BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG HỢP ĐỒNG KINH DOANH THƯƠNG MẠI CỦA DOANH NGHIỆP VÀ MỘT SỐ LIÊN HỆ VỚI HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG

torn-contractTS. LÊ VĂN LUYỆN (Học viện Ngân hàng) & THS. ĐÀO NGỌC CHUYỀN (Văn phòng Luật sư Đào và Đồng nghiệp)

Nói đến hợp đồng kinh doanh thương mại, không thể không nói đến điều khoản cơ bản về phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại. Đây là sự thỏa thuận của các bên trong giao dịch dân sự, kinh doanh thương mại, đồng thời, cũng là các chế định của pháp luật; nó tồn tại đã lâu nhưng cũng còn nhiều bất cập mà doanh nghiệp và những người làm công tác pháp lý nói chung và luật sư nói riêng còn một số điểm phải trao đổi làm rõ.

Vấn đề này không chỉ dừng tại đó, mà còn có ảnh hưởng đến các bên có liên quan, trực tiếp là các ngân hàng thương mại (NHTM) và tổ chức tín dụng (TCTD) khác tài trợ vốn cho doanh nghiệp. Nếu như khách hàng bị thiệt hại do đối tác gây ra, không được bồi thường kịp thời và giải quyết vi phạm đó kéo dài, mà giá trị hợp đồng đó có sự tài trợ vốn, cho vay của NHTM,… thì doanh nghiệp rất dễ rơi vào tình trạng nợ quá hạn, nợ khó đòi,… vì dòng tiền quay vòng không đúng dự kiến, nợ NHTM không được trả đúng hạn. Do đó NHTM, trực tiếp là cán bộ tín dụng cần có nhận thức đầy đủ hơn để giải quyết mối quan hệ với khách hàng cũng như xử lý nợ khi phát sinh liên quan đến hợp đồng có tranh chấp bồi thường. Bên cạnh đó, các TCTD cần nắm rõ vấn đề này khi giải quyết tranh chấp, bồi thường, vi phạm với đối tác trong hoạt động của mình.

Về lý luận và khoa học pháp lý: Pháp luật quy định về phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại như sau:

Theo các quy định của pháp luật hiện hành: (i) Điều 422 Bộ luật Dân sự năm 2005 cho phép các bên trong giao dịch dân sự được thoả thuận về mức phạt vi phạm; có thể thoả thuận vừa phải nộp phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại; nếu không có thoả thuận trước về mức bồi thường thiệt hại thì phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu không có thoả thuận về bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải nộp tiền phạt vi phạm. (ii) Luật Thương mại quy định: Mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm do các bên thoả thuận trong hợp đồng, nhưng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm (Điều 301)… Bồi thường thiệt hại là việc bên vi phạm bồi thường những tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm. Giá trị bồi thường thiệt hại bao gồm giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm (Điều 302). (iii) Luật Xây dựng quy định: Đối với công trình xây dựng bằng nguồn vốn nhà nước, mức thưởng không vượt quá 12% giá trị phần hợp đồng làm lợi, mức phạt không vượt quá 12% giá trị hợp đồng bị vi phạm (Điều 110).

Continue reading

SỬA ĐỔI, BỔ SUNG CÁC QUY ĐỊNH LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ NGHỊ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ

Massachusetts Real Estate contractThS. NGUYỄN VĂN PHÁI – Khoa Quan hệ quốc tế, Đại học KHXH&NV TP Hồ Chí Minh

Đề nghị giao kết hợp đồng là một vấn đề quan trọng của hợp đồng. Vì vậy, Công ước Viên về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế của Liên hiệp quốc năm 1980 (CISG), Bộ nguyên tắc về hợp đồng thương mại quốc tế của UNIDROIT năm 2004 (PICC) và Bộ luật Dân sự năm 2005 của Việt Nam (BLDS 2005) đều có những quy định về vấn đề này. Qua những tình huống thực tiễn, chúng tôi tập trung phân tích, so sánh những quy định về đề nghị giao kết hợp đồng trong các văn bản trên để đưa ra những kiến nghị hoàn thiện các quy định của BLDS về đề nghị giao kết hợp đồng.

1. Đề nghị giao kết hợp đồng

Đề nghị giao kết hợp đồng về bản chất là một hành vi pháp lý đơn phương của một chủ thể bày tỏ ý định giao kết hợp đồng với chủ thể khác theo các điều kiện xác định.

1.1. Người nhận đề nghị

Đề nghị thường hướng tới một hoặc một số người xác định. Người nhận đề nghị có thể là một thể nhân hoặc pháp nhân: cá nhân được xác định bởi họ tên, quốc tịch, hộ khẩu thường trú (hoặc địa chỉ tạm trú); pháp nhân được xác định bởi tên gọi, trụ sở và quốc tịch. Tính xác định của người được đề nghị thường được thể hiện khi bên đề nghị gửi đề nghị giao kết hợp đồng, vì khi đó bên đề nghị đã xác định được họ muốn giao kết hợp đồng với ai.

Nếu đề nghị không được gửi tới một hoặc một số người cụ thể, nó chỉ là một phần bảng báo giá hoặc được gửi ra ngoài theo một thông báo rộng rãi, nó không tạo thành một đề nghị1, như tình huống trong vụ kiện sau2:

Tóm tắt vụ kiện: Ngày 6/4/1956, bị đơn Great Minneapolis đăng quảng cáo trên báo của thành phố Minneapolis: 9h sáng thứ bảy, những chiếc áo lông mới hiệu Sharp giá 100 USD, sẽ bán cho người có mặt đầu tiên với giá 1 USD. Ngày 13/4/1956, bị đơn tiếp tục đăng quảng cáo với nội dung: khăn choàng lông thỏ màu đen dành cho phụ nữ giá 139.50 USD, sẽ bán cho người có mặt đầu tiên với giá 1 USD.

Vào một trong những ngày thứ bảy theo như đã công bố trên quảng cáo, nguyên đơn Lefkowitz là người đầu tiên có mặt tại cửa hiệu của bị đơn và trong mỗi thời điểm, nguyên đơn yêu cầu bị đơn bán áo choàng và khăn như đã quảng cáo. Trong cả hai thời điểm, bị đơn từ chối bán hàng trưng bày cho nguyên đơn và tuyên bố trong thời điểm thứ nhất rằng, do một quy tắc của hãng, quảng cáo được đưa ra và chỉ bán cho phụ nữ. Do đó, nguyên đơn đã kiện bị đơn ra tòa vì cho rằng, bị đơn đã không thực hiện đúng cam kết đã nêu trong quảng cáo.

Continue reading

CHỨNG CỨ VÀ BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG GIAO DỊCH ĐIỆN TỬ?

Online ShoppingTS. NGUYỄN HỮU HUYÊN – Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Tư pháp

Nếu như vào thập niên 90 giao dịch điện tử vẫn còn là điều xa lạ, mới mẻ đối với Việt Nam thì vào đầu thế kỷ XXI, đặc biệt là trong vài năm trở lại đây, cùng với sự bùng nổ của internet và sự năng động của công chúng, nhất là giới trẻ, giao dịch điện tử ở nước ta đã có những bước phát triển mạnh mẽ.

Bên cạnh những phương tiện quen thuộc như điện thoại, fax, ti-vi (tivi-shopping), thì sự phát triển đầy ấn tượng của mạng nội bộ (intranet), mạng ngoại bộ (extranet) và đặc biệt là mạng toàn cầu (internet) đã khiến cho thương mại điện tử (e-commerce hay e-business) trở nên quen thuộc với người dân, thậm chí ở nhiều nước phát triển nó còn có xu hướng thay thế các phương thức giao dịch truyền thống. Lợi ích của giao dịch điện tử đã quá rõ ràng: (i) giúp cho các doanh nghiệp nắm được thông tin phong phú về thị trường và đối tác; giảm chi phí sản xuất; giảm chi phí bán hàng và tiếp thị; thông quainternet giúp người tiêu dùng và các doanh nghiệp giảm đáng kể thời gian và chí phí giao dịch; thiết lập và củng cố mối quan hệ giữa các thành phần tham gia vào quá trình thương mại; tạo điều kiện sớm tiếp cận nền kinh tế số hóa. Bên cạnh những lợi ích vừa nêu, giao dịch điện tử cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro pháp lý do tính chất đặc thù của loại giao dịch này là không có sự "mặt đối mặt" trực tiếp giữa người mua và người bán.

Ý thức được tầm quan trọng của giao dịch điện tử, ngày 29/11/2005, Quốc hội nước ta đã ban hành Luật Giao dịch điện tử. Có thể nói, đạo luật này đánh dấu bước tiến mới trong quá trình hội nhập nền kinh tế cũng như môi trường pháp lý của Việt Nam đối với thương mại quốc tế vốn đang có những thay đổi đột phá trong bối cảnh khoa học kỹ thuật bùng nổ hàng ngày, hàng giờ hiện nay.

Xét về bản chất, các giao dịch điện tử có đặc thù là luôn phải dựa trên các phương tiện trung gian – phương tiện điện tử – để tiến hành một hoặc tất cả các công đoạn của các giao dịch dân sự, thương mại. Với sự xuất hiện của các phương tiện trung gian, các giao dịch giờ đây không còn cần thiết phải được thể hiện trên giấy cũng như các bên tham gia giao dịch trong tuyệt đại đa số trường hợp không cần phải trực tiếp gặp nhau. Thực ra, sự xuất hiện của các phương tiện điện tử không làm thay đổi bản chất của các giao dịch mà chỉ làm thay đổi cách thức tiến hành các giao dịch. Việc ra đời của giao dịch điện tử trên thế giới thông qua điện thoại, máy fax, internet… lúc đầu không tránh khỏi sự hoài nghi, lo lắng về độ an toàn, tính chính xác và đặc biệt là vấn đề đảm bảo quyền lợi của người tiêu dùng (NTD). Tuy nhiên, trải qua hàng thập kỷ bắt đầu từ làm quen cho đến thay đổi hẳn tập quán giao dịch, người ta đã nhận ra rằng giao dịch điện tử, xét về một phương diện nào đó, giao dịch điện tử còn có tính an toàn cao hơn so với giao dịch truyền thống và sự dè dặt của công chúng đối với cách thức giao dịch mới mẻ này nhiều khi chỉ là vấn đề tâm lý.

Continue reading

HIỆU LỰC CỦA CHẤP NHẬN GIAO KẾT HỢP ĐỒNG THEO BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005 – NHÌN TỪ GÓC ĐỘ LUẬT SO SÁNH

TS. NGÔ HUY CƯƠNG – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

“Chấp nhận chỉ có hiệu lực khi đã đáp ứng đầy đủ các điều kiện hay tiêu chuẩn của chấp nhận”. Đây là quy tắc chung mà bất kỳ luật gia nào cũng phải thừa nhận. Nhưng có một vài sự đáp ứng điều kiện của chấp nhận rất khó đánh giá. Nên có thể có các quy chế riêng, đôi khi gây tranh luận. Chẳng hạn Unidroit cho rằng, về nguyên tắc chung, chấp nhận bằng hành động chỉ có hiệu lực khi người đề nghị được thông báo về hành động đó. Như vậy khó có thể phân biệt giữa chấp nhận bằng hành động với chấp nhận bằng các cách thức khác khi người đề nghị nhận được một thông báo “Tôi đã hành động theo đề nghị của quí ngài”? Tuy nhiên Unidroit cũng đã nhấn mạnh rằng những thông báo như vậy chỉ cần thiết nếu bản thân hành động không bao hàm sự thông báo chấp nhận trong một khoảng thời gian hợp lý1.

Chấp nhận đề nghị là giao kết hợp đồng, tuy nhiên nhất thiết phải đáp ứng những tiêu chuẩn nhất định2. Hợp đồng được giao kết là hậu quả pháp lý mấu chốt và quan trọng nhất của chấp nhận. Nói cách khác, đó chính là điểm mấu chốt của hiệu lực của chấp nhận. Tuy nhiên trước tiên cần phải nghiên cứu thời điểm chấp nhận có hiệu lực và thời điểm hợp đồng được giao kết.

Thời điểm chấp nhận có hiệu lực theo pháp luật Việt Nam chính là thời điểm người đề nghị nhận được chấp nhận. Mặc dù Điều 397, khoản 1 Bộ luật Dân sự (BLDS) 2005 không có quy định rõ ràng về thời điểm này. Song nếu giải thích nó trong mối quan hệ với các Điều 391, khoản 1 và Điều 400 của BLDS 2005, thì chúng ta có kết quả nêu trên.

Thời điểm giao kết hợp đồng giữa những người gặp mặt nhau hoặc trao đổi trực tiếp với nhau được BLDS 2005 quy định: Đối với hợp đồng giao kết bằng lời nói là thời điểm các bên đã thoả thuận về nội dung của hợp đồng; đối với hợp đồng giao kết bằng văn bản là thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản (Điều 404 khoản 3 và khoản 4). Việc giao kết hợp đồng bằng văn bản theo tinh thần của Điều khoản này cũng có thể được hiểu trong trường hợp bên này gửi cho bên kia một bản văn hợp đồng để cùng nhau trao đổi, thoả thuận nhằm đi đến ký kết, hoặc nếu chấp nhận thì ký vào và gửi lại. Đặc biệt Điều 397, khoản 2 BLDS 2005 buộc người được đề nghị phải trả lời ngay về việc có chấp nhận hay không trong trường hợp các bên trực tiếp giao tiếp với nhau qua điện thoại hoặc qua các phương tiện giao tiếp khác (chẳng hạn như “chat”), trừ khi có thoả thuận khác về thời hạn trả lời. Vì vậy có thể suy ra trường hợp được đề cập tới trong điều khoản này có thể khác với trường hợp được nói tại Điều 404, khoản 3 BLDS 2005. Tuy nhiên các điều khoản của BLDS 2005 liên quan tới hình thức và thời điểm giao kết hợp đồng có nhiều cách giải thích khác nhau. Dưới đây sẽ đề cập tới cách giải thích cần lưu ý để suy ngẫm.

Continue reading

XỬ LÝ HỢP ĐỒNG BẰNG NGOẠI TỆ: KINH NGHIỆM CỦA NHẬT BẢN

TS. NGUYỄN QUỐC VINH

Bài viết “Xử lý hợp đồng bằng ngoại tệ: chỏi” của tác giả Nguyên Tấn đăng trênTBKTSG số ra ngày 9-12-2010 đưa ra một vấn đề thú vị: một hợp đồng có thỏa thuận neo giá vào một ngoại tệ khác, ví dụ, đô la Mỹ, có vi phạm pháp luật hay không và hậu quả của thỏa thuận này? Bài viết này cung cấp một giải pháp từ Nhật Bản, có thể giúp các cơ quan Việt Nam tham khảo khi xử lý những vấn đề tương tự.

Giao dịch vi phạm quy định về ngoại hối được trở thành án lệ của Tòa án tối cao Nhật Bản là vụ hai công dân Nhật có vay mượn nhau một khoản tiền 550 đô la Mỹ với lãi suất 7% một năm. Khi bên vay không trả nợ, bên cho vay khởi kiện đòi hoàn trả khoản tiền vay gốc cộng với khoản lãi. Bị đơn là bên vay lập luận rằng hợp đồng vay này có đối tượng là ngoại tệ bị vô hiệu theo Luật về quản lý ngoại hối và ngoại thương năm 1949 của Nhật Bản.

Theo quy định của luật này, các giao dịch liên quan đến ngoại tệ chỉ được thực hiện thông qua các ngân hàng đã được Bộ Tài chính Nhật Bản cấp phép hoạt động ngoại hối. Vì vi phạm quy định của luật, hợp đồng vay vô hiệu và bị đơn không có nghĩa vụ phải hoàn trả khoản tiền lãi. Vụ việc được giải quyết ban đầu tại hai cấp sơ thẩm và phúc thẩm và thẩm phán ở cả hai cấp xét xử này đều bác đơn khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận các lập luận của bị đơn.

Sau đó, nguyên đơn kháng cáo tiếp lên Tòa án tối cao Nhật Bản và cơ quan này đã ra phán quyết hoàn toàn trái ngược với phán quyết của các tòa trước đó. Cụ thể, tòa án tối cao chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn và buộc bị đơn phải thanh toán khoản tiền vay gốc cộng với khoản lãi được hai bên thỏa thuận.

Trong vụ án này, Tòa án tối cao Nhật Bản lý giải rằng hành vi vay ngoại tệ được điều chỉnh bởi quy định của Luật về quản lý ngoại hối và ngoại thương và theo luật này, bên cho mượn phải là ngân hàng được phép thực hiện giao dịch ngoại hối. Trên thực tế, nguyên đơn không thuộc đối tượng này, vì vậy việc cho vay ngoại tệ trái với quy định của luật và phải bị xử lý (phạt tiền) cho hành vi vi phạm.

Continue reading

XỬ LÝ HỢP ĐỒNG BẰNG NGOẠI TỆ: CHỎI?

NGUYÊN TẤN

Trước tình trạng biến động của tỷ giá, nhiều doanh nghiệp khi ký kết hợp đồng đều lấy một ngoại tệ mạnh nào đó làm chuẩn để tính giá hàng hóa, dịch vụ. Giao dịch nói trên có bị xem là trái pháp luật? Xung quanh vấn đề này vẫn còn chưa có sự thống nhất, thậm chí ‘chỏi” nhau giữa cơ quan quản lý hành chính và cơ quan xét xử.

Ngân hàng Nhà nước: trái luật!

Thói quen sử dụng ngoại tệ, chủ yếu là đồng đô la Mỹ để tính giá hàng hóa, dịch vụ được các doanh nghiệp khai thác triệt để, nhất là vào lúc đồng nội tệ đang trên đà mất giá như hiện nay. Đây là cách giúp cho bên cung cấp bảo đảm được giá trị hàng hóa, dịch vụ của mình nhưng ngược lại gây thiệt hại không nhỏ cho các đối tượng tiêu dùng.

Ngay cả các hãng luật cũng phải “kêu trời” do tiền thuê văn phòng liên tục bị điều chỉnh, tăng lên theo tỷ giá đồng đô la. Luật sư Trần Anh Đức, Giám đốc Công ty luật Vilaf-Hồng Đức cho biết tiền thuê văn phòng của công ty này khoảng 25.000 đô la Mỹ/tháng. Tuy nhiên, trong vòng một năm qua, với mức tăng của tỷ giá từ 18.500 đồng/đô la lên 19.500 đồng/đô la, mỗi tháng công ty phải trả thêm 25 triệu đồng theo yêu cầu của bên cho thuê.

Bức xúc vì bị “bắt bí”, một hãng luật vừa mới có công văn hỏi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về trường hợp thuê mặt bằng của mình. Nguyên công ty có ký hợp đồng thuê văn phòng của một tập đoàn kinh doanh bất động sản lớn tại Hà Nội. Giá thuê mặt bằng, phí dịch vụ, tiền đặt cọc và tiền trông giữ xe đều được tính bằng đô la Mỹ nhưng được trả bằng đồng Việt Nam theo tỷ giá bán ra của ngân hàng công bố vào thời điểm thanh toán. Mặc dù, trong quá trình thương lượng bên thuê đề nghị các khoản tiền này được quy đổi ra tiền đồng Việt Nam, tuy nhiên bên cho thuê vẫn không chấp nhận. Do vậy, công ty đề nghị Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hướng dẫn các bên phải làm gì để tuân thủ đúng quy định của pháp luật.

Continue reading

BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG HỢP ĐỒNG KINH DOANH THƯƠNG MẠI CỦA DOANH NGHIỆP VÀ MỘT SỐ LIÊN HỆ VỚI HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG

TS. LÊ VĂN LUYỆN – Học viện Ngân hàngTHS. & THS. ĐÀO NGỌC CHUYỀN – Văn phòng Luật sư Đào và Đồng nghiệp

Nói đến hợp đồng kinh doanh thương mại, không thể không nói đến điều khoản cơ bản về phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại. Đây là sự thỏa thuận của các bên trong giao dịch dân sự, kinh doanh thương mại, đồng thời, cũng là các chế định của pháp luật; nó tồn tại đã lâu nhưng cũng còn nhiều bất cập mà doanh nghiệp và những người làm công tác pháp lý nói chung và luật sư nói riêng còn một số điểm phải trao đổi làm rõ.

Vấn đề này không chỉ dừng tại đó, mà còn có ảnh hưởng đến các bên có liên quan, trực tiếp là các ngân hàng thương mại (NHTM) và tổ chức tín dụng (TCTD) khác tài trợ vốn cho doanh nghiệp. Nếu như khách hàng bị thiệt hại do đối tác gây ra, không được bồi thường kịp thời và giải quyết vi phạm đó kéo dài, mà giá trị hợp đồng đó có sự tài trợ vốn, cho vay của NHTM,… thì doanh nghiệp rất dễ rơi vào tình trạng nợ quá hạn, nợ khó đòi,… vì dòng tiền quay vòng không đúng dự kiến, nợ NHTM không được trả đúng hạn. Do đó NHTM, trực tiếp là cán bộ tín dụng cần có nhận thức đầy đủ hơn để giải quyết mối quan hệ với khách hàng cũng như xử lý nợ khi phát sinh liên quan đến hợp đồng có tranh chấp bồi thường. Bên cạnh đó, các TCTD cần nắm rõ vấn đề này khi giải quyết tranh chấp, bồi thường, vi phạm với đối tác trong hoạt động của mình.

Về lý luận và khoa học pháp lý: Pháp luật quy định về phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại như sau:

Theo các quy định của pháp luật hiện hành: (i) Điều 422 Bộ luật Dân sự năm 2005 cho phép các bên trong giao dịch dân sự được thoả thuận về mức phạt vi phạm; có thể thoả thuận vừa phải nộp phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại; nếu không có thoả thuận trước về mức bồi thường thiệt hại thì phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu không có thoả thuận về bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải nộp tiền phạt vi phạm. (ii) Luật Thương mại quy định: Mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm do các bên thoả thuận trong hợp đồng, nhưng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm (Điều 301)… Bồi thường thiệt hại là việc bên vi phạm bồi thường những tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm. Giá trị bồi thường thiệt hại bao gồm giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm (Điều 302). (iii) Luật Xây dựng quy định: Đối với công trình xây dựng bằng nguồn vốn nhà nước, mức thưởng không vượt quá 12% giá trị phần hợp đồng làm lợi, mức phạt không vượt quá 12% giá trị hợp đồng bị vi phạm (Điều 110).

Continue reading

NHÀ, XE ĐÃ BÁN NHƯNG NGƯỜI MUA CHƯA SANG TÊN, RỦI RO AI CHỊU?

CAO NGUYÊN

Trong các hợp đồng mua bán, giao dịch về tài sản thì việc xác định thời điểm chuyển giao quyền sở hữuthời điểm chịu rủi ro là những vấn đề vô cùng quan trọng, xác định quyền và nghĩa vụ của các bên khi tham gia giao dịch. Vấn đề này được Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định khá cụ thể.

Theo đó, Điều 168 Bộ luật Dân sự (BLDS) quy định về thời điểm chuyển quyền sở hữu đối với tài sản: "Việc chuyển quyền sở hữu đối với bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký quyền sở hữu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Việc chuyển quyền sở hữu đối với động sản có hiệu lực kể từ thời điểm động sản được chuyển giao, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác"; Điều 439 quy định thời điểm chuyển quyền sở hữu trong hợp đồng mua bán tài sản: "Quyền sở hữu đối với tài sản mua bán được chuyển cho bên mua kể từ thời điểm tài sản được chuyển giao, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác. Đối với tài sản mua bán mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì quyền sở hữu được chuyển cho bên mua kể từ thời điểm hoàn thành thủ tục đăng ký quyền sở hữu đối với tài sản đó. Trong trường hợp tài sản mua bán chưa được chuyển giao mà phát sinh hoa lợi, lợi tức thì hoa lợi, lợi tức thuộc về bên bán". Về thời điểm chịu rủi ro, Điều 440 quy định: "Bên bán chịu rủi ro đối với tài sản mua bán cho đến khi tài sản được giao cho bên mua, còn bên mua chịu rủi ro đối với tài sản mua bán kể từ khi nhận tài sản, nếu không có thoả thuận khác. Đối với hợp đồng mua bán tài sản mà pháp luật quy định tài sản đó phải đăng ký quyền sở hữu thì bên bán chịu rủi ro cho đến khi hoàn thành thủ tục đăng ký, bên mua chịu rủi ro kể từ thời điểm hoàn thành thủ tục đăng ký, kể cả khi bên mua chưa nhận tài sản, nếu không có thoả thuận khác.".

Như vậy có thể nói, về nguyên tắc theo quy định của BLDS thì thời điểm chuyển quyền sở hữu và thời điểm chịu rủi ro thông thường là đồng nhất, tức bên bán chịu rủi ro cho đến khi tài sản được giao cho bên mua, bên mua chịu rủi ro kể từ khi nhận tài sản. Nếu đối tượng của hợp đồng là bất động sản, tài sản pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì bên bán chịu rủi ro cho đến khi hoàn thành thủ tục đăng ký, bên mua chịu rủi ro kể từ thời điểm hoàn thành thủ tục đăng ký, nếu các bên không có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác. Tuy nhiên trên thực tế khi áp dụng các quy định của BLDS nêu trên để xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu và trách nhiệm chịu rủi ro trong một số trường hợp gặp nhiều vướng mắt do sự thiếu đồng bộ của các quy định pháp luật hiện hành.

Continue reading

HÌNH THỨC VĂN BẢN, VĂN BẢN CÓ CHỨNG THỰC LÀ ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG

TS. DƯƠNG ANH SƠN – Khoa Luật, Đại học Kinh tế – Luật, ĐH Quốc gia TPHCM

THS. LÊ MINH HÙNG – Đại học Luật TPHCM

Bộ luật Dân sự năm 2005 (BLDS 2005), sau hơn 4 năm có hiệu lực đã bộc lộ khá nhiều bất cập, đặc biệt là các quy định liên quan đến chế định quyền sở hữu và hợp đồng. Đối với chế định hợp đồng, một trong những vấn đề được giới nghiên cứu cũng như giới thực tiễn quan tâm là hình thức của hợp đồng là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng.

1. Vai trò, ý nghĩa của hình thức hợp đồng

Về vai trò, ý nghĩa của hình thức hợp đồng, cụ thể ở đây là hình thức văn bản, văn bản có chứng thực, có nhiều ý kiến khác nhau. Có quan điểm cho rằng, hình thức hợp đồng có hai chức năng: (i) là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng và (ii) là bằng chứng giao kết hợp đồng1. Ý kiến khác lại cho rằng, “lý do hạn chế về hình thức hợp đồng rất khác nhau, tùy quan điểm của mỗi quốc gia. Nhưng tựu trung lại có ba lý do chủ yếu sau đây: để bảo toàn chứng cứ; để khẳng định “tính nghiêm túc, tính chắc chắn” của sự thể hiện ý chí các bên, và để bảo vệ trật tự pháp luật, trật tự công cộng”2. Theo Vũ Văn Mẫu, vai trò của hình thức hợp đồng có thể tóm tắt trong bốn điểm: (i) các hình thức trọng thể được ấn định cho một số hành vi quan trọng, cốt để các đương sự chú trọng đặc biệt việc mình sắp làm; (ii) các hình thức chứng cứ để dẫn chứng trước pháp luật (luật tố tụng trong trường hợp này chỉ chấp nhận hai cách dẫn chứng: “chứng thư hợp đồng” và “sự thú nhận của đương sự”); (iii) các hình thức cấp-tư-năng nhằm đảm bảo quyền định đoạt của những người chưa hoàn toàn có tư cách chủ thể độc lập để tự mình xác lập các giao dịch dân sự (ví dụ người chưa thành niên từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi khi xác lập, thực hiện các giao dịch liên quan đến tài sản của mình); (iv) các hình thức công bố trong trường hợp có liên quan đến người thứ ba3. Một số tác giả khác, ngoài các vai trò và ý nghĩa nói trên còn đề cập đến một số vai trò khác nữa của hình thức hợp đồng4.

Từ những quan điểm nói trên, chúng tôi cho rằng, hình thức của hợp đồng, cụ thể là hình thức văn bản và văn bản có chứng thực của hợp đồng đảm nhận ba vai trò cơ bản sau đây: i) là bằng chứng tồn tại của hợp đồng; ii) là điều kiện để hợp đồng có hiệu lực và; iii) có giá trị đối kháng với người thứ ba. Tuy nhiên, việc coi trọng chức năng nào trong ba chức năng trên nên tuỳ thuộc vào từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể.

Continue reading

SỬA ĐỔI ĐIỀU 769 BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005

TS. NGUYỄN MINH HẰNG – Đại học Ngoại thương

Hiện nay, Bộ luật Dân sự năm 2005 (BLDS 2005) đang được thảo luận để sửa đổi, bổ sung một số điều có liên quan đến hợp đồng. Bài viết phân tích những khó khăn, bất cập trong cách xác định luật áp dụng cho quan hệ hợp đồng có yếu tố nước ngoài quy định tại Điều 769 BLDS 2005, từ đó đề xuất sửa đổi để quy phạm xung đột này phù hợp hơn với thực tiễn giải quyết xung đột pháp luật về hợp đồng dân sự trong tư pháp quốc tế.

1. Những khó khăn, bất cập trong việc áp dụng Điều 769 BLDS 2005

Thứ nhất, phạm vi điều chỉnh hẹp

Khoản 1 Điều 769 BLDS 2005 quy định: “Quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng được xác định theo pháp luật của nước nơi thực hiện hợp đồng, nếu không có thoả thuận khác”. Đây là quy phạm xung đột chỉ ra luật áp dụng cho hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài.

Như vậy, Điều 769 BLDS 2005 chỉ đưa ra quy định để xác định luật áp dụng đối với quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng, chứ không áp dụng đối với việc xác định luật áp dụng cho các vấn đề khác của hợp đồng như: điều kiện hiệu lực của hợp đồng, giao kết hợp đồng, trách nhiệm do vi phạm hợp đồng, diễn giải hợp đồng, v.v.. Do đó, phạm vi điều chỉnh của Điều 769 BLDS 2005 chưa bao trùm hết các vấn đề quan trọng của hợp đồng. Trong khi đó, theo Công ước Rome năm 1980 của các nước EU về luật áp dụng cho các nghĩa vụ hợp đồng1, luật được lựa chọn sẽ được áp dụng để điều chỉnh tất cả các vấn đề phát sinh từ hợp đồng (trừ hình thức hợp đồng và địa vị pháp lý của các bên).

Thứ hai, việc áp dụng hệ thuộc “nơi thực hiện hợp đồng” có thể sẽ khó khăn do không xác định được nơi thực hiện hợp đồng

Theo quy định tại Điều 769, trong trường hợp các bên không thỏa thuận về luật áp dụng cho hợp đồng, quyền và nghĩa vụ của các bên sẽ được xác định theo pháp luật nơi hợp đồng được thực hiện. Trong một số trường hợp, nơi thực hiện hợp đồng có thể được xác định dễ dàng, ví dụ hợp đồng đã ghi rõ nơi thực hiện hợp đồng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, đặc biệt trong các quan hệ hợp đồng có yếu tố nước ngoài, các bên rất lúng túng khi xác định nơi thực hiện hợp đồng là ở đâu. Ví dụ, một công ty A của Việt Nam ký hợp đồng bán gạo cho một công ty B của Nhật Bản. Vào thời điểm ký kết hợp đồng, lô gạo đang nằm tại Trung Quốc. Sau đó, lô gạo được chuyên chở từ Trung Quốc sang Nhật Bản. Trên đường chuyên chở, hàng hóa bị tổn thất, làm phát sinh tranh chấp giữa A và B. Địa điểm thực hiện hợp đồng này là ở đâu? Ở Việt Nam, Trung Quốc hay Nhật Bản? Các nhà lập pháp Việt Nam cũng đã dự đoán trước được khó khăn này và đưa ra giải pháp cho các bên như sau: “Trong trường hợp hợp đồng không ghi nơi thực hiện thì việc xác định nơi thực hiện hợp đồng phải tuân theo pháp luật Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”2. Theo điểm b, khoản 2 Điều 284 BLDS 2005, có thể xác định nơi thực hiện hợp đồng là “nơi cư trú hoặc trụ sở của bên có quyền”. Áp dụng vào ví dụ ở trên, bên có quyền là công ty B của Nhật Bản, do đó nơi thực hiện hợp đồng là Nhật Bản và luật áp dụng sẽ là luật Nhật Bản. Tuy nhiên, nếu áp dụng Luật Thương mại năm 2005 thì chúng ta sẽ có một kết quả hoàn toàn khác. Theo khoản 2 Điều 35 của Luật này thì địa điểm thực hiện hợp đồng sẽ ở Trung Quốc và luật áp dụng là luật Trung Quốc3.

Continue reading

NGHĨA VỤ THEO HỢP ĐỒNG SONG VỤ

PHẠM HOÀI HUẤN

Các hợp đồng kinh tế đối với những sản phẩm kỹ thuật bao giờ cũng có mục bảo hành sản phẩm. Tuy nhiên, các DN VN lại thường coi nhẹ điều khoản này mà không nhìn nhận rõ ràng nghĩa vụ pháp lý của mình.

Điều 44 Luật thương mại quy định: Việc kiểm tra hàng hoá không chỉ là một cách để tự bảo vệ mình trước các hệ luỵ của việc thực hiện nghĩa vụ không đúng theo thoả thuận trong hợp đồng mà trong nhiều trường hợp bên bị vi phạm còn bị mất quyền khiếu kiện vì không thực hiện hành vi kiểm tra như được viện dẫn ở trên

Ngày 15/4/2005 Cty TNHH thương mại Sông Tiền (Cty Sông Tiền) và Cty cổ phần kỹ thuật công nghệ Á Châu (Astech Corp) cùng thỏa thuận ký hợp đồng giao nhận thầu. Trong đó Astech cung ứng vật tư thiết bị và thi công đấu nối 2 tủ đông tiếp xúc và lắp đặt hệ thống làm lạnh nước với khối lượng 5m3/h và nhiệt độ lạnh đến -100oC, với giá trị hợp đồng 376.040.000 đồng. Cty Sông Tiền đã thanh toán cho Astech hơn 318 triệu  đồng, trong hợp đồng có 1 hạng mục: 2 tủ đông tiếp xúc không thực hiện. Sau khi lắp đặt hệ thống làm lạnh nước máy chỉ  hoạt động được 26 ngày thì bị hỏng. Cty Sông Tiền có văn bản nhắc nhở, yêu cầu phía Astech khắc phục sửa chữa nhưng gần 4 tháng sau mới thay thế bộ phận hư và máy hoạt động được 10 ngày thì tiếp tục không hoạt động được.

Astech cho rằng, ngày 23/8/2006 Cty Astech bàn giao hệ thống vận hành, Cty Sông Tiền chấp nhận lấy hóa đơn, vận hành hệ thống làm lạnh nước như trong hợp đồng 04 – 05/HĐKT. Ngày 13/2/2006, Astech đã thay thế và đấu nối xong dàn bay hơi GEA như nội dung bảo hành trong hợp đồng.

Ngày 19/2/2006, Cty Sông Tiền tự ý cho nạp ga và vận hành hệ thống. Mặt khác, trong suốt thời gian vận hành, Astech không nhận được thông báo nào từ Cty Sông Tiền về tình trạng hoạt động của hệ thống ga, mức dầu, áp suất đẩy, áp suất hút… điều này dẫn đến máy hư hỏng. Vì vậy phía Astech không đồng ý di dời hệ thống làm lạnh, không hoàn trả lại tiền và bồi thường thiệt hại cho phía Cty Sông Tiền. Cty Sông Tiền khởi kiện yêu cầu phía Astech di dời hệ thống lắp đặt, hoàn trả lại cho Cty Sông Tiền 318.416.000 đồng và bồi thường thiệt hại  Tuy nhiên, tòa án đã ra quyết định, hủy hợp đồng  giữa Cty Sông Tiền và Astech. Buộc Astech phải trả cho Cty Sông Tiền 318.416.000 đồng vốn và bồi thường thiệt hại. Buộc Astech phải tự tháo dỡ, di dời toàn bộ vật tư  thiết bị hệ thống làm lạnh đã lắp đặt tại Cty Sông Tiền.

Continue reading

SỰ TRỞ LẠI ĐÁNG LO NGẠI CỦA MỘT HỌC THUYẾT LỖI THỜI

TS. NGUYỄN QUỐC VINH – Giảng viên Học viện Tư pháp, Cơ sở 2, TP. Hồ Chí Minh

Những tưởng quy định lỗi thời của Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989 (Pháp lệnh HĐKT) và Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 1995 rằng, giao dịch do một pháp nhân giao kết khi pháp nhân này không (hoặc chưa) có đăng ký kinh doanh (ĐKKD) trong lĩnh vực cụ thể nào đó sẽ bị vô hiệu, đã được loại bỏ bởi việc ban hành BLDS năm 2005. Nhưng, với số lượng ngày càng tăng các bản án tuyên vô hiệu hợp đồng do doanh nghiệp không ĐKKD trong thời gian gần đây, (thời điểm gần nhất mà chúng tôi được biết là Bản án số 2354/2009/DSPT ngày 10/12/2009 của TAND TP. Hồ Chí Minh1), thì đây là sự trở lại đáng lo ngại của hiện tượng tuyên vô hiệu hợp đồng do pháp nhân không có ĐKKD.

Bài viết, vì vậy, sẽ tập trung phân tích nguồn gốc học thuyết yêu cầu pháp nhân phải kinh doanh trong phạm vi ĐKKD trên thế giới, lược sử áp dụng quy định tại Việt Nam và những khuyến nghị cho Tòa án và cơ quan lập pháp Việt Nam về vấn đề này.

1. Nguồn gốc của học thuyết ultra vires

Học thuyết yêu cầu doanh nghiệp phải kinh doanh trong phạm vi ĐKKD hay trong văn kiện thành lập công ty như Điều lệ (Charter hay Articles of Association) hoặc Thỏa thuận thành lập (Memorandum of Association) được hiểu chung trên thế giới là học thuyết về ultra vires (the doctrine of ultra vires). Học thuyết này có nguồn gốc từ nước Anh. Tại các nước theo hệ thống luật lục địa, học thuyết này không tồn tại (như tại nước Đức) hoặc có phạm vi áp dụng không đáng kể (như tại nước Pháp)2. “Ultra” theo tiếng La-tinh có nghĩa là vượt quá, còn “vires” có nghĩa là thẩm quyền của một người3. Học thuyết ultra vires được áp dụng trong một số ngành luật như luật hiến pháp, hành chính và công ty. Tuy nhiên, học thuyết được áp dụng phổ biến nhất trong luật công ty với nghĩa là hành vi vượt quá phạm vi hoạt động kinh doanh của công ty mà đã được nêu trong văn kiện thành lập công ty (và đã được đăng ký với cơ quan đăng ký công ty)4.

Về lịch sử, học thuyết ultra vires được áp dụng đầu tiên tại Anh đối với công ty thành lập theo các đạo luật của Nghị viện. Các công ty này được thành lập nhằm phục vụ cho các nhu cầu thiết yếu của xã hội như giao thông vận tải, điện lực hay khai thác than… Trong các đạo luật thành lập công ty có các quy định hạn chế phạm vi hoạt động của công ty. Việc vi phạm các quy định hạn chế này được coi là hành vi ultra vires và giao dịch vì vậy sẽ vô hiệu5.

Continue reading

VỀ CÁCH TÍNH LÃI SUẤT TRONG CÁC HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN

Tác giả viết bài này vào thời điểm BLDS năm 1995 còn hiệu lực. Một số thông tin không còn phù hợp với thời điểm hiện tại. Song có nhiều thông tin còn hữu ích cho việc nghiên cứu chế định Hợp đồng vay tài sản trong BLDS năm 2005 và trong quá trình sửa đổi, bổ sung BLDS này.

LS. TRƯƠNG THANH ĐỨC – Chủ tịch Công ty Luật BASICO

Các Toà án thường phải giải quyết rất nhiều vụ tranh chấp về hợp đồng vay tài sản mà trong đó, lãi suất là một trong những vấn đề vướng mắc hay xảy ra. Tuy đã có một số văn bản hướng dẫn, giải thích của các cơ quan pháp luật, nhưng vẫn chưa giải đáp được rõ ràng và chính xác một số quy định về lãi suất. Nguyên nhân là do các quy định liên quan đến lãi suất còn quá phức tạp, không đồng bộ, thiếu cụ thể và thường xuyên thay đổi. Bài viết này xin nêu ra một số vấn đề về mức lãi suất tương ứng, về lãi suất cho vay trong hạn và về lãi suất cho vay quá hạn trong các hợp đồng vay tài sản.

1- Về mức lãi suất tương ứng trong hợp đồng vay tài sản

Điểm thứ 19, phần III, Công văn số 16/1999/KHXX ngày 1-2-1999 của TANDTC đã giải thích về mức lãi suất tương ứng trong hợp đồng vay tài sản như sau: Tuy hướng dẫn tại điểm a và b, khoản 4, mục I, Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19-6-1997 của TANDTC, VKSNDTC, Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính “Hướng dẫn việc xét xử và thi hành án về tài sản” không nêu cụ thể, nhưng trong ví dụ theo điểm này đã hướng dẫn cách tính cụ thể là: Khi tính lãi phải áp dụng mức lãi suất tương ứng (mức lãi suất cho vay cùng loại) của Ngân hàng Nhà nước công bố tại thời điểm xác lập hợp đồng (thời điểm vay), được ghi trên hợp đồng tín dụng hay khế ước vay tiền.

Tuy nhiên, trong ví dụ đó đưa ra một trường hợp cho vay, mà thời điểm xác định việc trả nợ tính từ ngày vay cho đến ngày xét xử sơ thẩm là 8 tháng nhưng lại áp dụng “mức lãi phải trả là mức lãi suất nợ quá hạn của loại vay trung hạn vì thời gian phải trả lãi quá 6 tháng”. Thực ra, trong trường hợp trên, thời hạn cho vay chưa quá 12 tháng, thì phải áp dụng “mức lãi suất tương ứng” là lãi suất ngắn hạn mới đúng. Như vậy, khái niệm “mức lãi suất tương ứng” hay mức lãi suất cho vay cùng loại được hướng dẫn trong Thông tư liên tịch 01/TTLT nói trên vừa không cụ thể, vừa không chính xác. Cho đến Công văn giải đáp số 16/1999/KHXX nói trên cũng vẫn chưa thực sự làm rõ được “mức lãi suất tương ứng của Ngân hàng Nhà nước công bố tại thời điểm xác lập hợp đồng (thời điểm vay)” là mức lãi suất nào. Cụ thể, nếu trong một vụ tranh chấp mà thời hạn tính lãi là 8 tháng, thì áp dụng mức lãi suất tương đương của loại cho vay ngắn hạn hay trung-dài hạn?

Continue reading

HỢP ĐỒNG BỊ TUYÊN VÔ HIỆU DO NHẦM LẪN, NHÌN TỪ QUI ĐỊNH VỀ XÁC ĐỊNH CHẤT LƯỢNG HÀNG HÓA TRONG HỢP ĐỒNG

TRẦN PHƯƠNG HẠNH – Khoa Luật Thương mại, Đại học Luật TPHCM

Trong thực tiễn ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa, đối tượng của hợp đồng và vấn đề thanh toán là hai nội dung quan trọng nhất. Thanh toán là nghĩa vụ chính của bên mua trong giao dịch mua bán hàng hóa. Thỏa thuận về mức giá mà bên mua phải thanh toán và phương thức thanh toán là nội dung chủ yếu của thỏa thuận thanh toán. Nghĩa vụ cung cấp hàng hóa là nghĩa vụ chủ yếu của bên bán. Các thỏa thuận về tên hàng hóa, chất lượng của hàng hóa là những nội dung chủ yếu liên quan đến đối tượng của hợp đồng.

Chất lượng hàng hóa là một trong những nội dung quan trọng cần được xem xét trong hợp đồng mua bán hàng hóa. Tuy nhiên, trong thực tiễn thương mại có nhiều trường hợp điều khoản chất lượng trong hợp đồng chỉ ghi đơn giản: “như Bản đặc điểm kỹ thuật” (as the Specification) và điều này dẫn đến nhiều tranh cãi liên quan đến việc xác định tiêu chuẩn chất lượng của hàng hóa trong hợp đồng khi các bên phát sinh tranh chấp.

1. Vụ kiện giữa Công ty Việt Á Châu và Công ty Connell Bros

1.1. Nội dung vụ kiện:

Tóm tắt vụ kiện:

Công ty TNHH dịch vụ thương mại sản xuất Việt Á Châu (bên mua) đã kiện Công ty TNHH Connell Bros (bên bán) để đòi bồi thường thiệt hại do việc hàng hóa do Công ty TNHH Connell Bros cung cấp không đạt yêu cầu về chất lượng. Cụ thể như sau:

Ngày 7/7/2003, Công ty TNHH dịch vụ thương mại sản xuất Việt Á Châu (Công ty Việt Á Châu) ký hợp đồng số 241/03-VU mua của Công ty TNHH Connell Bros (Công ty Connell Bros) sản phẩm Myflame 84527E, số lượng 16.080 kg (67 thùng ống), đơn giá 2,9 USD/kg CIF HCMC, trị giá hợp đồng 46.632 USD, xuất xứ hàng hóa: Vương quốc Anh. Sau đó, ngày 11/7/2003 các bên lại ký tiếp hợp đồng số 243/03-VU mua 10.080 kg sản phẩm trên, trị giá 29.232 USD và 5.987,472 kg sản phẩm Performax TF 1133, trị giá 20.357,40 USD. Điều khoản chất lượng của hai hợp đồng này chỉ ghi “theo Bản đặc điểm kỹ thuật” (same as Specifications).

Continue reading

CẢNH GIÁC CÁC HỢP ĐỒNG TẠM TÍNH TRONG LĨNH VỰC ĐỊA ỐC

LS. NGUYN ĐĂNG LIÊM – Đoàn Lut sư TPHCM

Vừa qua một thân chủ của tôi là giảng viên đại học đề nghị luật sư của VPLS Quang Trung tư vấn về “hợp đồng mua bán nhà của một dự án” ở địa bàn P.11, Q.3, TP.HCM mà hiện nay chủ đầu tư dự án đang có nhiều văn bản thúc hối anh ta phải nhanh chóng “chia sẻ” chi phí phát sinh lên đến 50% trị giá căn hộ đã đặt mua theo hợp đồng từ tháng 10/2003, nếu không sẽ hoàn trả tiền đặt cọc đã trên 50% trị giá căn hộ.

Qua nghiên cứu nội dung hợp đồng, cho thấy bên A (chủ đầu tư) rào đón rất chặt chẽ bằng các điều khoản như: Điều 2: về giá trị hợp đồng tạm tính  của căn hộ đặt mua là 353.600.136 đồng. Điều 5: về trách nhiệm bên B (tức khách hàng, người đặt mua căn hộ chung cư) nếu không thực hiện đúng hợp đồng, không đóng đủ tiền theo từng giai đoạn, thì bên A sẽ đương nhiên hủy bỏ hợp đồng và trả lại tiền đã nộp của bên B mà không tính lãi. Trong khi phần qui định về trách nhiệm của bên A (chủ đầu tư) lại rất đơn giản là: “giao cho bên B toàn bộ hồ sơ hợp lệ về nhà ở” (Điều 4), thậm chí còn lẫn lộn giữa trách nhiệm và quyền khi qui định: “không chấp nhận việc trả lại nhà ở sau khi bên B đã nhận” (ở Điều 4 khoản 2). Hậu quả của việc qui định ràng buộc trách nhiệm bên A không rõ ràng, chặt chẽ dẫn đến chủ đầu tư (bên A) đòi bên B phải đóng bổ sung thêm đến 189.400.000đ (trên 50% trị giá căn hộ tạm tính ban đầu) với nhiều lý do được nại ra (trong đó có không ít lý do không chính đáng, chẳng hợp lý chút nào) như: do công ty (bên A) phải làm nghĩa vụ tài chính với thành phố (nộp tiền sử dụng đất), do phải chuẩn bị công tác đầu tư (khảo sát, thiết kế, giải phóng mặt bằng vv…), do mua sắm vật tư phục vụ thi công chung cư, do giá cả vật tư, nguyên liệu biến động tăng cao gấp 3 lần so với năm 2003, do trượt giá nhân công, do lãi vay ngân hàng hàng tháng, do lạm phát. Đúng là có những lý do bên A nại ra rất  “kỳ cục” nếu nhìn ở góc độ nhà đầu tư, chủ dự án. Nhưng khách hàng đành “ngậm bồ hòn”, bị bắt buộc, miễn cưỡng phải mở hầu bao chi thêm, nếu không sẽ bị hoàn trả lại tiền không được tính lãi. Rõ ràng bên B (khách hàng cần nhà để ổn định cư trú) đã gánh hết hậu quả từ việc đàm phán thiếu bình đẳng và quá hời hợt trong đàm phán, ký kết hợp đồng với bên A ngay từ đầu. Bên A đã cầm đằng cán, còn bên B nắm phải đằng lưỡi với quá nhiều rủi ro. Một dự thảo hợp đồng nguyên tắc chuyển nhượng đất xây dựng trường học khác (do anh bạn nhà giáo nhờ tư vấn), bên A (chủ dự án) còn chủ động đưa ra điều kiện tạm tính cả về diện tích chuyển nhượng và điều kiện bên B phải thanh toán chặt chẽ làm 4 đợt trong thời gian có 2 tháng (hai tháng) mà không hề ràng buộc mỗi đợt thanh toán, bên A phải đáp ứng cụ thể về tiến độ bàn giao quyền sử dụng đất và đầu tư hạ tầng kỹ thuật như thế nào. Continue reading

HỢP ĐỒNG IN SẴN: KHÔN BÁN – DẠI MUA

HUYỀN MI

-Chỉ nghe tư vấn rồi kí hợp đồng theo mẫu do doanh nghiệp soạn thảo sẵn nên đến khi gặp chuyện khách dắng họng không cãi được vì ở thế “sự đã rồi”.

“Bút sa, gà chết”

Cách đây gần 10 năm, chị T.T (Tp.HCM) mua hợp đồng bảo hiểm Phú An Khang cho mẹ chồng kèm theo sản phẩm phụ là bảo hiểm bệnh tật và tai nạn. Đến năm 2010, Prudential gửi thông báo chấm dứt hợp đồng sản phẩm phụ với lý do mẹ chồng chị đã 65 tuổi. Đến lúc này, chị mới ngớ người ra, tìm lại hợp đồng và hỏi lại người phụ trách hợp đồng bảo hiểm.

Khi được trả lời đây là quy định chung của công ty thì chị cho rằng: “các nhà tư vấn bảo hiểm đã lờ đi hoặc cố tình không tư vấn rõ cho khách hàng biết để rồi đến khi có thông báo của bảo hiểm nhiều người mới vỡ lẽ ra”. Trong khi đó, chỉ cần truy cập website của Prudential, khách hàng sẽ thấy ngay mục Bảo hiểm bệnh tật và tai nạn đáo hạn khi khách 65 tuổi rất rõ ràng.

Rất nhiều khách hàng viễn thông phản hồi VietNamNet cũng trong tình trạng không đọc kĩ hợp đồng để rồi khi không hài lòng về dịch vụ thì lại ấm ức việc phải “đền” khuyến mại. Anh N.H.B tại Vĩnh Phúc chia sẻ: “Họ đem hợp đồng đến thì tôi kí chứ đọc làm gì. Hợp đồng ADSL nào chẳng giống hợp đồng nào. Hầu hết người Việt mình đăng kí dịch vụ Internet có mấy ai đọc kĩ hợp đồng đâu”.

“Ép” khách bằng hợp đồng mẫu

Trong khi có những khách hàng “quên” đọc kĩ hợp đồng đã vội kí thì cũng có những khách hàng đọc rất kĩ, xem xét tỉ mỉ rồi mới đặt bút. Nhưng họ cũng chẳng thể làm được gì hơn khi gặp trục trặc nảy sinh và bất lợi vẫn thuộc về họ vì hợp đồng đã kí là hợp đồng mẫu do doanh nghiệp soạn thảo, không thể thỏa thuận hay bổ sung điều khoản.

Continue reading

GIỚI HẠN CỦA HỢP ĐỒNG MẪU

LS. CAO THỊ HÀ GIANG – TRẦN THANH TÙNG

Trong rất nhiều các quan hệ kinh tế, dân sự hiện nay, doanh nghiệp đang bị “ép” vào những mẫu hợp đồng sơ sài của các cơ quan nhà nước, xa lạ so với ý chí thực của doanh nghiệp. Đâu sẽ là ranh giới giữa việc áp dụng hợp đồng mẫu và quyền tự do hợp đồng?

Từ sự việc thực tế…

Ông H., thành viên sáng lập công ty TNHH A, có nhu cầu chuyển nhượng vốn góp cho đối tác khác. Sau một thời gian dài đàm phán và nhờ luật sư tư vấn, hợp đồng chuyển nhượng vốn được hình thành và ký kết. Khi nộp hồ sơ đăng ký chuyển nhượng vốn tại sở kế hoạch và đầu tư (KHĐT) thành phố N, nhân viên của sở KHĐT đã không chấp nhận hồ sơ vì hợp đồng quá dày với hơn 20 trang giấy và quá phức tạp, quan trọng hơn là không được lập theo mẫu của Sở KHĐT.

Nhân viên này yêu cầu ông H. phải sử dụng mẫu hợp đồng do sở KHĐT ban hành. Ông H. không biết phải làm sao để đưa các thỏa thuận đã đạt được vào hợp đồng mẫu với chỉ khoảng 3 trang giấy. Tuy nhiên, sau nhiều lần lên xuống để thuyết phục nhưng không thành công, ông H. và đối tác đành chấp nhận ký thêm vào bản hợp đồng theo đúng mẫu do sở KHĐT cung cấp chỉ để hồ sơ được thụ lý.

…Đến giới hạn của hợp đồng mẫu

Hợp đồng về bản chất là luật tư, dựa trên ý chí tự do và tự thỏa thuận của các bên tham gia. Doanh nghiệp, về nguyên tắc, được làm tất cả những gì luật không cấm, nghĩa là cứ tự do thỏa thuận chừng nào mà thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội.

Nhưng khi tham gia vào quan hệ hành chính, hợp đồng này còn chịu sự ảnh hưởng bởi luật công, dựa trên mệnh lệnh, quyền uy mà không có thỏa thuận. Trong quan hệ ấy, đứng ở góc độ của cơ quan hành chính, họ chịu ràng buộc theo nguyên tắc “công chức chỉ được làm những gì luật cho phép”. Giữa hai thái cực ấy, đâu sẽ là ranh giới giữa luật công và luật tư?

Continue reading

ĐẶC ĐIỂM PHÁP LÝ CƠ BẢN CỦA HỢP ĐỒNG THUÊ MUA NHÌN TỪ KHÍA CẠNH THUÊ MUA NHÀ Ở XÃ HỘI TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

TS. DOÃN HỒNG NHUNG – Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội

Thuê mua nhà ở xã hội, thuê mua công trình xây dựng đang trở thành chủ đề được giới kinh doanh địa ốc của Việt Nam quan tâm và nhiều tầng lớp dân chúng bình luận. Nhà ở xã hội được đánh giá là sự hội tụ cao của tính đa mục tiêu của chính sách quốc gia[i]. Mục tiêu và nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội mà Quốc hội và Chính phủ đã đặt ra cho năm 2009 cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp từ các phía và các cấp, các ngành trực tiếp và gián tiếp có liên quan, trong đó cần có đột phá quan trọng cả về nhận thức lẫn cơ chế triển khai phát triển nhà ở cho người có thu nhập thấp. Trong cuộc họp định kỳ của Chính phủ vào tháng 1/2009, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã quyết định mục tiêu phát triển nhà ở xã hội là một trong những trọng tâm ưu tiên của Việt Nam  trong năm 2009.

Thị trường bất động sản nóng lạnh thất thường, một giải pháp kích cầu cho thị trường này là Thuê mua nhà ở xã hội, thuê mua công trình xây dựng[ii]. Đây chính là giải pháp xử lý khó khăn cho các doanh nghiệp kinh doanh bất động sản  hiện nay. Trong thực tiễn kinh doanh, khối lượng giao dịch về nhà đất trên thị trường này trong thời gian qua có biểu hiện lắng xuống. Vậy thuê mua bất động sản là gì?  Nó có thể làm đa dạng hoá hình thức đầu tư bất động sản hay không? nó có phải là cách thức giúp cho những người dân nghèo, sinh viên mới ra trường, công chức có thu nhập thấp có được nhà ở khi mà giá nhà đất ở các đô thị lớn quá cao so với thu nhập của họ hiện nay?

          Thuê mua nhà ở, công trình xây dựng là một hình thức hoạt động đầu tư bất động sản được chuyển giao từ bên cho thuê sang bên thuê trong một thời hạn nhất định, theo những điều kiện mà hai bên thoả thuận. Quyền sở hữu bất động sản cuối cùng được chuyển giao cho bên thuê khi kết thúc hợp đồng thuê mua.

            Thuê mua bất động sản là hình thức cho thuê bất động sản, trong thời gian thuê mua, bên cho thuê mua thu hồi vốn đầu tư cùng với các chi phí tài chính, chi phí quản lý liên quan đến bất động sản, thu được lợi nhuận hợp lý. Sau đó tuỳ theo thoả thuận của các bên trong hợp đồng thuê mua, bên cho thuê có thể bán lại bất động sản đó cho bên thuê vào bất kỳ thời gian nào nhưng chậm nhất là khi kết thúc hợp đồng thuê mua. Hợp đồng thuê mua có các đặc điểm  pháp lý cơ bản sau:

Một là, phần lớn các hợp đồng thuê mua là hợp đồng mang tính chất thương mại;

Continue reading

GỠ RỐI VIỆC XÁC ĐỊNH THỜI ĐIỂM CÓ HIỆU LỰC

TRƯƠNG TRỌNG HIẾU

Hiện nay những quy định về xác định thời điểm có hiệu lực của các hợp đồng về quyền sử dụng đất trong các văn bản có liên quan đã lộ rõ sự bất hợp lý, cần được xem xét lại.

Bằng quy định tại khoản 4, điều 146, Nghị định 181/2004/NĐ-CP khẳng định: “Hợp đồng chuyển đổi, chuyển nhượng, thuê, thuê lại quyền sử dụng đất; hợp đồng hoặc văn bản tặng cho quyền sử dụng đất; hợp đồng thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất…”.

Quy định này từ đó đã tạo ra nhiều vướng víu khi xác định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng. Về vấn đề này, theo chúng tôi, có hai nội dung cần được làm rõ và điều chỉnh lại trong các nội dung quy định của pháp luật.

Thứ nhất, xác định lại thời điểm có hiệu lực của hợp đồng bắt buộc phải công chứng, chứng thực. Việc xác định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng có ý nghĩa rất quan trọng đối với các bên tham gia. Vì đó là thời điểm chính thức làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ của họ liên quan đến hợp đồng đó.

Để xác định thời điểm đó, Bộ luật Dân sự yêu cầu phải dựa vào từng loại hợp đồng. Đối với các hợp đồng mà pháp luật đòi hỏi bắt buộc phải có công chứng, chứng thực thì thời điểm có hiệu lực của hợp đồng được tính kể từ thời điểm được công chứng, chứng thực. Hợp đồng trong các giao dịch về quyền sử dụng đất thuộc trường hợp này nên thời điểm có hiệu lực của chúng cũng được tính như vậy. Bỏ qua lý do bắt buộc phải tuân thủ Bộ luật Dân sự như một văn bản gốc, đây là cách thức mà pháp luật đất đai của chúng ta lựa chọn từ trước và cách lựa chọn đó theo chúng tôi là phù hợp.

Thứ hai, xác định thời điểm chuyển dịch quyền sử dụng đất.

Trong các hợp đồng mua bán tài sản thông thường khác, giá trị nội dung quan trọng của nó là việc chuyển giao quyền sở hữu đối với tài sản. Vì lẽ đó, cực kỳ cần thiết khi xác định thời điểm dịch chuyển quyền sở hữu đối với tài sản từ người bán sang người mua.

Continue reading