SỞ HỮU TÀI NGUYÊN KHOÁNG SẢN VÀ NHỮNG NỘI DUNG PHÁP LUẬT CẦN HOÀN THIỆN

TS. LÊ THANH VÂN – Giám đốc Trung tâm Thông tin khoa học- Viện Nghiên cứu lập pháp

Hiện nay hệ thống quy phạm pháp luật của Nhà nước về sở hữu khoáng sản được ban hành để điều chỉnh các quan hệ về sở hữu trong khai thác, chế biến, sử dụng khoáng sản, bảo vệ quyền sở hữu, nhằm phát triển kinh tế xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước.

Các quy phạm pháp luật về sở hữu đối với tài nguyên khoáng sản được quy định ở nhiều văn bản khác nhau. Có những văn bản pháp luật mà nội dung chính chỉ đề cập đến tài nguyên khoáng sản như: Luật Khoáng sản; hoặc đi sâu về sở hữu như: Bộ luật Dân sự; nhưng cũng có những văn bản chỉ có một số ít quy phạm liên quan đến sở hữu tài nguyên khoáng sản như: Luật Bảo vệ và phát triển rừng…

Định hướng xã hội chủ nghĩa trong sở hữu tài nguyên khoáng sản

Có thể nhận xét, hệ thống pháp luật về sở hữu đối với tài nguyên khoáng sản tiếp tục khẳng định định hướng xã hội chủ nghĩa trong sở hữu đối với tài nguyên khoáng sản, khẳng định vai trò vị trí của sở hữu toàn dân, sở hữu nhà nước đối với tài nguyên khoáng sản. Điều 17 của Hiến pháp 1992 quy định cụ thể những đối tượng là tài sản thuộc sở hữu toàn dân trong đó có “tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ở thềm lục địa…”. Việc ghi nhận này là cần thiết và hoàn toàn hợp lý, hợp tình. Khi nhân dân thực sự là chủ sở hữu các nguồn lực tài sản mới có khả năng phát huy cao độ sức mạnh của mình, mục tiêu xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh mới được thực hiện tốt nhất. Chính vì vậy, Điều 200 của Bộ luật Dân sự, Điều 1 của Luật Khoáng sản (năm 1996) cũng đã khẳng định lại vấn đề này.

Các vấn đề về sở hữu tài nguyên khoáng sản được quy định thành một hệ thống từ văn bản có tính pháp lý cao nhất đến những văn bản pháp quy ở các cấp độ khác nhau, tính thống nhất cơ bản được bảo đảm. Trước hết phải kể đến Hiến pháp, các luật, Nghị định của Chính phủ hướng dẫn thi hành các luật này. Qua các văn bản pháp luật này, nội dung chế độ sở hữu đối với tài nguyên khoáng sản đều thống nhất ở tính chất xã hội chủ nghĩa. Nhà nước xã hội chủ nghĩa do nhân dân lập nên, đại diện cho nhân dân thực hiện các quyền của chủ sở hữu.

Continue reading

DỰ ÁN LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN – VÀI Ý KIẾN TỪ GÓC NHÌN PHÁP LUẬT DÂN SỰ

TS. NGUYỄN NGỌC ĐIỆN

(Tác giả viết bài này vào thời điểm Luật Thuế thu nhập cá nhân năm 2007 chưa được ban hành)

Tư tưởng chủ đạo mà dựa vào đó, người Anh xây dựng chế định thuế thu nhập cá nhân (TNCN) đầu tiên của loài người, vào giữa thế kỷ 19, là “có thu nhập thì phải chịu thuế”(1). Thu nhập được hiểu là khoản lợi ích vật chất có giá trị tiền tệ gia nhập một cách hợp pháp vào khối tài sản của một người, làm tăng thêm giá trị của khối tài sản đó. Chịu thuế có nghĩa là người có thu nhập phải khai báo đầy đủ các khoản thu nhập của mình để, dựa vào lời khai đó, nhà nước quyết định đánh thuế hay không và, nếu đánh thuế, thì mức thuế là bao nhiêu.

Như vậy, không nhất thiết cứ có thu nhập thì phải đóng thuế. Các nguyên tắc công bằng xã hội, chính sách dân số, gia đình, chính sách kinh tế, nói chung, rất nhiều tham số  được nhà nước dùng làm cơ sở để xây dựng các tiêu chí nhằm xác định, trong số những người chịu thuế, các hạng người phải nộp thuế và hệ thống thang bậc thuế suất cho từng hạng người hoặc từng nhóm trường hợp cần đánh thuế. Thuế TNCN trở thành một biện pháp tái lập sự cân bằng về phân phối của cải xã hội bị mất do sự can thiệp của nhiều yếu tố vào quá trình tạo thu nhập của con người: tài năng, sự may mắn, môi trường sống, quan hệ xã hội thuận lợi,…     

Dự án Luật Thuế TNCN, đang được đưa ra lấy ý kiến rộng rãi, cũng dựa vào tư tưởng chủ đạo truyền thống và phương pháp xây dựng tiêu chí xác định người chịu thuế, người nộp thuế và mức thuế phải nộp được chấp nhận rộng rãi. Tuy nhiên, các giải pháp cụ thể có vẻ chưa phải là kết quả của một quá trình cân nhắc có cơ sở khoa học, nhất là cơ sở đạo lý.

Trong các vấn đề thu hút sự chú ý đặc biệt của người dân có các quy định liên quan đến suất giảm trừ gia cảnh và cách xác định thu nhập tính thuế.

Continue reading

VIẾT TIẾP BÀI “QUẢN LÝ TÀI SẢN TRÍ TUỆ TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÓ ĐÀO TẠO VỀ KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ”

TS. TRẦN VĂN HẢI – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn

Sau khi http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com đăng bài “Quản lý tài sản trí tuệ trong các trường đại học có đào tạo về kinh tế và quản lý” (sau đây gọi tắt là bài nghiên cứu trước), đã có một số sinh viên, học viên cao học và những người khác có quan tâm gặp trực tiếp hoặc gọi điện hỏi tác giả về quản lý nhãn hiệu dịch vụ của các trường đại học ở Việt Nam. Nhận thấy đây là một vấn đề mới, chưa hề có các nghiên cứu đi trước và cũng là để cho các bạn học viên cao học, sinh viên có tình huống thực tiễn thảo luận trong quá trình học tập và nghiên cứu sở hữu trí tuệ, tác giả viết tiếp bài nghiên cứu nói trên nhằm cung cấp thêm một số thông tin có liên quan.

Cũng cần lưu ý rằng hiện nay có một số website đã đăng không đầy đủ bài nghiên nói trên mà chưa được sự đồng ý của tác giả, nên tác giả cũng không có điều kiện để kiểm tra lại trước khi các website này đăng tải, dẫn đến việc các độc giả có thể không tiếp nhận đầy đủ về thông tin, nhằm khắc phục yếu tố này, tác giả chọn http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com để đăng tải toàn bộ thông tin về vấn đề nghiên cứu.

Trong bài nghiên cứu trước, có chi tiết được quan tâm, đó là Trường Đại học Dân lập Công nghệ Sài Gòn, chủ sở hữu nhãn hiệu ĐẠI HỌC SÀI GÒN, số bằng 78863, ngày cấp 25.01.2007. Trong chi tiết này đã xuất hiện hai chủ thể:

Trường Đại học Dân lập Công nghệ Sài Gòn (tiền thân là Trường Đại học Dân lập Kỹ nghệ Thành phố Hồ Chí Minh được thành lập tháng 04.2004 theo Quyết định số 57/2004/QĐ-TTg), sau đó trường đổi tên thành Trường Đại học Dân lập Công nghệ Sài Gòn vào tháng 03.2005 theo Quyết định số 52/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ;

Continue reading

MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐĂNG KÝ BẤT ĐỘNG SẢN VÀ XÁC LẬP QUYỀN ĐỐI VỚI BẤT ĐỘNG SẢN

TS. NGUYỄN NGỌC ĐIỆN

1. Ý nghĩa của việc đăng ký bất động sản: thông tin về quyền hoặc tạo ra quyền

Việc thực hiện một quyền đối với một vật có giá trị tiền tệ chỉ suôn sẻ khi tất cả mọi người đều tôn trọng quyền đó. Muốn được mọi người tôn trọng, điều kiện cần là quyền đó phải được mọi người biết đến. Theo quan niệm truyền thống, đăng ký bất động sản là biện pháp có tác dụng công bố sự tồn tại của một quyền đối với một bất động sản, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho chủ thể của quyền thực hiện quyền ấy trong mối quan hệ với tất cả mọi người.

Khác với đăng ký hộ tịch, đăng ký tài sản và nói riêng là đăng ký bất động sản, có đối tượng không phải là một sự kiện hay một giao dịch, mà là một quyền đối với một tài sản, đối với một bất động sản (1): quyền sở hữu, quyền của chủ nợ nhận thế chấp, quyền về lối đi qua…

Trong điều kiện bản thân việc đăng ký là một giao dịch do người có quyền xác lập tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, vấn đề đặt ra là, giao dịch ấy có mối quan hệ gì với cuộc sống pháp lý của quyền được đăng ký, cụ thể là đối với việc xác lập, chứng minh sự tồn tại của quyền đó. Các hệ thống pháp luật giải quyết vấn đề theo một trong hai cách: 

Hoặc, luật thừa nhận quyền được xác lập do hiệu lực của các giao dịch (mua bán, trao đổi…) hoặc các sự kiện pháp lý (thừa kế, hết thời hiệu…) hình thành trong khuôn khổ cuộc sống dân sự, việc đăng ký là một giao dịch đặc thù, mang tính chất thủ tục hành chính và chỉ có tác dụng thông tin, công bố công khai cho người thứ ba về sự tồn tại của quyền đã được xác lập đó.

Hoặc, luật xác định rằng chính việc đăng ký có tác dụng trực tiếp xác lập quyền. Trong trường hợp quyền được tạo ra, thì cho đến ngày đăng ký, quyền không tồn tại về mặt pháp lý. Trong trường hợp quyền đang tồn tại, thuộc về một người và nay được chuyển giao cho người khác, thì việc đăng ký có tác dụng xác nhận sự chuyển giao quyền từ người chuyển giao sang người nhận chuyển giao.

Continue reading

QUẢN LÝ TÀI SẢN TRÍ TUỆ TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÓ ĐÀO TẠO VỀ KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ[1]

TS. TRẦN VĂN HẢI – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn

1. Dẫn nhập

Nhắc đến hoạt động khoa học và công nghệ, người ta không thể bỏ qua mảng sở hữu trí tuệ (SHTT), hay nói cách khác hoạt động SHTT là một bộ phận hữu cơ không thể tách rời các hoạt động khoa học và công nghệ. Trong ngành đào tạo Quản lý khoa học và công nghệ có một chuyên ngành đào tạo Quản lý SHTT.

Sản phẩm của hoạt động khoa học và công nghệ trong các trường đại học là một loại tài sản trí tuệ, bởi vậy việc quản lý nó có hiệu quả là một trong những yêu cầu để nâng cao chất lượng đào tạo trong các trường đại học.

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Quy định về quản lý hoạt động sở hữu trí tuệ trong cơ sở giáo dục đại học, ban hành kèm theo Quyết định số 78/2008/QĐ-BGDĐT ngày 29.12.2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.[2] (sau đây gọi tắt là Quy định).

Mục đích quản lý hoạt động SHTT theo Quy định là nhằm khuyến khích hoạt động sáng tạo, thúc đẩy quá trình khai thác, chuyển giao quyền SHTT và bảo vệ tài sản trí tuệ (TSTT) của cá nhân, tập thể, tổ chức và của chính cơ sở giáo dục đại học. TSTT theo Quy định là quyền SHTT và quyền đối với các tài sản khác (quyền đối với sáng kiến, giải pháp hợp lý hóa trong giáo dục và đào tạo và các đối tượng khác) phát sinh từ các hoạt động đào tạo, khoa học và công nghệ.

Do giới hạn của Hội thảo này, bài tham luận chỉ đề cập đến việc quản lý TSTT trong các trường đại học có đào tạo về quản lý và kinh tế (sau đây gọi tắt là các trường đại học), việc quản lý này phù hợp với Quy định do Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành. Mặt khác, bài tham luận cũng không đề cập lại những việc có liên quan đến quản lý TSTT như Quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã nêu.

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ ĐỊNH GIÁ NHÃN HIỆU

ĐÀO MINH ĐỨC – Sở KH&CN TP.HCM

I. Phân biệt thương hiệu và nhãn hiệu

Trước đây, hai khái niệm “nhãn hiệu” và “thương hiệu” đã từng được phân bịệt một cách khá rõ ràng ở cả khía cạnh pháp lý lẫn ngôn ngữ học Việt Nam. Luật số 13/57 ngày 01.8.1957 ở miền Nam đã quy định về “nhãn hiệu sản xuất” dùng cho các sản phẩm kỹ nghệ hoặc canh nông và “thương hiệu” dùng cho các thương phẩm. Trong thực tiễn kinh doanh, thuật ngữ “thương hiệu” đó không chỉ ứng với hoạt động của các thương nhân, mà còn bao hàm cả các loại hình hoạt động dịch vụ của mọi loại hiệu, tiệm, ngân hàng, hãng bảo hiểm … và dần dần mở rộng thành tên của doanh nghiệp nói chung. Cụ thể, vào giai đọan đó, theo Tự điển Việt Nam Ban Tu thư Khai Trí, “thương hiệu” là “tên hiệu của nhà buôn” và “nhãn hiệu” là “giấy dán ngòai để làm hiệu” 1. Trong Tự điển Việt Anh của Nguyễn văn Khôn, “thương hiệu” được dịch là “sign board” và “nhãn hiệu” là “trademark, brand” 2…. Ngay cả một thời gian khá dài sau năm 1975, Tự điển Việt Pháp của Công ty

Food contains three types of Anabolic steroids and generics Viagra: sugar, starches and fiber. Anabolic steroids and generics Viagra are either called simple or complex, depending on the food’s chemical alphabol online structure and how quickly the sugar is digested and absorbed. The type of Anabolic steroids and generics Viagra that you eat makes a difference – Foods that contain high amounts of simple sugars, especially fructose raise triglyceride levels. Triglycerides (or blood fats) are an important barometer of metabolic health; high levels may be associated with coronary heart disease, diabetes and fatty liver.

Phát hành Sách Thành phố Hồ Chí Minh vẫn giữ định nghĩa “thương hiệu enseigne, nom commercant” và “nhãn hiệu marque de fabrique” 3.

Tuy còn thiếu tính chính tắc, nhưng sự phân định đó đã bảo đảm tính hài hòa với cách tiếp cận chung của các nước phát triển, cụ thể như qua định nghĩa của Hiệp Hội Marketing Hoa Kỳ : “nhãn hiệu (brand) là một cái tên, một từ ngữ, một mẫu thiết kế, một biểu tượng hoặc bất kỳ một tính chất nào khác 4 giúp nhận biết hàng hóa hoặc dịch vụ của một doanh nhân để phân biệt với hàng hóa , dịch vụ tương ứng của các doanh nhân khác. Thuật ngữ pháp lý tương ứng với “brand“ là “trademark”. Một nhãn hiệu có thể dùng để nhận biết một sản phẩm, một họ sản phẩm hoặc tòan bộ sản phẩm của doanh nhân. Nếu dùng cho tòan bộ doanh nghiệp nói chung, thuật ngữ tương ứng là “thương hiệu” (trade name)” 5

Continue reading

ĐĂNG KÝ BẤT ĐỘNG SẢN VÀ VẤN ĐỀ MINH BẠCH HÓA THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN TẠI VIỆT NAM

NGUYỄN QUANG HƯƠNG TRÀ – Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm

1. Dẫn đề

  Cuộc khủng hoảng cho vay thế chấp trên thị trường bất động sản tại Hoa Kỳ làm suy thoái nền kinh tế của hầu hết các nước trên thế giới đã chứng tỏ những ảnh hưởng rất lớn từ thị trường bất động sản đối với sự phát triển kinh tế – xã hội. Điều này cho thấy rằng, quản lý hiệu quả đối với thị trường này nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các nhóm chủ thể tham gia trên thị trường trong sự hài hoà lợi ích của Nhà nước luôn là một đòi hỏi mang tính thường trực đối với các nhà hoạch định chính sách.

Để đạt được mục tiêu này, một hệ thống các công cụ quản lý vĩ mô tác động và điều tiết các hoạt động trên thị trường bất động sản sẽ phải được sử dụng, trong đó công khai thông tin nhằm lành mạnh hoá các giao dịch được xem là vấn đề cốt lõi. Tuy nhiên, không phải ở đâu và vào bất kỳ thời điểm nào cũng có thể dễ dàng tìm ra những lời giải thoả đáng cho bài toán minh bạch hoá thị trường bất động sản. 

Tại Việt Nam, chỉ số minh bạch của thị trường bất động sản năm 2006 đứng cuối bảng xếp hạng 56 nước trong vùng lãnh thổ Châu Á – Thái Bình Dương theo xếp hạng của Tập đoàn Jones Lang LaSalle, một tập đoàn hàng đầu thế giới về quản lý tiền tệ và dịch vụ bất động sản. Đánh giá về chỉ số này, nhiều chuyên gia bất động sản cho rằng, xếp hạng của Jones Lang LaSalle là hoàn toàn có cơ sở. Bởi lẽ, cả 5 tiêu chí đánh giá, xếp loại mức độ minh bạch của thị trường bất động sản bao gồm: các chỉ số hoạt động đầu tư, các thông tin cơ bản về thị trường bất động sản, sự công khai về thông tin tài chính và quản trị của các tổ chức, công ty được niêm yết trên thị trường chứng khoán, các yếu tố pháp luật và quy định, tiêu chuẩn đạo đức và tính chuyên nghiệp; Việt Nam đều không đáp ứng được. Thực tế này đòi hỏi nhiều hơn sự bứt phá trong chính sách và pháp luật của Việt Nam trong việc xây dựng một thị trường bất động sản lành mạnh, có sức thúc đẩy mạnh mẽ đối với sự phát triển kinh tế – xã hội.

Continue reading

CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC: NHỮNG LỖ HỔNG QUÁ LỚN

MẠNH QUÂN

Lâu nay, các nhà quản lý vẫn hay nhấn mạnh rằng, cổ phần hoá (CPH) doanh nghiệp nhà nước (DNNN) không phải là quá trình tư nhân hoá. Nhưng với những gì diễn ra trên thực tế trong nhiều năm qua ở các DNNN đã được CPH, có không ít tiền của, giá trị tài sản của Nhà nước, bằng nhiều cách, đã được chuyển hoá không đúng quy định, không đúng giá trị thực, thành tài sản của doanh nghiệp tư nhân, cho các cá nhân…

Khối tiền của ấy sẽ một đi không trở lại nếu như các cơ quan kiểm toán Nhà nước, Thanh tra Chính phủ,… không có những đợt kiểm tra, kiểm toán để thu hồi. Những con số: 3.744 tỉ đồng, gần 150.000 USD, trên 1.380.000m2 đất, hơn 13.449.000 cổ phần…, phần lớn phải thu hồi, mà Thanh tra Chính phủ mới công bố sau cuộc tổng thanh tra chuyên đề về CPH khối DNNN trong năm 2009 (chưa nói đến các cuộc kiểm toán của ngành kiểm toán, các cuộc điều tra của ngành công an) là những khoản sai phạm chứng minh không gì rõ hơn cho quá trình biến tài sản nhà nước thành tài sản riêng nói trên.

DNNN thường không được đánh giá cao về hiệu quả sản xuất, kinh doanh. Nhưng đến khi từng doanh nghiệp “công” được định giá để tiến hành CPH, nhà đầu tư sẽ phải nhìn các doanh nghiệp ấy một cách thèm thuồng. Bởi, đơn giản, nhiều DNNN thường sở hữu những khối tài sản giá trị khổng lồ: khoáng sản, đất đai, địa lợi… Và thất thoát nhiều nhất trong quá trình CPH chính là ở khâu định giá tài sản khối tài sản ấy.

Theo đánh giá chung của Thanh tra Chính phủ, khi xác định giá trị tài sản là hiện vật, các công ty tư vấn xác định giá trị doanh nghiệp thường không thực hiện theo đúng nguyên tắc “giá thị trường”. Nhiều nơi viện lý do: thị trường không có tài sản tương đương nhưng thường, các đơn vị đó lại không thực hiện đầy đủ quá trình định giá. Người ta thường dùng số liệu kế toán cũ, lạc hậu làm căn cứ nên giá trị tài sản của doanh nghiệp đưa vào CPH thường bị đánh giá thấp hơn giá trị thực tế. Có tình trạng chung là các hội đồng xác định giá trị tài sản doanh nghiệp cố ý hiểu khác đi quy định về cách xác định chất lượng tài sản trong thông tư hướng dẫn (của bộ Tài chính) để hạ thấp chất lượng nhiều tài sản xuống 20% kể cả nhà cửa, phương tiện giao thông, v.v. đang sử dụng. Thậm chí có nơi, như ở Cần Thơ, trung tâm Dịch vụ và thẩm định giá tài sản của nhà nước còn sử dụng cả cán bộ chưa hề qua đào tạo, không có chuyên môn thẩm định tham gia vào việc xác định giá trị doanh nghiệp.

Continue reading

TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH VÀNG ĐỂ HẠN CHẾ RỦI RO

HOÀNG THẾ THỎA

Trong lịch sử xã hội loài người, vàng gắn với quá trình hình thành các hình thái tiền tệ và trở thành vật ngang giá – thước đo giá trị, thay thế tiền mặt trong nhiều giao dịch thanh toán và là tiền dự trữ quốc tế. Mặt khác, nhờ đặc tính lý hoá của nó, vàng được sử dụng trong một số ngành công nghiệp và trở thành đồ trang sức và trang trí sang trọng. Mặc dù, giá trị của vàng tăng dần theo thời gian và nguồn cung vàng ngày càng cạn dần, nhưng giá vàng tăng chậm và có thể coi là ổn định. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, xu thế toàn cầu hóa đã gây ra nhiều xung đột tôn giáo phức tạp và không có hồi kết, vàng được coi là nơi ẩn náu an toàn của nhiều NHTW và nhà đầu tư, nên giá vàng biến động theo chiều hướng tăng mạnh.

Tại Việt Nam, trong thời gian dài, hoạt động kinh doanh vàng như mua bán vàng trang sức mỹ nghệ, vàng miếng được coi là hoạt động kinh doanh bình thường giống như các loại hàng hóa khác, phần lớn doanh nghiệp kinh doanh vàng là mua bán vàng trang sức, mỹ nghệ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội. Nhìn chung, hoạt động kinh doanh vàng diễn ra khá ổn định và hầu như không ảnh hưởng đến việc điều hành CSTT của NHNN. Tuy nhiên, từ năm 2006 đến nay, giá vàng thế giới biến động theo xu hướng ngày càng tăng và vàng trở thành hàng hóa đặc biệt, thu hút sự quan tâm của nhiều đối tượng và hấp thụ một lượng tiền khổng lồ, ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động kinh tế và hiệu quả điều hành CSTT. Ngoài hoạt động kinh doanh truyền thống, giá vàng tăng mạnh đã thúc đẩy sự hình thành các loại hình kinh doanh vàng với qui mô ngày càng lớn, điển hình là các sàn giao dịch vàng.

Về hoạt động của các sàn vàng, sàn giao dịch vàng đầu tiên tại Việt Nam là sàn giao dịch vàng của Ngân hàng Á Châu, được hình thành vào ngày 25/5/2007 với tên gọi ban đầu là Trung tâm giao dịch vàng Sài gòn và gồm 9 thành viên, là các NHTM và doanh nghiệp kinh doanh vàng quy mô lớn. Từ tháng 12/2007, sàn giao dịch này mở rộng sang các khách hàng cá nhân. Từ đó, khối lượng giao dịch trên sàn đã gia tăng đột biến.

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ CHỨNG MINH TÀI SẢN KHI CÔNG CHỨNG, CHỨNG THỰC DI CHÚC

LS. NGUYỄN HỒNG LÂM – CÔNG CHỨNG VIÊN. PHAN VĂN CHEO

1.  Lập di chúc khi chưa có tài sản thật?

Theo quy định của pháp luật dân sự, di chúc là sự thể hiện ý chí cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Tài sản của người lập di chúc để lại được gọi là di sản. Người lập di chúc có toàn quyền định đoạt đối với di sản của mình (để lại cho ai, tỉ lệ thừa hưởng…).

Hiện nay, khi có yêu cầu công chứng, chứng thực di chúc, người lập di chúc phải chứng minh tài sản của mình là hợp pháp và có thật (nếu là nhà, xe, cổ phần, cổ phiếu… thì phải có chứng từ sở hữu; nếu là tiền thì được thể hiện qua tài khoản ngân hàng). Nói cách khác, đó phải là tài sản cụ thể. Nếu không chứng minh đuợc tài sản ấy có thật thì cơ quan thẩm quyền sẽ từ chối công chứng, chứng thực di chúc. Đáng nói là có nhiều người lập di chúc có yêu cầu để lại những tài sản của mình có được tại thời điểm qua đời, tức bao gồm cả những tài sản hình thành trong tương lai. Mà những tài sản này thì không thể chứng minh tính có thật. Từ đó làm phát sinh tình huống mỗi lần được sở hữu một tài sản mới thì chủ sở hữu phải lập di chúc mới, có liệt kê thêm tài sản mới thì mới đảm bảo quyền định đoạt của mình đối với di sản.

Được biết, nhiều công chứng viên đang hành nghề tại các phòng công chứng và văn phòng công chứng đều không đồng ý công chứng vào di chúc có đề cập đến tài sản hình thành trong tương lai. Việc từ chối được căn cứ vào các quy định của Luật Công chứng. Cụ thể, người đi công chứng các hợp đồng, giao dịch liên quan đến tài sản mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng phải nộp bản sao giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng hoặc bản sao giấy tờ thay thế được pháp luật quy định.

Continue reading

TỪ QUAN NIỆM CỦA C.MÁC VỀ “XÓA BỎ CHẾ ĐỘ TƯ HỮU” suy nghĩ về vấn đề sở hữu tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay

THS. VŨ THỊ KIỀU PHƯƠNG – Viện Triết học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam

Tiếp cận quan niệm của C.Mác về “xóa bỏ chế độ tư hữu” từ hai vấn đề: một là, chế độ tư hữu đã gây ra tội lỗi gì khiến cho nó cần phải bị xóa bỏ; hai là, nếu “xóa bỏ chế độ tư hữu” là cần thiết, là tất yếu thì thời điểm lịch sử của sự kiện đó là khi nào, bài viết chỉ ra rằng, sự “xóa bỏ chế độ tư hữu”chỉ có thể xảy ra một cách nội tại và tuân theo các quy luật khách quan của sự vận động và phát triển của xã hội. Cuối cùng, bài viết chỉ ra mối liên hệ giữa quan niệm của C.Mác về “xóa bỏ chế độ tư hữu” với quan điểm của Đảng ta về vấn đề sở hữu tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay, nhất là vấn đề đảng viên làm kinh tế tư nhân.

1. Chúng ta đều biết rằng, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là điều kiện tất yếu để nước ta đi lên chủ nghĩa xã hội. Song, trong thực tế, xây dựng thành công nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa không phải là một việc dễ dàng, bởi kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa “là vấn đề rất mới, chưa có tiền lệ”. Ngay nền kinh tế thị trường hiện nay ở nước ta “cũng chưa phải là nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa đã hoàn chỉnh ngay từ đầu, mà còn phải trải qua một quá trình xây dựng rất lâu dài”(1); do vậy, đã nảy sinh nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn đòi hỏi phải được nghiên cứu và giải đáp thỏa đáng hơn nữa, trong đó có vấn đề sở hữu nói chung, sở hữu tư nhân nói riêng. Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Đảng ta cũng chỉ rõ, sở hữu và thành phần kinh tế là một trong những vấn đề chưa được làm rõ “ở tầm quan điểm và chủ trương lớn”, nên chúng ta “chưa đạt được sự thống nhất cao về nhận thức và thiếu dứt khoát trong hoạch định chính sách, chỉ đạo điều hành”(2). Sự chưa thống nhất và chưa rõ ràng đó còn có nguyên nhân do nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta vẫn đang trong quá trình hình thành, nên mối quan hệ giữa thể chế xã hội chủ nghĩa và nhiều yếu tố của nền kinh tế thị trường chưa được làm rõ.

Continue reading

TỪ QUAN NIỆM CỦA C.MÁC VỀ “XÓA BỎ CHẾ ĐỘ TƯ HỮU” SUY NGHĨ VỀ VẤN ĐỀ SỞ HỮU TƯ NHÂN TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

THS. VŨ THỊ KIỀU PHƯƠNG – Viên Triết học, Viện Khoa học xã hội Việt Nam

Tiếp cận quan niệm của C.Mác về “xóa bỏ chế độ tư hữu” từ hai vấn đề: một là, chế độ tư hữu đã gây ra tội lỗi gì khiến cho nó cần phải bị xóa bỏ; hai là, nếu “xóa bỏ chế độ tư hữu” là cần thiết, là tất yếu thì thời điểm lịch sử của sự kiện đó là khi nào, bài viết chỉ ra rằng, sự “xóa bỏ chế độ tư hữu”chỉ có thể xảy ra một cách nội tại và tuân theo các quy luật khách quan của sự vận động và phát triển của xã hội. Cuối cùng, bài viết chỉ ra mối liên hệ giữa quan niệm của C.Mác về “xóa bỏ chế độ tư hữu” với quan điểm của Đảng ta về vấn đề sở hữu tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay, nhất là vấn đề đảng viên làm kinh tế tư nhân.

1. Chúng ta đều biết rằng, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là điều kiện tất yếu để nước ta đi lên chủ nghĩa xã hội. Song, trong thực tế, xây dựng thành công nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa không phải là một việc dễ dàng, bởi kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa “là vấn đề rất mới, chưa có tiền lệ”. Ngay nền kinh tế thị trường hiện nay ở nước ta “cũng chưa phải là nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa đã hoàn chỉnh ngay từ đầu, mà còn phải trải qua một quá trình xây dựng rất lâu dài”(1); do vậy, đã nảy sinh nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn đòi hỏi phải được nghiên cứu và giải đáp thỏa đáng hơn nữa, trong đó có vấn đề sở hữu nói chung, sở hữu tư nhân nói riêng. Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Đảng ta cũng chỉ rõ, sở hữu và thành phần kinh tế là một trong những vấn đề chưa được làm rõ “ở tầm quan điểm và chủ trương lớn”, nên chúng ta “chưa đạt được sự thống nhất cao về nhận thức và thiếu dứt khoát trong hoạch định chính sách, chỉ đạo điều hành”(2). Sự chưa thống nhất và chưa rõ ràng đó còn có nguyên nhân do nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta vẫn đang trong quá trình hình thành, nên mối quan hệ giữa thể chế xã hội chủ nghĩa và nhiều yếu tố của nền kinh tế thị trường chưa được làm rõ.

Continue reading

CÂU CHUYỆN SỞ HỮU NHÀ CHUNG CƯ

LS. TỐNG QUANG MINH

“Cha chung không ai khóc” là suy nghĩ tiêu cực cần khắc phục trong các nhà chung cư hiện nay. Nếu cư dân không nhận thức như vậy thì sẽ tạo điều kiện cho chủ đầu tư xây dựng công trình nhà ở cao tầng có thể lợi dụng suy nghĩ kiểu “cha chung” này để trục lợi khi công trình hoàn thành; thiệt hại gây ra từ mâu thuẫn giữa chủ đầu tư và chủ thầu xây dựng có thể gánh chịu bởi chính cư dân trong nhà cao tầng đó.

Tại sao ? Bởi vì phần sở hữu chung trong nhà chung cư có thể được khai thác như phần sở hữu riêng của chủ đầu tư, lợi ích thu vào không được hoàn trả cho cư dân; trong khi đó mắc mứu giữa chủ đầu tư và chủ thầu xây dựng có thể làm kéo dài việc xúc tiến thủ tục hoàn thành công trình, dẫn đến sự chậm trễ cho cư dân nhận được giấy chứng nhận quyền sở hữu căn hộ để làm phương tiện thực hiện các giao dịch dân sự khác cho gia đình mình.

Tại khoản 1 Điều 225 của Bộ luật Dân sự năm 2005 về sở hữu chung trong nhà chung cư quy định: “Phần diện tích , trang thiết bị dùng chung trong nhà chung cư thuộc sở hữu chung của tất cả chủ sở hữu các căn hộ trong nhà đó và không thể phân chia, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác hoặc có sự thỏa thuận của tất cả các chủ sở hữu.”

Phần sở hữu chung trong nhà chung cư đã được quy định rõ tại khoản 3 Điều 70 của Luật Nhà ở năm 2005 và khoản 6 Điều 4 của Quy chế Quản lý Sử dụng Nhà Chung cư được Bộ Xây dựng ban hành theo Quyết định số 08/2008/QĐ-BXD ngày 28/5/2008, bao gồm: (a) Phần diện tích nhà còn lại của nhà chung cư ngoài phần diện tích thuộc sở hữu riêng quy định tại khoản 2 Điều này; (b) Không gian và hệ thống kết cấu chịu lực, trang thiết bị kỹ thuật dùng chung trong nhà chung cư, gồm khung, cột, tường chịu lực, tường bao ngôi nhà, tường phân chia các căn hộ, sàn, mái, sân thượng, hành lang, cầu thang bộ, thang máy, đường thoát hiểm, lồng xả rác, hộp kỹ thuật, nơi để xe, hệ thống cấp điện, nước, ga, thông tin liên lạc, phát thanh, truyền hình, thoát nước, bể phốt, thu lôi, cứu hỏa và các phần khác không thuộc sở hữu riêng của căn hộ nào; (c) Hệ thống hạ tầng kỹ thuật bên ngoài nhưng được kết nối với nhà chung cư đó.

Continue reading

NHỮNG BẤT CẬP VỀ KHÁI NIỆM TÀI SẢN, PHÂN LOẠI TÀI SẢN CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ VÀ ĐỊNH HƯỚNG CẢI CÁCH

TS. NGÔ HUY CƯƠNG – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Tài sản là một khái niệm quen thuộc đối với bất kỳ ai, bởi đơn giản tài sản là công cụ của đời sống con người. Tuy nhiên, quan niệm pháp lý và quan niệm đời thường về tài sản lại có đôi chút khác biệt. Về mặt pháp lý, nhận thức đúng về tài sản và phân loại tài sản có vai trò rất quan trọng trong việc tạo lập các quy định pháp luật và giải quyết các tranh chấp pháp lý. Nhưng ngay Bộ luật Dân sự 2005 của Việt Nam cũng đã diễn đạt khác nhiều so với quan niệm của thế giới về khái niệm tài sản và phân loại tài sản. Hệ quả là nhiều quy chế pháp lý liên quan tới tài sản đã không thỏa đáng về mặt khoa học và thực tiễn, gây ảnh hưởng không nhỏ tới giao lưu dân sự và phát triển kinh tế, thương mại.

1. Nhìn lại quan niệm về tài sản của Bộ luật Dân sự 2005

Điều 163, Bộ luật Dân sự (BLDS) 2005 giải nghĩa: “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản”. Có lẽ, đây là một giải nghĩa tài sản đặc biệt nhất đã từng được biết đến, bởi khó có thể tìm được một giải nghĩa tài sản tương tự ở trong các quyển từ điển thuật ngữ pháp luật và ở các BLDS của các nước trên thế giới, mặc dù con người không thể sống mà không có tài sản và pháp luật nói chung thì đã chú ý tới câu chuyện này từ nhiều thiên niên kỷ. Giải nghĩa này kế thừa có phát triển giải nghĩa tài sản tại Điều 172, BLDS năm 1995. Thế nhưng, chưa từng một lần những người “có trách nhiệm” giải thích cho giới luật học hiểu tính đúng đắn của những giải nghĩa như vậy. Tất nhiên quy định thì dễ, nhưng giải thích cho tính đúng đắn của quy định thì bao giờ cũng khó.

Gắn trực tiếp với Điều 163, có một số điều luật thể hiện rõ quan niệm của nhà làm luật về tài sản, như Điều 164, Điều 173, Điều 174, Điều 181… của BLDS 2005. Qua giải nghĩa khái niệm tài sản tại Điều 163 và các điều luật này của BLDS 2005, có thể rút ra mấy nhận xét sơ bộ như sau: thứ nhất, giải nghĩa được đưa ra theo kiểu liệt kê các loại tài sản, chứ không xác định phạm vi dứt khoát của tài sản; thứ hai, các quy định tiếp đó tại “Chương XI- Phân loại tài sản” (các Điều từ 174 đến 181) diễn giải cụ thể các loại tài sản được nêu ra trong giải nghĩa này không đề cập gì tới tiền và giấy tờ có giá; thứ ba, Điều 173, Điều 181 và toàn bộ các quy định của BLDS 2005 không diễn giải một cách có thể hiểu được phạm vi của quyền tài sản; thứ tư, quyền sở hữu được quy định dường như tách biệt với tài sản tại Điều 164 và Điều 174, BLDS 2005, có nghĩa là khái niệm tài sản dường như không bao trùm quyền sở hữu, trong khi vẫn quy định các vấn đề chuyển dịch tài sản gắn với quyền sở hữu tại rất nhiều các quy định.

Continue reading

BÁO CÁO NGÀY 4 THÁNG 11 NĂM 2009 TÓM TẮT KẾT QUẢ GIÁM SÁT “VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ, SỬ DỤNG VỐN, TÀI SẢN NHÀ NƯỚC TẠI CÁC TẬP ĐOÀN, TỔNG CÔNG TY NHÀ NƯỚC”

Kính thưa các vị đại biểu Quốc hội,

Thực hiện Chương trình giám sát của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã thành lập Đoàn giám sát “Việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước tại các tập đoàn, tổng công ty nhà nước” (tính từ năm 2006 đến 31/12/2008).

Mục đích chính của cuộc giám sát là đánh giá tình hình ban hành và thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước tại các tập đoàn, tổng công ty nhà nước; qua đó, thấy được những kết quả đã đạt được trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước; những vướng mắc trong hệ thống văn bản pháp luật và những khó khăn, hạn chế, yếu kém trong tổ chức thực hiện; làm rõ nguyên nhân, trách nhiệm của các cấp, các Bộ/ngành và của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước; từ đó đưa ra các đề xuất, kiến nghị để hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật, thực hiện nghiêm và có hiệu quả hơn chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước, củng cố và nâng cao hiệu quả hoạt động của các tập đoàn, tổng công ty.

Ủy ban thường vụ Quốc hội xin báo cáo những nội dung chủ yếu như sau:

PHẦN I

VIỆC BAN HÀNH CÁC VĂN BẢN PHÁP LUẬT, CƠ CHẾ CHÍNH SÁCH LIÊN QUAN ĐẾN QUẢN LÝ VỐN, TÀI SẢN TẠI TẬP ĐOÀN, TỔNG CÔNG TY NHÀ NƯỚC

1. Những kết quả đạt được trong việc ban hành văn bản pháp luật, cơ chế, chính sách quản lý vốn, tài sản nhà nước tại các tập đoàn, tổng công ty nhà nước

– Việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý vốn, tài sản nhà nước tại tập đoàn, tổng công ty đã được Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan hữu quan chú trọng, bám sát các chủ trương, chính sách và Nghị quyết của Đảng, hình thành khuôn khổ pháp lý để các tập đoàn, tổng công ty hoạt động và quản lý vốn, tài sản nhà nước.

Continue reading

TÒA ÁN THẬT CHO THẾ GIỚI ẢO

GIA VŨ (Theo New Scientist)

Trong khi nền kinh tế toàn cầu còn bùng nhùng trong cơn suy thoái thì hoạt động kinh doanh trong các thế giới ảo như Second Life, Facebook và Everquest lại khởi sắc và phát triển rất nhanh. Ranh giới kinh tế giữa thế giới ảo và thật đang thu hẹp nhanh chóng, làm phát sinh những rắc rối pháp lý cần tới tòa án để phân xử.

Thế giới ảo

Hãng phân tích tài chính Mỹ Piper Jaffray ước tính trong năm 2009, người Mỹ sẽ đổ khoảng 621 triệu USD vào các thế giới ảo. Con số này thậm chí còn cao hơn rất nhiều tại châu Á. Còn theo số liệu của hãng nghiên cứu Plus Eight Star, năm ngoái người dùng đã bỏ khoảng 5 tỉ USD để đầu tư vào các tài sản trong thế giới ảo.

Chẳng hạn như trong Second Life, chỉ tính riêng quý II, cư dân mạng đã giao dịch khoảng 144 triệu USD, tăng 94% so với cùng kỳ năm ngoái. Tính trung bình, Second Life có mức trao đổi hàng hóa và dịch vụ (dĩ nhiên là ảo) đạt khoảng 600 triệu USD/năm. Hiện Second Life đang là nền kinh tế ảo lớn nhất với giá trị thậm chí còn cao hơn GDP của hàng chục quốc gia trung bình trên the giới cộng lại.

Hàng nghìn người chơi đang kiếm tiền trong thế giới ảo bằng cách buôn bán, trao đổi hàng hóa ảo – từ quần áo, đồ đạc tới các tác phẩm nghệ thuật. Thậm chí, người ta còn tổ chức dịch vụ… cưới ảo, phiên dịch hoặc tư vấn kiến trúc. Số người kiếm hàng trăm nghìn USD từ những dịch vụ kiểu này không phải là hiếm, và đã có rất nhiều “công dân ảo” trở thành tỉ phú trong thế giới thực.

Còn tại Việt Nam, thế giới ảo cũng không phải khái niệm mới lạ. Giao dịch trong các thế giới này cũng sôi động không kém. Một đôi nhẫn “Vô danh” trong game Võ Lâm Truyền Kỳ đã có thời điểm được rao bán hàng trăm triệu đồng; một bộ đồ Hoàng Kim cũng có giá vài chục triệu đồng, và rất nhiều giao dịch có giá trị khác.

Continue reading

GIỚI HẠN SỞ HỮU CỔ PHẦN CỦA NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI NGÂN HÀNG CHƯA NIÊM YẾT

LS. NGUYỄN VĂN PHƯƠNG

Nhà đầu tư nước ngoài góp vốn, mua cổ phần của ngân hàng thương mại Việt Nam, ngoài việc phải tuân theo quy định của pháp luật chung, còn phải thực hiện quy định của pháp luật về ngân hàng. Hiện nay, quy định của pháp luật về ngân hàng còn có những bất cập, hạn chế, nên giới hạn sở hữu cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài tại các ngân hàng thương mại chưa niêm yết đang có những ý kiến khác nhau về cả lý luận và thực tiễn.

1/. Khó kiểm soát tỷ lệ sở hữu cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài khi IPO của ngân hàng thương mại nhà nước cổ phần hóa

Cho đến nay, có 02 trên tổng số 05 ngân hàng thương mại 100% vốn nhà nước đã chính thức chuyển đổi thành ngân hàng thương mại cổ phần, bao gồm: Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) và Ngân hàng Công thương Việt Nam (Vietinbank). Việc cổ phần hoá 03 ngân hàng thương mại 100% vốn nhà nước còn lại (Ngân hàng Phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long – MHB, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – BIDV, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Agribank) thực hiện theo lộ trình được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Thực hiện quy định của pháp luật về cổ phần hoá, trước khi bán đấu giá cổ phần lần đầu ra công chúng (IPO), Vietcombank và Vietinbank đã công bố giá trị doanh nghiệp và số cổ phần được bán lần đầu ra công chúng. Tổ chức được ủy quyền bán đấu giá cổ phần lần đầu ra công chúng của Vietcombank và Vietinbank là Sở Giao dịch Chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (HoSE). Quy chế bán đấu giá cổ phần lần đầu của Vietcombank và Vietinbank do HoSE ban hành đều quy định tổng số cổ phần mà các nhà đầu tư nước ngoài được mua tối đa bằng 30% tổng số cổ phần được bán ra. Tuy nhiên, giới hạn sở hữu cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài tại Vietcombank hoặc Vietinbank theo quy định trên đây là rất khó kiểm soát vì các lý do sau đây:

Continue reading

BÀN VỀ NÔNG THÔN TỪ GÓC NHÌN SỞ HỮU RUỘNG ĐẤT

PGS. TS. PHẠM DUY NGHĨA – Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

"Muốn dân không mất ruộng, phải xem lại chế độ sở hữu áp dụng đối với ruộng đất của nông dân. Muốn dân không chán ruộng, phải xem lại các chính sách tác động tới nông sản nhằm giúp nông dân được lợi. Muốn dân không chán quê, phải xem lại ai được lợi từ chi dùng tài chính công." – TS. Phạm Duy Nghĩa

Dù nhìn gần hay xa, bao giờ nông thôn cũng là tương lai của một xứ nông nghiệp. Ai giữ được nông dân, người ấy thường kiểm soát được nhiệt độ của chảo lửa chính trị quốc gia. Sự ổn định của nước ta phụ thuộc vào cách mà các nhà chính trị đối xử với nông dân.

Hiện nay có ba nguy cơ rất rõ ràng đối mặt với những người dân quê, đó là: (i) nông dân mất ruộng, (ii) nông dân chán ruộng, (iii) nông dân chán chốn thôn quê. Ly nông, ly hương, ly tán bất đắc dĩ, những vấn đề xã hội của nông dân có thể trở thành những quả bom nổ chậm.

Muốn dân không mất ruộng, phải xem lại chế độ sở hữu áp dụng đối với ruộng đất của nông dân.

 Muốn dân không chán ruộng, phải xem lại các chính sách tác động tới nông sản nhằm giúp nông dân được lợi. Có vẻ như một hạt thóc mang lại nhiều lời hơn cho người giữ độc quyền buôn bán giống, phân bón hay kênh xuất nhập khẩu gạo hơn là chút lợi rơi sót lại cho người nông dân.

Muốn dân không chán quê, phải xem lại ai được lợi từ chi dùng tài chính công. Một khi điện, đường, trường, trạm, y tế, cây xanh, điện thoại cho tới truyền hình cáp ở đô thị đều sẵn, tốt và rẻ hơn ở nông thôn, thật chẳng ngạc nhiên khi phố chật chội với lao động nhập cư, trong khi thôn quê dần trở nên heo hút với người già và con trẻ.

Continue reading

ĐỎ, HỒNG, XANH: NHỮNG SẮC MÀU GIAN TRUÂN CỦA TRƯỚC BẠ

PGS.TS. PHẠM DUY NGHĨA – Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Cao vọng của đăng ký bất động sản là gì và vì sao vừa mới công bố, dự luật về giấy xanh đã vấp phải sự phê phán của công luận. Hợp lòng dân thì luật sống, trái với lòng dân thì luật chết. Kế tiếp Luật đất đai năm 2003, Bộ luật dân sự năm 2005 vừa mới được ban hành sẽ là Luật kinh doanh bất động sản, Luật đăng ký bất động sản, Luật nhà ở và vô số các đạo luật khác về nhà đất. Liệu những đạo luật đồ sộ này có sống được trong tâm thức của người dân nước ta.

Minh định sở hữu và bảo hộ quyền tài sản tư: Người dân thời nào cũng mong nhà nước công nhận, bảo hộ nhà đất và công sức tôn tạo như một quyền tài sản tư thiêng liêng của họ. Trong kinh doanh, doanh nhân muốn có được quyền sử dụng đất ổn định, lâu dài bằng chi phí thấp nhất như có thể. Nói cách khác, (i) minh định về sở hữu và (ii) bảo hộ quyền tài sản tư về nhà đất là dân nguyện thời nay. Luật pháp, nếu làm rõ điều đó thì chi phí giao dịch giảm, kinh doanh phát triển, có lợi cho quốc dân. Ngược lại thì đất đai sẽ không có chủ rõ ràng, nguồn tài nguyên khan hiếm này được sử dụng kém hiệu quả, quốc gia sẽ đói nghèo. Hệ thống chước bạ sinh ra trước hết để bảo vệ quyền tài sản tư về nhà đất của người dân, sau đó bảo vệ các bên hữu quan trong giao dịch và góp phần thúc đẩy thị trường này phát triển công khai. Tạo an toàn pháp lý và làm cho nhà đất dễ dàng biến thành hàng hoá là mục đích chính, bảo đảm quản lý nhà nước và tăng thu thuế từ nhà đất chỉ là mục đích phụ.

Ghi nhận quyền tài sản: Nếu nhìn nhận như vậy thì sổ đỏ cho quyền sử dụng đất, sổ hồng cho sở hữu nhà, sắp tới đây có thể là sổ xanh cho đăng ký bất động sản, và biết đâu Bộ tài chính lại nghĩ thêm ra sổ tím cho nhà đất đã hoàn thành nghĩa vụ thuế với nhà nước.. tất cả những giấy tờ đó không thể xác lập ra quyền tài sản. Cũng như giấy khai sinh không đẻ ra con người, tài sản tư của người dân về nhà đất được xác lập một cách tự nhiên, thủa hoang sơ thì do tranh đoạt, trong nền văn minh thì do tổ tiên để lại, hoặc qua tôn tạo, hoặc qua mua bán, tặng cho.. mà có. Luật pháp thường ghi nhận những quyền tài sản được hình thành một cách tự nhiên như thế, chứ hi hữu người làm luật mới có cái quyền ban phát sở hữu cho người dân. Ghi nhận đúng thì công lý và an toàn xã hội được xác lập, ghi nhận lệch lạc thì vòng xoáy của các xung đột lợi ích về nhà đất khó mà chấm dứt.

Continue reading