SỞ HỮU NHÀ NƯỚC, KINH TẾ NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

GS.TS. TRẦN MINH ĐẠO

Kể từ Đại hội lần thứ VIII của Đảng cộng sản Việt Nam, trong Văn kiện bắt đầu xuất hiện thuật ngữ kinh tế nhà nước để chỉ một thành phần kinh tế trong nền kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam. Thành phần kinh tế này được sử dụng để thay thế cho tên gọi của thành phần kinh tế quốc doanh, được xác định từ các Đại hội trước của đảng ta.Từ đó đến nay thuật ngữ thành phần kinh tế nhà nước được sử dụng phổ biến ở nước ta.Thành phần kinh tế nhà nước, được khẳng định, bao gồm bộ phận phi doanh nghiệp và hệ thống doanh nghiệp nhà nước.

Nhưng kinh tế nhà nước dựa trên nền tảng của chế độ và/hoặc hình thức sở hữu nào, trong khi nhiều đối tượng thuộc kinh tế nhà nước hiện nay lại thuộc sở hữu toàn dân( Được ghi trong Hiến pháp của nước CHXHCN Việt Nam). Thêm vào đó, nhiều ý kiến đổ lỗi cho sở hữu toàn dân là căn nguyên của tình trạng vô chủ. Chính vì những điều này  nên nhiều công trình nghiên cứu đề nghị dùng thuật ngữ sở hữu nhà nước thay thế cho thuật ngữ sở hữu toàn dân. Điều đó có nên không? Bài viết này sẽ tham gia vào trả lời câu hỏi hóc búa đó.

Như chúng ta đã biết, cho đến nay trong văn kiện của Đảng đã chính thức sử dụng thuật ngữ sở hữu nhà nước, kinh tế nhà nước hàm ý thay thế cho sở hữu toàn dân và kinh tế quốc doanh. Việc dùng thuật ngữ sở hữu nhà nước hàm ý thay thế sở hữu toàn dân xuất phát từ 3 lập luận: Một là, trong suốt chặng đường xây dựng CNXH ở Việt Nam các đối tượng thuộc sở hữu toàn dân, không những không được quản lý chặt chẽ để bảo toàn mà, thậm chí còn bị hao tổn và thất thoát. Nguyên nhân của tình trạng trên được quy về là do thuật ngữ sở hữu toàn dân dẫn đến hậu quả là không có ai sở hữu, tức là vô chủ. Hai là, nhà nước của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước “ của dân, do dân, vì dân”, do đó nói sở hữu nhà nước, đã tất yếu bao hàm nghĩa toàn dân, đồng thời lại góp phần làm sáng tỏ hơn chủ thể sở hữu. Ba là, khi xác định chủ thế sở hữu là nhà nước, thì nhà nước ấy không có nghĩa chỉ có Chính phủ, mà nhà nước trong trường hợp này bao hàm cả Chính phủ, Nhà nước, Quốc hội và Đảng. Cho nên, khái niệm nhà nước trong trường hợp này không hề chỉ là một chủ thể đại diện cho một nhóm người, hay cho một giai cấp, mà cho nhân dân lao động nói chung.

Continue reading

MỘT VÀI NÉT VỀ SỞ HỮU VỚI PHÂN ĐỊNH CÁC THÀNH PHẦN KINH TẾ VÀ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN CÁC LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP, KHÁC KHU VỰC KINH TẾ

NGUYỄN THỊ BÍCH HỒNG

1. Việc phân định các thành phần kinh tế, khu vực kinh tế, loại hình doanh nghiệp và những vấn đề đặt ra.

Từ việc hình thành những hình thức sở hữu khác nhau và theo nó là những hình thức thực hiện lợi ích kinh tế khác nhau qua việc phân định theo thành phần kinh tế, khu vực kinh tế và loại hình doanh nghiệp (DN) như sau:

Bảng 1: Thành phần kinh tế. Loại hình doanh nghiệp. Khu vực kinh tế

Presentation1

Continue reading

HOÀN THIỆN CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ VỀ SỞ HỮU BẤT ĐỘNG SẢN TRONG KHUNG CẢNH HỘI NHẬP

TS. NGUYỄN NGỌC ĐIỆN – Phó trưởng khoa Kinh tế – Luật, Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.

Yêu cầu số một đối với dự án cải cách pháp luật dân sự, về phần liên quan đến quyền sở hữu, là phải minh định vị trí trung tâm của quyền sử dụng đất trong chế độ pháp lý về sở hữu tư nhân, đặc biệt là trong chế độ pháp lý về sở hữu tư nhân đối với bất động sản. Có thể trong mối quan hệ giữa nhà nước và tư nhân, quyền sử dụng đất chỉ là một hình thức nhượng quyền (concession) của chủ sở hữu: nhà nước “cho” quyền năng của tư nhân đối với đất đến đâu, tư nhân hưởng đến đó.

Nhưng, trong mối quan hệ giữa các chủ thể của luật tư, quyền sử dụng đất nhất thiết phải mang đầy đủ các tính chất của một quyền sở hữu đối với một phần đất; nếu không, việc thực hiện quyền sử dụng đất trong cuộc sống dân sự có thể là nguồn cuội nhiều loại xung đột lợi ích có nguy cơ đẩy xã hội vào tình trạng hỗn loạn1.

Đặt vấn đề

Phân loại tài sản hữu hình theo kiểu Pháp, pháp luật Việt Nam chia tài sản thành hai loại: động sản và bất động sản. Cách phân loại này cũng dựa vào tiêu chí vật lý; bởi vậy, trong danh sách bất động sản, đất đai chiếm vị trí hàng đầu, dù, trong luật thực định Việt Nam, đất không phải là tài sản thuộc sở hữu tư nhân và do đó, không phải là vật chuyển giao được trong giao lưu dân sự.

Cũng như luật của Pháp, luật Việt Nam nói rằng đất là bất động sản thứ nhất. Chính trong mối quan hệ với đất mà một tài sản được coi là di dời được hoặc không di dời được và tuỳ theo tính chất đó được gọi là động sản hoặc bất động sản.

Vấn đề là chọn đất làm vật quy chiếu để tiến hành phân loại tài sản hữu hình, người làm luật dân sự đã không biết phải đối xử thế nào với quyền sử dụng đất, vốn là một tài sản phái sinh từ quyền sở hữu đất và được chủ sở hữu đất – tức là Nhà nước – trao cho tư nhân; hậu quả là quyền sử dụng đất đã không được xếp loại trong hệ thống tài sản tư. Trong khi đó, chính quyền sử dụng đất, chứ không phải đất, mới là bất động sản sơ cấp, cơ sở trong luật dân sự Việt Nam hiện hành. Điều kiện tiên quyết: xác định rõ vị trí của quyền sử dụng đất trong hệ thống pháp luật về sở hữu bất động sản.

Continue reading

TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI: NHIỀU VƯỚNG MẮC

HUY HOÀNG

Tranh chấp đất đai do ngành Tòa án giải quyết ngày càng tăng về số lượng và tính chất phức tạp. Mặc dù các văn bản hướng dẫn trong lĩnh vực này rất đồ sộ nhưng thực tiễn cho thấy nhiều quy định còn vênh, thậm chí trái ngược nhau…

Không thể xác định tài sản riêng – chung

Đây là một khó khăn nổi cộm của ngành Tòa án bởi lẽ các quy định về vấn đề tài sản chung – riêng của vợ chồng qua các thời kỳ là hoàn toàn khác nhau. Theo Điều 15 Luật Hôn nhân gia đình năm 1959 thì “vợ và chồng đều có quyền sở hữu, hưởng thụ và sử dụng ngang nhau đối với tài sản có trước và sau khi cưới”. Tuy nhiên, đến Luật Hôn nhân gia đình năm 1986 và Luật Hôn nhân gia đình năm 2000 đã có sự thay đổi: “vợ hoặc chồng có quyền có tài sản riêng. Tài sản riêng của vợ chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân thì người đó có quyền nhập hay không nhập vào tài sản chung vợ chồng”.

Vấn đề là ở chỗ các cặp vợ chồng kết hôn khi Luật Hôn nhân và gia đình năm năm 1959 đang có hiệu lực, nhưng họ ly hôn sau ngày Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực thì có xác định tài sản riêng của vợ hoặc chồng có trước khi kết hôn là tài sản chung của vợ, chồng hay không. Thực tiễn này, mỗi tòa án áp dụng một cách khác nhau.

Chờ hòa giải xong thì …hết thời hiệu.

Theo quy định tại điều 135 khoản 2 Luật Đất đai: “Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến UBND xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp.

UBND cấp  xã có trách nhiệm phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên mặt trận, các tổ chức khác để hòa giải tranh chấp đất đai. Thời hạn hòa giải là 30 ngày làm việc kể từ ngày UBND cấp xã nhận được đơn”;

Continue reading

CHÍNH SÁCH VỀ XỬ LÝ TÀI SẢN BỊ CHÔN GIẤU, BỊ CHÌM ĐẮM ĐƯỢC PHÁT HIỆN

CỤC QUẢN LÝ CÔNG SẢN, BỘ TÀI CHÍNH

Theo quy định tại Điều 240 Bộ luật Dân sự thì một bộ phận tài sản bị chôn giấu, bị chìm đắm được tìm thấy mà không có hoặc không xác định được chủ sở hữu thì được xác lập quyền sở hữu của Nhà nước.

Tại Bộ luật Hàng hải, Nghị định số 14/1998/NĐ-CP ngày 6/3/1998 của Chính phủ về quản lý tài sản nhà nước, Nghị định số 92/2002/NĐ-CP ngày 11/11/2002 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Di sản văn hoá, Nghị định số 86/2005/NĐ-CP ngày 8/7/2005 của Chính phủ về quản lý và bảo vệ di sản văn hoá dưới nước, Nghị định số 18/2006/NĐ-CP ngày 10/2/2006 của Chính phủ về xử lý tài sản chìm đắm ở biển đã quy định về xác định chủ tài sản chìm đắm; trục vớt, bảo quản, giao nhận tài sản chìm đắm; thăm dò, khai quật, quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá dưới nước; khen thưởng đối với tổ chức, cá nhân phát hiện và giao nộp cổ vật, di vật, bảo vật quốc gia v.v…

Thời gian vừa qua, ngoài việc trục vớt các tài sản gây nguy hiểm cho hoạt động hàng hải để đảm bảo an toàn giao thông đường biển, Nhà nước đã thực hiện nhiều cuộc khai quật, tìm kiếm, trục vớt các tàu cổ chìm đắm tại vùng biển ở một số địa phương (Bà Rịa – Vũng Tàu, Kiên Giang, Quảng Nam, Bình Thuận, Cà Mau…). Các cổ vật trục vớt được từ các con tàu cổ này chủ yếu được chuyển giao cho các Bảo tàng của Nhà nước (như Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, Bảo tàng Lịch sử tại thành phố Hồ Chí Minh, Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, Bảo tàng Nhà nước một số tỉnh, thành phố…) để thực hiện quản lý, lưu giữ, trưng bày theo quyết định của Bộ trưởng Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch. Một số trường hợp, sau khi phân loại, đưa vào lưu giữ tại các Bảo tàng của Nhà nước đối với các hiện vật độc bản hoặc tập hợp thành các bộ sưu tập có giá trị văn hoá, lịch sử, khoa học (khoảng 10% số hiện vật trục vớt được), số hiện vật còn lại Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch và Bộ Tài chính báo cáo Thủ tướng Chính phủ cho phép xuất khẩu để bán đấu giá tại nước ngoài (như cổ vật trục vớt tại Cù Lao Chàm – Quảng Nam, cổ vật trục vớt được tại vùng biển Bình Thuận, Cà Mau v.v…).

Continue reading

ĐẨY MẠNH VIỆC SẮP XẾP LẠI. XỬ LÝ NHÀ ĐẤT THUỘC SỞ HỮU NHÀ NƯỚC

CỤC QUẢN LÝ CÔNG SẢN, BỘ TÀI CHÍNH

Đất đai là nguồn tài nguyên quý của đất nước, có vai trò quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội. Tại các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp, tổ chức và doanh nghiệp nhà nước, đất đai là một trong số ít tài sản có giá trị rất lớn mà Nhà nước giao cho các cơ quan này quản lý, sử dụng làm trụ sở làm việc, cơ sở sản xuất kinh doanh chủ yếu là dưới các hình thức giao đất không thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất.

Đất đai là nguồn tài nguyên quý của đất nước, có vai trò quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội. Tại các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp, tổ chức và doanh nghiệp nhà nước, đất đai là một trong số ít tài sản có giá trị rất lớn mà Nhà nước giao cho các cơ quan này quản lý, sử dụng làm trụ sở làm việc, cơ sở sản xuất kinh doanh chủ yếu là dưới các hình thức giao đất không thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất.
Trước đây, khi các cơ quan, đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp nhà nước được nhà nước cấp đất thường là ở các vị trí thuận tiện, diện tích lớn, việc cấp đất ít quan tâm đến định mức, nhu cầu và hiệu quả sử dụng,… Khi chuyển sang kinh tế thị trường, đối với hầu hết các cơ quan của nhà nước, đặc biệt là các doanh nghiệp thì đất đai được nhà nước giao đã trở thành tài sản, nguồn vốn lớn của nhà nước trang cấp ban đầu cho đơn vị chưa được xác định đầy đủ cả về giá trị và giá trị sử dụng. Mặt khác, trải qua một thời kỳ dài bị buông lỏng nên việc quản lý sử dụng nhà đất là trụ sở làm việc của các cơ quan hành chính sự nghiệp, doanh nghiệp nhà nước đã và đang diễn ra tình trạng phổ biến là: sử dụng nhà, đất lãng phí, không hiệu quả, không đúng mục đích được giao, bị lấn chiếm, bị chiếm dụng,… việcsử dụng đất đai vẫn còn mang nặng tính bao cấp, xin cho; tiêu cực trong quản lý đất đai gây thất thu cho ngân sánh nhà nước, khó khăn trong quản lý quy hoạch.
Nhận thức được các vấn đề nêu trên và nhằm chấn chỉnh tình trạng này đểsử dụng hiệu quả hơn nguồn lực tài chính từ đất đai phục vụ phát triển kinh tế xã hội, góp phần chỉnh trang quy hoạch đô thị, Bộ Tài chính đã phối hợp với UBND thành phố Hồ Chí Minh trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 80/2001/QĐ-TTg ngày 24/5/2001 thí điểm thực hiện việc bố trí, sắp xếp lại nhà đất thuộc sở hữu nhà nước trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh; việc thực hiện Quyết định này đã đạt được nhiều kết quả quan trọng.
Trên cơ sở tổng kết, đánh giá kết quả từ việc sắp xếp lại, xử lý nhà đất thuộc sở hữu nhà nước trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 09/2007/QĐ-TTg ngày 19/01/2007 về sắp xếp lại, xử lý nhà đất thuộc sở hữu nhà nước áp dụng trên phạm vi cả nước với mục tiêu: (1) Tăng cường vai trò, hiệu lực quản lý nhà nước đối với tài sản công là đất đai thuộc sở hữu nhà nước; (2) Thực hiện chỉnh trang đô thị theo quy hoạch, đảm bảo môi trường; (3) Sử dụng hiệu quả và khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai phục vụ phát triển kinh tế xã hội.
Continue reading

CƠ CHẾ TÀI CHÍNH ĐẤT ĐAI – CHẶNG ĐƯỜNG 15 NĂM ĐỔI MỚI

LÊ NGỌC KHOA – Phó Cục trưởng Cục Quản lý Công sản, Bộ Tài Chính

Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh và quốc phòng. Công tác quản lý đất đai nước ta đã được thể chế hoá, nâng lên thành Luật từ năm 1993, sau đó là Luật sửa đổi năm 1988, năm 2001.

Theo đó đất đai thuộc sở hữu toàn dân và Chính phủ thực hiện thống nhất quản lý đất đai. Nhà nước giao đất hoặc hợp pháp hoá việc sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai cho các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng. Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất có các quyền về sử dụng đất theo quy định của pháp luật và phải thực hiện các nghĩa vụ tài chính đất đai đối với nhà nước, gồm: nộp tiền sử dụng đất hoặc tiền thuê đất, các khoản thuế, phí, lệ phí trong quá trình sử dụng đất. Các cơ chế tài chính đất đai tại thời điểm này đã đạt được những thành công nhất định: (i) Bước đầu hình thành và hoàn thiện khung pháp lý về tài chính đất đai về cơ bản phù hợp với quan hệ đất đai trên thực tế; (ii) Được thiết kế phù hợp với chính sách tài chính đất đai của các nước trên thế giới có điều kiện kinh tế xã hội tương tự Việt Nam; (iii) Từng bước thực hiện khai thác nguồn tài chính tiềm năng từ tài nguyên đất đai, biến tiềm năng thành hiện thực tạo thêm nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước; (iv) Góp phần khuyến khích sử dụng đất tiết kiệm và có hiệu quả. 

Cùng với sự phát triển kinh tế – xã hội, nhu cầu đổi mới trong công tác quản lý đất đai, Luật Đất đai 2003 ra đời đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong chính sách tài chính đất đai bằng hàng loạt các tư tưởng đổi mới mang tính tiến bộ, phù hợp với cơ chế thị trường: Theo đó các Nghị định, văn bản hướng dẫn thi hành Luật Đất đai năm 2003 đã từng bước đưa Luật vào thực tế cuộc sống xã hội phù hợp với cơ chế thị trường, hội nhập quốc tế, đặc biệt là các chính sách tài chính đất đai như: Chính sách thu tiền sử dụng đất (Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004); Chính sách thu tiền thuê đất, thuê mặt nước (Nghị định số 142/2005/NĐ-CP ngày 14/10/2005); Chính sách về giá đất (Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004); Chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất (Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004); Chính sách về đấu giá quyền sử dụng đất khi nhà nước giao đất, cho thuê đất (Quyết định số 216/2005/QĐ-TTg ngày 31/8/2005) và các văn bản sửa đổi, bổ sung của Chính phủ về các Chính sách trên (Nghị định số 17/2006/NĐ/CP ngày 27/1/2006; Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007; Nghị định số 123/2007/NĐ-CP ngày 27/7/2007; Nghị định số 44/2008/NĐ-CP ngày 9/4/2008; Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009),… do đó đã mang lại một số tiến bộ sau:

Continue reading

QUẢN LÝ TÀI SẢN NHÀ NƯỚC – CHẶNG ĐƯỜNG 15 NĂM NHÌN LẠI

PHẠM ĐÌNH CƯỜNG – Cục trưởng Cục Quản lý Công sản, Bộ Tài chính

Sau 15 năm hoạt động, nhìn lại chặng đường đã qua không hẳn chỉ là bằng phẳng thuận lợi mà cũng khá nhiều khó khăn, thử thách, thậm chí có những thời điểm hết sức khó khăn.

Hiến pháp năm 1992 quy định: Đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi vùng biển, thềm lục địa và vùng trời, phần vốn do Nhà nước đầu tư vào xí nghiệp, công trình thuộc các ngành, lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học, kỹ thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh cùng các tài sản khác mà pháp luật quy định là TSNN, đều thuộc sở hữu toàn dân. Tài sản nhà nước (TSNN) giữ vị trí là nguồn lực quan trọng trong việc phát triển kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia; việc sử dụng TSNN tiết kiệm và hiệu quả có ý nghĩa kinh tế – chính trị – xã hội. Tuy nhiên, trong những năm đầu chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, công tác quản lý TSNN chưa thực sự được quan tâm, tình trạng sử dụng TSNN còn lãng phí, kém hiệu quả… phần nào làm suy giảm nguồn lực công phục vụ phát triển kinh tế của đất nước. Thực hiện Nghị quyết Đại hội giữa nhiệm kỳ của Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII), Chính phủ giao ngành tài chính nhiệm vụ quản lý TSNN. Để triển khai nhiệm vụ nặng nề đó, Bộ trưởng Bộ Tài chính có Quyết định số 347TC/QĐ/TCCB ngày 26/4/1995 thành lập Cục quản lý Công sản (QLCS). Với 9 nhiệm vụ cụ thể sau: (1) Nghiên cứu soạn thảo các chính sách chế độ về quản lý tài sản thuộc sở hữu Nhà nước và quản lý tài chính đối với tài nguyên quốc gia để Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành hoặc trình Chính phủ ban hành áp dụng thống nhất trong cả nước; (2) Tham gia nghiên cứu xây dựng các tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản thuộc sở hữu Nhà nước cho từng đối tượng sử dụng trong lĩnh vực hành chính sự nghiệp; (3) Hướng dẫn các cơ quan hành chính sự nghiệp trong việc thực hiện các chế độ quản lý tài sản thuộc sở hữu Nhà nước và chế độ quản lý tài chính đối với tài nguyên quốc gia; (4) Tổng hợp, phân tích, báo cáo tình hình quản lý, sử dụng tài sản thuộc sở hữu Nhà nước và tài nguyên quốc gia; (5) Thực hiện kiểm kê và kiểm tra việc thực hiện các quyết định của Nhà nước về quản lý, sử dụng tài sản thuộc sở hữu Nhà nước và tài nguyên quốc gia. Kiến nghị xử lý và xử lý các trường hợp vi phạm quản lý tài sản, tài nguyên quốc gia; (6) Tham gia với các ngành chức năng thu hồi các tài sản, tài nguyên thuộc sở hữu Nhà nước và thực hiện việc điều chuyển tài sản Nhà nước thuộc khu vực hành chính sự nghiệp khi có quyết định điều chuyển của Bộ Tài chính hoặc Chính phủ; (7) Quản lý và lưu trữ các hồ sơ, tài liệu có liên quan đến tài sản thuộc sở hữu Nhà nước và tài nguyên quốc gia; (8) Chỉ đạo công tác quản lý công sản ở các tổ chức quản lý công sản thuộc ngành tài chính ở các địa phương; (9) Thực hiện nhiệm vụ khác do Bộ trưởng Bộ Tài chính giao.

Continue reading

ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA LUẬT QUẢN LÝ, SỬ DỤNG TÀI SẢN NHÀ NƯỚC

CƠ SỞ

Tại kỳ họp thứ hai, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (khoá XII) đã ban hành Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước và Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009. Trong quá trình xây dựng Luật này, cơ quan chủ trì soạn thảo là Bộ Tài chính đã nhận được sự hỗ trợ rất tích cực của cơ quan Hợp tác phát triển Úc (AusAID) thông qua Dự án “Hỗ trợ xây dựng và ban hành Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước”.

Trong khuôn khổ hoạt động của Dự án nêu trên, nhóm tư vấn độc lập đã tiến hành thực hiện đánh giá tác động của Dự án dựa trên các căn cứ sau:

– Báo cáo tình hình triển khai “Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước” của Bộ Tài chính;

– Báo cáo của Chính phủ về tình hình quản lý, sử dụng tài sản nhà nước năm 2009, trình Quốc hội khoá 12 tại kỳ họp thứ tư (tháng 11/2009);

– Báo cáo đánh giá, khảo sát thực tế về tác động của Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước tại các tỉnh, thành phố như: thành phố Hồ Chí Minh, Bình Thuận, Ninh Thuân, Lai Châu, Lào Cai và Phú Thọ.

– Kết quả các cuộc hội thảo chuyên đề về:

+ Kết quả thực hiện Quyết định số 179/2007/QĐ-TTg ngày 26/11/2007 của Thủ tướng Chính phủ về mua sắm tài sản, hàng hoá từ ngân sách nhà nước theo phương thức tập trung (tổ chức tại Bình Thuận tháng 3/2009);

+ Đề án khu hành chính tập trung (tổ chức tại Đà Lạt tháng 7/2009).

Dưới đây, nhóm tư vấn xin báo cáo khái quát về kết quả triển khai thực hiện Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước và tác động của Luật trong thực tiễn quản lý, sử dụng tài sản nhà nước của Chính phủ, các Bộ, các địa phương và các cơ quan, tổ chức, đơn vị.

Phần thứ nhất

TÌNH HÌNH QUẢN LÝ, SỬ DỤNG TÀI SẢN NHÀ NƯỚC TRƯỚC KHI BAN HÀNH LUẬT

Hiến pháp năm 1992 quy định: Đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi vùng biển, thềm lục địa và vùng trời, phần vốn do Nhà nước đầu tư vào xí nghiệp, công trình thuộc các ngành, lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học, kỹ thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh cùng các tài sản khác mà pháp luật quy định là tài sản nhà nước, đều thuộc sở hữu toàn dân. Đây là tiền đề, là nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế – xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng, ổn định và nâng cao đời sống nhân dân.

Continue reading

CƠ CHẾ TÀI CHÍNH ĐẤT ĐAI – CHẶNG ĐƯỜNG 15 NĂM ĐỔI MỚI

LÊ NGỌC KHOA – Phó Cục trưởng Cục Quản lý Công sản, Bộ Tài Chính

Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh và quốc phòng. Công tác quản lý đất đai nước ta đã được thể chế hoá, nâng lên thành Luật từ năm 1993, sau đó là Luật sửa đổi năm 1988, năm 2001.

Theo đó đất đai thuộc sở hữu toàn dân và Chính phủ thực hiện thống nhất quản lý đất đai. Nhà nước giao đất hoặc hợp pháp hoá việc sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai cho các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng. Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất có các quyền về sử dụng đất theo quy định của pháp luật và phải thực hiện các nghĩa vụ tài chính đất đai đối với nhà nước, gồm: nộp tiền sử dụng đất hoặc tiền thuê đất, các khoản thuế, phí, lệ phí trong quá trình sử dụng đất. Các cơ chế tài chính đất đai tại thời điểm này đã đạt được những thành công nhất định: (i) Bước đầu hình thành và hoàn thiện khung pháp lý về tài chính đất đai về cơ bản phù hợp với quan hệ đất đai trên thực tế; (ii) Được thiết kế phù hợp với chính sách tài chính đất đai của các nước trên thế giới có điều kiện kinh tế xã hội tương tự Việt Nam; (iii) Từng bước thực hiện khai thác nguồn tài chính tiềm năng từ tài nguyên đất đai, biến tiềm năng thành hiện thực tạo thêm nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước; (iv) Góp phần khuyến khích sử dụng đất tiết kiệm và có hiệu quả.

Cùng với sự phát triển kinh tế – xã hội, nhu cầu đổi mới trong công tác quản lý đất đai, Luật Đất đai 2003 ra đời đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong chính sách tài chính đất đai bằng hàng loạt các tư tưởng đổi mới mang tính tiến bộ, phù hợp với cơ chế thị trường: Theo đó các Nghị định, văn bản hướng dẫn thi hành Luật Đất đai năm 2003 đã từng bước đưa Luật vào thực tế cuộc sống xã hội phù hợp với cơ chế thị trường, hội nhập quốc tế, đặc biệt là các chính sách tài chính đất đai như: Chính sách thu tiền sử dụng đất (Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004); Chính sách thu tiền thuê đất, thuê mặt nước (Nghị định số 142/2005/NĐ-CP ngày 14/10/2005); Chính sách về giá đất (Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004); Chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất (Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004); Chính sách về đấu giá quyền sử dụng đất khi nhà nước giao đất, cho thuê đất (Quyết định số 216/2005/QĐ-TTg ngày 31/8/2005) và các văn bản sửa đổi, bổ sung của Chính phủ về các Chính sách trên (Nghị định số 17/2006/NĐ/CP ngày 27/1/2006; Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007; Nghị định số 123/2007/NĐ-CP ngày 27/7/2007; Nghị định số 44/2008/NĐ-CP ngày 9/4/2008; Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009),… do đó đã mang lại một số tiến bộ sau:

Continue reading

BỘ XÂY DỰNG CẤM SỬ DỤNG CHUNG CƯ LÀM VĂN PHÒNG: CHƯA THẤU TÌNH, ĐẠT LÝ!

LG. VŨ XUÂN TIỀN -  Chủ tịch Hội đồng thành viên Cty TNHH tư vấn VFAM VN

Ngày 19/11/2009, Bộ Xây dựng ban hành công văn số 2544/2009/BXD-QLN về việc “Cấm sử dụng chung cư làm văn phòng, cơ sở sản xuất…”. Ngay sau đó, có rất nhiều ý kiến phản ứng về quy định “cấm” của công văn số 2544 nêu trên. Ngày 10/2/2010, Bộ Xây dựng lại có tiếp công văn số 241/BXD-QLN gửi UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương yêu cầu thống kê tình hình sử dụng căn hộ nhà chung cư làm cơ sở sản xuất – kinh doanh, văn phòng. Bài viết của đại diện một DN về những bất cập mà các công văn này tác động tới hoạt động của DN, đặc biệt là DNNVV.

Nhiều ý kiến cho rằng, hai văn bản này có thể dẫn đến tình trạng đóng cửa, giải thể hàng loạt DNNVV vì những DN này không thể đủ năng lực tài chính để chuyển đến thuê văn phòng tại các tòa nhà chuyên dùng làm văn phòng cho thuê với giá thuê từ 30 đến 45 USD/m2/tháng.

Không thấu lý

Có thể khẳng định rằng, quy định cấm sử dụng chung cư làm văn phòng, cơ sở kinh doanh không có cơ sở pháp lý đầy đủ và chặt chẽ. Điều đó thể hiện ở những điểm sau:

Thứ nhất, thuê chung cư làm văn phòng, trụ sở Cty đều là các DNNVV hoạt động theo Luật DN. Khoản 1 Điều 35 Luật DN quy định: “1. Trụ sở chính của DN là địa điểm liên lạc, giao dịch của DN; phải ở trên lãnh thổ VN, có địa chỉ được xác định gồm số nhà, tên phố (ngõ phố) hoặc tên xã, phường, thị trấn, huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; số điện thoại, số fax và thư điện tử (nếu có)”. Ngoài quy định trên, trong Luật DN không có bất kỳ quy định nào khác về trụ sở DN. Như vậy, cấm sử dụng chung cư làm văn phòng, trụ sở DN là đã vô hiệu hóa một điều khoản quan trọng của Luật DN.

Continue reading

PHÁT TRIỂN NHÀ Ở XÃ HỘI VÀ MỤC ĐÍCH KÍCH CẦU

TS. PHẠM SĨ LIÊM – Viện nghiên cứu đô thị và hạ tầng

Bộ xây dựng đang chủ trì thực hiện đề án phát triển nhà ở xã hội. Đây là hy vọng mới cho những người có thu nhập thấp, đồng thời là trách nhiệm lớn của nhiều cơ quan, doanh nghiệp.

Thế nào là nhà ở xã hội?

Đối tượng phục vụ của chính sách Nhà ở xã hội là những người thu nhập thấp, tuy có thu nhập ổn định nhưng sau khi trang trải các nhu cầu cuộc sống thì chỉ dành dụm được chút ít, khó tích lũy đủ mua nhà hoặc thuê nhà hợp vệ sinh. Theo Bộ Xây dựng thì khả năng tích lũy tối đa của công chức để chi cho nhà ở chỉ khoảng 11,5% tổng thu nhập, một tỷ lệ quá thấp. Chính vì vậy mà Điều 53 Luật Nhà ở quy định đối tượng được thuê nhà ở xã hội là cán bộ, công chức, viên chức, sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân tại các khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, với điều kiện chưa sở hữu nhà ở hay thuê nhà ở của nhà nước; hoặc có nhà ở của mình nhưng diện tích bình quân dưới 5m2. Trước mắt, đến năm 2015, Bộ Xây dựng đề nghị tập trung ưu tiên các đối tượng hưởng lương từ ngân sách nhà nước, công nhân độc thân tại các khu công nghiệp và sinh viên, học sinh.

Nhà ở xã hội bao gồm: Nhà ở cho thuê do Nhà nước và các thành phần kinh tế đầu tư; Nhà ở cho thuê mua cũng do Nhà nước và các thành phần kinh tế đầu tư; Nhà ở giá thấp (không quá 7 triệu đồng/m2) do các thành phần kinh tế đầu tư để bán trả tiền ngay hoặc trả dần cho các đối tượng ưu tiên và các đối tượng khác do UBND cấp tỉnh quy định.

Cơ chế tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế đầu tư xây dựng các loại nhà ở nói trên bao gồm: Miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất; Tăng mật độ xây dựng và hệ số sử dụng đất trong dự án lên bằng 1,5 lần so với quy chuẩn nhà nước; Thuế giá trị gia tăng bằng không, miễn thuế thu nhập doanh nghiệp 4 năm (miễn 50% trong 9 năm tiếp theo, miễn 90% trong thời gian còn lại), miễn thuế sử dụng đất 3 năm kể từ khi giao đất; Được chính quyền cho vay vốn ưu đãi hoặc bù lãi suất; Được hưởng tỷ lệ lãi suất định mức bằng 10% tổng mức đầu tư dự án; Một số trợ giúp khác, chẳng hạn được chỉ định thầu.

Continue reading

“NHÃN HIỆU” VÀ “THƯƠNG HIỆU”

NGUYỄN ĐÌNH SAN

“Nhãn hiệu” và “Thương hiệu” là 2 từ lúc đầu xuất hiện trong lĩnh vực kinh tế, thương trường rồi sau đó mới mở rộng, hàm chứa nghĩa sang những lĩnh vực khác. “Nhãn hiệu” là cái vỏ, cái mác bên ngoài; còn “Thương hiệu” là cái làm nên giá trị của thứ đó. Nhãn hiệu thì có thể gắn với nội dung, chất lượng, có thể không. Hiểu nôm na, nhãn hiệu chỉ đơn giản là tên của một hãng, một sản phẩm hàng hoá.

Ví dụ như Sony, Daewoo, Hanel… (hàng địên tử); 555, Dunhill, Marlboro, Vinataba, Thăng Long… (Thuốc lá) là nhãn hiệu. Còn thương hiệu gắn với những sản phẩm nổi tiếng, chiếm được sự ưa chuộng của đa số khách hàng. Bản thân các nhãn hiệu không có tính cạnh tranh nhau vì đơn thuần chỉ là cái tên, sự phân biệt giữa các đơn vị kinh tế. Chỉ thương hiệu mới có tác dụng này, mới có khả năng loại bỏ nhau do chất lượng, uy tín đối với khách hàng khác nhau. Nhãn hiệu có thể đi liền với thương hiệu, có thể không. Những năm 50, 60 của thế kỷ trước, nhiều người ở Hà Nội đều biết đến hiệu dầu cao con hổ nổi tiếng Chính đại dược hàng. Đây là loại thuốc dùng để xoa bóp khi bị cảm lạnh, đau bụng rất hiệu quả. Dầu nhờn, được đựng vào hộp tròn, dẹt, to hơn đồng xu một chút, màu đỏ, có hình con hổ nổi. Không hiểu vì sao đến nay không thấy nữa. Bây giờ có thể có nhiều loại thuốc mới nhập khẩu từ nước ngoài cũng tốt, nhưng người ta vẫn không quên dầu cao con hổ của Chính đại dựơc hàng. Nhãn hiệu này đã là một thương hiệu. Khi đó không có dầu bôi nào sánh bằng. Hoặc như hiện nay, trong rất nhiều hãng cà phê đã nổi bật hãng Trung Nguyên. Thương hiệu này đã lấn át tất cả các hãng cà phê khác, gần như độc chiếm thị phần toàn quốc và một số nước trên thế giới. Đó là thương hiệu.

Như vậy, chỉ thương hiệu mới có giá trị, còn nhãn hiệu thì chẳng có ý nghĩa nếu không gắn liền với thương hiệu. Nhìn sang lĩnh vực khác – nghiên cứu khoa học hoặc văn học nghệ thuật chẳng hạn – điều đang bàn cũng không nằm ngoài những lẽ trên. Tất cả những bằng cấp (trung học, cao đẳng, đại học); học hàm (phó giáo sư, giáo sư); học vị (cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ), rồi những kỹ sư, bác sĩ, nhà văn, nhà báo, nhạc sĩ, thi sĩ… đều chỉ là “nhãn hiệu”, để phân biệt với các nghề nghiệp khác. Ngoài thông tin về công việc, nghề nghiệp, chưa nói lên điều gì. Phải là “thương hiệu”. Ví như ở nước ta, có tới hàng nghìn người làm nghề châm cứu nhưng chỉ Nguyễn Tài Thu mới là “thương hiệu” hàng đầu. Cũng như vậy trong những “thương hiệu” ở lĩnh vực nông học, phải nhắc đến 2 “thương hiệu” là Lương Đình Của và Vũ Tuyên Hoàng (cả 2 vị đều đã qua đời). Không thể kể hết mọi lĩnh vực đều có những “thương hiệu” đặc biệt, vượt lên, nổi trội hơn các “nhãn hiệu” khác.

Continue reading

Qui định về quyền sở hữu tài nguyên thiên nhiên và môi trường trong luật tục của một số dân tộc thiểu số ở Việt Nam – TRƯỜNG HỢP LUẬT TỤC THÁI VÀ LUẬT TỤC Ê ĐÊ

unnamed HOÀNG VĂN QUYNH – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

Tóm tắt. Ở các dân tộc thiểu số nước ta từ lâu đã hình thành nên những quy định về quan hệ sở hữu, chiếm hữu đối với của cải vật chất, trong đó có các tài nguyên thiên nhiên nơi họ sinh sống. Việc xác định quyền sở hữu và chiếm hữu đối với các nguồn tài nguyên này chính là cơ sở để cộng đồng có thể quản lý và sử dụng tốt hơn, có hiệu quả hơn đối với các nguồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường. Điều này được thể hiện rất rõ thông qua các quy định về quan hệ sở hữu trong các bộ Luật tục của một số dân tộc thiểu số ở Việt Nam (Trường hợp Luật tục Thái và Luật tục Êđê).

Về vấn đề sở hữu, ở mỗi dân tộc, tuỳ theo sự phát triển của mỗi cộng đồng mà có các quy định về quan hệ sở hữu khác nhau. Ở đây hầu như chưa có các quan hệ sở hữu về tài sản, mà chủ yếu chỉ xác định quyền sở hữu đối với tài nguyên thiên nhiên, như đất đai, rừng núi, sông suối…

Nhưng các quan hệ sở hữu này lại là sở hữu chung của cả cộng đồng, sở hữu của cá nhân, gia đình đối với vùng đất, vùng rừng, động thực vật của cộng đồng dân tộc đó.

Việc xác định quan hệ sở hữu các nguồn tài nguyên thiên nhiên là một vấn đề hết sức quan trọng và cấp bách đối với các dân tộc ít người miền núi nói riêng và cả nước nói chung. Đòi hỏi Đảng và Nhà nước cần có những chính sách, biện pháp đúng đắn, phù hợp với tình hình phát triển chung của đất nước trong việc bảo vệ, khai thác, sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên, môi trường. Phát huy truyền thống dân tộc kết hợp với pháp luật của Nhà nước trong việc quản lý đất đai, rừng núi, sông suối và bảo vệ tài nguyên và môi trường sinh thái.

1. Quan niệm về vấn đề sở hữu

Vấn đề sở hữu luôn có ý nghĩa to lớn đối với sự tồn tại và phát triển của bất kỳ tộc người nào, trong bất cứ một chế độ xã hội nào. Theo Bộ luật Dân sự nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, “Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật. Chủ sở hữu là cá nhân, pháp nhân, các chủ thể khác có đủ ba quyền là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt tài sản” (Điều 173) [1].

Continue reading

QUI ĐỊNH VỀ QUYỀN SỞ HỮU TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN VÀ MÔI TRƯỜNG TRONG LUẬT TỤC CỦA MỘT SỐ DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM – TRƯỜNG HỢP LUẬT TỤC THÁI VÀ LUẬT TỤC Ê ĐÊ

HOÀNG VĂN QUYNH – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQGHN

Tóm tắt. Ở các dân tộc thiểu số nước ta từ lâu đã hình thành nên những quy định về quan hệ sở hữu, chiếm hữu đối với của cải vật chất, trong đó có các tài nguyên thiên nhiên nơi họ sinh sống. Việc xác định quyền sở hữu và chiếm hữu đối với các nguồn tài nguyên này chính là cơ sở để cộng đồng có thể quản lý và sử dụng tốt hơn, có hiệu quả hơn đối với các nguồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường. Điều này được thể hiện rất rõ thông qua các quy định về quan hệ sở hữu trong các bộ Luật tục của một số dân tộc thiểu số ở Việt Nam (Trường hợp Luật tục Thái và Luật tục Êđê).

Về vấn đề sở hữu, ở mỗi dân tộc, tuỳ theo sự phát triển của mỗi cộng đồng mà có các quy định về quan hệ sở hữu khác nhau. Ở đây hầu như chưa có các quan hệ sở hữu về tài sản, mà chủ yếu chỉ xác định quyền sở hữu đối với tài nguyên thiên nhiên, như đất đai, rừng núi, sông suối…

Nhưng các quan hệ sở hữu này lại là sở hữu chung của cả cộng đồng, sở hữu của cá nhân, gia đình đối với vùng đất, vùng rừng, động thực vật của cộng đồng dân tộc đó.

Việc xác định quan hệ sở hữu các nguồn tài nguyên thiên nhiên là một vấn đề hết sức quan trọng và cấp bách đối với các dân tộc ít người miền núi nói riêng và cả nước nói chung. Đòi hỏi Đảng và Nhà nước cần có những chính sách, biện pháp đúng đắn, phù hợp với tình hình phát triển chung của đất nước trong việc bảo vệ, khai thác, sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên, môi trường. Phát huy truyền thống dân tộc kết hợp với pháp luật của Nhà nước trong việc quản lý đất đai, rừng núi, sông suối và bảo vệ tài nguyên và môi trường sinh thái.

1. Quan niệm về vấn đề sở hữu

Vấn đề sở hữu luôn có ý nghĩa to lớn đối với sự tồn tại và phát triển của bất kỳ tộc người nào, trong bất cứ một chế độ xã hội nào. Theo Bộ luật Dân sự nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, “Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật. Chủ sở hữu là cá nhân, pháp nhân, các chủ thể khác có đủ ba quyền là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt tài sản” (Điều 173) [1].

Continue reading

VẤN ĐỀ SỞ HỮU: HIỆN TẠI VÀ ĐỀ XUẤT

TS. NGUYỄN ĐẠI LAI

Cơ chế thị trường ở Việt Nam mới bắt đầu được nhận thức và áp dụng từ gần 20 năm qua. Hiến Pháp 1992 khẳng định: "Nhà nước phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng XHCN". Đến Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ 10, năm 2006 viết gọn lại là: mô hình "nền kinh tế thị trường định hướng XHCN".

Cơ chế thị trường chỉ là phương tiện để vận hành nền kinh tế thị trường dựa vào những quy luật lợi ích khách quan của nó. Bản thân cơ chế thị trường không phải là một mô hình kinh tế, đó chỉ là cách thức phân phối lợi ích dựa theo các quy luật kinh tế khách quan. Cơ chế thị trường có thể giống nhau ở các nước khác nhau, nhưng việc vận dụng nó trong nền kinh tế thị trường ở mỗi nước có thể khác nhau do những đặc trưng riêng về thể chế chính trị và mô hình kinh tế đặc thù của mỗi quốc gia. Một số trong những nhân tố tạo nên sự khác biệt căn bản nói trên là nhận thức 2 vấn đề: Vấn đề sở hữu và vấn đề thành phần kinh tế trong nền kinh tế thị trường.

Lý luận và thực tiền về sở hữu:

Thứ nhất, bản chất của quan hệ sở hữu là quyền sở hữu tư liệu sản xuất (TLSX) là quan hệ giữa người với người về mặt chiếm hữu TLSX. Đây là quan hệ khách quan, không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của con người, quan hệ đó thể hiện ở cả 4 khâu của quá trình tái sản xuất xã hội (sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng);

Thứ hai, chế độ sở hữu là sự pháp lý hoá các quan hệ sở hữu thành các quyền như: quyền định đoạt, quyền sử dụng, quyền quản lý sản xuất kinh doanh, quyền thực hiện các lợi ích kinh tế. Tương ứng với các phương thức sản xuất khác nhau có thể có các loại hình sở hữu phổ biến khác nhau. Cho đến nay, thế giới đã có 3 hình thức sở hữu chính: sở hữu xã hội, sở hữu tư nhân và sở hữu hỗn hợp;

Continue reading

TRUNG MUA, TRƯNG DỤNG: KHÁI NIỆM VÀ ĐIỀU KIỆN

PGS.TS. PHAN TRUNG LÝ – Phó chủ nhiệm Uỷ ban Pháp luật của Quốc hội

Kỳ họp thứ hai (tháng 11/2007) Quốc hội khoá XII đã thảo luận cho ý kiến về dự án Luật Trưng mua, trưng dụng tài sản (Tác giả viết bài này trước thời điểm Luật Trưng mua, trưng dụng tài sản năm 2008 được ban hành – Civillawinfor). Nhiều vấn đề thuộc nội dung của luật này đã được cơ quan soạn thảo trình Quốc hội. Bên cạnh đó, còn nhiều vấn đề được tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện dự thảo trình Quốc hội thông qua trong kỳ họp tới. Luật Trưng mua, trưng dụng là văn bản pháp luật rất quan trọng.

Những quy định của luật này điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến quyền tài sản của tổ chức và cá nhân. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi đề cập đến khái niệm trưng mua, trưng dụng và điều kiện trưng mua, trưng dụng cũng như việc xử lý đối với các quy định hiện hành liên quan đến vấn đề này.

1. Khái niệm trưng mua, trưng dụng

1.1 Khái niệm trưng mua, trưng dụng đã được quy định từ rất sớm trong các văn bản pháp luật nước ta. Ngay từ những ngày đầu thành lập nước, Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã quy định: “trong thời kỳ quốc gia còn cần phải bảo vệ và củng cố nền độc lập trên khắp địa hạt Việt Nam, các nhà chức trách quân sự hoặc hành chính, nếu không điều đình thoả thuận được với tư nhân thì có quyền: trưng dụng bất động sản; trưng thu hoặc trưng dụng động sản”[1].

Các Hiến pháp nước ta ở các thời kỳ đều quy định trưng mua, trưng dụng là một biện pháp cấp thiết để xây dựng và bảo vệ tổ quốc.

Continue reading

ÁP DỤNG CHẾ ĐỊNH TÀI SẢN VÀ QUYỀN SỞ HỮU TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM NĂM 2005

THS. NGUYỄN VIỆT CƯỜNG

Chế định tài sản và quyền sở hữu là một trong những chế định hết sức quan trọng trong pháp luật dân sự, nên bất kỳ BLDS nào, chế định tài sản và quyền sở hữu cũng chiếm vị trí trọng tâm. Trong BLDS năm 1995, BLDS năm 2005, chế định tài sản và quyền sở hữu đều được quy định ở phần thứ 2 gồm 7 chương, trong đó BLDS năm 1995 có 113 điều (từ Điều 172 đến Điều 284), BLDS năm 2005 có 117 điều ( từ điều 163 đến điều 279).

So với BLDS năm 1995 thì BLDS năm 2005 tăng thêm 4 điều, trong đó có 8 điều mới (Điều 166, 168, 188, 197, 218, 257, 258, 261), giữ nguyên 33 điều, sửa và bổ sung 76 điều. Trong số các điều sửa và bổ sung, có một số điều chỉ sửa câu chữ, từ ngữ cho chính xác, còn phần lớn việc sửa và bổ sung làm cho điều luật không những chính xác mà còn có nội dung mới. Đây là những quy định mà qua thực tiễn thực hiện BLDC1995, nhà làm luật đã bổ xung cho phù hợp với thực tiễn.

1. Nguyên tắc chịu rủi ro về tài sản

BLDS 1995 không có quy định này. Theo Điều 166 BLDS 2005 thì “chủ sở hữu phải chịu rủi ro khi tài sản bị tiêu huỷ hoặc bị hư hỏng do sự kiện bất khả kháng, trừ trường hợp có quy định khác hoặc pháp luật có quy định khác.

Quy định trên rất quan trọng trong cuộc sống, nhất là trong các giao dịch dân sự thuê tài sản, mượn tài sản…Trong các loại giao dịch này chủ sở hữu tài sản là người cho thuê, cho mượn tài sản, nếu không may tài sản bị tiêu huỷ hoặc bị hư hỏng do sự kiện bất khả kháng thì người thuê, người mượn tài sản không phải chịu trách nhiệm bồi thường.

2. Thời điểm chuyển quyền sở hữu đối với tài sản

Theo Điều 168 BLDS 2000 thì:

a. Việc chuyển quyền sở hữu đối với bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký quyền sở hữu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

b. Việc chuyển quyền sở hữu đối với động sản có hiệu lực kể từ thời điểm động sản được chuyển giao, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Continue reading

CẤU TRÚC KỸ THUẬT CỦA HỆ THỐNG PHÁP LUẬT SỞ HỮU BẤT ĐỘNG SẢN VIỆT NAM: GÓC NHÌN PHÁP LUẬT

TS. NGUYỄN NGỌC ĐIỆN

Tổng quan

Trước khi tiếp xúc với luật phương Tây, Việt Nam cũng có một tập hợp các quy tắc pháp lý chi phối quan hệ giữa người và người trong đời sống dân sự. Thế nhưng tập hợp đó còn xa mới đạt đến trình độ của một hệ thống pháp luật dân sự theo đúng nghĩa khoa học của từ ngữ. Riêng trong lĩnh vực tài sản, pháp luật Việt Nam chỉ thực sự phát triển kể từ khi các luật gia Pháp tìm cách đưa vào Việt Nam những thành tựu của văn hoá pháp lý La Mã – Đức (romano-germanique) trong khuôn khổ xây dựng hệ thống pháp luật thuộc địa. Có thể nói rằng, với sự ra đời của các Bộ dân luật Bắc kỳ và Trung kỳ, theo khuôn mẫu của Bộ luật dân sự Napoléon, pháp luật tài sản Việt Nam đã được hoàn thiện một bước đáng kể, trên cơ sở quan niệm La Mã về sở hữu.

Nói riêng về pháp luật bất động sản, việc ban hành Sắc lệnh điền thổ ngày 21/7/1925 áp dụng tại Nam kỳ đã đặt cơ sở cho một chế độ quản lý quyền sở hữu tư nhân về đất theo kiểu Đức khá hoàn chỉnh. Quy tắc đặc trưng của chế độ đó, ghi nhận tại Điều 362 của Sắc lệnh, thiết lập bằng khoán điền thổ (titre foncier) là bằng chứng tuyệt đối và duy nhất về quyền sở hữu đất đai, đã có ảnh hưởng sâu rộng đối với sự phát triển tâm lý pháp luật của người Việt Nam thời Pháp thuộc và cả hiện nay[1].

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, hệ thống pháp luật thuộc địa được thay thế bằng hệ thống pháp luật XHCN, nhưng các dấu vết của luật cũ vẫn được bảo tồn trong tục lệ. Khi xây dựng pháp luật dân sự Việt Nam hiện đại, người làm luật đã lấy lại rất nhiều giải pháp tích cực của tục lệ bên cạnh việc tham khảo và tiếp thu có chọn lọc các thành tựu trong các nền pháp luật thuộc hệ thống La Mã – Đức. Bằng cách đó, luật dân sự Việt Nam trong thời kỳ mới tiếp tục chịu ảnh hưởng của luật dân sự Pháp. Đặc biệt, pháp luật Việt Nam hiện hành chấp nhận quan niệm về sở hữu trong luật của Pháp[2] và sử dụng những khái niệm trong luật sở hữu của Pháp phát triển để phát triển các chế định cơ bản của pháp luật tài sản Việt Nam.

Vấn đề là, pháp luật về sở hữu bất động sản trong luật Việt Nam, như là một phần của pháp luật dân sự, không thể được xây dựng dựa trên quyền sở hữu đất đai theo kiểu Pháp. Trong khung cảnh của luật thực định Việt Nam, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước quản lý; cá nhân, pháp nhân và nói chung các chủ thể của quan hệ pháp luật mà không phải là nhà nước chỉ thực hiện trên đất một quyền mà về phương diện kỹ thuật, có thể so sánh với quyền của người sử dụng đất trong quan hệ với chủ đất trong luật cổ của Pháp[3]. Với quyền này, người có quyền – cũng được gọi là người sử dụng đất – có thể thu được từ đất những lợi ích vật chất nhất định có giá trị tiền tệ. Bởi vậy, chính quyền sử dụng đất, chứ không phải đất, là tài sản thuộc sở hữu tư nhân trong luật Việt Nam hiện hành.

Continue reading