TỔNG QUAN VỀ LUẬT TÀI SẢN

NGÔ HUY CƯƠNG – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Các học giả ngày nay không thể không thừa nhận rằng, luật tư là một ngành luật cơ bản, trong sự khác biệt với luật công, luôn luôn gắn bó với đời sống thường nhật của con người, và đã được sinh ra từ mối quan hệ cơ bản và bình thường của con người từ thời thượng cổ. Nó ít bị biến đổi theo các trào lưu chính trị và chỉ tự làm cho mình phù hợp với các hoàn cảnh xã hội cụ thể bằng cách bồi đắp hay cập nhật thêm những điểm mới, hoặc gọt giũa đi những điểm đã già cỗi. Nhưng tóm lại cái gốc của nó vẫn còn nguyên vẹn như từ thủa mới sinh. Chỉ những nền tài phán nào không xây dựng trên cái gốc đó, cái nền tảng đó mới luôn luôn bị rung chuyển, bị xáo trộn, bị hoang mang. Phải chăng nền pháp luật của Việt Nam hiện nay cũng như vậy?

Thật thế, luật dân sự – nền tảng căn bản của luật tư mà ở đó Nhà nước chỉ đóng vai trò trọng tài – có liên quan tới con người, tới hành vi của con người và quan hệ của con người đối với nhau và tới tài sản [5, tr. III]. Phân chia một cách thô thiển thì có hai loại quan hệ: Một là quan hệ giữa người với người; và Hai là quan hệ giữa người với người và vật.

Trong các hệ thống pháp luật, thông thường người ta mượn các khái niệm và các giải pháp của Luật La Mã để giải quyết các mối quan hệ đó. Quan hệ giữa trái chủ và người thụ trái xác định là quan hệ nghĩa vụ. Và luật điều tiết các quan hệ đó được gọi là luật nghĩa vụ hay luật về quyền đối nhân. Còn quan hệ giữa mọi người liên quan tới vật được điều tiết bởi một thứ luật gọi là luật tài sản (jus rerum). Vì vậy các vật quyền thường được xem là phạm vi truyền thống của luật tài sản. Tuy nhiên, về kỹ thuật pháp điển hoá hay ứng dụng cụ thể, các hệ thống pháp luật có thể có những cách lựa chọn khác nhau. Nhưng điểm đáng nói nhất đối với các luật gia không phải là vấn đề kỹ thuật mà họ có thể làm chủ một cách dễ dàng, mà là những học thuyết ẩn sâu trong những quan niệm, và tính hệ thống, tính logic của các vấn đề pháp lý.

Muốn nghiên cứu những vấn đề phức tạp đó, trước tiên cần phải khảo sát các quan niệm về tài sản.

1. Khái niệm tài sản

Không lý gì mà khi nói về khái niệm tài sản lại không nhắc tới định nghĩa về tài sản của pháp luật Việt Nam, cho dù nó hay hoặc không hay. Điều 172 của Bộ Luật Dân sự Việt Nam 1996 lý giải:

Continue reading

CHÍNH SÁCH VỀ XỬ LÝ TÀI SẢN BỊ CHÔN GIẤU, BỊ CHÌM ĐẮM ĐƯỢC PHÁT HIỆN

CỤC QUẢN LÝ CÔNG SẢN, BỘ TÀI CHÍNH

Theo quy định tại Điều 240 Bộ luật Dân sự thì một bộ phận tài sản bị chôn giấu, bị chìm đắm được tìm thấy mà không có hoặc không xác định được chủ sở hữu thì được xác lập quyền sở hữu của Nhà nước.

Tại Bộ luật Hàng hải, Nghị định số 14/1998/NĐ-CP ngày 6/3/1998 của Chính phủ về quản lý tài sản nhà nước, Nghị định số 92/2002/NĐ-CP ngày 11/11/2002 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Di sản văn hoá, Nghị định số 86/2005/NĐ-CP ngày 8/7/2005 của Chính phủ về quản lý và bảo vệ di sản văn hoá dưới nước, Nghị định số 18/2006/NĐ-CP ngày 10/2/2006 của Chính phủ về xử lý tài sản chìm đắm ở biển đã quy định về xác định chủ tài sản chìm đắm; trục vớt, bảo quản, giao nhận tài sản chìm đắm; thăm dò, khai quật, quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá dưới nước; khen thưởng đối với tổ chức, cá nhân phát hiện và giao nộp cổ vật, di vật, bảo vật quốc gia v.v…

Thời gian vừa qua, ngoài việc trục vớt các tài sản gây nguy hiểm cho hoạt động hàng hải để đảm bảo an toàn giao thông đường biển, Nhà nước đã thực hiện nhiều cuộc khai quật, tìm kiếm, trục vớt các tàu cổ chìm đắm tại vùng biển ở một số địa phương (Bà Rịa – Vũng Tàu, Kiên Giang, Quảng Nam, Bình Thuận, Cà Mau…). Các cổ vật trục vớt được từ các con tàu cổ này chủ yếu được chuyển giao cho các Bảo tàng của Nhà nước (như Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, Bảo tàng Lịch sử tại thành phố Hồ Chí Minh, Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, Bảo tàng Nhà nước một số tỉnh, thành phố…) để thực hiện quản lý, lưu giữ, trưng bày theo quyết định của Bộ trưởng Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch. Một số trường hợp, sau khi phân loại, đưa vào lưu giữ tại các Bảo tàng của Nhà nước đối với các hiện vật độc bản hoặc tập hợp thành các bộ sưu tập có giá trị văn hoá, lịch sử, khoa học (khoảng 10% số hiện vật trục vớt được), số hiện vật còn lại Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch và Bộ Tài chính báo cáo Thủ tướng Chính phủ cho phép xuất khẩu để bán đấu giá tại nước ngoài (như cổ vật trục vớt tại Cù Lao Chàm – Quảng Nam, cổ vật trục vớt được tại vùng biển Bình Thuận, Cà Mau v.v…).

Continue reading

“NHÃN HIỆU” VÀ “THƯƠNG HIỆU”

NGUYỄN ĐÌNH SAN

“Nhãn hiệu” và “Thương hiệu” là 2 từ lúc đầu xuất hiện trong lĩnh vực kinh tế, thương trường rồi sau đó mới mở rộng, hàm chứa nghĩa sang những lĩnh vực khác. “Nhãn hiệu” là cái vỏ, cái mác bên ngoài; còn “Thương hiệu” là cái làm nên giá trị của thứ đó. Nhãn hiệu thì có thể gắn với nội dung, chất lượng, có thể không. Hiểu nôm na, nhãn hiệu chỉ đơn giản là tên của một hãng, một sản phẩm hàng hoá.

Ví dụ như Sony, Daewoo, Hanel… (hàng địên tử); 555, Dunhill, Marlboro, Vinataba, Thăng Long… (Thuốc lá) là nhãn hiệu. Còn thương hiệu gắn với những sản phẩm nổi tiếng, chiếm được sự ưa chuộng của đa số khách hàng. Bản thân các nhãn hiệu không có tính cạnh tranh nhau vì đơn thuần chỉ là cái tên, sự phân biệt giữa các đơn vị kinh tế. Chỉ thương hiệu mới có tác dụng này, mới có khả năng loại bỏ nhau do chất lượng, uy tín đối với khách hàng khác nhau. Nhãn hiệu có thể đi liền với thương hiệu, có thể không. Những năm 50, 60 của thế kỷ trước, nhiều người ở Hà Nội đều biết đến hiệu dầu cao con hổ nổi tiếng Chính đại dược hàng. Đây là loại thuốc dùng để xoa bóp khi bị cảm lạnh, đau bụng rất hiệu quả. Dầu nhờn, được đựng vào hộp tròn, dẹt, to hơn đồng xu một chút, màu đỏ, có hình con hổ nổi. Không hiểu vì sao đến nay không thấy nữa. Bây giờ có thể có nhiều loại thuốc mới nhập khẩu từ nước ngoài cũng tốt, nhưng người ta vẫn không quên dầu cao con hổ của Chính đại dựơc hàng. Nhãn hiệu này đã là một thương hiệu. Khi đó không có dầu bôi nào sánh bằng. Hoặc như hiện nay, trong rất nhiều hãng cà phê đã nổi bật hãng Trung Nguyên. Thương hiệu này đã lấn át tất cả các hãng cà phê khác, gần như độc chiếm thị phần toàn quốc và một số nước trên thế giới. Đó là thương hiệu.

Như vậy, chỉ thương hiệu mới có giá trị, còn nhãn hiệu thì chẳng có ý nghĩa nếu không gắn liền với thương hiệu. Nhìn sang lĩnh vực khác – nghiên cứu khoa học hoặc văn học nghệ thuật chẳng hạn – điều đang bàn cũng không nằm ngoài những lẽ trên. Tất cả những bằng cấp (trung học, cao đẳng, đại học); học hàm (phó giáo sư, giáo sư); học vị (cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ), rồi những kỹ sư, bác sĩ, nhà văn, nhà báo, nhạc sĩ, thi sĩ… đều chỉ là “nhãn hiệu”, để phân biệt với các nghề nghiệp khác. Ngoài thông tin về công việc, nghề nghiệp, chưa nói lên điều gì. Phải là “thương hiệu”. Ví như ở nước ta, có tới hàng nghìn người làm nghề châm cứu nhưng chỉ Nguyễn Tài Thu mới là “thương hiệu” hàng đầu. Cũng như vậy trong những “thương hiệu” ở lĩnh vực nông học, phải nhắc đến 2 “thương hiệu” là Lương Đình Của và Vũ Tuyên Hoàng (cả 2 vị đều đã qua đời). Không thể kể hết mọi lĩnh vực đều có những “thương hiệu” đặc biệt, vượt lên, nổi trội hơn các “nhãn hiệu” khác.

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ ĐỊNH GIÁ NHÃN HIỆU

ĐÀO MINH ĐỨC – Sở KH&CN TP.HCM

I. Phân biệt thương hiệu và nhãn hiệu

Trước đây, hai khái niệm “nhãn hiệu” và “thương hiệu” đã từng được phân bịệt một cách khá rõ ràng ở cả khía cạnh pháp lý lẫn ngôn ngữ học Việt Nam. Luật số 13/57 ngày 01.8.1957 ở miền Nam đã quy định về “nhãn hiệu sản xuất” dùng cho các sản phẩm kỹ nghệ hoặc canh nông và “thương hiệu” dùng cho các thương phẩm. Trong thực tiễn kinh doanh, thuật ngữ “thương hiệu” đó không chỉ ứng với hoạt động của các thương nhân, mà còn bao hàm cả các loại hình hoạt động dịch vụ của mọi loại hiệu, tiệm, ngân hàng, hãng bảo hiểm … và dần dần mở rộng thành tên của doanh nghiệp nói chung. Cụ thể, vào giai đọan đó, theo Tự điển Việt Nam Ban Tu thư Khai Trí, “thương hiệu” là “tên hiệu của nhà buôn” và “nhãn hiệu” là “giấy dán ngòai để làm hiệu” 1. Trong Tự điển Việt Anh của Nguyễn văn Khôn, “thương hiệu” được dịch là “sign board” và “nhãn hiệu” là “trademark, brand” 2…. Ngay cả một thời gian khá dài sau năm 1975, Tự điển Việt Pháp của Công ty

Food contains three types of Anabolic steroids and generics Viagra: sugar, starches and fiber. Anabolic steroids and generics Viagra are either called simple or complex, depending on the food’s chemical alphabol online structure and how quickly the sugar is digested and absorbed. The type of Anabolic steroids and generics Viagra that you eat makes a difference – Foods that contain high amounts of simple sugars, especially fructose raise triglyceride levels. Triglycerides (or blood fats) are an important barometer of metabolic health; high levels may be associated with coronary heart disease, diabetes and fatty liver.

Phát hành Sách Thành phố Hồ Chí Minh vẫn giữ định nghĩa “thương hiệu enseigne, nom commercant” và “nhãn hiệu marque de fabrique” 3.

Tuy còn thiếu tính chính tắc, nhưng sự phân định đó đã bảo đảm tính hài hòa với cách tiếp cận chung của các nước phát triển, cụ thể như qua định nghĩa của Hiệp Hội Marketing Hoa Kỳ : “nhãn hiệu (brand) là một cái tên, một từ ngữ, một mẫu thiết kế, một biểu tượng hoặc bất kỳ một tính chất nào khác 4 giúp nhận biết hàng hóa hoặc dịch vụ của một doanh nhân để phân biệt với hàng hóa , dịch vụ tương ứng của các doanh nhân khác. Thuật ngữ pháp lý tương ứng với “brand“ là “trademark”. Một nhãn hiệu có thể dùng để nhận biết một sản phẩm, một họ sản phẩm hoặc tòan bộ sản phẩm của doanh nhân. Nếu dùng cho tòan bộ doanh nghiệp nói chung, thuật ngữ tương ứng là “thương hiệu” (trade name)” 5

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ CHỨNG MINH TÀI SẢN KHI CÔNG CHỨNG, CHỨNG THỰC DI CHÚC

LS. NGUYỄN HỒNG LÂM – CÔNG CHỨNG VIÊN. PHAN VĂN CHEO

1.  Lập di chúc khi chưa có tài sản thật?

Theo quy định của pháp luật dân sự, di chúc là sự thể hiện ý chí cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Tài sản của người lập di chúc để lại được gọi là di sản. Người lập di chúc có toàn quyền định đoạt đối với di sản của mình (để lại cho ai, tỉ lệ thừa hưởng…).

Hiện nay, khi có yêu cầu công chứng, chứng thực di chúc, người lập di chúc phải chứng minh tài sản của mình là hợp pháp và có thật (nếu là nhà, xe, cổ phần, cổ phiếu… thì phải có chứng từ sở hữu; nếu là tiền thì được thể hiện qua tài khoản ngân hàng). Nói cách khác, đó phải là tài sản cụ thể. Nếu không chứng minh đuợc tài sản ấy có thật thì cơ quan thẩm quyền sẽ từ chối công chứng, chứng thực di chúc. Đáng nói là có nhiều người lập di chúc có yêu cầu để lại những tài sản của mình có được tại thời điểm qua đời, tức bao gồm cả những tài sản hình thành trong tương lai. Mà những tài sản này thì không thể chứng minh tính có thật. Từ đó làm phát sinh tình huống mỗi lần được sở hữu một tài sản mới thì chủ sở hữu phải lập di chúc mới, có liệt kê thêm tài sản mới thì mới đảm bảo quyền định đoạt của mình đối với di sản.

Được biết, nhiều công chứng viên đang hành nghề tại các phòng công chứng và văn phòng công chứng đều không đồng ý công chứng vào di chúc có đề cập đến tài sản hình thành trong tương lai. Việc từ chối được căn cứ vào các quy định của Luật Công chứng. Cụ thể, người đi công chứng các hợp đồng, giao dịch liên quan đến tài sản mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng phải nộp bản sao giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng hoặc bản sao giấy tờ thay thế được pháp luật quy định.

Continue reading

NHỮNG BẤT CẬP VỀ KHÁI NIỆM TÀI SẢN, PHÂN LOẠI TÀI SẢN CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ VÀ ĐỊNH HƯỚNG CẢI CÁCH

TS. NGÔ HUY CƯƠNG – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Tài sản là một khái niệm quen thuộc đối với bất kỳ ai, bởi đơn giản tài sản là công cụ của đời sống con người. Tuy nhiên, quan niệm pháp lý và quan niệm đời thường về tài sản lại có đôi chút khác biệt. Về mặt pháp lý, nhận thức đúng về tài sản và phân loại tài sản có vai trò rất quan trọng trong việc tạo lập các quy định pháp luật và giải quyết các tranh chấp pháp lý. Nhưng ngay Bộ luật Dân sự 2005 của Việt Nam cũng đã diễn đạt khác nhiều so với quan niệm của thế giới về khái niệm tài sản và phân loại tài sản. Hệ quả là nhiều quy chế pháp lý liên quan tới tài sản đã không thỏa đáng về mặt khoa học và thực tiễn, gây ảnh hưởng không nhỏ tới giao lưu dân sự và phát triển kinh tế, thương mại.

1. Nhìn lại quan niệm về tài sản của Bộ luật Dân sự 2005

Điều 163, Bộ luật Dân sự (BLDS) 2005 giải nghĩa: “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản”. Có lẽ, đây là một giải nghĩa tài sản đặc biệt nhất đã từng được biết đến, bởi khó có thể tìm được một giải nghĩa tài sản tương tự ở trong các quyển từ điển thuật ngữ pháp luật và ở các BLDS của các nước trên thế giới, mặc dù con người không thể sống mà không có tài sản và pháp luật nói chung thì đã chú ý tới câu chuyện này từ nhiều thiên niên kỷ. Giải nghĩa này kế thừa có phát triển giải nghĩa tài sản tại Điều 172, BLDS năm 1995. Thế nhưng, chưa từng một lần những người “có trách nhiệm” giải thích cho giới luật học hiểu tính đúng đắn của những giải nghĩa như vậy. Tất nhiên quy định thì dễ, nhưng giải thích cho tính đúng đắn của quy định thì bao giờ cũng khó.

Gắn trực tiếp với Điều 163, có một số điều luật thể hiện rõ quan niệm của nhà làm luật về tài sản, như Điều 164, Điều 173, Điều 174, Điều 181… của BLDS 2005. Qua giải nghĩa khái niệm tài sản tại Điều 163 và các điều luật này của BLDS 2005, có thể rút ra mấy nhận xét sơ bộ như sau: thứ nhất, giải nghĩa được đưa ra theo kiểu liệt kê các loại tài sản, chứ không xác định phạm vi dứt khoát của tài sản; thứ hai, các quy định tiếp đó tại “Chương XI- Phân loại tài sản” (các Điều từ 174 đến 181) diễn giải cụ thể các loại tài sản được nêu ra trong giải nghĩa này không đề cập gì tới tiền và giấy tờ có giá; thứ ba, Điều 173, Điều 181 và toàn bộ các quy định của BLDS 2005 không diễn giải một cách có thể hiểu được phạm vi của quyền tài sản; thứ tư, quyền sở hữu được quy định dường như tách biệt với tài sản tại Điều 164 và Điều 174, BLDS 2005, có nghĩa là khái niệm tài sản dường như không bao trùm quyền sở hữu, trong khi vẫn quy định các vấn đề chuyển dịch tài sản gắn với quyền sở hữu tại rất nhiều các quy định.

Continue reading

TÀI SẢN ẢO VÀ PHƯƠNG ÁN “KHÔNG HÀNH ĐỘNG”

THỤY ANH

Khái niệm: mỗi người một cách

Theo ông Trần Thanh Hải, vụ trưởng Vụ Thương Mại Điện Tử, Bộ Thương Mại, tài sản ảo (TSA) là dữ liệu do các chương trình, phần mềm tạo ra (không phải là chính các chương trình phần mềm đó). Ông Hải đặc biệt chú ý tới những sản phẩm ảo trong các trò chơi trực tuyến (game online) và cho rằng chúng có những đặc tính của tài sản như: có thể chiếm hữu; là kết quả của sự đầu tư công sức, thời gian và tiền bạc; có thể định giá bằng tiền; có thể chuyển giao được theo thoả thuận. Vì vậy, cần xem TSA là một dạng tài sản và pháp luật cần công nhận quyền sở hữu TSA.

Ngược lại, bà Nguyễn Thị Thu Vân, chuyên viên Vụ Pháp Luật Dân Sự – Kinh Tế (PLDSKT) – Bộ Tư Pháp lại cho rằng TSA không phải là tài sản. Theo Điều 163 của Bộ Luật Dân Sự (BLDS), tài sản gồm vật, tiền, giấy tờ có giá, quyền tài sản. TSA không phải là tiền, không phải là giấy tờ có giá, không phải là vật có thực, cũng không phải là tài sản vô hình. Theo bà Vân, các tài sản vô hình như sáng chế, tên thương mại, biển hiệu, tên miền, địa chỉ email, khả năng thu hút khách hàng v.v… tồn tại trong thế giới thực, không hình ảnh (ý niệm), thuộc sở hữu người bán, người đưa tài sản vào giao dịch. Trong khi đó, TSA có hình ảnh, không tồn tại trong thế giới thực, và không thuộc sở hữu của người bán (game thủ). TSA cũng không phải là quyền tài sản. Trong 3 thuộc tính của quyền tài sản là quyền chiếm hữu, quyền định đoạt và quyền sử dụng, thì người chơi không có quyền chiếm hữu (TSA nằm ở máy chủ của nhà cung cấp, máy chủ có thể bị hack, bị hỏng, người chơi có thể bị khóa nick nếu vi phạm), không có quyền định đoạt TSA (có thể bị khoá nick, tuổi thọ trò chơi không phụ thuộc người chơi).

Nếu không là tài sản thì TSA là gì? Bà Vân cho rằng, trong quan hệ giữa nhà cung cấp với game thủ, thì đó là một loại dịch vụ. Còn khi game thủ bán TSA là họ bán quyền sử dụng phần tính năng cao của trò chơi, và đối tượng của hợp đồng mua bán tài sản ảo giữa 2 người chơi là quyền yêu cầu thực hiện một công việc (chuyển giao quyền sử dụng dịch vụ trò chơi). Tóm lại, bà Vân nhận xét khái niệm “tài sản” trong “tài sản ảo” không cùng nội hàm với khái niệm “tài sản” trong BLDS hiện hành.

Continue reading

TÒA ÁN THẬT CHO THẾ GIỚI ẢO

GIA VŨ (Theo New Scientist)

Trong khi nền kinh tế toàn cầu còn bùng nhùng trong cơn suy thoái thì hoạt động kinh doanh trong các thế giới ảo như Second Life, Facebook và Everquest lại khởi sắc và phát triển rất nhanh. Ranh giới kinh tế giữa thế giới ảo và thật đang thu hẹp nhanh chóng, làm phát sinh những rắc rối pháp lý cần tới tòa án để phân xử.

Thế giới ảo

Hãng phân tích tài chính Mỹ Piper Jaffray ước tính trong năm 2009, người Mỹ sẽ đổ khoảng 621 triệu USD vào các thế giới ảo. Con số này thậm chí còn cao hơn rất nhiều tại châu Á. Còn theo số liệu của hãng nghiên cứu Plus Eight Star, năm ngoái người dùng đã bỏ khoảng 5 tỉ USD để đầu tư vào các tài sản trong thế giới ảo.

Chẳng hạn như trong Second Life, chỉ tính riêng quý II, cư dân mạng đã giao dịch khoảng 144 triệu USD, tăng 94% so với cùng kỳ năm ngoái. Tính trung bình, Second Life có mức trao đổi hàng hóa và dịch vụ (dĩ nhiên là ảo) đạt khoảng 600 triệu USD/năm. Hiện Second Life đang là nền kinh tế ảo lớn nhất với giá trị thậm chí còn cao hơn GDP của hàng chục quốc gia trung bình trên the giới cộng lại.

Hàng nghìn người chơi đang kiếm tiền trong thế giới ảo bằng cách buôn bán, trao đổi hàng hóa ảo – từ quần áo, đồ đạc tới các tác phẩm nghệ thuật. Thậm chí, người ta còn tổ chức dịch vụ… cưới ảo, phiên dịch hoặc tư vấn kiến trúc. Số người kiếm hàng trăm nghìn USD từ những dịch vụ kiểu này không phải là hiếm, và đã có rất nhiều “công dân ảo” trở thành tỉ phú trong thế giới thực.

Còn tại Việt Nam, thế giới ảo cũng không phải khái niệm mới lạ. Giao dịch trong các thế giới này cũng sôi động không kém. Một đôi nhẫn “Vô danh” trong game Võ Lâm Truyền Kỳ đã có thời điểm được rao bán hàng trăm triệu đồng; một bộ đồ Hoàng Kim cũng có giá vài chục triệu đồng, và rất nhiều giao dịch có giá trị khác.

Continue reading

ĐỊNH GIÁ NHÃN HIỆU QUỐC TẾ: MỜ NHẠT TRONG HOẠT ĐỘNG THỰC TIỄN

CẨM VÂN

Tài sản vô hình (trong đó có tài sản trí tuệ) đang ngày càng được thừa nhận là có ý nghĩa kinh tế quan trọng. Sử dụng hiệu quả việc định giá nhãn hiệu là yếu tố cốt lõi trong việc quản lý loại tài sản này. Trong nền kinh tế “mới”, nhãn hiệu với ý nghĩa nhân tố trung tâm của thương hiệu chính là nền tảng của thành công. Thế nhưng, qua nhiều cuộc khảo sát được tiến hành tại một số quốc gia phát triển, định giá nhãn hiệu hầu như chưa được nghiên cứu, thiếu sự thống nhất về nguyên tắc, tiêu chuẩn, thuật ngữ và vì vậy, thực tiễn về hoạt động định giá còn mờ nhạt.

Dần dần được các doanh nghiệp quan tâm

Định giá nhãn hiệu bắt đầu thịnh hành từ khoảng những năm 1980. Các tiêu chuẩn kế toán gần đây mới có yêu cầu lập báo cáo về các giá trị tài sản vô hình trong bảng cân đối tài chính. Cho nên, có thể nói, định giá nhãn hiệu đang ngày càng thu hút sự chú ý của các doanh nghiệp (DN). Trong cuộc khảo sát năm 1997 ở Anh cho thấy 57% DN chưa định giá tài sản trí tuệ cho quản lý nội bộ, nhưng đã có 76% thực hiện định giá trong các giao dịch và chỉ có 26% thực hiện định giá cho mục đích tăng khả năng tài chính. Năm 1998, tiến hành khảo sát 253 DN hàng đầu ở Bắc Mỹ thì 63% DN cho rằng rất cần thiết phải định giá các sáng kiến, sáng chế song chỉ có 14% đã thực hiện công việc này và 12% sử dụng việc định giá cho việc hoạch định chiến lược kinh doanh. Gần đây nhất, vẫn còn không ít DN nhận xét, việc định giá gặp rất nhiều khó khăn và chưa phải là trách nhiệm thường xuyên của người quản lý kinh doanh và thường giao việc định giá cho các luật sư nội bộ của DN.

Tuy nhiên, tình hình đang được cải thiện rõ rệt thông qua các chương trình huấn luyện về quản lý vốn và tài sản trí tuệ do nhiều tổ chức tiến hành ở cả phạm vi quốc gia, khu vực và quốc tế. Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển (OECD) đã mở rất nhiều cuộc hội thảo và có nhiều công trình nghiên cứu về định giá tài sản vô hình ở các cấp độ khác nhau, kể cả cấp chính phủ, cấp DN và trong cộng đồng nghiên cứu khoa học. Hội đồng tiêu chuẩn định giá quốc tế (IVSC) đã đưa ra các dự thảo về các nguyên tắc, phương pháp định giá tài sản vô hình. Các tổ chức, hiệp hội định giá tại Hoa Kỳ, Anh, Đan Mạch cũng đưa ra dự thảo về thống nhất và tiêu chuẩn hoá phương pháp định giá tài sản vô hình và một số đối tượng tài sản trí tuệ.

Continue reading

THƯƠNG HIỆU LÀ GÌ?

ĐẦU TƯTại Mỹ, thuật ngữ “thương hiệu” được dùng hiện nay có nguồn gốc từ dấu sắt nung in trên mình gia súc thả rông để đánh dấu quyền sở hữu của người chủ đối với đàn gia súc. Tại Việt Nam, thuật ngữ này mới xuất hiện trong khoảng thời kỳ đổi mới.

Hiện nay, từ “thương” trong “thương hiệu” được biết đến rộng rãi với ý nghĩa liên quan đến thương mại. Tuy nhiên, theo Giáo sư Tôn Thất Nguyễn Thiêm, nguồn gốc tiếng Hán của từ này có nghĩa là “san sẻ, bàn tính, đắn đo cùng nhau”, một nét nghĩa có lẽ phù hợp hơn với giá trị của thương hiệu đối với doanh nghiệp.

Giá trị hơn vẫn là cách thức mà một thương hiệu mạnh liên hệ về mặt cảm xúc với khách hàng thông qua các mối liên tưởng khác nhau.

Để giải thích về thương hiệu, hãy thử nghĩ tới bạn bè xung quanh và những mối quan hệ công việc mà bạn có. Nếu họ có chút gì đó giống với các mối quan hệ quen biết của tôi, thì bạn cũng sẽ ngạc nhiên khi nhận ra rằng, tất cả họ đều khác nhau, mỗi người có những nét tính cách riêng, đó là chưa kể đến đặc điểm khác biệt về ngoại hình. Và cũng như tôi, có lẽ bạn cũng đã tạo dựng mối quan hệ với từng người trong số đó theo những cách thức khác nhau.

Thương hiệu cũng rất giống với những người quen mà bạn vừa nghĩ đến. Đằng sau mỗi logo là một thói quen hành xử mà bạn thấy có thể chấp nhận được hay thậm chí bạn rất ưa thích. Giống như các mối quan hệ, thương hiệu thường trở nên đáng ưa trong mắt bạn chỉ khi chúng phù hợp tương ứng với nhu cầu trong cuộc sống của bạn và giữ được điều đó nhất quán cùng với thời gian.

Continue reading

ĐỊNH GIÁ THƯƠNG HIỆU, TÀI SẢN VÔ HÌNH – KHOA HỌC HAY NGHỆ THUẬT?

NGUYỄN TRUNG THẮNG  – Chủ tịch Masso Group, Viện trưởng Viện Marketing và quản trị Việt Nam

Trong thời gian qua, ở Việt Nam có nhiều tranh luận về giá trị của thương hiệu, tài sản vô hình. Vấn đề trên trở nên đặc biệt quan trọng khi công ty tư nhân hoặc doanh nghiệp nhà nước có quy mô lớn trong danh sách VNR500 tiến hành cổ phần hóa hay khi một công ty trách nhiệm hữu hạn muốn thu hút sự tham gia của thành viên mới. Lúc này, một câu hỏi lớn được đặt ra là doanh nghiệp có giá trị bao nhiêu? Đồng thời, việc định giá thương hiệu, tài sản vô hình còn quan trọng bởi nó cho phép đánh giá hiệu quả của marketing gia tăng giá trị tài sản vô hình.

Giá trị thương hiệu và tài sản vô hình

Trước khi thống nhất thương hiệu là tài sản vô hình, vậy cần phải hiểu tài sản là gì? Tài sản được định nghĩa là những gì có thể đem lại lợi ích kinh tế trong tương lai. Tài sản thương hiệu là những lợi ích mà công ty có được khi sở hữu thương hiệu này bao gồm: khả năng thu hút khách hàng mới, duy trì khách hàng trung thành, đưa chính sách giá cao, mở rộng thương hiệu, mở rộng kênh phân phối, tạo rào cản với đối thủ cạnh tranh.

Tất cả những lợi ích này có được là nhờ thương hiệu đã gây dựng được niềm tin nơi người tiêu dùng nhờ những nỗ lực trong quá khứ và do đó tạo ra khả năng sinh lợi trong tương lai. Giá trị của một doanh nghiệp bao gồm hai phần, phần giá trị hữu hình và phần giá trị vô hình. Đối với nhiều doanh nghiệp, xây dựngthương hiệu ngày nay đồng nghĩa với việc tạo dựng và quản lý tài sản thương hiệu.

Danh sách những thương hiệu hàng đầu thế giới năm 2008 được tạp chí Bussiness Week công bố cho thấy có sự gia tăng giá trị đáng kể của những thương hiệu công nghệ như Google (tăng 43% so với năm 2007), Apple (24%), Amazon (19%) và những thương hiệu hàng hiệu như Zara (15%), Audi (11%) và Gucci (7%).

Continue reading

KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ GIÁ TRỊ, GIÁ TRỊ SỬ DỤNG, GIÁ TRỊ TRAO ĐỔI VÀ GIÁ CẢ CỦA HÀNG HÓA

DINHGIA – Bốn khái niệm (giá trị, giá trị sử dụng, giá trị trao đổi và giá cả) đã có một quá trình lịch sử lâu dài trong kinh tế học và triết học, nghĩa của các khái niệm này cũng được phát triển mở rộng ra. Bất kỳ hàng hoá nào đều có giá trị và giá trị sử dụng. Nếu hàng hóa này được trao đổi ở thị trường thì nó được thêm vào giá trị trao đổi và thường được biểu hiện bằng một lượng tiền nhất định gọi là giá hay giá cả của hàng hóa đó.

1. Giá trị của hàng hoá là một thuộc tính của hàng hoá, đó chính là lao động hao phí của người sản xuất để sản xuất ra nó đã được kết tinh vào trong hàng hoá.

Giá trị của hàng hoágiá trị lượng lao động tiêu hao để sản xuất ra hàng hoá đó và tính bằng thời gian lao động XH cần thiết.

– Thời gian lao động XH cần thiếtthời gian lao động XH trung bình để sản xuất ra hàng hoá. Thời gian lao động XH cần thiết có thể thay đổi.

– Có ba nhân tố cơ bản ảnh hưởng tới lượng giá trị của hàng hoá:

+ Thứ nhất, đó là năng suất lao động.

+ Thứ hai, đó là cường độ lao động.

+ Thứ ba là mức độ phức tạp của lao động.

2. Giá trị sử dụng của một vật phẩm là tính chất có ích, công dụng của vật thể đó có thể thoả mãn một nhu cầu nào đó cho việc sản xuất hoặc cho sự tiêu dùng cá nhân. Giá trị sử dụng được quyết định bởi những thuộc tính tự nhiên và những thuộc tính mà con người hoạt động tạo ra cho nó.

Continue reading

KHÁI NIỆM CƠ BẢN về giá trị, giá trị sử dụng, giá trị trao đổi và giá cả của hàng hóa

DINHGIA Bốn khái niệm (giá trị, giá trị sử dụng, giá trị trao đổi và giá cả) đã có một quá trình lịch sử lâu dài trong kinh tế học và triết học, nghĩa của các khái niệm này cũng được phát triển mở rộng ra. Bất kỳ hàng hoá nào đều có giá trị và giá trị sử dụng. Nếu hàng hóa này được trao đổi ở thị trường thì nó được thêm vào giá trị trao đổi và thường được biểu hiện bằng một lượng tiền nhất định gọi là giá hay giá cả của hàng hóa đó.

1. Giá trị của hàng hoá là một thuộc tính của hàng hoá, đó chính là lao động hao phí của người sản xuất để sản xuất ra nó đã được kết tinh vào trong hàng hoá.

Giá trị của hàng hoágiá trị lượng lao động tiêu hao để sản xuất ra hàng hoá đó và tính bằng thời gian lao động XH cần thiết.

– Thời gian lao động XH cần thiếtthời gian lao động XH trung bình để sản xuất ra hàng hoá. Thời gian lao động XH cần thiết có thể thay đổi.

– Có ba nhân tố cơ bản ảnh hưởng tới lượng giá trị của hàng hoá:

+ Thứ nhất, đó là năng suất lao động.

+ Thứ hai, đó là cường độ lao động.

+ Thứ ba là mức độ phức tạp của lao động.

2. Giá trị sử dụng của một vật phẩm là tính chất có ích, công dụng của vật thể đó có thể thoả mãn một nhu cầu nào đó cho việc sản xuất hoặc cho sự tiêu dùng cá nhân. Giá trị sử dụng được quyết định bởi những thuộc tính tự nhiên và những thuộc tính mà con người hoạt động tạo ra cho nó.

Continue reading

CẦN XÂY DỰNG LẠI KHÁI NIỆM “QUYỀN TÀI SẢN” TRONG LUẬT DÂN SỰ

TS. NGUYỄN NGỌC ĐIỆN – Khoa Luật, Đại học Cần Thơ

Quyền tài sản là động sản hay bất động sản? Quyền tài sản có phải chỉ là quyền định giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao lưu dân sự? Câu hỏi dường như đơn giản, nhưng khi đề cập đến quyền sử dụng đất có phải là bất động sản hay không thì vấn đề lại khó có câu trả lời thoả đáng. Bài viết dưới đây sẽ phân tích các nội dung liên quan đến khái niệm “quyền tài sản” trong pháp luật nước ngoài và nêu lên những hạn chế trong nội dung khái niệm “quyền tài sản” trong luật dân sự nước ta, nhằm hoàn thiện nội dung khái niệm này trong quá trình sửa đổi Bộ luật Dân sự (Tác giả viết bài này theo tinh thần của BLDS năm 1995 – Civillawinfor).

Theo BLDS (Điều 188), quyền tài sản là quyền định giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao lưu dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ. Trước đó, Điều 172 quy định rằng quyền tài sản là một loại tài sản, được đặt bên cạnh tiền và phân biệt với vật có thực (được hiểu là vật hữu hình). Trong quá trình sửa đổi BLDS, các điều luật này hầu như được giữ nguyên; riêng định nghĩa quyền tài sản có lẽ sẽ được sửa lại đôi chút: sau này, chỉ cần quyền tài sản định giá được bằng tiền chứ không nhất thiết phải chuyển giao được trong giao lưu dân sự. Dẫu sao, sự sửa đổi ấy không ảnh hưởng đến việc sử dụng khái niệm quyền tài sản như một công cụ phân loại tài sản. Và với chức năng của một công cụ phân loại tài sản, khái niệm quyền tài sản trong luật dân sự Việt Nam có thể sẽ tiếp tục là cái gì đó rất lạ trong mắt các nhà luật học nước ngoài.

Điều chắn chắn: quyền tài sản trong luật thực định không phải là sự kế thừa và phát huy các giá trị của cổ luật Việt Nam. Đó là một khái niệm có nguồn gốc từ luật học nước ngoài và được vận dụng vào luật Việt Nam trong quá trình xây dựng pháp luật dân sự, nhưng lại bị gán cho nội hàm khác.

Quyền tài sản trong pháp luật nước ngoài

Là một loại quyền chủ thể

Khái niệm quyền tài sản được xây dựng trong khuôn khổ chế định quyền chủ thể, chế định được coi là xương sống của hệ thống luật tư ở các nước theo văn hoá pháp lý Rô măng – Giéc manh. Quyền chủ thể được hiểu là việc hạn chế quyền tự do của những người khác theo quy định của pháp luật, vì lợi ích của chủ thể quan hệ pháp luật trong việc thực hiện các quyền được thừa nhận trong một lĩnh vực nào đó. Chẳng hạn, quyền sở hữu đối với một tài sản sinh lợi là quyền của chủ sở hữu được độc quyền sử dụng tài sản, thu hoa lợi từ tài sản và định đoạt tài sản; tất cả mọi người phải tôn trọng quyền đó và mọi hành vi xâm phạm quyền đó đều có thể bị chế tài theo quy định của pháp luật. Quyền đối với họ, tên là quyền của một chủ thể quan hệ pháp luật được mang họ và tên, được hưởng sự bảo vệ của pháp luật đối với sự toàn vẹn của họ và tên, chống lại sự xúc phạm họ, tên, sự chiếm đoạt họ, tên.

Continue reading

TỪ MỘT VỤ TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI NGHĨ THÊM VỀ QUYỀN TÀI SẢN

PGS.TS. PHẠM DUY NGHĨA – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Vụ án dưới đây chỉ là một trong số hàng vạn tranh chấp về nhà đất ở Việt Nam. Năm 1995 ông Bùi Văn Thanh mua nhà đất của bà Nguyễn Thị Nương tại ấp 7, xã Thanh Hòa, Lộc Ninh, Bình Phước; việc mua bán được làm bằng giấy viết tay. Năm 1996, bà Nương được UBND huyện Lộc Linh cấp sổ đỏ cho lô đất kể trên. Dựa trên sổ đỏ đó, bà này khởi kiện, đòi ông Thanh phải trả lại nhà đất, với lí do việc mua bán đất là vô hiệu. Qua các cấp xét xử, TAND huyện Lộc Ninh (Bản án sơ thẩm số 40/DSST ngày 31/12/2002), TAND tỉnh Bình Phước (Bản án phúc thẩm số 38/DSPT ngày 15/04/2003) đều xác nhận việc mua bán nhà đất là có thực, song tuyên bố hợp đồng này vô hiệu, vì vào năm 1995 người bán chưa được cấp sổ đỏ nên chưa có quyền bán đất, sau khi bán hai bên lại không làm thủ tục đăng kí chuyển nhượng sổ đỏ. Tuyên hợp đồng mua bán nhà đất vô hiệu, tòa buộc ông Thanh phải trả lại đất cho bà Nương; ngược lại, bà Nương có nghĩa vụ trả lại cho ông Thanh số tiền bán nhà đất đã nhận.

Vụ tranh chấp kể trên không phải cá biệt, mà ngược lại, là một hiện tượng phổ biến ở Việt Nam. Từ vụ tranh chấp kể trên có nhiều vấn đề pháp lí cơ bản dưới đây cần được thảo luận: (i) nhà đất đang chờ sổ đỏ có thể mua bán được hay không, (ii) hợp đồng mua bán nhà đất viết tay có hiệu lực hay không, (iii) tòa án cần can thiệp như thế nào đối với những trường hợp tương tự.

 Mua bán nhà đất đang chờ sổ đỏ

 Pháp luật phải ghi nhận và bảo hộ quyền tài sản tư của người dân (gọi đó là quyền sử dụng đất hay quyền thuê đất), kể cả khi đất đó chưa được cấp sổ đỏ. Điều này dễ hiểu như một người vừa mua một chiếc xe máy từ cửa hàng mà chưa kịp đăng kí; xe chờ đăng kí cũng giống như nhà đất chờ cấp sổ đỏ. Nếu người ta có thể mua bán, tặng cho xe chưa đăng kí, thì nhà đất chờ cấp sổ đỏ cũng là một thứ tài sản không thể bị cấm lưu hành.

Thực ra sổ đỏ với đất, sổ hồng với nhà đều là sự ghi chép của nhà nước phục vụ minh bạch hóa quyền tài sản, chứ các ủy ban nhân dân không có cái quyền ban phát sở hữu, cũng như cái giấy khai sinh chỉ ghi nhận, chứ cái giấy đó không đẻ ra con người. Quyền tài sản, từ thủa hồng hoang cho tới nay, đều hình thành qua vài con đường, hoặc do cưỡng đoạt, hoặc do khẩn khai, tôn tạo, hoặc do thừa kế hay mua sắm mà có. Điều ấy cũng đúng với nhà đất, quyền tài sản đối với nhà đất đã được xác lập bởi nhiều phương cách khác nhau. Chước bạ thời xưa hay sổ đỏ thời nay chỉ là sự ghi chép, chứ không thể sinh ra quyền tài sản. Nếu xem xét như vậy, thì nhà đất chờ sổ đỏ tất phải là quyền tài sản của người dân và tất yếu phải được lưu hành. Continue reading

MỘT SỐ VẤN ÐỀ VỀ QUYỀN TÀI SẢN VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN

TS. NGUYỄN NGỌC ĐIỆN

Mở đầu
Ðịnh nghĩa của luật theo BLDS Ðiều 188 (BLDS năm 1995, Đ 181 BLDS năm 2005 – Civillawinfor), quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao lưu dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ quy định tại Phần thứ hai của Bộ luật này. Có thể rút ra được gì từ định nghĩa đó ? Rõ ràng, một mặt, quyền tài sản là tài sản; mặt khác, một quyền tài sản phải có đủ hai yếu tố: trị giá được bằng tiền và chuyển giao được trong giao lưu dân sự. Song, nếu chỉ có chừng đó quy tắc, thì ta có kết luận: các quyền không thể được chuyển nhượng trong giao lưu dân sự, do gắn liền với nhân thân của người có quyền, dù trị giá được bằng tiền (như quyền được cấp dưỡng, quyền hưởng trợ cấp hưu trí,…), không phải là tài sản. Kết luận đó đúng không?

Thực ra, cái gọi là tính chất tài sản của quyền dân sự có các cấp độ khác nhau: đầy đủ, không đầy đủ và không có. Quyền tài sản nói tại Ðiều 188 là quyền có đầy đủ tính chất tài sản. Quyền bầu cử, quyền đi lại, quyền được tôn trọng danh dự, nhân phẩm không trị giá được bằng tiền và cũng không thể chuyển nhượng, do đó, không có tính chất tài sản, goi là quyền nhận thân. Còn các quyền được thực hiện dưới hình thức thu nhận các lợi ích vật chất, nhưng lại không chuyển nhượng được, thì chỉ có tính chất tài sản không đầy đủ (đúng ra là không hoàn hảo).

Tóm lại, quyền trị giá được bằng tiền là tài sản. Ðiều 188 BLDS chỉ nói về các quyền tài sản được coi như tài sản tự do lưu thông. Ðịnh nghĩa của luật do đó không đầy đủ và phải được bổ sung. Nhưng bổ sung như thế nào?

I. Xác định lại quan niệm về quyền tài sản trong khoa học luật

Tài sản, vật và quyền. Theo nghĩa thông dụng và hầu như không có tính pháp lý, thuật ngữ tài sản dùng để chỉ một vật được con người sử dụng, một vật hữu hình, như cái bàn, cái ghế, chiếc xe máy,… nghĩa là vật mà ta có thể nhận biết bằng giác quan tiếp xúc. Tuy nhiên, không phải vật hữu hình nào cũng là tài sản. Tất cả mọi người đều sử dụng không khí, nhưng cho đến nay, không khí chưa bao giờ được coi là tài sản theo nghĩa của luật dân sự. Suy cho cùng, chỉ có thể được coi là tài sản những vật mà trên vật đó chủ thể của quan hệ pháp luật xác lập được các quyền cho phép khai thác lợi ích vật chất từ vật và lợi ích đó có giá trị tiền tệ. Bởi vậy, ta nói rằng một vật hữu hình là tài sản trong điều kiện nó là đối tượng của các quyền định giá được bằng tiền. Nói cách khác, vật hữu hình trở thành tài sản một khi nó được pháp lý hoá thành các quyền định giá được bằng tiền.

Continue reading

LIỆU CÓ THỂ “CHỨNG KHOÁN HÓA” TÀI SẢN SỞ HỮU TRÍ TUỆ?

LÊ MINH dịch*

Hiện nay, tại một số quốc gia phát triển và một vài thị trường chuyên biệt trên thế giới đang diễn ra hiện tượng “cho thuê mượn ” một phần hoặc toàn phần đối với tài sản sở hữu trí tuệ. Một câu hỏi đặt ra là liệu tài sản trí tuệ có khả năng bị “chứng khoán hoá” hay không?

Hiểu một cách đơn giản nhất, “chứng khoán hoá” là một quá trình tài chính cơ cấu trong đó các tài sản thế chấp khác nhau của những người đi vay được tập hợp và đóng gói rồi được dùng làm đảm bảo để phát hành các trái phiếu. Theo nguyên tắc, tài sản ở đây có thể là các tài khoản với dòng tiền được xác định trước hoặc các khoản thu dài hạn. Như vậy, “chứng khoán hoá” có thể chấp nhận các khoản thanh toán dài hạn từ việc cấp bằng sáng chế, chứng nhận thương hiệu hay bí mật thương mại, hoặc ngay cả việc sử dụng bản quyền thu âm, sáng tác của một nhạc gia. Việc ca sĩ người Mỹ David Bowie trong những năm gần đây đã có các khoản thanh toán tiền bản quyền là một trong những minh chứng tiêu biểu nhất cho khái niệm “chứng khoán hoá”.

Có thể nói ở thời điểm hiện tại, thị trường về các chứng khoán tài sản tài chính liên quan đến sở hữu trí tuệ chưa thực sự bùng nổ, mà một trong những nguyên nhân chính của thực trạng này là do khan hiếm nguồn cung và nguồn cầu. Nhìn chung, trên thị trường hiện nay loại tài sản hữu hình vẫn dành được nhu cầu cao hơn so với các loại tài sản vô hình. Một nguyên nhân khác cho vấn đề này là do các thị trường còn hạn hẹp, các kĩ năng đánh giá bằng sáng chế không đủ chính xác, dẫn đến việc thiếu tự tin khi nhận định về giá trị của một bằng sáng chế. Thông thường, để đánh giá được giá trị của bằng sáng chế thì phải cần đến các chuyên gia trong một lĩnh vực khoa học công nghệ nhất định, đã có thâm niên trong việc nghiên cứu, nhận định và những hiểu biết đúng đắn về bằng sở hữu trí tuệ. Tuy nhiên, các bên nhận cấp phép hoặc bán các bằng sáng chế lại “vắng bóng” các chuyên gia như vậy.

Continue reading

MỘT SỐ SUY NGHĨ VỀ THƯƠNG HIỆU DOANH NGHIỆP

VÕ HƯƠNG

Thời gian trước đây, khi nói về việc xây dựng và phát triển một doanh nghiệp, người ta hay nói đến mục tiêu tiên quyết là lợi nhuận. Nhưng ngày nay đã có nhiều lập luận được đưa ra phản đối lại quan điểm trên. Nhiều chuyên gia cho rằng nguyên nhân để một doanh nghiệp có thể tồn tại hàng trăm năm, nối tiếng ở hàng trăm quốc gia và giữ được lòng mến mộ của hàng triệu khách hàng, đó là Thương hiệu doanh nghiệp và nó đã trở thành một yếu tố cơ bản nhất quyết định sự tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp.

Với Việt Nam, một quốc gia đang phát triển và mới bước vào quá trình hội nhập quốc tế, nhưng các nhà lãnh đạo doanh nghiệp đã nhận ra vai trò của thương hiệu trong sự phát triển của doanh nghiệp. Chính vì lý do đó mà ta có thể tự hào khi nhìn thấy các sản phẩm thương hiệu “cà phê Trung Nguyên” được bày bán nhiều nơi trên thế giới, logo “Vietnam Airline” được nhiều người khách nước ngoài nhận biết, và biểu tượng SSI của Công ty cổ phần chứng khoán Sài Gòn được nhiều nhà đầu tư tài chính nước ngoài biết đến,…

Tuy nhiên, ở một bộ phận doanh nghiệp khác của Việt Nam, việc xây dựng và bảo vệ thương hiệu chưa được quan tâm đúng mức trong chiến lược phát triển của doanh nghiệp. Bài viết này xin được cung cấp một cái nhìn sâu hơn về thương hiệu doanh nghiệp, qua đó có thể đóng góp thêm ý kiến về việc xây dựng và phát triển thương hiệu trong tổng thể chiến lược phát triển doanh nghiệp.

Các phương thức tiếp cận và định nghĩa về Thương hiệu

Thực tế cho thấy, một thương hiệu mạnh và hiệu quả sẽ làm gia tăng sự nhận biết, lòng trung thành của khách hàng, doanh số bán hàng, ‘giữ chân’ nhân viên, và ngay cả giá trị cổ phiếu công ty.

Continue reading

MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ SAO CHỤP HÌNH ẢNH ĐỒNG TIỀN

HỒNG HẠNH – Cục PH&KQ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Vừa qua, tại một số địa phương xuất hiện “Tiền giấy đồ chơi” là các ấn phẩm có in hình ảnh đồng tiền Việt Nam trên giấy cứng hoặc nền nhựa, được bày bán với tính chất như “đồ chơi”. Trước hiện tượng này, các cơ quan chức năng (công an, quản lý thị trường và cả Ngân hàng Nhà nước) đã vào cuộc để xem xét việc sao chụp hình ảnh đồng tiền Việt Nam có phải là hành vi vi phạm pháp luật hay không, nếu có thì xử lý đối với hành vi này như thế nào, chế tài xử phạt ra sao. Bài viết này xin trao đổi một số vấn đề về quy định sao chụp đồng tiền nhằm quản lý được một cách chặt chẽ hành vi sao chụp đồng tiền Việt Nam, góp phần vào hoạt động phòng, chống tiền giả.

1. Kinh nghiệm của các nước

– Làm tiền giả là hành vi phạm tội bị pháp luật nghiêm cấm, mặc dù những quy định nhằm ngăn chặn việc làm tiền giả ở mỗi nước có khác nhau, nhưng mỗi quốc gia đều có những quy định pháp lý nhằm hạn chế về việc sao chụp hay tái tạo (reproduction) hình ảnh đồng tiền của nước họ rất nghiêm ngặt, có nước thì cho phép sao chụp trong khuôn khổ quy định của Ngân hàng Trung ương, chính phủ; nhưng có nước quy định bất cứ hành vi sao chụp hình ảnh đồng tiền – thậm chí với mục đích nghệ thuật hoặc quảng cáo – là hành vi bị nghiêm cấm. Bên cạnh đó, các nước cũng rất chú trọng đến việc vận dụng các kỹ thuật để chống sao chụp đồng tiền.

– Nhóm Chống giả của Ngân hàng Trung ương (CBCDG – gồm 10 cơ quan phát hành tiền lớn trên thế giới) đã phát triển Hệ thống Ngăn chặn Tiền giả (CDS) nhằm ngăn chặn việc làm tiền giả bằng máy tính cá nhân, thiết bị xử lý hình ảnh kỹ thuật số và các phần mềm khác. Hệ thống này đã được các nhà sản xuất phần cứng và phần mềm các thiết bị sao chụp kỹ thuật số và xử lý hình ảnh tự nguyện ứng dụng. Hệ thống Ngăn chặn Tiền giả bao gồm kỹ thuật ngăn ngừa máy tính cá nhân và các công cụ kỹ thuật số sao chụp hình ảnh của đồng tiền đã được bảo vệ. Chẳng hạn, khi đưa một đồng EURO, đồng USD hay đồng Yên vào máy photocopy màu để sao chụp thì máy sẽ tự động dừng lại và/hoặc đưa ra lời cảnh báo về hành vi bị cấm.

Continue reading