CHẾ ĐỘ SỞ HỮU TOÀN DÂN VÀ VẤN ĐỀ SỞ HỮU ĐẤT ĐAI

LS. NGUYỄN TIẾN LẬP

Trong suốt thời gian qua, bất chấp mọi cố gắng của các nhà làm luật, các vấn đề cơ bản liên quan đến sở hữu toàn dân và sở hữu nhà nước vẫn chưa được giải quyết. Vấn đề sở hữu vốn thuộc một trong những phạm trù “cổ điển” của khoa học pháp lý và phạm trù “sơ đẳng” của một hệ thống pháp luật. Do đó, hầu như không có khó khăn gì để minh định nó. Nguyên nhân có thể có nhiều, nhưng theo chúng tôi, phần quan trọng nằm ở các “rào cản” mà các nhà làm luật chưa thể vượt qua cả về tâm lý chính trị và nhận thức chính trị.

Ở khía cạnh pháp lý, “sở hữu” luôn luôn là vấn đề nền tảng của cả pháp luật kinh tế lẫn pháp luật dân sự. Hơn một nửa thế kỷ qua, việc xây dựng pháp luật ở nước ta đều đã xoay quanh khái niệm này, và trên thực tế đã đạt được nhiều thành tựu cơ bản và nổi bật. Đó là thông qua các Hiến pháp từ 1946, 1959, 1980 và 1992 và các đạo luật đơn lẻ khác, đặc biệt là Bộ luật Dân sự năm 1995 như một đỉnh cao, sau đó sửa đổi năm 2005,  Nhà nước ta đã khẳng định và sáng tạo ra các chế định liên quan đến chế độ và hình thức sở hữu, địa vị pháp lý của chủ sở hữu, các chế định kề cận v.v..
Tuy nhiên, có một thực tế là cho tới hiện nay, vẫn tồn tại hai cách tiếp cận với vấn đề sở hữu  khác nhau, thậm chí chồng chéo và lẫn lộn. Đó là tiếp cận chính trị và tiếp cận pháp lý.
Nhấn mạnh cách “tiếp cận chính trị”, chúng ta luôn luôn tìm cách phân định và phân biệt giữa chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa (với nền tảng là sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể) và chế độ sở hữu tư bản chủ nghĩa (mà nòng cốt là sở hữu tư nhân).  Trong khi đó, cách tiếp cận pháp lý đòi hỏi phải xác định rõ các quyền và nghĩa vụ của các chủ sở hữu và các đối tượng liên quan trong các giao dịch liên quan đến sở hữu theo  “hình thức sở hữu”, vốn đa dạng, phong phú và đậm màu sắc thực tiễn hơn “chế độ sở hữu”.
Cụ thể, Hiến pháp 1992 quy định ba chế độ sở hữu là sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng. Đồng thời, Hiến pháp cũng xác định các đối tượng quan trọng thuộc sở hữu toàn dân, trong đó bao gồm đất đai và “phần vốn và tài sản Nhà nước đầu tư vào các xí nghiệp …”. Đến năm 2003, trong hai đạo luật quan trọng được Quốc hội thông qua là Luật Đất đai và Luật Doanh nghiệp nhà nước lại có hai quy định khác nhau liên quan đến hai đối tượng thuộc sở hữu toàn dân. Trong khi Luật Đất đai vẫn khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân còn Nhà nước là “đại diện chủ sử hữu toàn dân”, thì Luật Doanh nghiệp nhà nước lại định nghĩa rằng “Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ…”.

Continue reading

GIẢI QUYẾT KHỦNG HOẢNG TRONG QUAN HỆ CHUNG CƯ: CẦN CẢI CÁCH PHÁP LUẬT VỀ SỞ HỮU

TS. NGUYỄN NGỌC ĐIỆN

Các vụ tranh chấp giữa chủ căn hộ chung cư và chủ đầu tư nổ ra ngày càng nhiều, càng phức tạp, dai dẳng. Đáng chú ý là trong tất cả những cuộc đôi co ấy, chủ đầu tư luôn được cho là bên “gây chuyện” bằng cách cố ý đặt bên kia, các chủ căn hộ, vào tình thế phải chấp nhận giao kèo với những điều kiện không bình đẳng khiến người ta bức xúc, rồi phản ứng.

Nhà chức trách, về phần mình, cứ loay hoay không biết làm thế nào để giải quyết cho ổn thoả xung đột giữa các bên, dù ai cũng thấy tình trạng bị chèn ép rành rành của chủ căn hộ trong mối quan hệ với chủ đầu tư.

Khó khăn ở chỗ không thể tước “vũ khí” của chủ đầu tư; nói rõ hơn là không thể lấy đi những tài sản mà họ dùng làm vật khống chế đối với chủ căn hộ, chẳng hạn, nhà để xe, các thiết bị phục vụ sinh hoạt hàng ngày như hệ thống dẫn điện, nước, mạng internet,… Những thứ đó vốn là của họ, một cách hợp pháp, từ khi toà nhà chung cư được xây dựng.

Ở các nước tiên tiến cũng có chung cư, thậm chí nhiều hơn mình nhiều lần; nhưng xã hội không phải chứng kiến tình cảnh khủng hoảng trong quan hệ giữa các bên theo kịch bản đó. Từ rất sớm, người làm luật đã nhận thức rõ tính chất phức tạp của loại hình sở hữu chung này và đã chủ động mổ xẻ, phân tích, nhận dạng những điểm nóng tiềm tàng trong quan hệ sở hữu để có cách ngăn ngừa sự bộc phát các trận chiến pháp lý.

Đặc biệt, người ta nói rằng một bất động sản chỉ được gọi là chung cư một khi nó được “hộ hoá” toàn bộ, nghĩa là được phân chia toàn bộ thành các căn hộ. Mỗi căn hộ gồm có những phần tài sản thuộc sở hữu riêng biệt của chủ căn hộ và những phần tài sản mà chủ căn hộ có quyền sở hữu chung với các chủ căn hộ khác. Tất cả các yếu tố tạo thành bất động sản đều phải được xác định tính chất, chỉ có thể hoặc riêng của chủ căn hộ, hoặc chung của tất cả các chủ căn hộ.

Continue reading

AI QUẢN LÝ CỔ TỨC CỦA NHÀ NƯỚC?

HẢI LÝ

Doanh nghiệp quốc doanh là khu vực duy nhất của nền kinh tế hiện nay mỗi khi được tăng vốn không phải cam kết sẽ sử dụng vốn hiệu quả cụ thể ở mức nào.

Vietnam Report vừa công bố danh sách 1.000 doanh nghiệp nộp thuế thu nhập lớn nhất nước. Trong số 10 đơn vị hàng đầu, chỉ có hai công ty không có tí vốn nhà nước nào là Bảo hiểm nhân thọ Prudential và liên doanh Phú Mỹ Hưng. Đứng ở góc độ cơ quan quản lý, Nhà nước là người thu thuế, áp dụng một mức thuế thu nhập bằng nhau cho tất cả mọi thành phần kinh tế, nên doanh nghiệp nào nộp nhiều thuế cần phải được khen thưởng, động viên để họ làm ăn hiệu quả hơn nữa, để “nộp thuế năm sau cao hơn năm trước”.

Tuy nhiên, ở góc độ ông chủ – là người đầu tư vốn vào các doanh nghiệp quốc doanh – thì Nhà nước không thể không tính toán đến hiệu quả sử dụng đồng vốn của mình. Và sự tính toán đó không chỉ đơn thuần dựa trên số thuế thu nhập mà doanh nghiệp nhà nước nộp cho ngân sách.

Ngân hàng Ngoại thương Vietcombank đứng ở vị trí thứ tư trong bảng xếp hạng. Theo báo cáo thường niên năm 2009, Vietcombank nộp thuế thu nhập doanh nghiệp 1.060 tỉ đồng. Nhưng đây không phải là số tiền duy nhất ngân sách thu được từ ngân hàng.

Năm ngoái Vietcombank trả cổ tức 12% cho cổ đông hiện hữu. Với tư cách là cổ đông lớn nhất, nắm giữ 90,72% vốn của Vietcombank (vốn điều lệ Vietcombank năm 2009 là 12.100 tỉ đồng), Nhà nước còn nhận được 1.317 tỉ đồng cổ tức. Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) đại diện cho phần vốn nhà nước tại Vietcombank đã nhận cổ tức nói trên và nộp vào ngân sách.

Như vậy cổ tức của Vietcombank mà Nhà nước nhận được còn cao hơn thuế thu nhập doanh nghiệp của ngân hàng. Nhìn từ khía cạnh này, ông chủ Nhà nước bỏ tiền vào Vietcombank là một nhà đầu tư thành công.

Có những doanh nghiệp không có tên trong tốp 10 của Vietnam Report nói trên, nhưng sự làm ăn hiệu quả của họ đã mang lại cho Nhà nước một mức lợi nhuận đáng kể.

Continue reading

LÀM RÕ MỤC TIÊU SỞ HỮU DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

NHÓM TÁC GIẢ: PGS .TS. PHẠM DUY NGHĨA, PGS. TS. ĐẶNG VĂN THANH, LS. TRẦN HỮU HUỲNH, LS. NGUYỄN TIẾN LẬP

Chỉ khi làm rõ được mục tiêu của sở hữu, chúng ta mới có thể xác định một cách đúng đắn và hợp lý cách bảo vệ nó.

Có ba vấn đề cốt yếu liên quan đến nhau và đều cần được lý giải cả về lý luận và thực tiễn một cách đồng bộ. Đó là: Trong nền kinh tế thị trường có cần thiết duy trì doanh nghiệp nhà nước (DNNN) hay không, nếu có thì ở quy mô và lĩnh vực nào? Cách thức tổ chức, quản lý và điều hành DNNN ra sao? Ai sẽ là chủ sở hữu DNNN?

Trực tiếp kinh doanh, nhà nước cản trở thể chế thị trường

Trong nền kinh tế thị trường, chức năng kinh tế của Nhà nước không mất đi, tuy nhiên thay đổi về chất. Nhà nước (theo bản chất thông thường của nó) không còn “làm kinh doanh”, tức kiếm tiền để “nuôi ngân sách” nữa, mà chỉ còn định hướng, tác động và điều tiết nền kinh tế trên cơ sở chính sách, pháp luật và các công cụ quản lý vĩ mô nhất định. Nếu như vậy thì quy mô doanh nghiệp nhà nước phải bị thu hẹp lại, và tính chất, mục tiêu của nó phải thay đổi, tức không tham gia cạnh tranh trên thị trường mà chỉ thực hiện các nhiệm vụ mang tính xã hội và công ích.

Nguyên lý chung là như vậy, nhưng tình hình thực tiễn ở nước ta lại khác. Nhà nước, thông qua các doanh nghiệp của mình, vẫn trực tiếp kinh doanh một cách mạnh mẽ và duy trì các chức năng kinh tế khác.

Cho đến nay, vẫn tồn tại hai vướng mắc khá cơ bản. Thứ nhất, đó là mâu thuẫn giữa chủ trương giảm bớt doanh nghiệp nhà nước (DNNN thông qua cơ chế cổ phần hoá và tăng cường sức mạnh của DNNN thông qua chính sách “tập đoàn hoá”. Thứ hai, DNNN nói chung đang bị khoác lên vai quá nhiều vai trò và chức năng, bao gồm cả bảo đảm sức mạnh chính trị, duy trì ổn định xã hội, điều tiết kinh tế và “làm tiền” v.v…

Chính điều đó đã “đẻ” ra rất nhiều các hệ quả và hậu quả khó giải quyết, mà quan trọng nhất là các khó khăn, cản trở cho việc xây dựng và hoàn thiện các “thể chế kinh tế thị trường”.

Continue reading

DỠ “RÀO CẢN” SỞ HỮU ĐẤT ĐAI

image NHÓM CÁC TÁC GIẢ: PGS.TS. PHẠM DUY NGHĨA, PGS.TS. ĐẶNG VĂN THANH, LS. TRẦN HỮU HUỲNH, LS. NGUYỄN TIẾN LẬP

Bản chất của quá trình tư nhân hoá đất đai: các cơ quan quản lý Nhà nước không còn đủ sức để sử dụng các công cụ và biện pháp hành chính nhằm kiểm soát sự vận động của các yếu tố và quy luật thị trường, dẫn đến đánh mất các thực quyền của người chủ sở hữu. Hậu qủa của nó, mà cả Nhà nước và xã hội phải gánh chịu, là giá đất ngày càng tăng trong khi hiệu quả thật sự của các dự án đầu tư thì ngày càng thấp.

Có lẽ không có quốc gia nào có bộ luật về quản lý đất đai đồ sộ và phức tạp như ở Việt Nam. Vấn đề ở chỗ đó không phải là tất cả pháp luật về đất đai (để điều chỉnh nó như là một loại tài nguyên, đối tượng sở hữu và tài sản của Bộ luật Dân sự) mà chủ yếu là các văn bản liên quan đến quản lý nhà nước hay quản lý hành chính về đất đai, tức về thực chất xoay quanh bảo vệ các quyền và lợi ích của nhà nước với tư cách là “người đại diện chủ sở hữu (toàn dân) về đất đai”.

Xét về phương diện “sở hữu toàn dân về đất đai” có thể nêu một số vấn đề ở góc độ lý thuyết.

Thứ nhất, khi Hiến pháp ghi rằng “đất đai thuộc sở hữu toàn dân” thì cần coi đó là tuyên ngôn chính trị về sở hữu hơn là một chế định pháp lý. Đất đai nói chung, tương tự như không khí và ánh sáng là các yếu tố thuộc về môi trường sống tự nhiên, nên không thể là “tài sản” thuộc phạm trù sở hữu của luật Dân sự được. Thay vào đó, các “mảnh đất” hay “thửa đất” cụ thể mới là đối tượng của sở hữu theo pháp luật. Luật về đất đai của các nước, do đó, chính là luật về địa chính.

Thứ hai, khi tuyên bố đất đai thuộc sở hữu toàn dân trên cơ sở Luật Đất đai năm 1980, Nhà nước đã tước đoạt về mặt pháp lý (một cách đơn giản và dễ dàng) toàn bộ sở hữu tư nhân về đất đai ở Việt Nam. Tuy nhiên, bởi “đất đai” và “thửa đất” (hay “mảnh đất”) thuộc hai phạm trù khác nhau, do đó, trên thực tế, quá trình quốc hữu hoá các “mảnh đất” và “thửa đất” cụ thể đã không xảy ra sau đó.

Continue reading

CÔNG HỮU ĐẤT ĐAI VÀ NGUY CƠ THAM NHŨNG

GS.TSKH. ĐẶNG HÙNG VÕ

Công nhận sở hữu đất đai thuộc nhiều thành phần kinh tế theo quy định của pháp luật là việc cần làm ngay. Đây là việc tạo được động lực cho đầu tư, giảm tham nhũng trong quản lý đất đai, tăng hiệu quả sử dụng đất và tạo điều kiện tốt cho hội nhập kinh tế quốc tế.

Cơ chế tạo tham nhũng

Đất đai là một yếu tố đặc biệt, không do lao động của con người tạo ra, có nguồn cung cố định và không bị hao hụt diện tích trong quá trình sử dụng. Chế độ sở hữu phù hợp sẽ nâng cao hiệu quả sử dụng đất và tạo lập được công bằng về quyền hưởng dụng đất đai.

Chế độ công hữu về đất đai ở nước ta hiện nay dưới dạng sở hữu toàn dân đã bị biến đổi ở một số điểm (đã nêu trong phần trước: Công hữu đất đai không hợp với thời quá độ) cho phù hợp với nhu cầu phát triển của kinh tế thị trường. Mặc dù vậy, vẫn còn nhiều điểm nữa đang tạo nguy cơ lớn về tham nhũng trong quản lý đất đai, đó chính là nguồn gốc làm mất động lực và mất công bằng trong sử dụng đất.

Pháp luật hiện hành có quy định 3 cơ chế để nhà đầu tư có đất: một là nhà đầu tư tự thỏa thuận với người đang sử dụng đất; hai là Nhà nước thu hồi đất theo quy hoạch để chủ động quỹ đất cho nhu cầu phát triển; ba là Nhà nước thu hồi đất theo dự án đầu tư của chủ đầu tư đã được chấp thuận.

Pháp luật hiện hành cũng có 3 cơ chế để Nhà nước cung đất cho các dự án đầu tư: một là đấu giá quyền sử dụng đất; hai là đấu thầu dự án có sử dụng đất; ba là giao đất, cho thuê đất trực tiếp cho nhà đầu tư đã được chỉ định.

Cơ chế thì phong phú như vậy nhưng trên thực tế thì chủ yếu vẫn chỉ áp dụng một cơ chế Nhà nước quyết định thu hồi đất của người đang sử dụng để giao hoặc cho thuê trực tiếp cho nhà đầu tư đã được chỉ định, với giá đất để tính bồi thường và giá đất để nhà đầu tư phải trả cho Nhà nước đều do cơ quan có thẩm quyền giao đất tự quyết định, với tình trạng thiếu công khai, minh bạch về thông tin trong toàn bộ quá trình thực hiện.

Continue reading

Ý TƯỞNG VỀ CHẾ ĐỊNH QUYỀN HƯỞNG DỤNG TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ TƯƠNG LAI CỦA VIỆT NAM

TS. NGÔ HUY CƯƠNG – Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội

Vật quyền từ xưa tới nay trên thế giới vẫn được xem là phạm vi truyền thống của luật tài sản. Thế nhưng, vật quyền lại ít được nhắc đến tên trong các văn bản pháp luật Việt Nam và ngay cả trong các giáo trình dạy luật dân sự, mặc dù nội dung của nó đã xuất hiện không ít (tuy chưa đầy đủ) trong Bộ luật Dân sự 2005 và trong một số đạo luật khác.

Hiện nay Ban soạn thảo sửa đổi Bộ luật Dân sự 2005 đang quyết tâm xác định các vật quyền tồn tại một cách khách quan để đưa vào Bộ luật sửa đổi này. Mặc dù đây là một việc làm hết sức cần thiết và đầy ý nghĩa, khi chúng ta đang xây dựng nền kinh tế thị trường mà ở đó luôn luôn đòi hỏi sự rõ ràng về tài sản, tuy nhiên không phải là dễ, khi mà nhận thức chung về vật quyền ở nước ta hiện nay còn chưa bắt kịp với nhận thức chung của các luật gia ở các nước khác về vấn đề này. Vì vậy, sự lược giải về các vật quyền có ý nghĩa thiết thực trước khi nói một cách đơn giản nhất về quyền hưởng dụng- một vật quyền lớn nhất mà không nền tài phán nào không chú ý tới nó.

1. Lược giải về các vật quyền và xác định vị trí của quyền hưởng dụng

Con người sống không thể thiếu sự đáp ứng các nhu cầu vật chất và tinh thần. Nguồn đầu tiên, cơ bản và quan trọng để đáp ứng các nhu cầu này là các vật thể vật chất hay các vật chất liệu. Ví dụ nhà để ở, quần áo để mặc, xe cộ để đi lại, ruộng để cày cấy, lúa gạo để ăn, bút để viết, mực để in ấn, máy ảnh để chụp hình…Đối với các vật thể vật chất này, người ta có một số nhận xét đơn giản sau đây mà đã kéo theo các hệ quả về việc thiết lập các quy chế pháp lý.

Nhận xét thứ nhất, để các vật thể vật chất này có thể đáp ứng nhu cầu sống của ai đó (người có nó) thì người này cần ngăn cản hay loại trừ người khác từ việc tiếp cận tới vật thể vật chất đó, đến việc quản lý và khai thác nó… Pháp luật đã hỗ trợ cho người nắm giữ hay tạo lập vật thể vật chất (mà pháp luật cho rằng họ nắm giữ hay tạo lập hợp pháp) ngăn cản hay loại trừ tất cả những người khác bằng cách xây dựng chế định quyền sở hữu để cho người này thống trị đối với vật thể vật chất. Như vậy, quyền sở hữu là quyền thống trị của một người đối với vật thể vật chất của mình và loại trừ tất cả những người khác, nên được gọi là vật quyền hay quyền đối vật.

Continue reading

AI THỰC HIỆN QUYỀN CHỦ SỞ HỮU ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC?

QUANG MINH

Vấn đề quản lý có hiệu quả doanh nghiệp nhà nước (DNNN) đã được đặt ra từ nhiều năm nay, nhưng đến nay, sau hai thập kỷ cải cách DNNN, vẫn chưa tìm ra các giải pháp hữu hiệu.

Khoảng trống pháp lý

Đến thời điểm này, khi Luật DNNN đã hết hiệu lực, các DNNN không kịp cổ phần hóa trước ngày 1-7-2010 (ngày Luật DNNN hết hiệu lực) thì chuyển đổi sang mô hình công ty TNHH một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu theo Nghị định 25/2010/NĐ-CP.

Tuy nhiên, việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu tại các công ty mới chuyển đổi này lại chưa có quy định pháp lý nào điều chỉnh, vì Nghị định 132/2005/NĐ-CP hướng dẫn về thực hiện các quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu đối với DNNN vẫn chưa có văn bản thay thế.

Khoảng trống pháp lý này đang khiến các DNNN, đặc biệt là các tập đoàn, tổng công ty lớn, không biết phải thực hiện theo quy định nào trong khi chờ Bộ Kế hoạch và Đầu tư soạn thảo nghị định sửa đổi Nghị định 132 để trình Chính phủ ban hành.

Tuần trước, như một giải pháp tình thế, Phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng đã ký ban hành Văn bản 1626, tạm thời quy định các công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu áp dụng các quy định về tổ chức thực hiện quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước tại Nghị định 25/2010. Đối với các tổng công ty 91, áp dụng các quy định tại Nghị định 132/2005, Nghị định 86/2006 và Nghị định 25/2010. Còn các tập đoàn kinh tế nhà nước thì áp dụng các quy định tại Nghị định 101/2009…

Thực tế hoạt động của các DNNN trong thời gian qua, theo các quy định này, cũng đã chứng tỏ việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu đối với DNNN có nhiều bất cập, không phù hợp với thực tiễn và không mang lại hiệu quả trong việc quản lý vốn nhà nước tại DNNN.

Continue reading

CẦN THAY ĐỔI KHÁI NIỆM SỞ HỮU TOÀN DÂN

PGS.TS. PHẠM DUY NGHĨA – Đại học Kinh tế TPHCM

Bên lề Diễn đàn đối tác pháp luật do Chương trình phát triển LHQ (UNDP) tổ chức ngày 13- 9, TS Phạm Duy Nghĩa, Giảng viên Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright, cho rằng, khối lượng công sản rơi vào tay tư nhân tăng lên khủng khiếp trong 5 năm qua. Do vậy, cần bỏ khái niệm sở hữu toàn dân và thay bằng sở hữu quốc gia để có pháp nhân quản lý cụ thể.

TS Phạm Duy Nghĩa nói: Khác với cách đây 10 năm, hiện nay các nhóm lợi ích không che giấu vai trò ngày càng tích cực của họ trong việc hoạch định chính sách. Các tập đoàn dễ dàng có cuộc gặp với Chính phủ, thường xuyên tham gia đề xuất chính sách.
Do vậy, nhiều chuyên gia đánh giá, pháp luật kinh tế hiện nay dành lợi thế đầu tiên cho các cơ quan quản lý nhà nước, tiếp đến là các tập đoàn và doanh nhân. Những đối tượng khác luôn bị yếu thế.

Hiện nay đi mua một căn hộ thì người mua hoàn toàn không được đàm phán với chủ đầu tư về hợp đồng mua bán, phương thức thanh toán. Cuộc chơi luôn có lợi thế về người có tiền và có quyền lực.
Do vậy, cái mà nhà nước cần làm là xây dựng những chính sách can thiệp có hiệu quả. Nhà nước tạo khuôn khổ pháp lý cho các đơn vị cạnh tranh lành mạnh. Nhà nước không nên bảo lãnh, đi vay vốn, làm thay doanh nghiệp.

Ông và nhóm nghiên cứu về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN có đề xuất bỏ khái niệm sở hữu toàn dân, thay vào đó cần tái xác lập khái niệm sở hữu quốc gia và sở hữu của chính quyền địa phương. Đâu là lý do của kiến nghị này?

Sở hữu toàn dân là một khái niệm chính trị. Nhưng dưới cái mũ sở hữu toàn dân, nó đã gây ra nhiều bất công, làm cho tài sản công rơi vào tay những người có ảnh hưởng. Vì vậy cần có những khái niệm có thể dùng được để bảo vệ lợi ích quốc gia, đảm bảo phúc lợi được chia công bằng. Nhà nước chỉ là một thành tố trong quốc gia. Vì vậy sở hữu phải của nhiều thế hệ.

Continue reading

NHÀ CHUNG CƯ LÀM VĂN PHÒNG: CẤM ĐƯỢC KHÔNG?

NGUYỄN THỊ PHƯƠNG CHUNG – LG. NGUYỄN GIA HUY CHƯƠNG

Liệu có cấm được việc sử dụng nhà chung cư làm văn phòng khi nhu cầu mặt bằng kinh doanh giá rẻ luôn tồn tại?

Ngay sau khi Bộ Xây dựng ban hành Công văn số 2544/BXD-QLN ngày 19.11.2009 về quy định quản lý và sử dụng nhà chung cư, đã có nhiều ý kiến xung quanh những quy định của văn bản này. Nội dung của Công văn 2544 tập trung vào một số vấn đề về công tác quản lý sử dụng nhà chung cư nhưng đáng quan tâm nhất là mục đích của việc sử dụng nhà chung cư: chuyển đổi mục đích sử dụng từ nhà ở sang làm văn phòng, cơ sở sản xuất, kinh doanh là trái với mục đích sử dụng, không đảm bảo an toàn.

Ở đây, người viết muốn góp một số ý kiến về nội dung của Công văn ở góc độ quy định pháp luật và thực tiễn đời sống xã hội Việt Nam.

“Vênh” giữa quy định và thực tiễn áp dụng

Theo Luật Nhà ở, nhà ở là công trình xây dựng với mục đích “để ở” và phục vụ các nhu cầu sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân. Như vậy, mục đích sử dụng của nhà ở là phải để ở. Tuy nhiên, thực tế tại các đô thị lớn như Hà Nội, TP.HCM, có nhiều nhà ở (bao gồm cả nhà chung cư) đã được sử dụng làm văn phòng, trụ sở của các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh. Rõ ràng, việc sử dụng nhà ở như vậy đã sai về mặt mục đích theo quy định của pháp luật. Điều này cho thấy, có độ chênh khá lớn giữa quy định của Luật Nhà ở và thực tiễn áp dụng pháp luật đối với mục đích sử dụng nhà ở.

Theo Công văn 2544, pháp luật về quản lý sử dụng nhà chung cư không cho phép chủ sở hữu nhà ở sử dụng hoặc cho người khác sử dụng phần sở hữu riêng trái với mục đích quy định. Cơ sở pháp lý mà Công văn 2544 viện dẫn là Khoản 6, Điều 23 tại Quy chế được ban hành kèm theo Quyết định số 08/2008/QĐ-BXD của Bộ Xây dựng ngày 28.5.2008 về quản lý và sử dụng nhà chung cư (gọi tắt là Quy chế 08). Theo quy định này, mọi hành vi sử dụng căn hộ chung cư sai mục đích “để ở” đều bị cấm.

Continue reading

“CÔNG THỔ QUỐC GIA” HAY SỰ SÁNG TẠO “KỲ QUẶC” VỀ SỞ HỮU?

NGUYỄN QUANG A

Không có cái gọi là sở hữu toàn dân. Đó chỉ là một từ được "sáng tạo" ra để duy trì "quyền sở hữu thực" của một nhóm cá nhân. Xét thực tế đó cũng chẳng khác gì quyền của vua chúa xưa kia.

Sở hữu toàn dân: Sự "sáng tạo chết người"

Quyền sở hữu tài sản là một quyền căn bản trong các quyền con người. Quyền sở hữu và hệ thống thông tin về quyền sở hữu là vấn đề cốt lõi của mọi xã hội.

Có quyền sở hữu rạch ròi và có một hệ thống thông tin minh bạch về quyền sở hữu chính là bí ẩn của sự thành công của tất cả các nước đã phát triển và sự thiếu vắng một hệ thống như vậy là nguyên nhân chính của sự thất bại trong phát triển kinh tế-xã hội của tất cả phần còn lại nhiều nước trên thế giới. Đấy là thông điệp chính của cuốn sách nổi tiếng của học giả Peru, Hernando de Soto, cuốn "Sự bí ẩn của tư bản" được xuất bản năm 2000.

Tôi đã dịch cuốn sách ra tiếng Việt và bản dịch đã được gửi cho các nhà hoạch định chính sách với hy vọng giúp các nhà hoạch định chính sách và các đại biểu quốc hội có thông tin tham khảo trong quá trình thảo luận sửa đổi Luật đất đai. Đáng tiếc thông điệp của cuốn sách đã không có tác động gì đến Luật đất đai (sửa đổi) được thông qua năm 2003.

Năm 2006 Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia đã xuất bản cuốn sách đó với cái tên "sự bí ẩn của vốn" và tiêu đề phụ "Vì sao chủ nghĩa tư bản thành công ở phương Tây và thất bại ở mọi nơi khác", nhưng chỉ là "sách tham khảo nội bộ" không được phát hành rộng rãi qua hệ thống phát hành sách.

Quyền sở hữu có các tác dụng chủ yếu để: (1) xác định tiềm năng kinh tế của tài sản, (2) tích hợp thông tin tản mác (về các tài sản) vào một hệ thống, (3) khiến dân chúng có trách nhiện, (4) làm cho các tài sản có thể chuyển đổi, (5) kết nối dân chúng và (6) bảo vệ các giao dịch.

Continue reading

SỞ HỮU TOÀN DÂN HAY QUỐC GIA?

image TIẾN TÀI THỰC HIỆN

Nghị quyết 48-NQ/TW của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đang trong quá trình sơ kết. Một trong những vấn đề được đặt ra là thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN. TBKTSG đã có cuộc phỏng vấn PGS.TS Phạm Duy Nghĩa, trưởng nhóm chuyên gia của báo cáo, về vấn đề này.

TBKTSG: Báo cáo của nhóm chuyên gia đã đưa ra nhiều đề xuất táo bạo. Tuy nhiên, không rõ là nhóm đã dựa trên nền tảng lý luận nào? Hay nói cách khác, những đề xuất ấy liệu có đảm bảo cho thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN?

Ông Phạm Duy Nghĩa: Trung ương Đảng có hẳn một nghị quyết bàn về nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Về vấn đề này, nhìn chung có hai cách tiếp cận. Cách thứ nhất, định hướng XHCN nghĩa là phải sở hữu toàn dân về tư liệu sản xuất, khống chế sở hữu tư nhân và kiểm soát kinh tế tư bản.

Cách tiếp cận thứ hai là theo định lượng. Ví dụ: người nghèo phải được giúp đỡ; những đối tượng dễ bị tổn thương phải được đảm bảo về an sinh phúc lợi; việc phát triển phải đảm bảo bền vững; phân bổ phúc lợi phải đồng đều…

Muốn phúc lợi được phân bổ một cách tương đối công bằng, thì nguồn tài nguyên quốc gia phải được quản lý và các thế hệ phải có quyền kiểm soát. Những nhóm lợi ích ngày càng thao túng chính sách phải được kiểm soát, còn những nhóm không có tiếng nói hoặc tiếng nói yếu ớt cần phải được nâng đỡ. Nhóm chuyên gia chúng tôi đang đi theo hướng thứ hai.

TBKTSG: Một trong những đề xuất quan trọng của nhóm là bỏ khái niệm sở hữu toàn dân và thay vào đó là sở hữu quốc gia và sở hữu của chính quyền địa phương tỉnh, huyện, xã. Ông có thể giải thích kỹ hơn về đề xuất này?

Continue reading

SỐ PHẬN CỦA THƯƠNG HIỆU

LÊ CHÍ CÔNG – Giám đốc Nemo Consulting

Cuối cùng thì Vedan cũng đã đồng ý đền bù vô điều kiện cho người nông dân. Tự hỏi thương hiệu Vedan rồi sẽ như thế nào và liệu nó có còn tiếp tục tồn tại. Liên quan đến số phận của một thương hiệu, dưới đây là góc nhìn của một người nghiên cứu về thương hiệu.

Sự ngộ nhận trong truyền thông

Có người cho rằng Vedan cố tình “cò cưa” về số tiền đền bù nhằm kéo dài thời gian và tận dụng số lần xuất hiện một cách “miễn phí” trên các phương tiện truyền thông để nổi tiếng. Liệu nhận định này có đúng nếu mức độ “không bằng lòng” hay “sự phẫn nộ” của người dân đối với một thương hiệu này được khảo sát qua từng bài báo?

Một thương hiệu được nhiều người biết đến chưa có gì đảm bảo là một thương hiệu mạnh. Nếu điều mà thương hiệu được biết đến là tích cực thì nó sẽ “nổi tiếng”, còn ngược là “tai tiếng” và không doanh nghiệp nào muốn nhận được cái “tiếng” thứ hai này cả.

Trong ngành quản trị thương hiệu, sức mạnh của một thương hiệu thường được đo bằng chính sự cảm nhận, tình cảm và hành vi cụ thể của người tiêu dùng đối với một thương hiệu chứ không chỉ là mức độ nhận biết về thương hiệu đó.

Tất cả nằm ở cái tên thương hiệu…

Có một sản phẩm tốt chưa hẳn là một doanh nghiệp tốt. Doanh nghiệp tạo ra sản phẩm nhưng người tiêu dùng thì chọn cái tên thương hiệu ở trên quầy kệ. Nhiều trường hợp, họ không chọn mua một sản phẩm đơn giản bởi vì họ không thích cái tên nhãn hiệu dán trên bao bì, hoàn toàn không liên quan gì đến chất lượng sản phẩm. Một cái tên vô hồn vô cảm, một cái tên viết tắt khó hiểu XYZ nào đó hay cái tên như Vedan đều có ảnh hưởng đến nhận thức và hành vi tiêu dùng của khách hàng trong từng bối cảnh cụ thể.

Có nên đặt tên thương hiệu riêng cho mỗi sản phẩm ngoài cái tên thương hiệu của doanh nghiệp? Đây là một trong những câu hỏi tưởng chừng như đơn giản nhưng nó mang tầm chiến lược, có thể mang tính quyết định đến sự tồn vong của một doanh nghiệp nếu nó hoạt động trong một lĩnh vực có nhiều rủi ro.

Continue reading

XÂY DỰNG CƠ CHẾ QUẢN LÝ CỦA CHỦ SỞ HỮU

LÊ VĂN TỨ

Nghị định 25/2010/NĐ-CP ngày 19-3-2010 về chuyển đổi công ty nhà nước thành công ty TNHH một thành viên và tổ chức quản lý công ty TNHH một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu đã dựng nên một bộ khung cho cơ chế quản lý công ty loại này. Cho nên việc xây dựng cơ chế quản lý mới này đồng nghĩa với việc triển khai thực hiện Nghị định 25 (và có thể còn phải có những văn bản khác nhằm bổ sung, cụ thể hóa những vấn đề mà Nghị định 25 quy định chưa đủ rõ).

Cơ chế quản lý không thể rập khuôn

Căn cứ vào thực tế nền kinh tế nước ta hiện nay, có thể thấy thành phần kinh tế nhà nước đã được tổ chức theo hai loại hình doanh nghiệp: a) công ty TNHH một thành viên vẫn do Nhà nước làm chủ sở hữu duy nhất; b) công ty cổ phần (có vốn nhà nước) thuộc sở hữu hỗn hợp, trong đó Nhà nước là một đồng sở hữu.

Sở hữu khác nhau thì cơ chế quản lý phải khác nhau. Cho nên cơ chế quản lý của Nhà nước đối với công ty TNHH một thành viên phải khác với cơ chế quản lý phần vốn của Nhà nước trong các công ty cổ phần. Tiếc rằng tư duy này hình như vẫn chưa hình thành rõ nét ở nước ta.

Cho đến nay nhiều người vẫn coi việc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước đã làm và còn tiếp tục làm, cũng như việc chuyển đổi thành công ty TNHH một thành viên gần đây là đồng nghĩa với việc đổi mới doanh nghiệp nhà nước, trong khi thực ra tất cả đều mới chỉ là bước khởi đầu, bước chuyển đổi về sở hữu trên danh nghĩa. Sau bước chuyển đổi này, cần phải có bước chuyển đổi thực chất thông qua việc xây dựng và áp dụng một cơ chế quản lý mới phù hợp với tính chất sở hữu đã có thay đổi.

Thật vậy, sau cổ phần hóa (hoặc chuyển đổi), doanh nghiệp nhà nước A hoạt động theo Luật Doanh nghiệp nhà nước được chuyển thành công ty cổ phần A (có vốn nhà nước) hoặc thành công ty TNHH một thành viên A hoạt động theo Luật Doanh nghiệp. Tính chất sở hữu của công ty cổ phần A và công ty TNHH một thành viên A không còn giống nhau nữa. Để bảo đảm cơ chế quản lý phù hợp với tính chất sở hữu, vấn đề đặt ra là cơ chế quản lý của Nhà nước với tư cách chủ sở hữu đối với các công ty này không thể rập khuôn như nhau.

Continue reading

XÂY DỰNG LẠI CHẾ ĐỊNH CHIẾM HỮU BẰNG CHẤT LIỆU KHOA HỌC PHÙ HỢP

TS. NGUYỄN NGỌC ĐIỆN – Phó hiệu trưởng, Trường Đại học Kinh tế – Luật, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh

Phân tích, so sánh nội dung của quyền sở hữu và chiếm hữu trong pháp luật các nước, từ cổ tới kim, phân tích căn nguyên của sự bất hợp lý đặc thù trong cơ chế bảo vệ quyền sở hữu đang vận hành ở Việt Nam khi thừa nhận chiếm hữu như là một phần nội dung của quyền sở hữu, người viết yêu cầu phải nhìn nhận lại quan hệ chiếm hữu theo đúng bản chất, là tách quyền chiếm hữu ra khỏi quyền sở hữu và trả nó về vị trí thích hợp trước khi hoàn thiện pháp luật sở hữu.

Không biết từ lúc nào, quyền sở hữu ở Việt Nam được phân tích về mặt nội dung thành ba quyền năng: chiếm hữu, sử dụng và định đoạt. Quan niệm ấy được những người soạn thảo Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 1995 và cả BLDS năm 2005 sau này thấm nhuần và trở thành tư tưởng chủ đạo, được quán triệt trong quá trình xây dựng các quy tắc của Bộ luật liên quan đến quyền sở hữu. Chế độ pháp lý về sở hữu ở Việt Nam trở nên đặc thù và điều này khiến cho việc cải cách pháp luật dân sự trong khung cảnh hội nhập, đặc biệt về phần liên quan đến tài sản, là việc không đơn giản. Trở ngại chính đối với việc cải cách là sự khác biệt lớn giữa Việt Nam và các nền văn hoá pháp lý tiêu biểu trong cách hiểu về nội dung của quyền sở hữu, từ đó ảnh hưởng đến cách định vị chế định chiếm hữu trong pháp luật tài sản.

1. Chiếm hữu trong luật các nước

1.1. Luật cổ La Mã

Sở hữu và chiếm hữu1. Từ rất sớm, các nhà luật học cổ La Mã đã nhận thức được sự cần thiết phân biệt giữa sở hữu (ownership) và chiếm hữu (possession), như là sự phân biệt giữa nội dung và hình thức của một quan hệ xã hội.

Trong một tình huống đặc thù, cả thế giới đứng trước một người đang nắm giữ một vật có giá trị tiền tệ, gọi là một tài sản. Người này có thể là chủ sở hữu đối với tài sản, nhưng cũng có thể là người thuê, mượn tài sản để sử dụng, thậm chí… chỉ là người trộm tài sản. Tìm hiểu xem liệu người này có phải là chủ sở hữu, người thuê hay chỉ là một kẻ trộm…, về thực chất, là việc phân tích tình trạng pháp lý của người đó trong mối quan hệ với tài sản nắm giữ. Tất nhiên, nếu do kết quả tìm hiểu mà tư cách trộm đạo của đương sự lộ ra, thì nhà chức trách phải can thiệp bằng biện pháp xử lý thích hợp; còn trong những trường hợp khác, mọi việc có thể tiếp diễn bình thường, với điều kiện người nắm giữ tài sản tôn trọng các giới hạn mà pháp luật đặt ra đối với việc thực hiện các quyền của mình.

Continue reading

XÂY DỰNG LẠI CHẾ ĐỊNH CHIẾM HỮU bằng chất liệu khoa học phù hợp

TS. NGUYỄN NGỌC ĐIỆN – Phó hiệu trưởng, Trường Đại học Kinh tế – Luật, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh

Phân tích, so sánh nội dung của quyền sở hữu và chiếm hữu trong pháp luật các nước, từ cổ tới kim, phân tích căn nguyên của sự bất hợp lý đặc thù trong cơ chế bảo vệ quyền sở hữu đang vận hành ở Việt Nam khi thừa nhận chiếm hữu như là một phần nội dung của quyền sở hữu, người viết yêu cầu phải nhìn nhận lại quan hệ chiếm hữu theo đúng bản chất, là tách quyền chiếm hữu ra khỏi quyền sở hữu và trả nó về vị trí thích hợp trước khi hoàn thiện pháp luật sở hữu.

Không biết từ lúc nào, quyền sở hữu ở Việt Nam được phân tích về mặt nội dung thành ba quyền năng: chiếm hữu, sử dụng và định đoạt. Quan niệm ấy được những người soạn thảo Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 1995 và cả BLDS năm 2005 sau này thấm nhuần và trở thành tư tưởng chủ đạo, được quán triệt trong quá trình xây dựng các quy tắc của Bộ luật liên quan đến quyền sở hữu. Chế độ pháp lý về sở hữu ở Việt Nam trở nên đặc thù và điều này khiến cho việc cải cách pháp luật dân sự trong khung cảnh hội nhập, đặc biệt về phần liên quan đến tài sản, là việc không đơn giản. Trở ngại chính đối với việc cải cách là sự khác biệt lớn giữa Việt Nam và các nền văn hoá pháp lý tiêu biểu trong cách hiểu về nội dung của quyền sở hữu, từ đó ảnh hưởng đến cách định vị chế định chiếm hữu trong pháp luật tài sản.

1. Chiếm hữu trong luật các nước

1.1. Luật cổ La Mã

Sở hữu và chiếm hữu1. Từ rất sớm, các nhà luật học cổ La Mã đã nhận thức được sự cần thiết phân biệt giữa sở hữu (ownership) và chiếm hữu (possession), như là sự phân biệt giữa nội dung và hình thức của một quan hệ xã hội.

Trong một tình huống đặc thù, cả thế giới đứng trước một người đang nắm giữ một vật có giá trị tiền tệ, gọi là một tài sản. Người này có thể là chủ sở hữu đối với tài sản, nhưng cũng có thể là người thuê, mượn tài sản để sử dụng, thậm chí… chỉ là người trộm tài sản. Tìm hiểu xem liệu người này có phải là chủ sở hữu, người thuê hay chỉ là một kẻ trộm…, về thực chất, là việc phân tích tình trạng pháp lý của người đó trong mối quan hệ với tài sản nắm giữ. Tất nhiên, nếu do kết quả tìm hiểu mà tư cách trộm đạo của đương sự lộ ra, thì nhà chức trách phải can thiệp bằng biện pháp xử lý thích hợp; còn trong những trường hợp khác, mọi việc có thể tiếp diễn bình thường, với điều kiện người nắm giữ tài sản tôn trọng các giới hạn mà pháp luật đặt ra đối với việc thực hiện các quyền của mình.

Continue reading

CÔNG TY CỔ PHẦN CÓ LÀ KINH TẾ TẬP THỂ?

ĐOÀN TIỂU LONG

Việc gán cho công ty TNHH và cổ phần thành hình thức “kinh tế tập thể” để né tránh sự kỳ thị, nhằm được hưởng những ưu đãi vốn đang dành cho thành phần kinh tế tập thể, có vẻ chỉ là một thay đổi danh nghĩa chứ khó có thể xem là một bước tiến mới về tư duy kinh tế.

TBKTSG số ra ngày 15.7.2010 có bài “Kinh tế tập thể gồm những hình thức tổ chức kinh tế nào?” của tác giả Anh Thư, trong đó đề xuất đưa công ty TNHH hai thành viên trở lên và công ty cổ phần vào loại “kinh tế tập thể”. Xin có vài lời trao đổi về đề tài thú vị này.

Có thể tóm tắt lập luận của tác giả Anh Thư như sau: Để xác định quan hệ sở hữu tư nhân thuộc thành phần kinh tế nào, thì nên xem xét tổng thể quan hệ của nó tới các quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt, cùng với cơ chế quản lý và chế độ phân phối.

Theo tác giả, công ty TNHH hai thành viên trở lên và công ty cổ phần không thuộc quyền sở hữu của một cá nhân, mà của nhiều, thậm chí rất nhiều người. Quyền sử dụng, định đoạt khối tài sản của doanh nghiệp, cũng như cơ chế quản lý, điều hành doanh nghiệp mang tính tập thể rất rõ. Như thế, nếu các hợp tác xã được liệt vào loại kinh tế tập thể, thì có lẽ cũng nên làm như vậy đối với hai loại hình doanh nghiệp nói trên.

Có thể thấy tác giả không xác định rõ, cần bao nhiêu tiêu chí trong số 5 tiêu chí đó mang tính tập thể thì đó là kinh tế tập thể: chỉ cần một vài hay phải đầy đủ cả 5 tiêu chí. Chính vì thế, tác giả đã không giải thích rõ về tiêu chí cuối cùng – cơ chế phân phối (mà đây lại là tiêu chí hết sức quan trọng), và nghiễm nhiên coi việc hai loại hình doanh nghiệp nói trên có ba tiêu chí (sử dụng, định đoạt, quản lý) dường như mang tính tập thể thì nên liệt vào loại kinh tế tập thể.

Bây giờ ta thử quay lại phân tích xem liệu công ty TNHH, công ty cổ phần có thực là mang tính “tập thể” hay không.

Lập luận của tác giả cho rằng “mâu thuẫn cơ bản của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa ngày nay đã được thay đổi với việc hình thành các công ty cổ phần” là thiếu xác đáng, một mặt vì công ty cổ phần không phải mới xuất hiện gần đây.

Continue reading

KINH TẾ TẬP THỂ GỒM NHỮNG HÌNH THỨC TỔ CHỨC KINH TẾ NÀO?

ANH THƯ

Một hợp tác xã có 10 thành viên được xem thuộc loại hình kinh tế tập thể trong khi một công ty cổ phần có cả hàng vạn cổ đông thì không. Điều này liệu đã hợp lý?

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng năm 2006 có viết: “Phát triển mạnh hơn các loại hình kinh tế tập thể đa dạng về hình thức sở hữu và hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh, bao gồm các tổ chức hợp tác xã và hợp tác xã kiểu mới”. Như vậy, theo nghị quyết Đại hội X thì kinh tế tập thể gồm các tổ chức hợp tác xã.

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX họp tháng 2-2002 về phát triển kinh tế tư nhân xác định các loại hình doanh nghiệp tư nhân (doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, TNHH một thành viên và hai thành viên trở lên, công ty cổ phần, công ty hợp danh), hộ kinh doanh cá thể, tiểu chủ là các hình thức tổ chức kinh tế của kinh tế tư nhân, không phải là kinh tế tập thể.

Quan hệ sở hữu tư nhân thuộc thành phần kinh tế nào, nên xem xét một cách tổng thể mối quan hệ của nó tới ba quyền (chiếm hữu, sử dụng, định đoạt), cùng với cơ chế quản lý và chế độ phân phối.

Trường hợp cả năm tiêu chí trên thuộc tư nhân thì đó là sở hữu cá nhân (các tài sản để tiêu dùng) hoặc sở hữu tư nhân một người (các tài sản cho sản xuất, kinh doanh). Đó là nhà tư bản thời kỳ tư bản chủ nghĩa giai đoạn đầu hoặc doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH một thành viên của ta hiện nay.

Các công ty TNHH hai thành viên trở lên và công ty cổ phần khác hẳn với doanh nghiệp tư nhân và công ty TNHH một thành viên xét trên năm tiêu chí. Tuy quyền nắm giữ tài sản của công ty dạng này thuộc tư nhân, nhưng quyền sử dụng và định đoạt (quyền quyết định cho mượn, cho thuê, bán, cầm cố, thế chấp, phá hủy) lại thuộc tập thể. Nó được điều hành theo cơ chế quản lý tập thể (đại hội đồng cổ đông, hội đồng thành viên), cơ chế phân phối tập thể (các quỹ).

Continue reading

THẾ NÀO LÀ GIÁ THỊ TRƯỜNG?

Căn cứ theo “giá thị trường” là một qui định rất phổ biến hiện nay trong xác định giá trị tài sản là đối tượng của giao dịch hoặc tranh chấp – Civillawinfor

HẢI DƯƠNG

Một trong những nguyên nhân khiến tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước (DNNN) thời gian qua bị chậm là do quy định về: “Xác định giá trị quyền sử dụng đất và giá trị lợi thế vị trí địa lý vào giá trị doanh nghiệp” tại Nghị định số 109/2007/NĐ-CP còn bất cập. Dư luận đặc biệt quan tâm đến vấn đề này khi Bộ Tài chính chuẩn bị trình Thủ tướng bản Dự thảo sửa đổi Nghị định 109.

Nghị định số 109/2007/NĐ-CP nêu rõ: Xác định giá trị doanh nghiệp khi cổ phần hóa phải tính tiền thuê đất, xác định giá trị quyền sử đụng đất, xác định lợi thế vị trí đất vào giá trị doanh nghiệp. Theo đó, việc xác định giá đất phải theo sát giá thị trường tại thời điểm định giá được UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định và công bố. Tuy nhiên, điều khó khăn đã được chỉ ra lâu nay là: Căn cứ nào để đưa ra giá thị trường khi mà thị trường bất động sản luôn luôn biến động?

Theo Điều 31 Dự thảo sửa đổi Nghị định 109, trường hợp doanh nghiệp cổ phần hóa lựa chọn hình thức giao đất (kể cả diện tích đất Nhà nước đã giao cho doanh nghiệp xây dựng nhà để bán hoặc cho thuê kinh doanh khách sạn, kinh doanh thương mại dịch vụ; xây dựng kết cấu hạ tầng để chuyển nhượng hoặc cho thuê) thì phải tính giá trị quyền sử dụng đất vào giá trị doanh nghiệp theo giá đất được UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (nơi doanh nghiệp có diện tích đất được giao) quy định  sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường theo quy định của pháp luật về đất đai. Trường hợp diện tích đất doanh nghiệp được giao có bao gồm cả diện tích đất sử dụng cho các hoạt động sản xuất cung ứng các dịch vụ, sản phẩm công ích, phúc lợi công cộng như công viên cây xanh, môi trường đô thị, bến bãi xe khách, đất làm công trình thủy lợi…, thì được loại trừ những diện tích này khi xác định giá trị quyền sử dụng đất theo giá thị trường để tính vào giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa.

Continue reading