GS.TS. TRẦN MINH ĐẠO
Kể từ Đại hội lần thứ VIII của Đảng cộng sản Việt Nam, trong Văn kiện bắt đầu xuất hiện thuật ngữ kinh tế nhà nước để chỉ một thành phần kinh tế trong nền kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam. Thành phần kinh tế này được sử dụng để thay thế cho tên gọi của thành phần kinh tế quốc doanh, được xác định từ các Đại hội trước của đảng ta.Từ đó đến nay thuật ngữ thành phần kinh tế nhà nước được sử dụng phổ biến ở nước ta.Thành phần kinh tế nhà nước, được khẳng định, bao gồm bộ phận phi doanh nghiệp và hệ thống doanh nghiệp nhà nước.
Nhưng kinh tế nhà nước dựa trên nền tảng của chế độ và/hoặc hình thức sở hữu nào, trong khi nhiều đối tượng thuộc kinh tế nhà nước hiện nay lại thuộc sở hữu toàn dân( Được ghi trong Hiến pháp của nước CHXHCN Việt Nam). Thêm vào đó, nhiều ý kiến đổ lỗi cho sở hữu toàn dân là căn nguyên của tình trạng vô chủ. Chính vì những điều này nên nhiều công trình nghiên cứu đề nghị dùng thuật ngữ sở hữu nhà nước thay thế cho thuật ngữ sở hữu toàn dân. Điều đó có nên không? Bài viết này sẽ tham gia vào trả lời câu hỏi hóc búa đó.
Như chúng ta đã biết, cho đến nay trong văn kiện của Đảng đã chính thức sử dụng thuật ngữ sở hữu nhà nước, kinh tế nhà nước hàm ý thay thế cho sở hữu toàn dân và kinh tế quốc doanh. Việc dùng thuật ngữ sở hữu nhà nước hàm ý thay thế sở hữu toàn dân xuất phát từ 3 lập luận: Một là, trong suốt chặng đường xây dựng CNXH ở Việt Nam các đối tượng thuộc sở hữu toàn dân, không những không được quản lý chặt chẽ để bảo toàn mà, thậm chí còn bị hao tổn và thất thoát. Nguyên nhân của tình trạng trên được quy về là do thuật ngữ sở hữu toàn dân dẫn đến hậu quả là không có ai sở hữu, tức là vô chủ. Hai là, nhà nước của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước “ của dân, do dân, vì dân”, do đó nói sở hữu nhà nước, đã tất yếu bao hàm nghĩa toàn dân, đồng thời lại góp phần làm sáng tỏ hơn chủ thể sở hữu. Ba là, khi xác định chủ thế sở hữu là nhà nước, thì nhà nước ấy không có nghĩa chỉ có Chính phủ, mà nhà nước trong trường hợp này bao hàm cả Chính phủ, Nhà nước, Quốc hội và Đảng. Cho nên, khái niệm nhà nước trong trường hợp này không hề chỉ là một chủ thể đại diện cho một nhóm người, hay cho một giai cấp, mà cho nhân dân lao động nói chung.
Filed under: Nhà nước và nền KTTT, Quyền sở hữu, SỬA ĐỔI BLDS 2005 | Leave a comment »














Các quy định của pháp luật được dẫn chiếu trong các bài viết được đăng trên Trang Thông tin này có thể còn hiệu lực, không còn hiệu lực hoặc chỉ là dự thảo quy phạm pháp luật. Rất mong các bạn khi khai thác thông tin cần cẩn trọng với nội dung của từng bài viết - SO SÁNH VÀ PHẢN BIỆN KHOA HỌC LÀ BẢN LĨNH CỦA NGƯỜI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC.



Các bạn thân mến, vì lý do thời gian tôi đã và đang chậm hồi đáp nhiều vấn đề được nêu trên trang thông tin. Rất mong các bạn thông cảm vì sự chậm trễ này. Qua đây, hy vọng các bạn cùng trao đổi và chia sẻ kiến thức nhiều hơn nữa vì lợi ích chung của cộng đồng nghiên cứu Luật học.
Civillawinfor đã nhận được sự chấp thuận chính thức của Giáo sư Trần Hữu Dũng, quản trị Tạp chí Thời đại mới, Ban Biên tập Tạp chí Cộng sản, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, Viên Triết học Viện hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, trang thông tin chungta.com về việc sử dụng lại các bài viết. Để bảo vệ bản quyền cho cơ quan phát hành và các tác giả, đề nghị các bạn khi khai thác thông tin cần nêu rõ nguồn trích, tên tác giả, không biên tập lại nội dung bài viết. Riêng các bài viết thuộc Tạp chí Thời đại mới, các bạn nghiên cứu bài viết trực tiếp trên trang thông tin, không in bài viết thành văn bản, không phổ biến dưới mục đích thương mại.










