PHÁT HÀNH TIỀN KIM LOẠI Ở IN – ĐÔ – NÊ – XIA, BÀI HỌC KINH NGHIỆM

NGUYỄN TUẤN

Từ năm 1991-1993, Inđônêxia phát hành 5 đồng tiền kim loại, mệnh giá 25, 50, 100, 500 và 1000 Rupiah (Rp); loại 100 Rp, 500 Rp và 1000 Rp có cả tiền giấy song hành. Việc đưa tiền kim loại vào lưu thông không được thuận lợi, số lượng tiền kim loại trong lưu thông thấp hơn dự kiến. Sau khi khảo sát, phân tích những thuận lợi, khó khăn và đánh giá tác động của điều kiện địa lý tự nhiên (Inđônêxia là quốc đảo với hơn 13.000 đảo nhỏ), Ngân hàng Trung ương Inđônêxia đi đến kết luận, nguyên nhân chủ yếu là do người dân ưa thích sử dụng tiền giấy hơn tiền kim loại và do các loại hình dịch vụ, bán hàng tự động sử dụng tiền kim loại chưa phát triển rộng rãi.

Trước tình hình đó, bên cạnh việc tăng cường giáo dục cộng đồng và tuyên truyền về lợi ích của tiền kim loại, Ngân hàng Inđônêxia đã áp dụng nhiều biện pháp, kể cả các biện pháp hành chính nhằm khuyến khích và thúc đẩy việc sử dụng tiền kim loại trong thanh toán. Ngân hàng Inđônêxia đã ngừng in thêm 2 loại tiền giấy 100 Rp và 500 Rp và tiến hành thu hồi 2 loại tiền này. Đáng lưu ý là năm 2001, Ngân hàng Trung ương Inđônêxia uỷ thác cho bên thứ ba đưa tiền kim loại đến tay người sử dụng cuối cùng thông qua nghiệp vụ đổi loại tiền và đổi tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông (outsourcing). Bên nhận uỷ thác được hưởng tỷ lệ chiết khấu nhất định trên tổng số tiền kim loại đổi từ Ngân hàng Inđônêxia để bù đắp chi phí, vì vậy, họ không được thu phí dịch vụ đổi tiền kim loại cho công chúng. Kết quả của dự án này rất khả quan. Tuy nhiên, do Inđônêxia vẫn có cả tiền giấy và tiền kim loại cùng mệnh giá song hành nên việc đưa tiền kim loại vào lưu thông còn gặp trở ngại. Theo Ngân hàng Inđônêxia, vấn đề này sẽ được xử lý trong thời gian tới bằng những biện pháp mạnh mẽ hơn nhằm cải cách và nâng cao chất lượng đồng tiền trong lưu thông, tiết kiệm chi phí phát hành tiền.

Continue reading

VẤN ĐỀ THƯƠNG HIỆU Ở VIỆT NAM TRƯỚC XU THẾ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

PHẠM TẤT THẮNG

Ngày nay, hội nhập kinh tế quốc tế là một xu thế mang tính tất yếu khách quan. Xu thế này buộc các quốc gia phải mở cửa giao lưu kinh tế với các quốc gia khác, nếu không muốn bị gạt ra ngoài sự phát triển chung. Có thể thấy, không một quốc gia nào có thể đóng cửa để tự mình phát triển mà phải vươn ra thị trường thế giới.

Để hội nhập thành công, để tận dụng được các cơ hội mà xu thế này đem lại, có nhiều vấn đề đặt ra, trong đó có một vấn đề hết sức quan trọng là chúng ta cần phải xây dựng một chiến lược chủ động hội nhập, một chiến lược có thể phát huy một cách có hiệu quả các nguồn lực và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh của hàng hoá, dịch vụ. Một trong những yếu tố quyết định vị thế của doanh nghiệp và góp phần đáng kể vào hiệu quả nâng cao năng lực cạnh tranh chính là vấn đề thương hiệu.

Theo định nghĩa của Hiệp hội Ma-ket-ting Hoa Kỳ, thương hiệu là cái tên, một từ ngữ, một dấu hiệu, một biểu tượng hay một kiểu dáng hoặc tổng hợp tất cả các yếu tố trên nhằm xác định các sản phẩm hay dịch vụ của một (hay một nhóm) người bán và phân biệt các sản phẩm (dịch vụ) đó với các đối thủ cạnh tranh. Thương hiệu là một thuật ngữ quen thuộc trong kinh doanh quốc tế. Ở Việt Nam, mặc dù các văn bản pháp luật chưa đề cập đến, nhưng nó vẫn được dùng phổ biến trong Ma-ket-ting và trên các phương tiện thông tin đại chúng. Thương hiệu là một thuật ngữ phổ biến được sử dụng trong Ma-ket-ting để đề cập đến nhãn hiệu hàng hoá, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý (bao gồm tên gọi, xuất xứ và các chỉ dẫn cần thiết). Ở đây cần phân biệt thương hiệu với một số khái niệm khác như: nhãn hiệu, nhãn hiệu hàng hoá, tên thương hiệu, tên thương mại. Thương hiệu và nhãn hiệu nói chung về cơ bản là giống nhau vì đều có nguồn gốc từ từ "BRAND".

Continue reading

SỞ HỮU TRÍ TUỆ: MỘT TÀI SẢN KINH DOANH QUÍ BÁU

JEANNE HOLDEN

Tài sản trí tuệ là tài sản quý của mỗi doanh nhân, bao gồm những sản phẩm trí tuệ có giá trị thương mại và được cấp quyền sở hữu hợp pháp của chủ doanh nghiệp và đội ngũ nhân viên. Ví dụ về sản phẩm trí tuệ bao gồm sản phẩm mới và tên sản phẩm, phương pháp sản xuất mới, quy trình sản xuất mới, chương trình khuyến mại mới, hoặc một kiểu dáng mới.

Hàng rào hay những chiếc khóa không thể bảo vệ được những tài sản vô hình. Do đó, bằng sáng chế, bản quyền và nhãn hiệu là công cụ để ngăn chặn các đối thủ cạnh tranh trục lợi từ những ý tưởng của cá nhân hoặc doanh nghiệp.

Bảo vệ tài sản trí tuệ là quyết định rất thực tế của doanh nghiệp. Thời gian và tiền bạc bỏ ra để đầu tư hoàn thiện một ý tưởng có thể sẽ bằng không nếu những đối tượng khác bắt chước. Đối thủ cạnh tranh có thể đặt mức giá thấp hơn vì họ không phải trả các chi phí đầu tư ban đầu. Mục đích của luật sở hữu trí tuệ là khuyến khích đổi mới sáng tạo bằng cách dành cho những người sáng chế khoảng thời gian nhất định để kiếm lời từ những ý tưởng mới của họ và hoàn vốn đầu tư phát triển.

Quyền sở hữu trí tuệ có thể được mua, bán, cấp phép hoặc cho biếu tự do. Một số doanh nghiệp có thể kiếm hàng triệu đô-la từ việc cấp phép hoặc bán các bằng sáng chế hoặc nhãn hiệu của họ.

Continue reading

MỘT SỐ SUY NGHĨ VỀ THƯƠNG HIỆU DOANH NGHIỆP

VÕ HƯƠNG

Thời gian trước đây, khi nói về việc xây dựng và phát triển một doanh nghiệp, người ta hay nói đến mục tiêu tiên quyết là lợi nhuận. Nhưng ngày nay đã có nhiều lập luận được đưa ra phản đối lại quan điểm trên. Nhiều chuyên gia cho rằng nguyên nhân để một doanh nghiệp có thể tồn tại hàng trăm năm, nối tiếng ở hàng trăm quốc gia và giữ được lòng mến mộ của hàng triệu khách hàng, đó là Thương hiệu doanh nghiệp và nó đã trở thành một yếu tố cơ bản nhất quyết định sự tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp.

Với Việt Nam, một quốc gia đang phát triển và mới bước vào quá trình hội nhập quốc tế, nhưng các nhà lãnh đạo doanh nghiệp đã nhận ra vai trò của thương hiệu trong sự phát triển của doanh nghiệp. Chính vì lý do đó mà ta có thể tự hào khi nhìn thấy các sản phẩm thương hiệu “cà phê Trung Nguyên” được bày bán nhiều nơi trên thế giới, logo “Vietnam Airline” được nhiều người khách nước ngoài nhận biết, và biểu tượng SSI của Công ty cổ phần chứng khoán Sài Gòn được nhiều nhà đầu tư tài chính nước ngoài biết đến,…

Tuy nhiên, ở một bộ phận doanh nghiệp khác của Việt Nam, việc xây dựng và bảo vệ thương hiệu chưa được quan tâm đúng mức trong chiến lược phát triển của doanh nghiệp. Bài viết này xin được cung cấp một cái nhìn sâu hơn về thương hiệu doanh nghiệp, qua đó có thể đóng góp thêm ý kiến về việc xây dựng và phát triển thương hiệu trong tổng thể chiến lược phát triển doanh nghiệp.

Các phương thức tiếp cận và định nghĩa về Thương hiệu

Thực tế cho thấy, một thương hiệu mạnh và hiệu quả sẽ làm gia tăng sự nhận biết, lòng trung thành của khách hàng, doanh số bán hàng, ‘giữ chân’ nhân viên, và ngay cả giá trị cổ phiếu công ty.

Tuy nhiên, nhận biết về thương hiệu đến mức độ nào và chuyển nhận biết đó trong những hành động hàng ngày là một vấn đề rất phức tạp. Một thương hiệu hiệu quả và tồn tại lâu dài không phải xây lên từ một sự tình cờ, mà nó có thể là một nhiệm vụ quan trọng và khó khăn nhất đối với các công ty ngày nay. Do đó, thương hiệu cần được tiếp cận một cách công phu và tinh vi. Continue reading

THAY ĐỔI QUAN NIỆM VỀ TÀI NGUYÊN TRONG PHÁT TRIỂN

TS. NGUYỄN HIỀN

Tài nguyên có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế- xã hội của mỗi quốc gia, đặc biệt trong điều kiện cạnh tranh gay gắt về thị trường tài nguyên trên thế giới hiện nay, vấn đề đánh giá tài nguyên, kiểm kê tiềm năng các dạng tài nguyên thiên nhiên phân bố theo yếu tố địa lý, khả năng và hiệu quả khai thác, thứ tự ưu tiên khai thác để vừa sử dụng có hiệu quả là một việc làm cần thiết đảm bảo yêu cầu bảo vệ và phát triển bền vững.

Theo quan niệm truyền thống tài nguyên vật chất hữu hình bao gồm tài nguyên tự nhiên, đất và sức lao động là các nhân tố cơ bản phát triển vùng, từ đó mà hình thành cơ cấu kinh tế vùng, bao gồm các ngành nghề thuộc khu vực một chủ yếu dựa vào nông nghiệp và khai khoáng… , sau đến là ngành nghề thuộc khu vực hai lấy gia công tài nguyên hoặc tái gia công là chủ yếu, tiếp đến là ngành nghề thuộc khu vực ba lấy dịch vụ là chủ yếu. Những quan niệm tiến bộ trên đây đã được định hình và coi như công nghệ trong các nội dung nghiên cứu và phổ biến trong phương pháp hoạch định kinh tế xã hội cũng như chiến lược phát triển vùng từ nhiều thế kỷ qua.

Ngày nay thông tin cùng với sự phát triển của ngành nghề công nghệ vi điện tử đang song hành phát triển thúc đẩy lẫn nhau đã được coi như một loại tài nguyên có giá trị cao, thậm chí có nơi có lúc còn được xếp loại là vô giá… đang trở thành những động lực mới thúc đẩy sư phát triển vùng, hơn nữa, đang có ảnh hưởng toàn diện đến nền kinh tế và đời sống xã hội. Trong thực tiễn cuộc sống với nền kinh tế toàn cầu hoá từ công đoạn khai thác thu thập, xử lý, lưu giữ và truyền đưa các loại thông tin trong và ngoài nước đã trở thành những chủ thể mới trong quản lý vận hành kinh tế khu vực. Do đó, có thể khẳng định ai nắm được tài nguyên thông tin, người đó sẽ nắm được quyền chủ động phát triển. Điều này không chỉ có ý nghĩa quan trọng tác động đến mọi lựa chọn trong kế hoạch kinh tế-xã hội, chiến lược an ninh chính trị quốc gia, trong lập kế hoạch của các nhà kinh doanh mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến những công việc và cuộc sống hàng ngày quanh ta. Tri thức là cơ sở và là nguồn gốc của tài nguyên thông tin. Nhân tài nắm vững khoa học công nghệ và tri thức văn hoá là người sáng tạo và phổ biến tri thức. Do vậy, trên một ý nghĩa nào đó cũng có thể khẳng định ai có nhân tài, người đó cũng có tài nguyên thông tin, cũng chính là nắm được quyền chủ động phát triển. Và như vậy cạnh tranh phát triển vùng hay khu vực trên thế giới hiện nay cũng chính là cạnh tranh nhân tài. Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ TRONG KHẤU HAO VÀ PHÂN LOẠI TÀI SẢN CỐ ĐỊNH HỮU HÌNH

THS. ĐỖ THỊ HỒNG HẠNH

Một doanh nghiệp muốn tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh của mình thì phải có những tài sản nhất định. Tài sản là nguồn lực do doanh nghiệp kiểm soát và có thể thu được lợi ích kinh tế trong tương lai. Hiện nay toàn bộ tài sản trong doanh nghiệp được chia làm 2 loại: Tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn.

Tài sản cố định là một trong những yếu tố quan trọng bậc nhất trong quá trình sản xuất kinh doanh của các tổ chức và cá nhân. Tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh với vai trò là yếu tố cấu thành không thể thiếu trong giá trị sản phẩm, dịch vụ tạo ra, tài sản cố định phải được hạch toán, theo dõi phù hợp cả về mặt định lượng, cả về thông tin phục vụ cho việc quản lý và bảo toàn.

Trong phạm vi bài viết này xin đề cập ý kiến về vấn đề khi phân loại và khấu hao tài sản cố định hữu hình.

Thứ nhất: Khấu hao tài sản cố định hữu hình

Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) số 03 quy định:

Tài sản cố định hữu hình (TSCĐHH) là tài sản có hình thái vật chất do doanh nghiệp năm giữ để sử dụng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐHH. Tài sản được ghi nhận là TSCĐHH phải thoả mãn đồng thời tất cả bốn tiêu chuẩn: Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó; Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách đáng tin cậy; Thời gian sử dụng ước tính trên một năm; Có đủ tiêu chuẩn giá trị theo quy định hiện hành.

Trong quá trình sử dụng TSCĐHH được xác định theo nguyên giá, khấu hao lũy kế và giá trị còn lại:

Nguyên giá là toàn bộ các chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để có được TSCĐHH tính đến thời điểm đưa tài sản đó vào trạng thái sẵn sàng sử dụng.

Khấu hao là sự phân bổ một cách có hệ thống giá trị phải khấu hao của TSCĐHH trong suốt thời gian sử dụng hữu ích của tài sản đó.

Giá trị phải khấu hao là nguyên giá của TSCĐHH ghi trên báo cáo tài chính, trừ (-) giá trị thanh lý ước tính của tài sản đó.

Giá trị thanh lý là giá trị ước tính thu được khi hết thời gian sử dụng hữu ích của tài sản, sau khi trừ (-) chi phí thanh lý ước tính.

Thời gian sử dụng hữu ích của TSCĐHH do doanh nghiệp xác định chủ yếu dựa trên mức độ sử dụng ước tính của tài sản, tuy nhiên do chính sách quản lý của tài sản của doanh nghiệp mà thời gian sử dụng hữu ích ước tính của tài sản có thể ngắn hơn thời gian sử dụng thực tế của nó. Vì vậy việc ước tính thời gian sử dụng hữu ích của một TSCĐ hữu hình còn phải dựa trên kinh nghiệm của doanh nghiệp đối với các loại tài sản cùng loại.

Continue reading

QUẢN TRỊ THƯƠNG HIỆU – TỪ MỘT ĐẾN MỘT CHÙM TIA LASER

LÊ CHÍ CÔNG – Giám đốc Nemo Consulting

Một khi thương hiệu ghi được dấu ấn tích cực, sâu đậm trong tâm tưởng của khách hàng thì nó sở hữu một sức mạnh “xuyên phá” như một tia laser. Lúc này các nhà quản trị thương hiệu thường nghĩ đến việc tận dụng “hào quang” của tia laser ban đầu để tạo ra tia thứ hai, thứ ba rồi dần mở rộng thành chùm tia laser.

Bài viết này đề cập một số điểm chính liên quan đến các hoạt động giãn nở của thương hiệu.

Hãy làm quen với các khái niệm: mở rộng dòng sản phẩm, tạo thương hiệu phụ, mở rộng thương hiệu và mở rộng danh mục thương hiệu. Mở rộng dòng sản phẩm là việc sử dụng cùng một tên thương hiệu cho các sản phẩm mới trong cùng ngành hàng, ví dụ như Vinamilk tung ra Vinamik sữa tươi rồi Vinamik sữa chua.

Tạo thương hiệu phụ là việc đặt một cái tên cho sản phẩm mới có sự bảo trợ hay hỗ trợ từ thương hiệu gốc, ví dụ như sữa Dielac của Vinamilk. Kế đến, mở rộng thương hiệu là việc tận dụng một  thương hiệu đã có danh tiếng cho một dòng sản phẩm mới, chẳng hạn như mì ăn liền Vifon mở rộng sang các loại sản phẩm gia vị Vifon.

Và sau cùng, mở rộng danh mục thương hiệu là việc tạo ra một tên thương hiệu mới ngoài thương hiệu hiện hữu, như việc ra đời của thương hiệu Lexus tách biệt khỏi các dòng xe thuộc Toyota. Các hoạt động giãn nở này của thương hiệu thường nhắm đến mục tiêu như đa dạng hóa dòng sản phẩm, mở rộng nhóm khách hàng, gia tăng doanh số và thị phần…

Mở rộng thương hiệu: cần có “điểm tựa”

Cần để ý rằng sản phẩm làm đa dạng hóa trong khi thương hiệu lại giúp đơn giản hóa sự chọn lựa của khách hàng. Thương hiệu đóng vai trò là “chiếc cầu nối” giữa khách hàng với các sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp.

“Chiếc cầu nối” này được hình thành từ những liên tưởng – cho dễ hiểu, tạm gọi là “điểm tựa” trong nhận thức của khách hàng, được tạo ra một cách có chủ định trong suốt quá trình hoạt động.

“Điểm tựa” này giúp khách hàng nhớ, quen rồi tin, từ đó hình thành nên một khuôn mẫu trong nhận thức của họ đối với một cái tên thương hiệu. Lấy ví dụ, loại xe Jeep nổi tiếng với “điểm tựa” chính là “xe chạy trên mọi địa hình” đã mở rộng sang sản phẩm xe nôi của em bé, hẳn các bà mẹ nghĩ rằng “xe nôi Jeep cũng mạnh mẽ và bền chắc” và cho là hợp logic.

Continue reading

LUẬT VỀ QUYỀN TÀI SẢN CỦA TRUNG QUỐC, NHÌN TỪ VIỆT NAM LUẬT TA TỐT HƠN, NHƯNG…

TS. NGUYỄN NGỌC ĐIỆN

Sau ba thập niên đổi mới, Trung Quốc vẫn chưa có một bộ luật dân sự của mình. Người ta nói rằng người cầm quyền Trung Quốc có cách riêng để hoàn thiện hệ thống quy tắc dân luật. Thay vì xây dựng ngay từ đầu một bộ luật đồ sộ, họ giải quyết các vấn đề đặc thù bằng các luật chuyên biệt, điển hình là luật về quyền tài sản mới được thông qua. Thế rồi, từ sự tổng kết việc thực hiện các luật ấy, Bộ luật Dân sự sẽ ra đời, ở thời điểm thích hợp, như một tất yếu.

Cũng như ở Việt Nam, người làm luật Trung Quốc xác định rằng tài sản cơ bản trong xã hội có tổ chức, là đất đai, được đặt dưới chế độ công hữu. Thế nhưng, so với Việt Nam – nơi cũng thiết lập chế độ công hữu về đất đai, Trung Quốc bước đi một cách khá chậm rãi trong lộ trình mở rộng các quyền của người sử dụng đất.

Nếu thừa nhận quyền sử dụng đất là một loại tài sản tư, mang tính chất bất động sản và tự đặt mình vào vị trí của người chủ sở hữu tài sản đó, thì, một cách tự nhiên, người làm luật sẽ đứng trước tình huống: tài sản, được hình dung thành một khoảnh đất, một phần lãnh thổ, dứt khoát phải tiếp cận, gắn liền với những khoảnh đất khác, những phần khác của lãnh thổ, là các bất động sản thuộc sở hữu của người khác.

Những chủ sở hữu ở gần nhau tạo thành cộng đồng láng giềng con người. Các bất động sản nằm cạnh nhau tạo thành một cộng đồng láng giềng tài sản. Vấn đề đặt ra là phải làm thế nào giải quyết tốt mối quan hệ giữa người sử dụng đất lân cận, nhằm bảo đảm “cộng đồng láng giềng” thực sự là một tập thể được tổ chức tốt với các thành viên biết cư xử đúng mực, hoà thuận, văn minh trong quá trình khai thác, sử dụng “phần lãnh thổ” của mình.

Muốn có một cộng đồng như vậy, phải xây dựng một chế độ điền thổ có ba chế định căn bản, giải quyết ba vấn đề kỹ thuật lớn.

Continue reading

TRANH GIẢ, TRANH CHÉP VÀ VẤN ĐỀ BẢN QUYỀN MỸ THUẬT

PHAN CẨM THƯỢNG

Tình hình tranh giả, tranh chép, tranh nhái theo một phong cách nào đó diễn ra rất phức tạp trong vòng hơn 25 năm qua, khiến các họa sỹ tuyệt vọng về vấn đề bản quyền không có cách gì  bảo vệ được mình. Một phần do chính các họa sỹ có lúc thấy bức tranh nào bán được thì cứ thản nhiên chép lại, hoặc thay đổi rất ít, khiến phong cách của họ trở nên nhàm chán và dễ bắt chước.

Bảo tàng cần phải là nơi chuẩn mực cho việc bảo vệ bản quyền

Trước đây tôi đã nhiều lần bày tỏ những nghi ngờ của mình về tính chân bản của một số tác phẩm hội họa treo ở Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam. Nghi ngờ vì trình độ vẽ của những bức tranh được gọi là của danh họa đó rất non yếu, đến mức hoặc phải khẳng định rằng đó là tranh chép lại, hoặc nếu đúng là của họa sỹ vẽ ra thì cũng chưa đáng giá. Rất nhiều người trong nghề và khán giả nước ngoài đều có cảm nhận như vậy, và ngoài việc thất vọng, không có cách gì khác.

Do chiến tranh, có thời Bảo tàng Mỹ thuật đã phải đưa nhiều tác phẩm đi sơ tán và treo những phiên bản. Những phiên bản thời đó khá tốt, vì hoặc do chính tác giả sao lại, hoặc do một họa sỹ giỏi khác làm, nhưng hội họa luôn là độc bản, sự sao chép dù tốt đến đâu cũng không thay thế được chân bản.

Thật giả trở nên lẫn lộn, cứ thế kéo dài cho đến bây giờ, càng ngày càng thấy tệ hơn, và dường như tới mức không thể xác định được thật giả nữa. Trong lưu trữ của gia đình ông Đức Minh vẫn còn biên bản về việc Bảo tàng Mỹ thuật xin phép sao lại 13 bức tranh thuộc quyền sở hữu của ông. Nhân đó, ông Đức Minh cũng nhờ họa sỹ Nguyễn Tư Nghiêm vẽ lại cho mình bức Con nghé quả thực, nhưng là một người hiểu biết, Nguyễn Tư Nghiêm đã vẽ kích thước to hơn, lộn ngược lại bố cục và vẽ theo bút pháp những năm 1970.

Gần đây, khi nghiên cứu ký họa và phác thảo của các họa sỹ, tôi càng thấy sự khác biệt vô cùng giữa công việc của họa sỹ với bức tranh treo ở bảo tàng. Trình độ của ký họa và phác thảo là mười, thì bức tranh thể hiện chỉ là một, thậm chí rất ngô nghê.

Trên đây là một ý kiến hoàn toàn cá nhân, cần có những nghiên cứu khác bổ sung, nhưng thiết nghĩ bảo tàng cần phải là nơi chuẩn mực cho việc bảo vệ bản quyền, nhất là trong thời đại hiện nay.

Họa sỹ tuyệt vọng về vấn đề bản quyền

Tình hình tranh giả, tranh chép, tranh nhái theo một phong cách nào đó diễn ra rất phức tạp, ít nhất là trong vòng 25 năm qua, khiến các họa sỹ tuyệt vọng về vấn đề bản quyền, không có cách gì bảo vệ được mình. Một phần do chính các họa sỹ có lúc thấy bức tranh nào bán được thì cứ thản nhiên chép lại, hoặc thay đổi rất ít, khiến phong cách của họ trở nên nhàm chán và dễ bắt chước.

Continue reading

TRÁI PHIẾU VÀ BA LÝ DO BẤT CẬP

HỒNG SƯƠNG

Khalil Belhimeur, chuyên gia phân tích của ngân hàng Standard Chartered vừa có bản báo cáo về thị trường trái phiếu Việt Nam ngày 30.3 vừa qua. Trong đó, ông có nói đến ba lý do bất cập giữa mục tiêu và thực tế phát hành trái phiếu ra thị trường.

Sau khi lãi suất trái phiếu trên thị trường tăng mạnh trong những tháng đầu năm, do việc nới lỏng mạnh tay của NHNN và tính thanh khoản của thị trường tăng, thị trường trái phiếu Việt Nam đã chứng kiến một sự điều chỉnh. Trái phiếu kỳ hạn 2 năm và 5 năm đã thoát ra khỏi lãi suất thấp lần lượt ở mức 7,6% và 7,95%, và hiện đang giao dịch ở mức cao hơn khoảng 1%.

Tăng trưởng GDP trong quý 1 năm nay là 3,1% so với cùng kỳ năm ngoái. Chính phủ đặt mục tiêu tăng trưởng của cả năm là 6,5%. Báo cáo cho rằng điều này dường như là quá tham vọng. Việt Nam, với tỉ lệ xuất khẩu/GDP là 0,75, vẫn bị ảnh hưởng bởi hoạt động tiêu dùng thất thường của các nước. Tuy một số người lạc quan với cán cân thương mại dương, nhưng sự tăng trưởng này cho thấy hoạt động tiêu dùng nội địa đang suy giảm. Trong khi đó, số lượng các dự án FDI, theo báo cáo của chính phủ, giảm 70% trong quý 1 so cùng kỳ năm ngoái. Dòng vốn nước ngoài chảy khỏi các thị trường tài chính, với tỷ lệ nắm giữ cổ phiếu và trái phiếu của nước ngoài đang giảm.

Các nguồn lực đều suy giảm. Vì thế nhu cầu chi tiêu của Chính phủ cần phải tăng lên là tất yếu. Gói kích cầu trị giá 6 tỉ USD đã được thông qua song mới chỉ có 1 tỉ USD được giải ngân. Phần còn lại là hỗ trợ các dự án cơ sở hạ tầng và cắt giảm thuế. Qui mô nhỏ của kế hoạch chi tiêu đưa đến lo ngại về nguồn vốn cho phần thiếu hụt ngân sách. Trong khi Chính phủ đặt ra khá nhiều mục tiêu lớn thì con số thực tế cuối cùng có thể nhỏ hơn. Năm 2008, kho bạc Nhà nước có kế hoạch phát hành khoảng 90 ngàn tỉ đồng nhưng chỉ được 49 ngàn tỉ đồng. Tình hình lặp lại ở quý 1.2009, với công bố phát hành 22 ngàn tỉ đồng, nhưng đến nay mới dừng ở con số 2,6 ngàn tỉ đồng. Theo báo cáo này, có ba lí do chính đằng sau sự bất cập.

Lãi suất trái phiếu sẽ tăng trở lại

Theo báo cáo, tính thanh khoản đang được nới lỏng, với sự thu hẹp của các nghiệp vụ thị trường mở và lãi suất qua đêm đang dần hạ xuống. Quan trọng hơn, lãi suất cho vay thương mại hiện cao nhất là 10.5%, chênh lệch rất nhỏ với trái phiếu. Các hoạt động kinh tế sẽ khó tăng trưởng trở lại trong trung hạn, nhu cầu vay có thể giảm. Như vậy, các ngân hàng có thể rơi vào tình trạng thặng dư vốn. Do đó, việc lãi suất trái phiếu tăng trở lại chỉ là vấn đề thời gian.

Continue reading

XÂY DỰNG THƯƠNG HIỆU TRONG MỘT THẾ GIỚI BIẾN ĐỔI

THANH PHƯƠNG

Trong khuôn khổ Chương trình Thương hiệu quốc gia, vào cuối năm ngoái, một cuộc hội thảo nhằm cung cấp kiến thức cho doanh nghiệp trong việc gia tăng giá trị thương hiệu bằng con đường đổi mới, sáng tạo đã được tổ chức tại TPHCM. Chúng tôi giới thiệu các nội dung được trình bày nhằm giúp khởi động Chương trình Thương hiệu quốc gia trong năm nay.

Đổi mới, sáng tạo trong thang giá trị thương hiệu

Ông Nguyễn Trung Thẳng, Tổng giám đốc Masso Group, kể hai câu chuyện nhằm khẳng định “yếu tố cốt lõi cũng là mục tiêu của đổi mới, sáng tạo thương hiệu không gì khác hơn là nhắm đến khách hàng và nhu cầu gia tăng lợi ích của họ”.

Câu chuyện thứ nhất là câu chuyện xe máy Trung Quốc. Theo ông Thẳng, những thương hiệu xe máy Nhật từng một thời gian dài là biểu tượng của ngành công nghiệp xe máy đã buộc phải nhường thị phần cho Trung Quốc sau khi hàng loạt những nhà sản xuất của Trung Quốc đã biết đổi mới với “hướng đi mở”.

Họ không đưa ra những bản thiết kế đến từng chi tiết, không ràng buộc quy trình công nghệ sản xuất theo hệ tiêu chí quá chặt chẽ, họ để cho các nhà cung ứng được tự do sáng tạo. Kết quả là sự cạnh tranh đã giúp giá thành xe máy Trung Quốc có mức giảm bình quân tới 200 đô la cho mỗi chiếc xe máy xuất khẩu.

“Tuy xe máy Trung Quốc bị thành kiến về mặt chất lượng nhưng cũng có thể xem chất lượng này tương ứng với giá cả, và không thể phủ nhận một thực tế là xe máy Trung Quốc đã đáp ứng được nhu cầu lớn và đang chiếm 50% thị phần thế giới”, ông Thẳng nhận định.

Câu chuyện thứ hai kể về bệnh viện mắt Aravind của Ấn Độ. Theo ông Thẳng, bệnh viện này đã đưa ý niệm “quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm” vào việc cải tiến quy trình phẫu thuật mắt và sau đó là quy trình sản xuất các thiết bị y tế ngành mắt. Sự sáng tạo này đã đưa Aravind trở thành thương hiệu nổi tiếng về tần suất điều trị với hàng triệu bệnh nhân và hàng trăm ngàn ca phẫu thuật mỗi năm.

Continue reading

CHÍNH PHỦ VỚI “HÀNG HÓA CÔNG”

C.H. LLEWELLYN SMITH

Đầu tư cho khoa học cơ bản rất tốn kém nhưng không đem lại lợi ích cho một cá nhân hay tập đoàn kinh tế, nhưng nó rất quan trọng đối với sự phát triển của cả xã hội, cho nên khoa học cơ bản được các nhà kinh tế đặt cho cái tên là “hàng hoá công”, ví dụ như ngọn hải đăng, hay một hệ thống quốc phòng. Vì vậy khoa học cơ bản chỉ có thể phát triển được khi có sự hỗ trợ của Chính phủ. Vấn đề đặt ra là Chính phủ nên đầu tư vào đâu, và ở mức độ nào?

Đầu tiên, tôi cho rằng các nước phát triển có trách nhiệm phải hỗ trợ cho khoa học cơ bản vì lợi ích tổng thể của xã hội. Thứ hai, một cơ sở nghiên cứu khoa học cơ bản nếu được duy trì hoạt động thì sẽ giúp bảo tồn và nuôi dưỡng sự phát triển công nghệ mới. Vai trò của việc làm nghiên cứu trong đào tạo các nhà khoa học – những người sau này có thể sẽ chuyển sang làm trong các ngành công nghiệp – và trong sự tạo thành mạng lưới nghiên cứu, là vô cùng quan trọng. Việc ở gần các trung tâm nghiên cứu sẽ đem lại lợi ích trực tiếp khi người ta khai thác sản phẩm nghiên cứu, và khai thác các khám phá ngoài dự kiến (những công ty ra đời từ việc tận dụng những khám phá ngoài dự kiến thường xuất hiện ở đâu đó gần các trung tâm như vậy). Chẳng phải tình cờ khi Thung lũng Silicon ở gần Đại học Stanford, hay cụm các công ty công nghệ cao ở sát thành phố Boston (đáng tiếc là không dễ tìm ra ví dụ tương tự ở châu Âu, do văn hoá kinh doanh yếu hơn ở các đại học và trung tâm nghiên cứu của châu Âu).

Tuy nhiên, ta có thể hỏi, ở nước Nhật thì sao?

Vào những năm 1980, khi người Nhật chỉ thiên về hỗ trợ nghiên cứu ứng dụng và phát triển sản phẩm hơn là khoa học cơ bản nhưng họ đã chiếm lĩnh nhiều thị trường công nghệ, kể cả những lĩnh vực rất tinh xảo như bộ nhớ truy cập ngẫu nhiên động (DRAM), và người ta thậm chí tự hỏi ngành công nghiệp bán dẫn của Mỹ liệu có cơ may sống sót. Nhưng thực tế thì ngành công nghiệp bán dẫn của Mỹ đã không bị diệt vong, và trong lúc người ta tiên đoán về sự lụi tàn của nó, thì các nhà nghiên cứu Mỹ từ 1989 đã làm cuộc cách mạng, tạo ra những thị trường mới với công nghệ sinh học, đa phương tiện, phần mềm máy tính, và liên lạc điện tử, … Cùng thời gian đó, nền kinh tế Nhật thụt lùi dần. Vì thế Chính phủ Nhật trong Kế hoạch Cơ bản cho Khoa học và Công nghệ, công bố vào 1996, đã dự tính tăng hỗ trợ kinh phí cho khoa học cơ bản thêm 50% trong vòng 5 năm.

Continue reading

LOGO TRONG HỆ THỐNG NHẬN DIỆN THƯƠNG HIỆU

VÂN CHẤU – VietinBank 14 – Tp. HCM

Thương hiệu tốt sẽ mang lại giá trị gia tăng rất lớn cho sản phẩm, dịch vụ mang thương hiệu đó. Một trong những yếul tố quan trọng quyết định sự thành công của thương hiệu là việc xây dựng được hệ thống nhận diện thương hiệu .Chúng ta đã đề cập đến mức độ quan trọng của Tên thương hiệu trong hệ thống nhận diện thương hiệu qua bài “Thổi hồn cho thương hiệu”. Trong bài viết này, chúng ta sẽ đề cập đến vấn đề Logo của thương hiệu.

Logo là thành phần không thể thiếu trong hệ thống nhận diện thương hiệu, nó thường gắn liền với tên thương hiệu, do đó những thương hiệu tốt, người ta có thể chỉ nhìn thấy logo là có thể nhận biết ngay thương hiệu của nó. Ví dụ như: khi nhìn vào dấu phẩy như chữ V đơn giản người ta nghĩ ngay đến Nike, biểu tượng ngôi sao ba cánh là Mercedes-Benz  , …

Logo có thể được thể hiện bằng biểu tượng hoặc dưới dạng mẫu tự (bằng chữ) của thương hiệu đó. Có khá nhiều logo được thiết kế theo tên thương hiệu, như: Coca Cola, Nokia, Samsung,… điều này cũng có thể giúp cho người tiêu dùng nhận ra ngay tên thương hiệu.

Logo phải cuốn hút về mặt thị giác và dễ nhìn cũng như có thể hàm chứa nội dung loại hàng hoá, dịch vụ hoặc triết lý kinh doanh mà Công ty đang thực hiện.

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ BỒI TỤ GIÁ TRỊ NHÃN HIỆU TRONG KINH DOANH

Brand_Name_page ĐÀO MINH ĐỨC

Vai trò của bộ phận quản trị nhãn hiệu

Bồi tụ giá trị cho nhãn hiệu chỉ là một trong các hoạt động tác nghiệp quản trị nhãn hiệu mà bản chất của các hành vi quản trị này là sự điều hòa và cân bằng giữa:

+ Các đòi hỏi vô hạn của thị trường với các nguồn lực hữu hạn của doanh nghiệp;

+ Cảm nhận tổng hòa được bộc lộ không rõ nét của người tiêu dùng về nhãn hiệu, với quy trình tổ chức sản xuất được kế hoạch hóa chặt chẽ trong doanh nghiệp;

+ Phong cách và hình ảnh của nhãn hiệu trong chiến lược dài hạn, với áp lực về doanh số và lợi nhuận trong ngắn hạn;

+ Phong cách và hình ảnh của từng nhãn hiệu với phong cách kinh doanh và hình ảnh chung của hệ thống biểu tượng của doanh nghiệp (thương hiệu, lô gô, các nhãn hiệu và các chỉ dẫn thương mại khác).

Do vậy, hoạt động quản trị nhãn hiệu thường chỉ có thể đạt hiệu quả tối ưu nếu được đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của các chức danh lãnh đạo doanh nghiệp có thẩm quyền liên kết chiến lược nhãn hiệu vào chiến lược kinh doanh. Ở cấp độ tác nghiệp, trong bộ phận quản trị nhãn hiệu của các tập đoàn đa quốc gia, nhất là trong lĩnh vực hàng tiêu dùng, mỗi nhãn hiệu hoặc một nhóm nhãn hiệu thường được giao cho một quản trị viên nhãn hiệu (brand manager) phụ trách, và có thể có các trợ lý nhãn hiệu (brand assistant) giúp việc. Tùy theo quy mô các ngành hàng và cấu trúc doanh nghiệp, có thể có thêm chức danh giám đốc nhãn hiệu (brand director) phụ trách chung toàn bộ hoạt động quản trị nhãn hiệu và nếu không có chức danh này, các quản trị viên nhãn hiệu thường được đặt dưới sự lãnh đạo của giám đốc tiếp thị (marketing director). Trong lĩnh vực hàng tiếp thị công nghiệp, quản trị viên nhãn hiệu có khi còn là quản trị viên sản phẩm (product manager).

Continue reading

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUYỀN CHỌN TIỀN TỆ

THS. NGUYỄN PHÚ QUỐC

Trên thị trường ngoại hối có 5 nghiệp vụ cơ bản được giao dịch đó là: giao ngay (spot), kỳ hạn (forward), hoán đổi (swap), tương lai (future) và quyền chọn (Option). Trong đó, giao ngay được xem là nghiệp vụ cơ bản, các nghiệp vụ còn lại được xem là phái sinh. Phải nói rằng giao dịch quyền chọn tiền tệ là tương đối phức tạp, bởi lẽ trong mỗi giao dịch có tới hai đồng tiền là đồng tiền yết giá và đồng tiền định giá; và có tới hai tỷ giá là tỷ giá mua vào và tỷ giá bán ra.

Định nghĩa quyền chọn tiền tệ

Các hợp đồng ngoại hối kỳ hạn, hoán đổi và tương lai luôn phải được thanh lý giữa các đối tác tham gia. Cho dù một thực tế rằng, các hợp đồng tương lai có thể được chyển nhượng và những khoản phụ trội trên tài khoản ký quỹ có thể được rút ra: và chúng ta có thể thoát ra khỏi trạng thái của hợp đồng kỳ hạn bằng cách tiến hành một giao dịch kỳ hạn đối ứng (offsetting forward contract). Nhưng, cuối cùng thì mọi hợp đồng tương lai và kỳ hạn khi đáo hạn đều phải được các bên chấp nhận và thanh toán. Như vậy, những người nắm giữ hợp đồng kỳ hạn, hoán đổi và tương lai khi đến hạn phải giao dịch thanh toán với nhau. Điều này hàm ý, các đối tác không có bất cứ sự lựa chọn nào ngoài việc tiến hành thanh toán hợp đồng khi đáo hạn, kể cả trong những trường hợp bất lợi với họ.

Continue reading

TIỀN POLYMER, TIỀN KIM LOẠI – BƯỚC CHUYỂN MÌNH CỦA ĐỒNG TIỀN VIỆT NAM PHỤC VỤ CHO CÔNG NGHIỆP HOÁ – HIỆN ĐẠI HOÁ

image LÊ THỊ THANH HẰNG – Ngân hàng Nhà nước TPHCM

Từ tháng 12/2003, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã phát hành bổ sung vào lưu thông một số mệnh giá tiền trên chất liệu polymer và kim loại. Sau giai đoạn “hồ hởi” ban đầu, sự xuất hiện của những đồng tiền trên chất liệu mới đã gặp không ít khó khăn dù những lợi ích do chúng mang lại ở góc độ vĩ mô là khá rõ nét; Trong đó, sự trở lại của đồng tiền kim loại sau một thời gian dài vắng bóng càng khó khăn hơn và một thực tế là cho đến nay vẫn còn một bộ phận người tiêu dùng không mặn mà với tiền loại. Như vậy, liệu sự ra đời của tiền polymer và tiền kim loại có thực sự hợp lý và cần thiết hay không? Những đồng tiền “hiện đại” này liệu có đóng góp gì cho sự phát triển kinh tế-xã hội và đặc biệt là chúng tương thích như thế nào đối với công nghệ hiện đại ngày nay? Một lần nữa chúng ta hãy thử nhìn nhận lại vấn đề này một cách khách quan.

1. Tiền polymer:

Xuất phát từ một số đặc tính của tiền polymer trong bảo quản, sử dụng như: dễ bị biến dạng khi tiếp xúc với nguồn nhiệt, dễ bị nhàu nếu bị vò, miết mạnh… đòi hỏi phải được sử dụng, bảo quản một cách thích hợp. Vì vậy, ở giai đoạn mới phát hành tiền polymer không đủ tiêu chuẩn lưu thông do nguyên nhân bảo quản tăng đột biến gây những tâm lý bất lợi cho công tác phát hành. Tuy nhiên, sau một thời gian sử dụng, những thói quen mới dần được hình thành, tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông giảm đáng kể so với trước. Tại thành phố Hồ Chí Minh, sau hai năm phát hành tiền mới vào lưu thông, tỷ trọng tiền polymer không đủ tiêu chuẩn lưu thông chỉ chiếm khoảng 0,02% tổng doanh số thu tiền mặt của Ngân hàng Nhà nước năm 2005 và 0,08% doanh thu tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông. So sánh với tỷ trọng tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông năm 2003 là 12,9% so với doanh số thu tiền mặt của Ngân hàng Nhà nước năm 2003. Ngoài ra chất lượng tiền sau hai năm đi vào lưu thông vẫn đảm bảo độ sạch đẹp hơn so với tiền cotton được lưu hành trong cùng thời gian. Đặc điểm này của tiền Polymer sẽ giúp giảm đáng kể chi phí phát hành dù chi phí in tiền Polymer có cao hơn so với tiền trên nền giấy cotton.

Continue reading

THƯƠNG HIỆU – TÀI SẢN QUÍ

image ĐÔNG SƠN

DAUTU – Gần đây, không có các vụ tranh chấp thương hiệu nổi “đình đám” như mấy năm trước. Song không vì thế mà các doanh nghiệp (DN) cạnh tranh thôi không “nhòm ngó” vào “tài sản quý” của đối thủ. Để tránh bị tranh chấp thương hiệu, DN cần luôn cảnh giác để khỏi mất oan “tài sản quý”.

Chuyện cũ vẫn còn nóng

Năm 2002, Tổng công ty Thuốc lá Việt Nam (Vinataba) đã bị Công ty Sumatra (trụ sở chính tại Indonesia) kiện vì đã bán sản phẩm thương hiệu Vinataba tại thị trường Lào và Campuchia. Sau một thời gian tìm hiểu, Vinataba mới biết rằng, thương hiệu của mình đã bị “đánh cắp”, vì Sumatra đã “nhanh chân” đăng ký tên sản phẩm mà chẳng có một bao thuốc lá nào bán ra thị trường. Vì vậy, để thương hiệu được công nhận tại hai thị trường trên, Vinataba đã phải bỏ ra hàng tỷ đồng để tham gia “cuộc chiến pháp lý”. Tuy nhiên, với những thị trường xa, Vinataba đành phải nhượng quyền sở hữu thương hiệu (do chi phí cho việc giành lại thương hiệu quá tốn kém).

Continue reading

TIỀN KIM LOẠI TRÊN THẾ GIỚI

image TUẤN NGỌC

Hầu hết các nước trên thế giới, kể cả những nước có hệ thống thanh toán không dùng tiền mặt phát triển, tiền kim loại vẫn được sử dụng phổ biến trong các giao dịch nhỏ bởi tiền kim loại mang lại lợi ích thiết thực cho cả cơ quan phát hành và người sử dụng tiền.

Đối với cơ quan phát hành, tiền kim loại bền hơn nên việc sử dụng tiền kim loại sẽ tiết kiệm chi phí phát hành trong dài hạn. Đối với người sử dụng, tiền kim loại sạch hơn, không bị rách, nhàu nát, không hấp thụ tạp chất như tiền giấy và phù hợp với việc sử dụng các loại hình dịch vụ tự động hoá. Ngoài ra, tiền kim loại cũng là vật lưu niệm gần gũi đối với khách du lịch bởi đồng tiền thường mang một ý nghĩa nhất định về văn hoá, tập quán của nước phát hành. Tuy nhiên, tiền kim loại nặng hơn, khó đếm và dễ rơi hơn tiền giấy. Mặc dù vậy, trong xã hội hiện đại, không thể không có tiền kim loại khi các loại hình dịch vụ thương mại tự động hoá phát triển.

Continue reading

TIỀN KIM LOẠI CÓ BỊ LOẠI?

ĐINH THU HÀ

image Theo quy luật thông thường, có cầu thì sẽ có cung, tuy nhiên thực trạng tiền kim loại (hay còn gọi là tiền xu) hiện nay lại không nằm trong quy luật này. Có thể nói lượng cung tiền xu đang dồi dào nhưng lượng cầu thì vô cùng ít ỏi.

Câu hỏi đặt ra là tại sao tiền xu lại hiếm có đất sống đến vậy? Xin thưa, có muôn vàn lý do đã được đưa ra khiến đồng tiền này bị đày vào “sa mạc” để rồi không còn khả năng sinh sôi nảy nở cũng như phát huy tác dụng vốn có của mình. Thứ nhất là đồng tiền này nặng túi, khó đựng; thứ hai là đồng tiền xu rất dễ rơi, dễ lăn vì nhỏ xinh; thứ ba là chất lượng tiền xu kém, thường bị hoen gỉ sau một thời gian sử dụng khiến người dùng càng khó yếu mến đồng tiền này và những người có thú sưu tập tiền xu thì cảm thấy không khoái; thứ tư là sau một vài vụ trẻ em nuốt phải tiền xu phải đi bệnh viện cấp cứu thì đồng tiền này đã trở thành “kẻ thù” của một số bậc phụ huynh có con em nhỏ; thứ năm là do bản chất của tiền xu là kim loại và hình dáng đặc biệt nên việc kiểm đếm trở thành nỗi khổ của những cán bộ thu ngân. Bởi vì hiện máy đếm tiền xu hiện quá ít, mới chỉ có ở các ngân hàng thương mại, còn với những người thu ngân thì máy đếm tiền xu của họ hiện nay chính là các ống lường bằng nhựa trong, mỗi ống có đường kính bằng đường kính mỗi loại tiền kim loại để đếm cho nhanh; thứ sáu là việc đưa tiền xu vào máy bán hàng tự động cũng không thể tiến triển do có quá ít người dân sử dụng tiền xu.

Continue reading