Do vậy, khi giao kết hợp đồng qua fax, để hạn chế rủi ro, các doanh nghiệp cần lưu ý:

Thứ nhất, phải có một thỏa thuận chi tiết về giao kết hợp đồng qua fax phù hợp với Luật Giao dịch điện tử.

Thứ hai, mỗi bên phải có hệ thống kiểm soát nội bộ về giao dịch qua fax, bao gồm nhân lực, phương tiện và qui chế quản lý. Nhân lực tham gia phải thực sự trung thực, cẩn trọng và mẫn cán. Phương tiện phải hiện đại bảo đảm chất lượng, qui chế quản lý phải chặt chẽ và đầy đủ.

Thứ ba, các bên phải thống nhất được với nhau về trình tự, thủ tục giao kết hợp đồng qua fax trong đó phải thỏa thuận rõ về điều kiện để tài liệu giao dịch qua fax có hiệu lực, tính toàn vẹn của dữ liệu, qui trình khởi tạo dữ liệu qua fax, qui trình gửi, qui trình nhận, xác nhận việc gửi nhận, địa điểm gửi, địa điểm nhận, thời điểm tài liệu giao dịch qua fax có hiệu lực, qui tắc bảo mật thông tin, trách nhiệm bồi thường thiệt hại…

Thứ tư, các bên phải đăng ký với nhau về mẫu dấu công ty, mẫu dấu chức danh, chữ ký của người có thẩm quyền ký hợp đồng, tên và nhân thân của nhân viên giao dịch của hai bên, số fax sử dụng để giao dịch, địa điểm giao dịch, số điện thoại, địa chỉ email liên hệ…

Thứ năm, các bên phải có bản gốc để đối chiếu và phải có nguyên tắc giải quyết mâu thuẫn giữa bản gốc và bản fax tùy theo tính chất của từng giao dịch.

Continue reading

VI PHẠM CƠ BẢN HỢP ĐỒNG

TS. NGUYỄN MINH HẰNG – Đại học ngoại thương Hà Nội

Nếu không vì lý do bất khả kháng, người bán không nên tự tuyên bố ngừng thực hiện hợp đồng

Khi một bên vi phạm hợp đồng và vi phạm đó là vi phạm cơ bản thì bên kia có quyền hủy hợp đồng. Thực tiễn tranh chấp trong kinh doanh quốc tế cho thấy không dễ dàng để xác định đâu là vi phạm cơ bản.

Tranh chấp giữa Bên mua là các Cty của Argentina và của Hungary, Bên bán là một Cty của Nga. Bên mua kiện bên bán đã vi phạm cơ bản hợp đồng vì đã không giao hàng như cam kết. Bên bán cho rằng Bên mua đã vi phạm cơ bản hợp đồng vì đã chậm thanh toán. Tranh chấp được xét xử tại Hội đồng trọng tài Zurich, phán quyết tuyên ngày 31/5/1996. Công ước Vienna năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (sau đây gọi tắt là CISG) đã được áp dụng.

Diễn biến tranh chấp

Từ năm 1991, người bán Nga (một tổ chức của Chính phủ) ký kết một số hợp đồng bán nhôm cho một số người mua có trụ sở kinh doanh ở Argentina và Hungary (bên mua). Việc giao hàng được tiến hành đúng thời hạn cho tới khi Cty người bán chuyển quyền sở hữu cho một Cty tư nhân của Nga. Cty này ngay lập tức tuyên bố sẽ không tiếp tục thực hiện việc giao hàng. Trong quá trình trao đổi thư từ giữa hai bên sau đó, bên mua lưu ý rằng, họ sẽ phải chịu những thiệt hại nặng nề nếu như hàng hoá không được giao đúng hạn. Bên bán đưa ra hoá đơn theo đó ghi rõ số tiền cụ thể đòi bên mua phải thanh toán theo nhiều chuyến hàng trước đó. Bên bán cho rằng, việc bên mua trì hoãn thanh toán tiền hàng những lô hàng trước dẫn tới vi phạm cơ bản nghĩa vụ của bên mua, do vậy, bên bán có quyền từ chối thực hiện hợp đồng. Bên mua đề nghị đàm phán để giải quyết tranh chấp nhưng bên bán từ chối. Bên mua đã kiện bên bán ra trọng tài đòi bồi thường các khoản thiệt hại phát sinh do không giao hàng.

Continue reading

SỰ KIỆN BẤT KHẢ KHÁNG VÀ MỘT VÀI LƯU Ý TRONG THỰC TIỄN ÁP DỤNG

 ĐỖ MINH TUẤN – Công ty Luật Châu Á (AsiaLaw)

Thực hiện nghiêm chỉnh hợp đồng là nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng và cũng là một nguyên tắc luật định. Tuy nhiên, không phải lúc nào hợp đồng cũng được thực hiện một cách suôn sẻ hoặc hoàn hảo. Vẫn có những biến cố xẩy ra làm ảnh hưởng đến quá trình thực hiện hợp đồng của các bên. Trong đó có những sự cố nằm ngoài khả năng dự đoán và kiểm soát của các bên, và xẩy ra không phải do lỗi của các bên. Khi những sự cố này làm cho một bên không thể thực hiện đúng hoặc đầy đủ nghĩa vụ của mình thì vấn đề trách nhiệm sẽ ra sao? Hợp đồng có nên tiếp tục được thực hiện hay không? Là những câu hỏi sẽ được giải đáp bởi cơ chế "sự kiện bất khả kháng" trong luật hợp đồng.

1. Sự kiện bất khả kháng

Ngày 10/10/2008, Công ty A (Việt Nam) ký hợp đồng xuất khẩu dưa chuột cho công ty B (Singapore), thời hạn giao hàng là 30 ngày kể từ ngày mở L/C không huỷ ngang. Ngày 20/10/2008, Ngân hàng công ty B mở L/C không huỷ ngang cho người thụ hưởng là Công ty A. Nhưng mãi đến tận 15/01/2009, Công ty A vẫn không giao hàng cho Công ty B. Công ty B khiếu nại thì Công ty A trả lời rằng do trong thời gian tháng 11/2008, lũ lụt xẩy ra ở khu vực Bắc Bộ của Việt Nam ảnh hưởng đến vụ mùa dưa chuột, nên không thể gom đủ hàng giao cho Công ty B, vì vậy Công ty A đề xuất hoàn trả lại tiền cho Công ty B và đề nghị được miễn trách nhiệm vì lý do bất khả kháng. Vấn đề đặt ra là sự kiện lũ lụt ở khu vực Bắc Bộ có phải là sự kiện bất khả kháng trong trường hợp này hay không?

Ngày 15/12/2009, Công ty A của Việt Nam ký hợp đồng xuất khẩu lô hải sản sang EU cho công ty B có trụ sở tại EU. Theo quy định của Hợp đồng thì hàng phải được giao tại cảng của EU trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày mở L/C không huỷ ngang. Ngày 25/12/2009, Ngân hàng công ty B mở L/C không huỷ ngang cho người thụ hưởng là Công ty A. Tuy nhiên hàng đến chậm so với dự kiện 20 ngày, Công ty A nại lý do hàng đến chậm vì việc cơ quan hành chính Việt Nam còn lúng túng trong việc triển khai cấp giấy chứng nhận khai thác theo quy chế IUU của EU nên thủ tục hành chính chậm chạp dẫn đến việc hàng đến chậm so với dự kiến và đề nghị được miễn trách nhiệm do sự kiện bất khả kháng. Vậy việc cơ quan hành chính Việt Nam túng túng, chậm trễ trong việc triển khai thủ tục cấp giấy chứng nhận khai thác theo quy chế IUU của EU có phải là sự kiện bất khả kháng hay không?

Continue reading

VƯỚNG MẮC TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY MUA NHÀ

NGUYỄN PHƯƠNG MINH – Vietcombank

Trong thời gian gần đây, các ngân hàng thương mại (NHTM) nước ta đã đẩy mạnh việc cung ứng các sản phẩm ngân hàng bán lẻ trong đó có nghiệp vụ cho vay mua nhà trả góp. Đối tượng khách hàng nhắm đến của nghiệp vụ này thường là các cặp vợ chồng trẻ, hoặc các gia đình có mức thu nhập trung bình chưa đủ khả năng mua nhà.

Tuy nhiên, đối với bất kỳ NHTM nào thì điều kiện tiên quyết khi cung cấp sản phẩm này là người mua nhà phải thế chấp ngôi nhà sẽ mua cho ngân hàng cho đến khi nợ vay được thanh toán đầy đủ. Vấn đề đặt ra ở đây, là vào thời điểm ký hợp đồng thế chấp với ngân hàng, người mua chưa có quyền sở hữu đối với căn nhà đó.

Câu chuyện sẽ rất đơn giản nếu chúng ta áp dụng điều 320 Bộ luật Dân sự 2005, theo đó “vật dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là vật hiện có hoặc được hình thành trong tương lai. Vật hình thành trong tương lai là động sản, bất động sản thuộc sở hữu của bên bảo đảm sau thời điểm nghĩa vụ được xác lập hoặc giao dịch bảo đảm được giao kết”.

Theo hướng dẫn tại điều 4 Nghị định 163/2006/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm thì “Tài sản hình thành trong tương lai bao gồm cả tài sản đã được hình thành tại thời điểm giao kết giao dịch bảo đảm, nhưng sau thời điểm giao kết giao dịch bảo đảm mới thuộc sở hữu của bên bảo đảm”.

Căn cứ theo các quy định này ngân hàng và bên vay (bên mua nhà) có thể tiến hành ký kết hợp đồng thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai. Với việc ký kết hợp đồng này các quyền lợi của ngân hàng với tư cách là bên nhận thế chấp đã được bảo đảm.
Tại điều 8 Nghị định 163 quy định: “Đối với tài sản pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu mà bên bảo đảm chưa đăng ký thì bên nhận bảo đảm vẫn có quyền xử lý tài sản khi đến hạn xử lý”.

Continue reading

BÀN VỀ KHÁI NIỆM VÀ CÁC ĐIỀU KIỆN CỦA CHẤP NHẬN GIAO KẾT HỢP ĐỒNG THEO BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005

TS. NGÔ HUY CƯƠNG – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Đề nghị và chấp nhận là các khái niệm luôn luôn đi liền với nhau trong việc nghiên cứu về giao kết hợp đồng, bởi chúng là các thành tố của sự thỏa thuận. Các nguyên tắc của Unidroit về hợp đồng thương mại quốc tế 1994 và 2004 đề xác định ngay đầu tiên khi nói về giao kết hợp đồng, tại các Điều 2.1 và Điều 2.1.1 tương ứng, với nội dung không thay đổi là: “Một hợp đồng có thế giảo kết hoặc bởi sự chấp nhận một đề nghị hoặc bởi cách hành xử của các bên mà đủ để thể hiện sự thỏa thuận”.

Bộ luật Dân sự năm 2005 định nghĩa:”Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là sự trả lời của bên được đề nghị đối với bên đề nghị về việc chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị”(Điều 396). Định nghĩa này được đưa ra có tính cách ứng dụng cho các trường hợp cụ thể theo pháp luật ViệtNam, nên bao hàm trong nó cả điều kiện của chấp nhận. Các nguyên tắc của Unidroit về hợp đồng thương mại quốc tế 1994 và 2004 đều định nghĩa: “Một tuyên bố hoặc cách hành xử khác nhau của người được đề nghị cho biết sự đồng ý với đề nghị là chấp nhận. Sự im lặng hoặc không hành động tự bản thân nó không có nghĩa là chấp nhận”(Điều 2.6 và Điều 2.1.6 tương ứng). Định nghĩa này của Unidroit đã khai thác bản chất của chấp nhận là sự đồng ý với đề nghị của người khác đối với mình và nói rõ cách thức chấp nhận hay hình thức của chấp nhận, có nghĩa là phương thức bộc lộ sự đồng ý ra bên ngoài. Tại đó đã không đề cập tới các điều kiện của chấp nhận, có lẽ bởi chấp nhận có nhiều điều kiện để có hiệu lực mà chúng ta có dịp nó tới đây.

Sự chấp nhận có thể chia thành ba loại cơ bản căn cứ vào hình thức của nó là: (1) Chấp thuận rõ ràng, cụ thể như trường hợp tuyên bố rõ ý chí ưng thuận với đề nghị, hoặc (2) Chấp nhận thông qua cách hành xử ngụ ý về sự chấp nhận, hoặc (3) Im lặng hay không hành động. Giống như khi phân tích hình thức hợp đồng, chấp nhận cũng có hình thức biểu hiện như vậy chứng minh cho sự chấp nhận. Các hình thức đó bao gồm văn bản, lời nói, cử chỉ hay hành động, hoặc sự im lặng hay không hành động. Bộ luật Dân sự năm 2005 qui định ba hình thức đầu nói trên là hình thức của hợp đồng tại Điều 401, khoản 1. Còn hình thức thứ ba được nói một cách xa xôi tại Điều 404, khoản 2, có nghĩa là người được đề nghị có thể bằng sự im lặng của mình ngụ ý về sự chấp nhận đề nghị, tuy nhiên với điều kiện là phải có thỏa thuận im lặng là chấp nhận. Vấn đề này sẽ được nói lại dưới đây.

Continue reading

SỬA ĐỔI BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005: VẤN ĐỀ CẢI CÁCH HỢP ĐỒNG

PGS.TS. PHẠM HỮU NGHỊ – Tạp chí Nhà nước và Pháp luật Viện Khoa học Xã hội Việt Nam

1. Mối quan hệ giữa chế định hợp đồng trong Bộ luật Dân sự hiện hành với chế định hợp đồng trong Luật Thương mại và các luật chuyên ngành

1.1 Quan niệm chung về hợp đồng

Hợp đồng được định nghĩa là sự thỏa thuận giữa các chủ thể nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ trong những quan hệ xã hội cụ thể. Dù được hình thành trong lĩnh vực quan hệ xã hội nào thì hợp đồng luôn có những điểm chung sau đây:

– Trong các hợp đồng yếu tố cơ bản nhất là sự thỏa hiệp giữa các ý chí, tức là có sự ưng thuận giữa các bên với nhau. Người ta thường gọi nguyên tắc này là nguyên tắc hiệp ý. Nguyên tắc hiệp ý là kết quả tất yếu của tự do hợp đồng: khi giao kết hợp đồng các bên được tự do quy định nội dung hợp đồng, tự do xác định phạm vi quyền và nghĩa vụ của các bên. Đương nhiên tự do hợp đồng không phải là tự do tuyệt đối. Nhà nước buộc các bên khi giao kết hợp đồng phải tôn trọng đạo đức, trật tự xã hội, trật tự công cộng. Trong những trường hợp thật cần thiết, nhân danh tổ chức quyền lực công, nhà nước có thể can thiệp vào việc ký kết hợp đồng và do đó giới hạn quyền tự do giao kết hợp đồng. Tuy nhiên sự can thiệp này phải là sự can thiệp hợp lý và được pháp luật quy định chặt chẽ để tránh sự lạm dụng, vi phạm quyền tự do hợp đồng.

Trong nền kinh tế thị trường hiện nay yếu tố thỏa thuận trong giao kết hợp đồng được đề cao. Tất cả các hợp đồng đều là sự thỏa thuận. Tuy nhiên không thể suy luận ngược lại: Mọi sự thỏa thuận của các bên đều là hợp đồng. Chỉ được coi là hợp đồng những thỏa thuận thực sự phù hợp với ý chí của các bên, tức là có sự ưng thuận đích thực giữa các bên. Hợp đồng phải là giao dịch hợp pháp do vậy sự ưng thuận ở đây phải là sự ưng thuận hợp lẽ công bằng, hợp pháp luật, hợp đạo đức. Các hợp đồng được giao kết dưới tác động của sự lừa dối, cưỡng bức hoặc mua chuộc là không có sự ưng thuận đích thực. Những trường hợp có sự lừa dối, đe dọa, cưỡng bức thì dù có sự ưng thuận cũng không được coi là hợp đồng, tức là có sự vô hiệu của hợp đồng. Như vậy, một sự thỏa thuận không thể hiện ý chí thực của các bên thì không phát sinh các quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên.

Continue reading

TÌM HIỂU VỀ CHẾ ĐỊNH HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM

LS. VŨ HƯƠNG THẢO

Trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm thì hợp đồng bảo hiểm là một nội dung cơ bản, quan trọng và không thể thiếu. Có lẽ vì thế mà trong Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (Luật KDBH), đã quy định về Hợp đồng bảo hiểm ở ngay chương II của luật sau phần những quy định chung. Trong bộ luật dân sự năm 2005 (BLDS) cũng đã có một mục quy định về Hợp đồng bảo hiểm và coi đây là một loại hợp đồng thông dụng. Tuy nhiên, trong Luật KDBH và Bộ luật dân sự có những quy định về hợp đồng bảo hiểm là chưa thống nhất và còn một số bất cập.

Cụ thể:

1. Chế định Hợp đồng bảo hiểm trong Luật KDBH có những quan điểm đúng đắn và phù hợp với thực tiễn hoạt động bảo hiểm hơn so với Bộ luật dân sự.

Khoản 1 điều 12 Luật kinh doanh bảo hiểm định nghĩa: "Hợp đồng bảo hiểm là sự thỏa thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm". Định nghĩa này có độ chênh so với định nghĩa về hợp đồng bảo hiểm được quy định tại Điều 567 Bộ luật dân sự 2005: "Hợp đng bảo hiểm là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, còn bên bảo hiểm phải trả một khoản tiền bảo hiểm cho bên được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm". Qua hai định nghĩa này có thể thấy sự mâu thuẫn trong quan điểm về đối tượng được nhận tiền bảo hiểm, trong luật kinh doanh bảo hiểm đối tượng được nhận tiền bảo hiểm là người thụ hưởng hoặc người được bảo hiểm, Bộ luật dân sự không quy định về người thụ hưởng mà chỉ quy định về bên được bảo hiểm và trong luật cũng không làm rõ hơn về khái niệm bên được bảo hiểm.

Đi sâu tìm hiểu có thể thấy từ quan điểm khác nhau về đối tượng bảo hiểm dẫn đến định nghĩa khác nhau, và các quy định cụ thể về trả tiền bảo hiểm cũng khác nhau. Điều 578 Bộ luật dân sự 2005 quy định như sau về bảo hiểm tính mạng: "Trong trường hợp bảo hiểm tính mạng thì khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, bên bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho bên được bảo hiểm hoặc người đại diện theo uỷ quyền của họ; nếu bên được bảo hiểm chết, thì tiền bảo hiểm được trả cho người thừa kế của bên được bảo hiểm". Tuy nhiên, Điều 38 Luật KDBH lại quy định, người thụ hưởng là người được bên mua bảo hiểm chỉ định nhận tiền bảo hiểm trong bảo hiểm con người và người thụ hưởng có thể không phải là người được bảo hiểm. Như vậy, có thể thấy theo Luật dân sự 2005, nếu bên được bảo hiểm chết thì tiền bảo hiểm phải trả cho người thừa kế của họ, còn trong Luật kinh doanh bảo hiểm thì lại trả cho người thụ hưởng mà người thụ hưởng thì có thể là người thừa kế, một trong các người thừa kế hoặc không phải là người thừa kế. Từ mâu thuẫn như vậy, chắc chắn không tránh khỏi những tranh chấp trong thực tế.

Continue reading

ĐỂ TRÁNH LẠM DỤNG TUYÊN HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU

TS. NGUYỄN QUỐC VINH

Tiếp theo vấn đề hợp đồng phù hợp hay vô hiệu của TBKTSG số 9-2010 ra ngày 25-2-2010, bài viết này của TS. Nguyễn Quốc Vinh sẽ phân tích về nguồn gốc học thuyết yêu cầu pháp nhân phải kinh doanh trong phạm vi đang ký kinh doanh (ĐKKD) trên thế giới, lược sử áp dụng quy định tại Việt Nam và đưa ra những khuyến nghị để giải quyết vấn đề này.

Nguồn gốc của học thuyết ultra vires

Học thuyết yêu cầu doanh nghiệp phải kinh doanh trong phạm vi ĐKKD và trong văn kiện thành lập công ty, bao gồm điều lệ (Articles of Association) và thỏa thuận thành lập (Memorandum of Association), được hiểu chung trên thế giới là học thuyết về ultra vires (doctrine of ultra vires).

Học thuyết này có nguồn gốc từ nước Anh. “Ultra” theo tiếng La tinh có nghĩa là vượt quá còn “vires” có nghĩa là thẩm quyền của một người. Học thuyết được áp dụng phổ biến nhất trong pháp luật công ty với nghĩa là hành vi vượt quá phạm vi hoạt động kinh doanh của công ty mà đã được nêu trong văn kiện thành lập công ty.

Về lịch sử, học thuyết ultra vires được áp dụng đầu tiên tại Anh đối với công ty thành lập theo các đạo luật của Nghị viện (Acts of Parliament). Tuy nhiên, học thuyết chỉ bắt đầu được áp dụng phổ biến sau sự ban hành Đạo luật về công ty cổ phần năm 1856 (Joint Stock Company Act 1856).

Khi ban hành đạo luật này, các nhà lập pháp Anh quốc có suy nghĩ rằng một khi cho phép trách nhiệm của cổ đông là hữu hạn thì chủ nợ của công ty sẽ không được đảm bảo. Bởi vì, cổ đông trong công ty có thể lạm dụng địa vị trách nhiệm hữu hạn để trốn tránh trách nhiệm cá nhân của mình. Vì lẽ đó, để bảo vệ chủ nợ và cổ đông tương lai, đạo luật về công ty cổ phần 1856 yêu cầu rằng trong thỏa thuận thành lập, các cổ đông phải có điều khoản về phạm vi hoạt động (object clause) của công ty, trong đó liệt kê các lĩnh vực kinh doanh của công ty.

Continue reading

THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG: PHÙ HỢP HAY VÔ HIỆU?

NGUYÊN TẤN

Một vụ việc tranh chấp khá đơn giản nhưng gây tranh cãi khi tòa cấp sơ thẩm công nhận hợp đồng ký kết giữa các bên là phù hợp pháp luật; ngược lại tòa cấp phúc thẩm thì tuyên hợp đồng ấy là vô hiệu.

Sơ thẩm một đằng, phúc thẩm một nẻo

Năm 2008, vợ chồng ông A (*) – chủ một doanh nghiệp ký hợp đồng dịch vụ thuê Công ty TNHH B(*) làm đại diện ủy quyền để thay mặt mình đàm phán, thương thuyết, giải quyết trục trặc trong một thương vụ chuyển nhượng đất đai có giá trị lên tới 50 tỉ đồng mà vợ chồng ông A là bên nhận chuyển nhượng. Vợ chồng ông A đồng ý trả cho Công ty TNHH B khoản chi phí dịch vụ số tiền cũng không nhỏ: 300 triệu đồng!

Trong lúc công việc ủy quyền đang được tiến hành theo thỏa thuận thì bất ngờ vợ chồng ông A cắt hợp đồng, đồng thời đâm đơn kiện đòi lại số tiền trên với lý do Công ty TNHH B không có chức năng để thực hiện dịch vụ nói trên.

Tại phiên tòa sơ thẩm ngày 27-8-2009, TAND quận Phú Nhuận xác định: hợp đồng giữa vợ chồng ông A và Công ty TNHH B “là hợp đồng dân sự về dịch vụ phù hợp về hình thức lẫn nội dung được quy định tại Bộ luật Dân sự”. Việc nguyên đơn đơn phương chấm dứt hợp đồng là vi phạm thỏa thuận mà các bên đã ký kết. Trên cơ sở phân tích này, án sơ thẩm đã bác yêu cầu đòi lại số tiền 300 triệu của vợ chồng ông A.

Thế nhưng, ở cấp phúc thẩm phiên tòa ngày 10-12-2009 lại xử theo hướng hoàn toàn ngược lại mà phần thắng thuộc về bên nguyên đơn.

Án phúc thẩm lập luận rằng theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Công ty TNHH B được phép kinh doanh các ngành nghề như tư vấn đầu tư, tư vấn kinh tế, dịch vụ thương mại, kinh doanh nhà, xây dựng nhà và nhiều ngành nghề khác nhưng không có ngành nghề nào như hợp đồng dịch vụ đã ký với ông bà A (tức đại diện ủy quyền). Các dịch vụ thương mại theo Luật Thương mại cũng không có nội dung nào quy định như hợp đồng các bên đã ký kết.

Continue reading

PHÂN LOẠI HỢP ĐỒNG VÀ NGUYÊN TẮC KHI GIAO KẾT HỢP ĐỒNG

THS. NGUYỄN THỊ GIANG & NGUYỄN MAI HẠNH

Để tồn tại và phát triển, cá nhân hay tổ chức đều phải tham gia vào nhiều mối quan hệ xã hội khác nhau, trong đó việc các bên thiết lập với nhau những quan hệ để qua đó chuyển giao cho nhau các lợi ích vật chất nhất định nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng, đóng vai trò quan trọng và là tất yếu đối với đời sống xã hội. Song, việc chuyển giao các lợi ích này không phải tự nhiên thiết lập mà chỉ được hình thành khi có hành vi có ý chí của của chủ thể, như C. Mác đã từng nói: "Tự chúng, hàng hoá không thể đi đến thị trường và trao đổi với nhau được. Muốn cho những vật đó trao đổi với nhau, thì những người giữ chúng phải đối xử với nhau như những người mà ý chí nằm trong các vật đó"[1].

Theo đó, chỉ khi có sự thể hiện và thống nhất ý chí giữa các bên, thì quan hệ trao đổi lợi ích vật chất mới được hình thành và được gọi là hợp đồng dân sự. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển chung của xã hội, của việc giao lưu, buôn bán, hợp tác kinh tế, thương mại, đã dẫn đến việc hình thành rất nhiều quan hệ hợp đồng giữa các chủ thể khác nhau như hợp đồng kinh tế, hợp đồng lao động… Theo đó, hợp đồng theo nghĩa chung nhất được hiểu là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong những quan hệ cụ thể.

Trong pháp luật tư sản, chế định hợp đồng tồn tại trong lĩnh vực công pháp và tư pháp, song đặc biệt phát triển trong lĩnh vực tư pháp. Điều 1101 Bộ luật Dân sự Napoleon quy định, hợp đồng là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó một hoặc nhiều người cam kết với một hoặc nhiều người khác về việc chuyển giao một vật, làm hoặc không làm một công việc nào đó.[2] Trên cơ sở kế thừa những hạt nhân hợp lý, khoa học của khái niệm này, tại Điều 1101 Bộ luật Dân sự Pháp hiện hành cũng đưa ra định nghĩa tương tự như vậy về hợp đồng.[3]

Trước hết, theo PGS.TS Thái Vĩnh Thắng, thì cần phải phân biệt hai loại hợp đồng là hợp đồng hành chính và hợp đồng dân sự. Bởi hai loại hợp đồng phải tuân theo chế độ pháp lý khác nhau và khi có tranh chấp xảy ra cũng được giải quyết ở hai loại toà án khác nhau. Cơ sở để phân biệt hai loại hợp đồng này là có hay không có sự bình đẳng giữa các chủ thể pháp luật. Cụ thể, trong hợp đồng dân sự, các chủ thể luôn có quan hệ bình đẳng; còn trong hợp đồng hành chính một bên luôn là pháp nhân công quyền tham gia vì lợi chung, còn bên kia có thể là pháp nhân công hoặc tư hoặc là cá nhân và vì lợi ích của mình, vì thế vấn đề bình đẳng giữa các chủ thể khó có thể đạt được.[4]

Continue reading

MỘT SỐ LỖI THƯỜNG GẶP TRONG QUÁ TRÌNH THAM GIA, ĐÀM PHÁN, KÝ KẾT HỢP ĐỒNG

LG. TRẦN MINH SƠN

Đã từ lâu pháp luật về hợp đồng chiếm một vị trí rất quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam, bởi vì, hầu hết các giao dịch trong xã hội, dù có mục đích kinh doanh hay nhằm đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt thông thường, đều liên quan đến hợp đồng. Chính vì lẽ đó mà các chế định về hợp đồng và các vấn đề liên quan đến hợp đồng trong Bộ luật Dân sự năm 2005 chiếm một vị trí nòng cốt với hơn 300 điều trên tổng số 777 điều. Mục đích của pháp luật về hợp đồng là nhằm bảo vệ quyền tự do ý chí của các bên. Quyền tự do ý chí này chỉ bị hạn chế bởi một số ngoại lệ nhằm bảo vệ trật tự công hoặc nhằm bảo đảm quyền lợi hợp pháp của bên thứ ba.

Pháp luật về hợp đồng của Việt Nam hiện nay được quy định trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau như Bộ luật Dân sự, Luật Thương mại, Luật kinh doanh bảo hiểm…, tuy nhiên, Bộ luật dân sự được coi là luật gốc quy định các vấn đề chung về hợp đồng, là nền tảng cho pháp luật về hợp đồng, điều chỉnh các quan hệ hợp đồng được xác lập trên nguyên tắc bình đẳng, tự nguyện, tự thoả thuận và tự chịu trách nhiệm. Các quy định về hợp đồng trong Bộ luật Dân sự được áp dụng chung cho tất cả các loại hợp đồng, không phân biệt hợp đồng dân sự hay hợp đồng kinh tế, hợp đồng có mục đích kinh doanh hay hợp đồng nhằm đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt hàng ngày. Trên cơ sở các quy định chung về hợp đồng của Bộ luật Dân sự, tuỳ vào tính chất đặc thù của các mối quan hệ hoặc các giao dịch, các luật chuyên ngành có thể có những quy định riêng về hợp đồng để điều chỉnh các mối quan hệ trong lĩnh vưc đó, ví dụ như các quy định về hợp đồng mua bán hàng hoá trong Luật Thương mại, hợp đồng bảo hiểm trong Luật kinh doanh bảo hiểm … Các quy định về hợp đồng trong Bộ luật Dân sự được coi là các quy định chung còn các quy định về hợp đồng trong các luật chuyên ngành được coi là các quy định chuyên ngành và các quy định này được ưu tiên áp dụng.

Pháp luật hợp đồng của Việt Nam hiện nay, tuy có một số hạn chế nhất định đang được các nhà làm luật tiếp tục sửa đổi, bổ sung để bắt kịp với thực tiễn xã hội nhưng nhìn chung được xem là khá tiến bộ và phù hợp với xu hướng phát triển kinh tế – xã hội trong thời kỳ hiện nay. Sau nhiều lần sửa đổi, bổ sung các chế định về hợp đồng đã phần nào quán triệt, thể chế hoá các chủ trương, chính sách về phát triển kinh tế – xã hội của nhà nước, cụ thể hoá các quyền về kinh tế, dân sự của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp 1992 và đáp ứng được các yêu cầu trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Các quy định về giao kết, thực hiện hợp đồng đã thể hiện quan điểm tăng cường quyền tự do hợp đồng thông qua việc các bên được toàn quyền quyết định về đối tác tham gia ký kết hợp đồng, hình thức hợp đồng, nội dung của hợp đồng và trách nhiệm của các bên khi có vi phạm.

Continue reading