QUYỀN CON NGƯỜI VỀ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH

NGUYỄN HỒNG HẢI

Lời dẫn

Từ thời cổ đại, hôn nhân và gia đình (sau đây gọi chung là gia đình) luôn đóng một vai trò quan trọng trong hình thành, nuôi dưỡng và phát triển nhân cách con người, là nơi hội tụ các giá trị đạo đức, phong tục, tập quán truyền thống và hiện đại. Bất kỳ một cá nhân nào với tư cách là chủ thể cơ bản của xã hội đều mang dấu ấn từ gia đình.

Gia đình hình thành, tồn tại và phát triển vì nó mang những chức năng tự nhiên và xã hội riêng biệt mà các thiết chế xã hội khác không có. Các chức năng của gia đình hình thành gắn liền với sự phát triển của loài người và được chính con người xã hội hóa chúng. Về cơ bản, gia đình có ba chức năng: sinh đẻ (tái sản xuất con người), giáo dục và kinh tế, các chức năng này là cơ sở để hình thành các quyền tự nhiên của con người về gia đình và được xã hội hóa thành các quyền cơ bản của công dân:

– Chức năng sinh đẻ hay tái sản xuất con người là chức năng quyết định trong việc đảm bảo duy trì, phát triển các thế hệ tương lai – một trong những yếu tố quyết định sự tồn vong của một dân tộc, một quốc gia và của loài người. Từ chức năng này, quyền được sinh con, quyền được thừa nhận là cha, mẹ, con, quyền nuôi con nuôi, quyền được hưởng các chế độ phúc lợi về thai sản… đã được hình thành và được công nhận và bảo vệ;

– Chức năng giáo dục là chức năng rất quan trọng của gia đình trong hình thành, phát triển nhân cách của các thế hệ trong gia đình, đặc biệt thế hệ trẻ. Ngoài ra, nó còn giúp nuôi dưỡng, kế thừa và phát huy các giá trị truyền thống trong gia đình và xã hội. Nhân cách, khả năng ứng xử và khả năng thích ứng của mỗi cá nhân đều chịu ảnh hưởng lớn từ giáo dục gia đình. Từ chức năng giáo dục đã xác lập các quyền được chăm sóc, giáo dục, đại diện và bảo vệ của các thành viên trong gia đình….; Continue reading

PHÂN TÍCH SO SÁNH PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI

TOBY MENDEL – chuyên gia nghiên cứu về tiếp cận thông tin của Tổ chức Article 19

Theo các cuộc khảo sát được tiến hành trong thời gian gần đây, nhiều quốc gia trên thế giới đều thừa nhận rằng mọi cá nhân đều có quyền được tiếp cận thông tin do các cơ quan công quyền nắm giữ và việc ban hành một đạo luật để thực thi quyền này một cách hiệu quả trên thực tế là hoàn toàn phù hợp và cần thiết. Kết quả khảo sát đã chỉ ra rằng rất nhiều nội dung của các đạo luật trong nước có những quy định tương đồng nhau như nguyên tắc bảo đảm tính công khai, nghĩa vụ đăng tải thông tin,… tuy nhiên các đạo luật của từng quốc gia cũng có những điểm khác biệt và đôi khi còn trái chiều nhau, đặc biệt về các quy định về khái niệm thông tin, phạm vi thẩm quyền, phạm vi miễn trừ hay các trường hợp ngoại lệ. Đồng thời, các cuộc khảo sát đó cũng đã tìm ra được những phương pháp tiếp cận đầy sáng tạo để đáp ứng với hoàn cảnh của từng quốc gia khác nhau.

Khái niệm quyền được tiếp cận thông tin

Quyền được tiếp cận thông tin do các cơ quan công quyền nắm giữ là cơ sở để thông qua luật về quyền tiếp cận thông tin và luật của hầu hết các nước đều quy định khá rõ về nguyên tắc này. Ví dụ như Luật của Mexico và Jamaica quy định quyền hoàn toàn tự do tiếp cận thông tin nếu không rơi vào các trường hợp ngoại lệ. Trong khi đó ở Thái Lan và Anh, quyền này tuy mang sắc thái thủ tục nhiều hơn, nhưng luật của hai nước này cũng quy định rằng bất kỳ ai cũng có thể yêu cầu cung cấp thông tin và tuỳ thuộc vào một số điều kiện nhất định về mặt thủ tục và nội dung, đều có thể có thông tin đó. Mặc dù trên thực tế khó chứng minh được sự khác nhau của cách định nghĩa này song phương pháp tiếp cận dựa vào quyền hơn là dựa vào nghĩa vụ càng ngày càng tỏ ra có sức thuyết phục.
Một số luật – ví dụ như Luật của Nam Phi và Jamaica – quy định quyền tiếp cận các tài liệu văn bản hoặc hồ sơ trong khi hầu hết các nước thì quy định quyền tiếp cận thông tin. Một số ít nước khác, ví dụ như Uganda, quy định quyền tiếp cận cả tài liệu/hồ sơ và thông tin. Quy định quyền tiếp cận chỉ hạn chế ở tài liệu hoặc hồ sơ gây ra một số vướng mắc khi phần lớn những người yêu cầu cung cấp thông tin không biết rõ tên tài liệu cụ thể mà họ mong muốn. Vấn đề là khi công chức áp dụng cách hiểu quá cứng nhắc về quyền tiếp cận với các tài liệu để từ chối yêu cầu tiếp cận thay vì họ có thể trả lời về cơ bản. Trong khi đó, nếu người yêu cầu có thể xác định rõ tài liệu cụ thể, thì họ có thể tiếp cận được thông tin như mong muốn. Về việc này, cách tiếp cận của Uganda có một số điểm ưu việt.
Ở nhiều nước, luật quy định cả nguyên tắc điều chỉnh hoặc nêu rõ các mục tiêu hay chức năng của việc tiếp cận. Những vấn đề này sẽ rất hữu ích cho việc làm rõ các cơ sở của luật và có thể được coi là một công cụ giải thích, giúp cho việc làm rõ những điểm còn mơ hồ hoặc còn nhiều xung đột giữa một bên là yêu cầu phải công khai hoá và một bên là những lợi ích công cộng cần được bảo vệ. Trong luật của nhiều nước khác nhau, các nguyên tắc sau đây thường được quy định: ví dụ nguyên tắc thúc đẩy công khai minh bạch, nâng cao trách nhiệm giải trình và hoạt động hiệu quả của chính phủ, kiểm soát tham nhũng, khuyến khích sự tham gia của người dân vào quá trình quản lý nhà nước, tăng cường khả năng của công chúng giám sát hoạt động của các cơ quan công quyền, thúc đẩy văn hoá dân chủ và nhân quyền và thúc đẩy pháp quyền, cải thiện công tác quản lý hồ sơ tài liệu công, thiết lập sự hiểu biết chung và xây dựng một xã hội mà toàn thể công dân đều được thông tin.

Continue reading

KINH NGHIỆM QUẢN LÝ LÝ LỊCH TƯ PHÁP Ở THỤY ĐIỂN

ĐỖ THÚY LAN – Vụ Hành chứng tư pháp

Khái niệm “Lý lịch tư pháp” được sử dụng khác nhau theo cách gọi của mỗi nước (tiếng Anh là “criminal record”, tiếng Pháp là “casier judiciaire”) nhưng đều hàm chứa những nội dung tương tự là ghi nhận thông tin về các chế tài, hình phạt mà cơ quan có thẩm quyền tuyên xử đối với một cá nhân. Bài viết sau đây giới thiệu kinh nghiệm quản lý lý lịch tư pháp của Thuỵ Điển, một quốc gia Bắc Âu có hệ thống lý lịch tư pháp phát triển. Hy vọng bài viết sẽ cung cấp một số thông tin tham khảo cho các nhà làm luật trong quá trình soạn thảo Luật Lý lịch tư pháp.

1. Giới thiệu chung về hệ thống dữ liệu lý lịch tư pháp       

Ở Thuỵ Điển có hai hệ thống dữ liệu có liên quan nhưng hoàn toàn tách biệt, đó là hệ thống dữ liệu tình nghi tội phạm và hệ thống dữ liệu lý lịch tư pháp. Hai hệ thống dữ liệu này do Tổng cục cảnh sát thuộc Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm quản lý. Ban đầu, chỉ tồn tại một hệ thống cơ sở dữ liệu chung. Tuy nhiên, đến năm 1990, hệ thống dữ liệu này được chia tách thành hai hệ thống, đó là hệ thống dữ liệu về tình nghi tội phạm (Suspicion of Crime Record) và hệ thống dữ liệu lý lịch tư pháp (Criminal Record).  Hai hệ thống dữ liệu này hoàn toàn khác nhau về nội dung thông tin, cách thức thu thập thông tin và mục đích sử dụng.

– Hệ thống dữ liệu tình nghi tội phạm là hệ thống thu thập những thông tin liên quan đến cá nhân khi có đơn kiện hoặc đơn khai báo của người dân và đã được cơ quan cảnh sát, hải quan tiến hành điều tra sơ bộ nhằm mục đích phát hiện, ngăn chặn tội phạm. Những thông tin này sau khi được điều tra sơ bộ sẽ được cơ quan cảnh sát chuyển sang Viện kiểm sát để Viện kiểm sát quyết định có khởi tố hay không khởi tố. Việc tiến hành điều tra và đưa vào hệ thống dữ liệu tình nghi chủ yếu bao gồm các thông tin như sau: có tội phạm diễn ra hay không; nạn nhân; loại hình tội phạm. Không phải mọi cá nhân đều được lưu trữ trong hệ thống dữ liệu tình nghi tội phạm mà hệ thống này chỉ lưu trữ thông tin của những người từ 15 tuổi trở lên bị tình nghi trên phạm vi toàn quốc. Tuy nhiên, khi đối tượng tình nghi được xác định có tội hay không có tội, thông tin về cá nhân đó sẽ được loại bỏ trong hệ thống dữ liệu tình nghi.

– Hệ thống dữ liệu lý lịch tư pháp (hay còn gọi là hệ thống dữ liệu án tích) là hệ thống chỉ lưu trữ những bản án đã được tuyên về một người có từ trước đến nay và chưa được xoá án tích. Thông tin về án tích của cá nhân bao gồm: ngày kết án, Toà án đã ra bản án, số vụ án, hình phạt, thời gian đã chấp hành xong bản án, ngày dữ liệu được xử lý. Hệ thống dữ liệu lý lịch tư pháp không chỉ lưu trữ những thông tin liên quan đến việc phạm tội đã thành án của công dân Thuỵ Điển mà còn lưu trữ những thông tin về án tích của người nước ngoài phạm tội tại Thuỵ Điển.

Continue reading

QUYỀN CON NGƯỜI – NHÌN TỪ GÓC ĐỘ TRIẾT HỌC

TS. HOÀNG CÔNG

Cho đến nay, chúng ta phải thừa nhận rằng khó có thể tìm thấy một định nghĩa triết học "kinh điển" nào về quyền con người. Ngay cả những nhà tư tưởng lớn như Lôccơ, Rútxô… và sau này Mác, Engen, Lênin cũng không đưa ra một định nghĩa nào về khái niệm này giống như cách làm thông thường đối với các khái niệm triết học khác.

Chúng ta thường chỉ thấy các định nghĩa kiểu như "quyền cái người là quyền…". Chẳng hạn, Lốccơ nói : "quyền tự nhiên của con người là quyền sống, quyền tự do, quyền tư hữu. Hiến pháp 1791 của Pháp viết : quyền con người – đó là " quyền tự do, sở hữu, được an toàn và chống lại áp bức". Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ 1776 viết: quyền con người – đó là "các quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc".

Cho đến nay, từ Đông sang Tây đã có rất nhiều định nghĩa về quyền con người. Có những định nghĩa liệt kê quyền con người bao gồm những quyền a, b, c… nào đó. Có những định nghĩa rất khái quát, chẳng hạn, học giả Trung Quốc Đồng Vân Hồ quan niệm: "có thể nói gọn lại, nhân quyền là quyền tồn tại, phát triển một cách tự do, bình đắng" (1).

Nhìn lại quá khứ và hiện tại, các quan điểm về quyền con người thưởng đi theo những khuynh hướng sau:

* Khuynh hướng “quyền tự nhiên”:

Những tư tưởng về quyền "tự nhiên", "trời phú” cho con người ngay từ khi con người xuất hiện đã có từ thời cổ đại. Ở Trung Quốc, Mặc Tử (479-381 trước Công nguyên) đã cho rằng quyền bình đẳng tự nhiên của con người đó là "ý trời". Theo đó, mỗi người đều có quyền tham gia công việc nhả nước tuỳ theo đạo đức và tài năng của họ, chứ không phải do dòng dõi quyết định. Cũng như vậy, mỗi người đều có các quyền giống nhau và đều bị trừng phạt nếu phạm tội. Ở Hy lạp cổ đại, các nhà triết học nguỵ biện như Ăngtiphôn, Ankiđan cũng có những tư tưởng tương tự. Ở châu Âu, kể từ thời Phục hưng trở đi, tư tưởng về quyền tự nhiên ngày càng trở nên phổ biến. Những đại biểu xuất sắc là Lôccơ (Anh), Rútxô (Pháp), Xpinôda (Hà lan), I. Can tơ, Pruphenđóocphơ (Đức), Jepphécxơn (Mỹ)… Những điều viết về quyền con người trong Hiến pháp 1791 của Pháp, Tuyên ngôn Độc lập 1776 của Mỹ đều theo quan điểm quyền tự nhiên. Về mặt xã hội, thuyết quyền tự nhiên mang ý nghĩa phản kháng. Nó là tư tưởng của các lực lượng tiến bộ chống lại trật tự xã hội bất công, bất bình đẳng (xã hội chiếm hữu nô lệ và xã hội phong kiến sau này). Vì thế, không chỉ trong quá khứ, mà cả ngày nay thuyết này vẫn có ý nghĩa nhất định.

Thuyết quyền tự nhiên có điểm tích cực là đề cao con người với tư cách là sản phẩm cao nhất, tinh tuý nhất của sự phát triển tự nhiên. Nhưng nhược điểm của nó là ở chỗ, nó che lấp nguồn gốc xã hội của quyền con người và do đó, không thấy tính lịch sử, tính giai cấp, sự phát triển trong những đòi hỏi về quyền con người.

Continue reading

VIẾT TIẾP CHUYỆN “MUA BÁN NHÂN THÂN” NHỮNG ĐIỀU KHÔNG NGỜ TỚI

HẢI VIỆT

“Quyền bảo mật thông tin cá nhân đang bị xâm phạm!”, không ít người đã phải thốt lên như vậy khi bất ngờ bị một người xa lạ “bắt thóp” bằng những thông tin cá nhân của mình chính xác đến từng chi tiết.

Nhận diện người bán thông tin

Tình cờ, tôi được biết một người quen cũ đang điều hành một doanh nghiệp (DN) chuyên bán thông tin cá nhân của người khác. Trước đây, anh làm việc trong lĩnh vực liên quan đến hoạt động điều tra, nhất là nắm trong tay hơn chục “đệ tử” có kỹ năng tiếp cận, thu thập thông tin của các đối tượng. Lực lượng nhân viên, và chính cả “ông chủ” thường xuất hiện ở những địa điểm, hay tập trung các đối tượng mà họ cần “điều tra”. Mỗi nhóm nhân viên phụ trách một loại đối tượng riêng. Công việc của họ là làm quen đối tượng, xin số điện thoại, hỏi thăm về công việc. Ngay cả những người quen, khi thấy cần thiết, họ tìm cách “moi” thêm thông tin. Họ tiếp cận khéo đến nỗi “đối tượng” không hề nghi ngờ. Không phải chờ có đặt hàng, họ mới “điều tra”, tìm hiểu, mà chủ động thu thập trước thông tin của càng nhiều đối tượng càng tốt, đưa về hệ thống hoá thành từng nhóm lưu trữ trong máy tính. Vì thế, nhiều khi họ có thể cung cấp ngay thông tin cho khách hàng khi có yêu cầu.

Doanh nghiệp của anh bạn này không hề có chức năng “điều tra” thông tin về nhân thân người khác. Sở Kế hoạch và đầu tư cũng không hề cấp giấy phép cho doanh nghiệp nào chuyên hoạt động với chức năng như vậy. Tuy nhiên, doanh nghiệp này, cũng như vài doanh nghiệp khác, vẫn hoạt động “chui”, “núp bóng” một số chức năng “gần gũi” có ghi trong giấy phép kinh doanh. Được biết, đã có một vài tổ chức hoạt động thám tử tư cũng “kiêm” luôn chức năng này.

Hàng triệu địa chỉ email, số điện thoại được rao bán

Nhân viên của một doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ gọi cho tôi mời mua bảo hiểm, qua trao đổi, người đang đối thoại biết khá rõ về công việc (và có thể là cả mức thu nhập) của tôi. Khi tôi đang còn chưa hết bỡ ngỡ về điều này, bất ngờ tìm được trên một trang mạng rao vặt mẩu tin: “Có danh sách database (thông tin cá nhân) khoảng 7 triệu số điện thoại di động, bao gồm tất cả các mạng ở Việt Nam cần bán. Cá nhân đơn vị quan tâm vui lòng liên hệ qua email: xxx.khn@gmail.com”. Cũng bằng cách này, một người bạn của tôi, vốn thích cá cược bóng đá, thường nhận được những tin nhắn mời tham dự cá cược, còn vợ của anh, chỉ nhận được những tin nhắn về các chương trình khuyến mãi. Những tin nhắn đến rất đúng đối tượng!

Continue reading

QUẢN LÝ HỘ TỊCH BẰNG CẢM TÍNH

PHẠM VĂN PHONG

Điều 2 Nghị định 158/NĐ-CP quy định “Quản lý hộ tịch là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên của chính quyền các cấp, nhằm bảo hộ các quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân và gia đình, đồng thời góp phần xây dựng các chính sách về KT-XH, ANQP… Thực tế hiện nay, một số địa phương đã thực hiện khá tốt công tác quản lý hộ tịch, giảm phiền hà cho người dân. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn một số địa phương tắc trách trong công tác này và hậu quả thì người dân phải chịu.

Ông Đặng Văn Phi và bà Phạm Kim Thúy thường trú ấp 1, xã TP, huyện VL, Đồng Tháp, do cuộc sống quá khó khăn nên chỉ lo làm ăn mà không quan tâm đến việc đăng ký khai sinh và nhập hộ khẩu cho con. Sau đó, vợ chồng ông Phi xa quê hương đi làm thuê và gửi cháu Hiền lại cho vợ chồng người em ruột là ông Đặng Văn Tý và bà Trần Thị Xê nuôi dưỡng. Cháu Hiền đến tuổi đi học, ông Tý đến UBND xã TP đăng ký khai sinh cho cháu Hiền và “lợi dụng” cán bộ Tư pháp xã TP “không nắm địa bàn” nên ông Tý đã khai vợ chồng ông là cha, mẹ ruột và đề nghị ghi vào phần khai về cha, mẹ trong giấy khai sinh của cháu Hiền. Từ đó, ông Tý, bà Xê từ chú, thím “biến thành” cha mẹ của Hiền và đương nhiên, một số giấy tờ cá nhân (trong đó có bản sao giấy khai sinh, hộ khẩu, giấy chứng minh nhân dân,…) của Hiền đều có ghi nhận ông Tý, bà Xê là cha mẹ ruột, vì được UBND xã TP thừa nhận và đã đăng ký trong giấy khai sinh, sổ đăng ký khai sinh hợp pháp(?)

Sau một thời gian đi làm ăn xa, ông Phi, bà Thúy trở lại quê nhà và “xin” vợ chồng ông Tý “trả” cháu Hiền lại cho vợ chồng ông tiếp tục nuôi dưỡng. Khi ông Phi đến UBND xã TP đăng ký khai sinh cho cháu Hiền thì được cán bộ Tư pháp xã TP cho biết Hiền đã được cha mẹ ruột (là ông Đặng Văn Tý và bà Trần Thị Xê) đăng ký khai sinh, hiện UBND xã TP còn lưu sổ đăng ký khai sinh, nếu ông muốn có giấy khai sinh của Hiền thì ở đây chỉ cấp lại bản sao. Đương nhiên,  “cha mẹ” cháu Hiền ghi trong khai sinh không phải là ông Đặng Văn Phi và bà Phạm Kim Thúy (theo sổ đăng ký khai sinh). Sau khi tranh cãi quyết liệt, ông Tý đã thừa nhận việc “lừa” cán bộ Tư pháp hộ tịch xã TP để đăng ký khai sinh cho Hiền là con của vợ chồng ông; Sự thật là ông Đặng Văn Phi và bà Phạm Kim Thúy mới đích thực là cha mẹ ruột của Hiền; Ông Phi yêu cầu UBND xã TP cải chính phần ghi về cha mẹ của cháu Hiền và ghi tên của vợ chồng ông vào giấy khai sinh của con ông đúng sự thật. Tại UBND xã TP, theo hướng dẫn của cán bộ Tư pháp hộ tịch muốn “cải chính” nội dung trên thì giữa vợ chồng ông Phi và vợ chồng ông Tý phải làm “bản cam kết” với nội dung: vợ chồng ông Tý không phải là cha mẹ ruột như trong khai sinh mà vợ chồng ông Phi mới đúng là cha mẹ ruột của cháu Hiền. Từ đó, giấy khai sinh, hộ khẩu của Hiền có ghi tên ông Đặng Văn Phi và bà Phạm Kim Thúy là cha mẹ ruột…mà không làm thủ tục cải chính theo quy định(?).

Continue reading

QUYỀN NHÂN THÂN CỦA CÁ NHÂN: XÁC NHẬN LƠ MƠ, NGƯỜI KẾT HÔN GẶP KHÓ

PHAN NHÂN

Nhiều UBND xã chưa làm rõ tình trạng hôn nhân hoặc chưa xác định đương sự đã ly hôn theo bản án nào. Để đăng ký kết hôn, đương sự phải được cơ quan thẩm quyền xác nhận hiện tại không có vợ hoặc không có chồng. Việc xác nhận có thể bằng tờ giấy riêng rẽ hoặc trong tờ khai đăng ký kết hôn. Nhưng nhiều UBND xã lại xác nhận chưa đầy đủ hoặc không chính xác về việc này, gây khó cho người muốn kết hôn lẫn các cơ quan chức năng.

Không nêu căn cứ

Thông tư 01 ngày 2-6-2008 của Bộ Taư pháp hướng dẫn: Nội dung xác nhận tình trạng hôn nhân phải ghi rõ đương sự hiện tại chưa đăng ký kết hôn với ai (Ví dụ: Anh Nguyễn Văn A, hiện đang cư trú tại…, hiện tại chưa đăng ký kết hôn với ai); đối với người đã có vợ/chồng nhưng đã ly hôn hoặc người kia đã chết thì cũng phải ghi rõ điều đó (Ví dụ: Anh Nguyễn Văn A, hiện đang cư trú tại… đã đăng ký kết hôn nhưng đã ly hôn theo Bản án ly hôn số… ngày… tháng… năm… của TAND…, hiện tại chưa đăng ký kết hôn với ai).

Tuy nhiên, nhiều xã của tỉnh Đồng Tháp đã chứng như thế này: “Nguyễn Thị Thùy Dung, đang cư trú tại…, đăng ký kết hôn lần thứ hai là đúng sự thật”; “Nguyễn Thị Bé Lan… chưa đăng ký kết hôn lần hai tại địa phương. Nay đăng ký kết lần hai là đúng”; “Phạm Kim Nga… trước năm 2007 đã kết hôn, sau năm 2007 ly hôn, sống độc thân. Nay kết hôn lần thứ hai”. Các xác nhận này đều chưa thể hiện được đương sự đã ly hôn theo bản án nào, do TAND nào xét xử.

Không đúng sự thật

Không chỉ thiếu sót, nhiều xác nhận còn sai hoàn toàn. Như bà N. (tỉnh Đồng Tháp) kết hôn với một người có quốc tịch Trung Quốc (Đài Loan), đã ly hôn theo bản thuận tình ly hôn do Phòng Hộ chính huyện Miêu Lật (Đài Loan) cấp năm 2004 và được Sở Ngoại vụ TP.HCM hợp pháp hóa lãnh sự năm 2005. Đầu năm 2009, bà N. đến UBND xã xác nhận tình trạng hôn nhân của mình để chuẩn bị nộp hồ sơ đăng ký kết hôn với một người Đài Loan khác.

Continue reading

QUYỀN BIỂU QUYẾT

PGS, TS  KIM VĂN CHÍNH

Trong một xã hội dân chủ, quyền biểu quyết được sử dụng rất rộng rãi. Quyền biểu quyết chính là phương thức thể hiện ý chí chính trị của một cá nhân đối với những quyết định mang tính tập thể. Tuy nhiên, cách hiểu và phương pháp thực thi quyền biểu quyết ở nước ta còn có nhiều khác biệt. Điều đó dẫn đến nhiều tình huống khó xử, thậm chí đôi lúc bế tắc trong lãnh đạo, quản lý.

Việc Quốc hội thận trọng trong biểu quyết phương án mở rộng địa giới hành chính Hà Nội là một ví dụ điển hình. Ở các công ty cổ phần, đặc biệt là các công ty đại chúng, nhiều quyết định đã được thông qua bất chấp ý kiến của các cổ đông nhỏ đã dẫn đến hậu quả các cổ đông nhỏ tẩy chay công ty làm cổ phiếu công ty sụt giảm nhanh chóng.

Những quyết định cần phải được thông qua bằng phương thức biểu quyết được gọi là quyết định tập thể – Loại quyết định này khác hẳn với quyết định cá nhân là chỉ do một người thông qua. Xen kẽ giữa 2 loại quyết định đó, có những quyết định mang tính kết hợp đòi hỏi sự đồng thuận của cả tập thể và cá nhân. Ngay trong quyết định tập thể, ranh giới để thông qua quyết định cũng không phải như nhau: Có quyết định chỉ cần 51% phiếu tán thành, có quyết định cần một tỷ lệ cao hơn (2/3 hoặc 3/4 số phiếu có mặt hoặc số phiếu có quyền biểu quyết), có quyết định cần sự nhất trí tuyệt đối (mọi thành viên hoặc một số thành viên quan trọng có quyền phủ quyết). Hình thức, thể thức biểu quyết cũng có 3 loại: phiếu kín không ghi danh, phiếu kin có ghi danh và giơ tay biểu quyết công khai. Trong một số định chế tổ chức, phiếu biểu quyết cần phải ghi danh người biểu quyết (phiếu biểu quyết ghi danh, phiếu này cũng có thể không công khai hoặc công khai cho mọi người biết).

Như vậy, về mặt kỹ thuật và thể chế, đã có sự tiến bộ to lớn cho phép các định chế tổ chức vận dụng các hình thức, phương pháp biểu quyết trong thực tiễn phát triển tổ chức, định hướng cho người lãnh đạo, quản lý và mọi thành viên trong tổ chức thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình.

Thực tiễn phát triển các tổ chức, doanh nghiệp ở nước ta đã chứng tỏ quá trình phát triển, vận dụng năng động, sáng tạo và thực hiện khá hiệu quả quyền biểu quyết trong các định chế ra quyết định. Điều đó đã góp phần không nhỏ làm nâng cao hiệu quả hoạt động của các định chế ra quyết định như Quốc hội, Hội thẩm nhân dân, Hội đồng nhân dân, các định chế Hội đồng, Đại hội cổ đông, Hội đồng quản trị… Tuy nhiên, còn rất nhiều việc phải làm trong thực thi quyền biểu quyết. Ở đây, chúng tôi chỉ nêu ra hai việc sau:

Continue reading

NÊN GIỚI HẠN THỜI GIAN KIỂM TRA VIỆC CHẤP HÀNH PHÁP LUẬT VỀ CƯ TRÚ CỦA CÔNG DÂN

XUÂN VIỄN

Pháp luật về cư trú của công dân là quy định bắt buộc và cần thiết nhằm phục vụ có hiệu quả công tác quản lý hộ khẩu, nhân khẩu của cơ quan công an. Liên quan đến vấn đề này, Nhà nước đã ban hành rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật. Tuy nhiên, các văn bản pháp luật có liên quan đến việc quản lý hộ khẩu, nhân khẩu, cư trú của công dân đều chưa có quy định cụ thể về giới hạn thời gian kiểm tra việc chấp hành pháp luật về cư trú của cá nhân, cơ quan có thẩm quyền.

Theo quy định tại điều 46 của Bộ Luật dân sự và Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì cá nhân có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở. Tổ chức, cá nhân muốn vào chỗ ở của người khác thì phải có sự đồng ý của người đó. Chỉ trong trường hợp được pháp luật quy định và phải có quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền mới được tiến hành khám xét chỗ ở của người khác và phải tuân theo trình tự, thủ tục quy định của pháp luật. Theo Thông tư số 06/2007/TT-BCA-C11 thì cán bộ, chiến sỹ công an nhân dân có thẩm quyền quản lý vấn đề liên quan đến cư trú tại địa bàn đảm nhận. Như vậy, căn cứ theo quy định hiện hành, cán bộ, chiến sỹ công an nhân dân cấp phường, thị trấn, trưởng công an xã có thẩm quyền kiểm tra trực tiếp việc chấp hành pháp luật về cư trú đối với công dân, hộ gia đình, tổ chức thuộc địa bàn quản lý theo thời gian định kỳ, đột xuất, hoặc do yêu cầu của công tác phòng chống tội phạm. Có nghĩa là pháp luật không giới hạn về thời gian kiểm tra, cơ quan chức năng có thể kiểm tra việc chấp hành pháp luật về cư trú của công dân bất cứ lúc nào.

Trong thực tế, cũng có  những đợt kiểm tra việc chấp hành pháp luật về nhân khẩu, hộ khẩu của cơ quan có thẩm quyền tiến hành vào đêm khuya, làm ảnh hưởng đến sinh hoạt người dân. Nếu chỉ kiểm tra việc chấp hành pháp luật về cư trú liên quan đến vấn đề đăng ký thường trú, tạm trú thì cơ quan có thẩm quyền hoàn toàn có thể tiến hành trong một khoảng thời gian nhất định (có thể quy định trước 22 giờ). Trong trường hợp liên quan đến yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm hoặc những trường hợp đặc biệt khác pháp luật mới không giới hạn về thời gian. Hiện nay, việc kiểm tra chấp hành pháp luật về cư trú vào bất kỳ thời điểm nào như quy định hiện hành là chưa hợp lý. Nên quy định một số trường hợp "đặc biệt" mới giao thẩm quyền kiểm tra bất kỳ cho các cá nhân, tổ chức.

Continue reading

XÓM ĐẺ CHUI!

ĐOÀN NHƯ PHONG

Con vừa lọt lòng được ba ngày, người mẹ đã ẵm nó trốn viện để khỏi đóng viện phí. Thế là đứa trẻ không có giấy chứng sinh nên không thể làm giấy khai sinh và thất học. Có hàng chục đứa trẻ ở khu phố 5, P.10, Q.8, TP.HCM rơi vào hoàn cảnh như thế.

“Thôi mà, ở đây tùm lum người, kể chi chuyện đó, dị lắm!” – chị Lê Thị Cẩm Nga, 28 tuổi, nhà ở tổ 85, cười lảng tránh rồi ậm ờ khi nghe có người đề nghị kể lại cách mình trốn viện sau khi đẻ. Tất cả phụ nữ đẻ “chui” ở tổ 85-86, khu phố 5 đều ngại ngùng như vậy khi nhắc đến chuyện tế nhị đó. Họ biết đẻ “chui” là xấu hổ, nhưng dường như đó là cách duy nhất để những đứa con được sinh ra an toàn trong tình cảnh cha, mẹ chúng nghèo rớt mồng tơi.

Đẻ xong, ôm con… “lủi”

Đường hẻm vào xóm đẻ “chui” bé tẹo, giữa trưa nắng mà hẻm nhập nhoạng như trời đã sang chiều. Nhà cửa người dân ở đây chắp vá và nằm xúm xít nhau ven rạch. Dưới rạch, dòng nước đen kịt. Tương lai của những đứa trẻ được đẻ “chui” trong khu phố này cũng mù mịt, đen đúa không thua gì màu nước.

Bán vở của con để chi tiêu

Bà Hoàng Ngọc Loan kể: “Rút kinh nghiệm những lần trước, bây giờ mỗi khi đi phát sách vở cho mấy em nhỏ ở khu này, chúng tôi chỉ phát vài cuốn chứ không phát một lần cả chồng gồm 20 cuốn nữa. Vì phát hôm trước thì hôm sau bố mẹ các em đã đem cả chồng vở đi bán để chi tiêu”.

“Năm 2005, tui chuyển dạ con bé út, bụng đau quằn quại. Mẹ tui đưa tui vào Bệnh viện Nguyễn Tri Phương, Q.5. Sau ba ngày con út được sinh, canh khoảng giữa trưa bảo vệ bệnh viện nghỉ đi tuần, tui liền phủ chiếc áo lên đầu để che mặt, còn mẹ tui cầm gói quần áo, chúng tui lủi ra cổng bệnh viện rồi về thẳng nhà” – sau một lúc ngần ngại, cuối cùng chị Lê Thị Cẩm Nga thì thầm kể lại “thủ thuật” đẻ “chui” của mình.

Theo lời chị, sau khi sinh, chỉ cần ba ngày nằm tịnh dưỡng tại bệnh viện là hồi sức nên ôm con trốn viện khỏe re. Chị có bốn con, đều là gái. Chỉ có đứa đầu tiên nay đã 10 tuổi là đẻ có phí, ba bé còn lại toàn đẻ “chui”. “Mỗi lần đẻ chỉ mất 300.000-500.000 đồng nhưng tiền ăn còn không có, lấy tiền đâu lo chuyện đẻ” – chị Nga nói như phân bua.

Sinh bé út được vài tháng, chồng chị Nga đi nhậu và đâm chết một người bạn nên lãnh án 14 năm tù. Thế là căn nhà ọp ẹp ven rạch của chị phải bán để nuôi bốn đứa con. Hiện chị và đàn con nhỏ sống lay lắt bằng nghề giặt đồ mướn và ở đậu nhà người cậu ruột gần đó.

Continue reading

CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI KHUYẾT TẬT

Đại hội đồng Liên hợp quốc,

Căn cứ Nghị quyết 56/168 ra ngày 19/12/2001 của Liên hợp quốc quyết định thành lập Uỷ ban đặc biệt để soạn thảo Công ước quốc tế toàn diện và lồng ghép nhằm thúc đẩy và bảo vệ quyền và nhân phẩm của người khuyết tật, để ngỏ cho tất cả các quốc gia thành viên và các quan sát viên của Liên hợp quốc, dựa trên phương pháp tiếp cận toàn diện từ các hoạt động trong các lĩnh vực phát triển xã hội, nhân quyền và chống phân biệt đối xử đã được thực hiện và có tính đến các khuyến nghị của Ủy ban Nhân quyền và Ủy ban Phát triển xã hội,

Căn cứ các Nghị quyết có liên quan trước đây của Liên hợp quốc và Nghị quyết gần đây nhất là Nghị quyết 60/232 ra ngày 23/12/2005 và các Nghị quyết có liên quan của Ủy ban Phát triển xã hội và Ủy ban Nhân quyền,   

Hoan nghênh những đóng góp quý báu của các tổ chức liên chính phủ, các tổ chức phi chính phủ, các viện nghiên cứu nhân quyền của các quốc gia cho các hoạt động của Uỷ ban đặc biệt,

1. Bày tỏ sự đánh giá cao của Liên hợp quốc đối với những nỗ lực của Uỷ ban đặc biệt để hoàn thiện Dự thảo Công ước quốc tế về người khuyết tật và Dự thảo Nghị định thư không bắt buộc của Công ước;  

2. Thông qua Công ước quốc tế về Quyền của người khuyết tật và Nghị định thư không bắt buộc của Công ước đính kèm với Nghị quyết này sẽ được để ngỏ cho các quốc gia thành viên của Liên hợp quốc tham gia ký kết tại trụ sở chính của Liên hợp quốc tại New York từ ngày 30/03/2007;    

3. Kêu gọi các quốc gia thành viên của Liên hợp quốc xem xét việc ký kết và phê chuẩn Công ước và Nghị định thư không bắt buộc như là một trong những vấn đề ưu tiên, và bày tỏ hi vọng Công ước và Nghị định thư sẽ sớm có hiệu lực vào thời gian sớm nhất;  

Continue reading

QUYỀN NHÂN THÂN CỦA CÁ NHÂN: 5 NĂM KHÔNG ĐƯỢC NHẬP HỘ KHẨU

NGỌC YẾN – XUÂN LUẬN

Đã hơn 5 năm qua, 193 hộ dân tại khu ký túc xá Thăng Long (phường Dịch Vọng Hậu, quận Cầu Giấy) phải sống trong cảnh có nhà nhưng không có tổ dân phố, không được nhập hộ khẩu. Trẻ con không được học tại các trường trên địa bàn phường, nhiều cán bộ hưu trí hằng tháng vẫn phải mua vé ôtô về tận Thái Bình, Nam Định chỉ để lĩnh lương hưu. Tất cả những rắc rối này là do sai phạm của chủ đầu tư vẫn chưa được xử lý.

Biến KTX thành chung cư để kinh doanh

Theo những văn bản chúng tôi có được, Công ty CP Đầu tư xây dựng Thăng Long được UBND TP chấp thuận cho làm chủ đầu tư tổ chức nghiên cứu, lập và thực hiện dự án xây dựng ký túc xá sinh viên tại Hà Nội từ năm 2008, với tổng mức đầu tư khoảng hơn 34,4 tỷ đồng, diện tích gần 11.000m2 tại phường Dịch Vọng Hậu (Cầu Giấy). Từ một công trình ký túc xá cho sinh viên, trong quá trình triển khai, không hiểu vì lý do gì, Công ty CP Đầu tư xây dựng Thăng Long lại đột nhiên huy động vốn của người dân có con em theo học tại các trường đại học tại Hà Nội.

Báo cáo của Công ty Thăng Long cho thấy, toàn bộ khu KTX sinh viên có 249 căn hộ thì 56 căn hộ cho sinh viên thuê, 193 căn hộ làm nhà ở cho các hộ gia đình. Công ty này cũng giải thích việc huy động vốn của người dân là do trong quá trình triển khai, Công ty đã ký hợp đồng vay vốn của Tổng Công ty Bảo hiểm Việt Nam để đầu tư xây dựng.

Nhưng đến tháng 6/2002, Bảo Việt không tham gia dự án nữa và không cấp tín dụng. Công ty CP Đầu tư Thăng Long đã quyết định huy động vốn góp của nhân dân có con em theo học tại các trường đại học ở Hà Nội và liên kết với chủ đầu tư thứ phát là Công ty Sông Đà 1 để có thể tiếp tục thực hiện dự án.

Nhìn vào số căn hộ được bán có thể thấy Công ty Thăng Long đã không thực hiện đúng mục đích của dự án tại Quyết định cho phép đầu tư số 6994 và mục đích sử dụng đất tại Quyết định giao đất số 1378 của UBND TP Hà Nội.

Trước những bức xúc của dư luận, Sở Tài nguyên – Môi trường và Nhà đất Hà Nội đã kiểm tra và kết luận Công ty CP Đầu tư Thăng Long đã có sai phạm nghiêm trọng từ việc tổ chức thành lập và pháp nhân của đơn vị xin giao đất, việc huy động các nguồn vốn thực hiện dự án, việc chính thức khai thác, sử dụng công trình theo quy hoạch và dự án đầu tư được phê duyệt, tổng số nguồn vốn đầu tư.

Continue reading

QUYỀN NHÂN THÂN CỦA CÁ NHÂN: ẢNH MINH HỌA HAY … ẢNH GÂY HỌA?

PHẠM KHẢI

Hiện nay, do sự phát triển của khoa học kỹ thuật, để sở hữu một chiếc máy ảnh chẳng khó khăn gì. Và việc sử dụng chúng cũng thật dễ dàng. Thành thử, nhiều "nghệ sĩ vườn" đã tận dụng mọi cơ hội để thu vào ống kính của mình tất cả những hình ảnh ngộ nghĩnh, kể cả những cảnh huống "đời thường" nhất (và không lấy gì làm "thuận mắt") của các nhân vật nổi tiếng mà họ có dịp tiếp xúc.

Ngày 19/2 vừa qua, trên trang web của mình, nhà thơ Lê Thiếu Nhơn đã có bài phê phán việc tác nghiệp của một tờ báo. Trong lời vào đề, Lê Thiếu Nhơn cho biết: Anh không hiểu tại sao một tờ báo (có trụ sở ở Hà Nội – NV), trong số ra ngày 13/2, bên cạnh bài viết về Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam Hữu Thỉnh, đã cho in kèm một bức ảnh minh họa mà anh cho là "cực kỳ quái gở". Đó là tấm ảnh nhà thơ Hữu Thỉnh đang "lấp ló sau cánh cửa một cách phản cảm" (chữ của Lê Thiếu Nhơn).

Vì Lê Thiếu Nhơn chụp lại cả trang báo, nên bạn đọc có thể dễ dàng nhận thấy, ngoài bức ảnh "lấp ló" nhắc tới trên, còn có bức ảnh ghi lại cảnh vị Chủ tịch Hội Nhà văn đang cầm điện thoại trò chuyện vui vẻ với ai đó. Rõ ràng, đây là một cách dùng ảnh không hề… bình thường (nói như Lê Thiếu Nhơn là "ác ý"), bởi nó có thể tạo cho người đọc những suy diễn rất… không hay. Theo chủ nhân của trang web thì đây là một hành vi "bôi nhọ công dân".

Người viết bài này hoàn toàn tán thành quan điểm của nhà thơ Lê Thiếu Nhơn, tuy nhiên, vì dụng ý của người sử dụng bức ảnh là quá rõ, nên ở đây, tôi xin không bàn về họ, mà muốn nói tới tác giả của bức ảnh.

Đúng như Lê Thiếu Nhơn nhận xét, phải là "người gần gũi" với nhân vật mới có thể chụp được tấm hình này. Vậy câu hỏi đặt ra là, dụng ý của người chụp khi bấm máy là gì? Vì "nghệ thuật" thì không phải rồi. Còn để sử dụng theo kiểu "minh họa" thì thực chất, họ định "minh họa" điều gì ở đây? Rõ ràng, không thể xem việc chụp bức ảnh này là… vô tư.

Từ câu chuyện trên, tôi lại nhớ tới một đôi trường hợp không vui mà mình từng chứng kiến trong dịp tham dự Đại hội Nhà văn Việt Nam lần thứ VII: Khi các nhà văn đứng sắp hàng chụp ảnh lưu niệm trước cửa Hội trường Ba Đình, một nữ thi sĩ từ xa chạy tới để kịp chụp chung với mọi người, do đi guốc cao nên chị bị vấp, ngã sõng soài trên nền gạch.

Continue reading

HƠN MỘT THÁNG NGHỊ ĐỊNH CHỐNG THƯ RÁC CÓ HIỆU LỰC: TIN RÁC VÔ TƯ HOÀNH HÀNH

MINH LÝ

Nghị định số 90 về chống thư rác có hiệu lực từ 9.2. 2009, những người dùng Intenet, điện thoại di động tưởng đã tránh được sự phiền toái từ những tin nhắn quảng cáo không rõ nguồn gốc… nhưng theo phản ánh thì những loại tin này vẫn mặc sức hoành hành, thậm chí với số lượng nhiều hơn.

Tin rác tràn lan

Theo Nghị định 90, tất cả các nhà cung cấp dịch vụ nội dung từ ngày 9.2 khi nhắn tin quảng cáo qua di động đều phải được gắn nhãn quảng cáo rõ ràng và phải cung cấp đầy đủ các loại hình từ chối bằng tin nhắn, số điện thoại cho người nhận.

Trong đó, theo quy định của nghị định và Thông tư 12 của Bộ Thông tin và Truyền thông, các nhà cung cấp dịch vụ nội dung sẽ phải đăng ký với Trung tâm ứng cứu khẩn cấp máy tính Việt Nam (VNCERT) thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông, là đơn vị quản lý để được cấp mã số, gắn nhãn quảng cáo và các quy định trên SMS quảng cáo. Trong đó, nội dung tin nhắn rác cũng được "nâng cấp", khi không chỉ dừng lại ở quảng cáo dịch vụ, sản phẩm mà còn tập trung vào chuyện xem bói qua ngày tháng năm sinh, chuyện giới tính, hình ảnh sex… Những tin nhắn kiểu như: Tặng bạn 5 hình nén + 5 nhạc chương trình HOT miễn phí, soạn SPRSP gửi 8xxx; tặng bạn 10 người đẹp Bikini nóng bỏng và quyến rũ, soạn: TDT 125 gửi 8xxx… hàng ngày vẫn được "xả" vào các số điện thoại di động, gây bực bội cho người dùng. Tình trạng tin nhắn quảng cáo không có trách nhiệm, không phù hợp với thuần phong mỹ tục, thậm chí lừa đảo thực tế vẫn đang khá phổ biến, một lãnh đạo của VNCERT cho biết. Theo ông Đỗ Ngọc Duy Trác, Trưởng phòng nghiệp vụ VNCERT, ngay sau ngày 9.2.2009, VNCERT đã nhận được nhiều công văn của các nhà cung cấp dịch vụ nội dung gửi đến đề nghị được cung cấp mã số quản lý, tuy nhiên nhiều doanh nghiệp bị từ chối do chưa đủ điều kiện hợp lệ, một số còn lại vẫn trong quá trình thẩm định. Chính vì thế, theo VNCERT, đến thời điểm này mới chỉ có Công ty Cổ phần Truyền thông GAPIT đã được cấp mã số, còn lại tổng số hơn 160 nhà cung cấp dịch vụ và nội dung, nếu thực hiện gửi tin nhắn quảng cáo đều vi phạm Nghị định 90. Căn cứ theo nghị định sẽ có những hình thức xử phạt thích đáng, thậm chí thu hồi đầu số. "Đến thời điểm này có thể khẳng định doanh nghiệp nào chưa có mã số quản lý phải dừng ngay việc quảng cáo tự do qua tin nhắn SMS, vì hầu hết tin nhắn quảng cáo hiện nay đều vi phạm Nghị định chống thư rác", TS Vũ Quốc Khánh, Giám đốc VNCERT, cho biết.

Continue reading

NHÌN NHẬN VỀ DỰ LUẬT TIẾP CẬN THÔNG TIN

PGS.TS. PHẠM DUY NGHĨA

“Dân biết, dân bàn, dân kiểm tra” là một chủ trương thường được nhắc tới trong nhiều văn kiện chính trị bàn về dân quyền ở Việt Nam. Để giúp người dân biết chính quyền đã và đang làm gì, một đạo luật về tự do thông tin đang được Bộ Tư pháp chủ trì soạn thảo. Người ta đã cho dịch và xuất bản các văn kiện pháp lý quốc tế và các đạo luật về tự do thông tin từ nhiều quốc gia trên thế giới, bước đầu xây dựng được một bản đề cương với 32 điều làm tư liệu thảo luận về dự luật này. Bài viết dưới đây góp phần nhìn nhận về nhu cầu, giới hạn và những tác động khả dĩ có được của dự luật này từ góc độ bảo vệ dân quyền.

Một đạo luật cần cho người dân, báo chí và chính quyền

Báo giới Việt Nam thường ráng né nhiều vấn đề được cho là nhạy cảm, song trên thực tế những vấn đề đó nếu được bàn luận tự do chưa chắc đã được số đông người dân quan tâm. Bình dân quan tâm đến việc an sinh thường ngày. Công việc, thu nhập, học hành, sức khoẻ và mọi sự tiện lợi trong giao lưu xã hội là những ưu tiên hàng đầu. Trong giao tiếp với chính quyền, người ta mong được đối xử công bằng và rõ ràng. Sự bất bình của dân chúng thường khởi nguồn từ những đối xử của chính quyền mà họ cảm thấy bất công. Thu hồi và sử dụng đất không đúng mục đích, đền bù không thoả đáng cho đất bị thu hồi, không được tạo việc làm và cơ hội chuyển nghề, sự bất lực của chính quyền trước ùn tắc giao thông, ô nhiễm môi trường và các bất an khác trong xã hội… thường là những mồi lửa tạo nên bất bình. Tích tụ lâu ngày, mồi lửa nhỏ cũng tạo nên đám cháy. Động loạn lớn đôi khi có nguyên căn từ vô cảm của chính quyền trước những lo toan nho nhỏ của người dân.
Tự do thông tin tốt cho người dân, báo giới và chính quyền: Một đạo luật bảo đảm quyền tự do thông tin của người dân nếu được ban hành sẽ giúp báo giới tự tin hơn khi khai thác quyền được biết, quyền được nói của người dân. Có biết, có dám tranh luận, rồi một ngày người dân mới học cách tập hợp lực lượng để phản biện lại, một cách hoà bình và văn minh, các chính sách của chính quyền khi cần thiết. Đạo luật này cũng giúp quan chức hành chính tự tin hơn khi tiết lộ thông tin cho dân chúng mà không sợ vi phạm các nghĩa vụ bảo mật. Thêm nữa, có được sự hiểu biết và thông cảm từ phía người dân các chính sách của Nhà nước cũng dễ thực hiện hơn. Tăng tự do thông tin cho người dân cũng nghĩa là tăng sức đề kháng, tăng cường ổn định, làm trong sạch, giúp bảo vệ chính quyền.

Continue reading

NHỮNG NẺO ĐƯỜNG LẮT LÉO CỦA . . . THỤ TINH ỐNG NGHIỆM

LÝ MẠC

Với những cặp vợ chồng hiếm muộn, thụ tinh trong ống nghiệm (TTON) là cứu cánh cho họ, đem lại niềm vui làm mẹ, làm cha chính đáng trong cuộc đời con người. Tuy nhiên, khi công nghệ càng cao, có thể can thiệp vào cuộc sống của con người thì cùng với đó lại nảy ra những mặt trái ngoài ý muốn, ngoài pháp luật cũng như phi nhân đạo.

Tuổi cao thì… xuất ngoại

Theo luật pháp Việt Nam, các trường hợp làm TTON thì qui định của người phụ nữ phải dưới 45 tuổi. Thực tế cho thấy những vướng mắc mà các bệnh viện hay gặp nhiều nhất chính là tuổi tác của người phụ nữ: do lập gia đình trễ, do tái hôn, do không biết đến phương pháp TTON hoặc ngại ngần khi nhờ đến phương pháp này… Vì thế khi tìm đến với TTON, có rất nhiều phụ nữ đã qua ngưỡng 45 tuổi và bị từ chối cho dù ước nguyện và tình cảnh của họ là chính đáng.

Thế nên nhiều phụ nữ đã chọn giải pháp "xuất ngoại" để thực hiện TTON. Ở một số nước trong khu vực như Singapore, Thái Lan hay xa hơn là Mỹ thì các qui định về tuổi tác "thoáng" hơn, thậm chí không cần giới hạn tuổi, miễn là cơ thể người phụ nữ còn cho phép việc tiến hành TTON (còn noãn và sức khỏe đủ để mang thai).

Theo thống kê, kể từ em bé TTON đầu tiên ra đời năm 1998 đến nay, thì cả nước đã có hơn 4.000 em bé sinh ra từ phương pháp này với nhu cầu tăng hàng năm từ 10/15%. Đó là chưa tính nhiều trường hợp sử dụng phương pháp này tại nước ngoài. Giờ đây, những người nghi ngờ về khả năng của công nghệ  TTON giờ gần như là thiểu số.

Tuy nhiên, qui định không phải là không có cơ sở. Theo các bác sĩ, thành công hay thất bại của một chu kỳ thụ tinh trong ống nghiệm phụ thuộc nhiều yếu tố, chủ yếu là chất lượng của trứng, phôi và sự chấp nhận của nội mạc tử cung với phôi làm tổ.

Ngoài việc tỷ lệ thành công khi làm TTON với những người phụ nữ cao tuổi là rất thấp, thì việc đặt thành công một ca TTON chỉ mới là một chặng đường. Sản phụ còn phải đối mặt với các vấn đề về sức khỏe, những rủi ro trong quá trình mang thai kéo dài trên dưới 40 tuần. Chưa kể, người cao tuổi còn tiềm ẩn rất nhiều bệnh tật mà khi mang thai mới phát hiện ra: tiểu đường, tim, cao huyết áp, sản giật, nhiễm độc thai nghén, nhiễm độc ối v.v…

Continue reading

QUY ĐỊNH HƯỚNG DẪN TƯ VẤN, KIỂM TRA SỨC KHỎE CHO NGƯỜI HIẾN MÔ, BỘ PHẬN CƠ THỂ Ở NGƯỜI SỐNG; HIẾN MÔ, BỘ PHẬN CƠ THỂ Ở NGƯỜI SAU KHI CHẾT VÀ NGƯỜI HIẾN XÁC

QUY ĐỊNH

HƯỚNG DẪN TƯ VẤN, KIỂM TRA SỨC KHỎE CHO NGƯỜI HIẾN MÔ, BỘ PHẬN CƠ THỂ Ở NGƯỜI SỐNG; HIẾN MÔ, BỘ PHẬN CƠ THỂ Ở NGƯỜI SAU KHI CHẾT VÀ NGƯỜI HIẾN XÁC
(Ban hành kèm theo Quyết định số 13/2008/QĐ-BYT ngày 12 tháng 03 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Y tế)

I. QUY ĐỊNH CHUNG

1. Người đăng ký hiến mô, bộ phận cơ thể ở người sống; hiến mô, bộ phận cơ thể ở người sau khi chết và người hiến xác phải được tư vấn về các thông tin liên quan đến hiến, lấy mô, bộ phận cơ thể người và hiến xác.

2. Người đăng ký hiến mô, bộ phận cơ thể ở người sống; hiến mô, bộ phận cơ thể ở người sau khi chết được kiểm tra sức khỏe sau khi đăng ký hiến.

3. Người đăng ký hiến mô, bộ phận cơ thể ở người sống được kiểm tra các thông số sinh học trước khi tiến hành lấy mô, bộ phận cơ thể.

4. Việc tư vấn có thể thực hiện một lần hay nhiều lần nếu người hiến có yêu cầu được tư vấn rõ hơn về nội dung cụ thể.

5. Kinh phí cho hoạt động tư vấn và kiểm tra sức khỏe cho người đăng ký hiến mô, bộ phận cơ thể ở người sống; hiến mô, bộ phận cơ thể ở người sau khi chết và người hiến xác do giám đốc cơ sở y tế bố trí trong nguồn kinh phí của đơn vị.

II. HƯỚNG DẪN TƯ VẤN

1. Mục đích, yêu cầu của tư vấn

a) Xác định tính tự nguyện của bản thân người đăng ký hiến mô, bộ phận cơ thể người sống; hiến mô, bộ phận cơ thể ở người sau khi chết và người hiến xác;

b) Xác định mục đích của việc hiến mô, bộ phận cơ thể ở người sống; hiến mô, bộ phận cơ thể ở người sau khi chết và hiến xác: vì mục đích nhân đạo, chữa bệnh, giảng dạy, nghiên cứu khoa học, hay vì mục đích nào khác;

c) Giải thích sự ảnh hưởng về sức khỏe, tâm lý có thể xảy ra ở người sau khi hiến mô, bộ phận cơ thể ở người sống;

d) Khẳng định quyền lợi của người đã hiến mô, bộ phận cơ thể người.

2. Nguyên tắc chung của tư vấn

a) Người tư vấn phải trực tiếp gặp người đăng ký hiến để tư vấn;

b) Bảo đảm tính bí mật;

c) Tư vấn tại không gian thuận lợi, tạo sự thoải mái, tin cậy giữa người tư vấn và người được tư vấn;

d) Sử dụng ngôn ngữ phù hợp, đơn giản, dễ hiểu;

đ) Hạn chế dùng các từ ngữ, thuật ngữ chuyên môn đối với người được tư vấn không phải là cán bộ y tế;

e) Người tư vấn biết lắng nghe, quan tâm và thấu hiểu ý kiến của người được tư vấn.

3. Quy trình tư vấn cho người khi đăng ký hiến mô, bộ phận cơ thể ở người sống; hiến mô, bộ phận cơ thể ở người sau khi chết; người đăng ký hiến xác

Continue reading

VẤN ĐỀ VIỆT KIỀU

image NGUYỄN NGỌC GIAO

Đt vấn đề

Cách đây 3 tháng (năm 2005 – Civillawinfor), báo Thanh Niên đưa tin về cái chết của bà Lê Thị Trúc, một người Việt Nam mang hộ chiếu Việt Nam và thẻ thường trú tại Mỹ. Bà Trúc bị ung thư nặng, và trong chuyến về nước vừa qua, đã từ trần ngày 11-4-2005. Như ta biết, bình thường, do điều kiện khí hậu và theo quy định của nhà nước, lễ mai táng hoặc hoả táng được tổ chức trong vòng 2 ngày sau ngày từ trần. Trong trường hợp bà Trúc, thân nhân phải mất nhiều thời gian hơn để xin được giấy khai tử và giấy phép hoả táng. Đó cũng là điều dễ hiểu. Sở dĩ tờ báo nói tới việc này là vì, sau khi gia đình đã trình đủ các giấy tờ trên, thì cho đến trưa ngày 18-7, một tuần sau khi bà Trúc từ trần, trung tâm hoả táng vẫn chưa tiến hành cuộc hoả táng : họ cần thêm một “công hàm ngoại giao” của tổng lãnh sự quán Mỹ tại Thành phố Hồ Chí Minh. Cuối cùng, thì buổi chiều 18-7 mọi việc đã tiến hành suôn sẻ, nhờ sự giúp đỡ và can thiệp khẩn trương của báo Thanh Niên, Sở Tư pháp TP, Uỷ ban nhân dân Thành phố, và Phòng xuất nhập cảnh Công an Thành phố. Phòng Quản lý xuất nhập cảnh Công an TP đã cử cán bộ đến trung tâm hoả táng “giải thích rằng bà Trúc là người Việt Nam định cư tại nước ngoài nên chỉ cần có giấy phép cho mai táng là có thể thiêu xác bà chứ không cần phải có công hàm ngoại giao” (Thanh Niên,22-4-2005).

Tôi muốn mở đầu bài tham luận về “vấn đề Việt kiều” bằng câu chuyện trên, không phải vì muốn “ bi kịch hoá vấn đề ”: sinh tử bệnh lão là chuyện tự nhiên của cuộc sống, cái chết của bà Trúc có lẽ cũng sẽ trở thành một trường hợp phổ biến, điều tôi muốn tìm hiểu là sự trục trặc trong 7 ngày đêm sau cái chết của bà. Rõ ràng ở đây không có sự phiền hà, lạm dụng quyền lực hay sự khiếm khuyết của pháp luật để tham nhũng. Ngược lại, qua thông tin của bài báo – và tiên thiên, không thấy có lí do để hoài nghi độ trung thực – chúng ta thấy rõ là trong trường hợp cụ thể này, chính quyền địa phương ở các cấp, từ thành phố xuống xã, ở các ban ngành – tư pháp, công an – đều đã tích cực tìm cách giải quyết và phối hợp hành động để giải quyết. Và sự chần chừ của trung tâm hoả thiêu không xuất phát từ ý muốn làm khó dễ, mà do không muốn để xảy ra chuyện khó dễ về sau này, trong trường hợp có người – nhất là “người ngoài” – đặt câu hỏi : tại sao lại hoả táng một “người nước ngoài” mà không có “công hàm ngoại giao” ? Vậy thì sự trục trặc này từ đâu mà ra ? tại sao nó xảy ra ?

Tôi thấy có hai loại nguyên nhân. Loại thứ nhất : các quy định pháp luật và hành chính chưa đầy đủ, thiếu nhất quán, và cố nhiên chưa theo kịp những chủ trương đề ra trong các nghị quyết (thí dụ Nghị quyết 36 mà chúng ta nghe nói nhiều từ hơn một năm nay). Trên báo chí và trong nhiều cuộc hội nghị, gặp gỡ, nhiều Việt kiều, nhất là những anh chị có dịp về làm việc nhiều và lâu, cũng như những anh chị đã hồi hương, và, nhiều cán bộ các cơ quan hữu quan – trong đó có Uỷ ban về người Việt Nam ở nước ngoài – đã đóng góp nhiều ý kiến nhằm nhanh chóng vượt qua giai đoạn “nghị quyết vẫn chỉ là nghị quyết”, “luật vẫn chỉ là luật”…

Continue reading

GIỚI THIỆU VỀ LUẬT QUỐC TỊCH NĂM 2008

I. SỰ CẦN THIẾT SỬA ĐỔI LUẬT QUỐC TỊCH VIIỆT NAM NĂM 1998

Luật quốc tịch Việt Nam hiện hành được Quốc hội khoá X nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 20/5/1998 tại kỳ họp thứ 3 (sau đây gọi là Luật quốc tịch 1998) là bước tiến quan trọng trong việc hoàn thiện pháp luật về quốc tịch của Nhà nước ta. Luật quốc tịch 1998 đã điều chỉnh tương đối toàn diện các quan hệ xã hội trong lĩnh vực quốc tịch như: quyền của cá nhân đối với quốc tịch, nguyên tắc một quốc tịch, hạn chế tình trạng không quốc tịch, quốc tịch của vợ và chồng, các căn cứ xác định người có quốc tịch Việt Nam, mất quốc tịch Việt Nam, thay đổi quốc tịch của người chưa thành niên và của con nuôi; thẩm quyền và thủ tục giải quyết các vấn đề về quốc tịch. Sau hơn 9 năm thực hiện, Luật quốc tịch 1998 đã thực sự đi vào cuộc sống, phát huy vai trò là cơ sở pháp lý quan trọng trong việc xác định người có quốc tịch Việt Nam, cho nhập, cho thôi, cho trở lại quốc tịch Việt Nam, thực hiện chính sách bảo hộ của Nhà nước ta đối với công dân Việt Nam ở nước ngoài… Luật quốc tịch 1998 đã góp phần quan trọng vào việc hình thành mối quan hệ gắn bó giữa công dân Việt Nam với Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Tuy nhiên, Luật quốc tịch 1998 cũng đã bộc lộ một số điểm hạn chế, bất cập sau đây:

Một là, nguyên tắc một quốc tịch quy định tại Điều 3 là cứng nhắc, bất cập so với yêu cầu hội nhập quốc tế, chưa thật phù hợp với nguyện vọng của kiều bào ta ở nước ngoài và thực sự khó khăn trong triển khai thực hiện trên thực tế.

Nguyên tắc một quốc tịch được quy định tại Điều 3 Luật quốc tịch 1998: “Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam công nhận công dân Việt Nam có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam”. Tuy nhiên, do thiếu cơ chế bảo đảm thực hiện nguyên tắc này (cơ chế đương nhiên mất quốc tịch Việt Nam khi đương sự chọn hoặc nhập quốc tịch nước ngoài) nên trên thực tế đã nảy sinh hệ quả là công dân Việt Nam định cư ở một số nước mà ở đó khi nhập quốc tịch pháp luật của nước sở tại không bắt buộc phải thôi quốc tịch Việt Nam dẫn đến một số lượng khá đông người Việt Nam định cư ở nước ngoài rơi vào tình trạng vừa có quốc tịch nước sở tại, vừa có quốc tịch Việt Nam. Thêm vào đó, trong khi Việt Nam quy định nguyên tắc xác định quốc tịch theo huyết thống thì luật quốc tịch một số nước lại xác định quốc tịch theo nơi sinh, sự xung đột pháp lý này cũng là lý do làm tăng thêm số người Việt Nam định cư ở nước ngoài có hai hay nhiều quốc tịch. Vì vậy, sự cứng nhắc của nguyên tắc một quốc tịch trong Luật quốc tịch 1998 đã làm cho các cơ quan nhà nước Việt Nam gặp nhiều khó khăn, lúng túng, thậm chí bị bó tay khi giải quyết các vụ việc cụ thể có liên quan đến quốc tịch.

Hơn nữa, nguyên tắc một quốc tịch theo Luật quốc tịch 1998 thực sự chưa phản ánh đúng nguyện vọng của người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Đại đa số kiều bào ta dù phải rời Tổ quốc do các hoàn cảnh khác nhau, nhưng vẫn có nguyện vọng thiết tha được gắn bó với quê hương nên không muốn bị mất quốc tịch Việt Nam khi nhập quốc tịch nước sở tại.

Từ những vấn đề đã nêu ở trên, yêu cầu bức xúc đặt ra là cần phải cân nhắc sửa đổi nguyên tắc một quốc tịch được quy định tại Điều 3 Luật quốc tịch 1998 cho phù hợp với tình hình thực tế.

Continue reading