NÊN GIỚI HẠN THỜI GIAN KIỂM TRA VIỆC CHẤP HÀNH PHÁP LUẬT VỀ CƯ TRÚ CỦA CÔNG DÂN

XUÂN VIỄN

Pháp luật về cư trú của công dân là quy định bắt buộc và cần thiết nhằm phục vụ có hiệu quả công tác quản lý hộ khẩu, nhân khẩu của cơ quan công an. Liên quan đến vấn đề này, Nhà nước đã ban hành rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật. Tuy nhiên, các văn bản pháp luật có liên quan đến việc quản lý hộ khẩu, nhân khẩu, cư trú của công dân đều chưa có quy định cụ thể về giới hạn thời gian kiểm tra việc chấp hành pháp luật về cư trú của cá nhân, cơ quan có thẩm quyền.

Theo quy định tại điều 46 của Bộ Luật dân sự và Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì cá nhân có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở. Tổ chức, cá nhân muốn vào chỗ ở của người khác thì phải có sự đồng ý của người đó. Chỉ trong trường hợp được pháp luật quy định và phải có quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền mới được tiến hành khám xét chỗ ở của người khác và phải tuân theo trình tự, thủ tục quy định của pháp luật. Theo Thông tư số 06/2007/TT-BCA-C11 thì cán bộ, chiến sỹ công an nhân dân có thẩm quyền quản lý vấn đề liên quan đến cư trú tại địa bàn đảm nhận. Như vậy, căn cứ theo quy định hiện hành, cán bộ, chiến sỹ công an nhân dân cấp phường, thị trấn, trưởng công an xã có thẩm quyền kiểm tra trực tiếp việc chấp hành pháp luật về cư trú đối với công dân, hộ gia đình, tổ chức thuộc địa bàn quản lý theo thời gian định kỳ, đột xuất, hoặc do yêu cầu của công tác phòng chống tội phạm. Có nghĩa là pháp luật không giới hạn về thời gian kiểm tra, cơ quan chức năng có thể kiểm tra việc chấp hành pháp luật về cư trú của công dân bất cứ lúc nào. Trong thực tế, cũng có  những đợt kiểm tra việc chấp hành pháp luật về nhân khẩu, hộ khẩu của cơ quan có thẩm quyền tiến hành vào đêm khuya, làm ảnh hưởng đến sinh hoạt người dân.

Nếu chỉ kiểm tra việc chấp hành pháp luật về cư trú liên quan đến vấn đề đăng ký thường trú, tạm trú thì cơ quan có thẩm quyền hoàn toàn có thể tiến hành trong một khoảng thời gian nhất định (có thể quy định trước 22 giờ). Trong trường hợp liên quan đến yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm hoặc những trường hợp đặc biệt khác pháp luật mới không giới hạn về thời gian. Hiện nay, việc kiểm tra chấp hành pháp luật về cư trú vào bất kỳ thời điểm nào như quy định hiện hành là chưa hợp lý. Nên quy định một số trường hợp "đặc biệt" mới giao thẩm quyền kiểm tra bất kỳ cho các cá nhân, tổ chức.

Continue reading

HỘ KHẨU VÀ QUYỀN LAO ĐỘNG

NGUYỄN QUANG A

Năm 2006 khi thảo luận về Luật Cư trú, nhiều người trong đó có người viết những dòng này, đã đề nghị bãi bỏ chế độ hộ khẩu vì nó ảnh hưởng xấu đến thị trường lao động, gây ra sự phân biệt đối xử, vi phạm Hiến pháp, vi phạm các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã long trọng ký kết, nhưng các quy định hạn chế quyền cư trú phổ quát mà cụ thể là chế độ hộ khẩu vẫn được thông qua.

Theo đó, để được đăng ký thường trú ở thành phố công dân phải chứng minh mình có chỗ ở hợp pháp và đã tạm trú liên tục từ 1 năm trở lên.

Ngay cả quy định trên của Luật Cư trú cũng nên được xem xét lại theo hướng huỷ bỏ, thế mà Dự thảo Luật Thủ đô dự kiến sẽ được trình Quốc hội trong năm nay lại đi ngược lại hướng đó, thậm chí còn quy định khắt khe hơn: thay cho "1 năm trở lên" dự thảo lại quy định thời gian tạm trú là "5 năm trở lên". Dự thảo đã dấy lên nhiều ý kiến phản đối.

Đây là điều không thể chấp nhận được, không chỉ vì nó vi phạm các quyền cơ bản của con người, vi phạm Hiến pháp, vi phạm bản thân Luật Cư trú (hay những người soạn thảo hiểu "từ 1 năm trở lên" có thể là 5, 10 hay 50 năm trở lên cũng hợp luật?)  mà cũng bởi vì nó không phục vụ cho sự phát triển của chính Thủ đô, nó cản trở sự linh động của thị trường lao động, cản trở sự phát triển kinh tế-xã hội của Thủ đô và đất nước.

Tuy nhiên, nó tạo quyền cho những người quản lý. Đừng thấy khó quản lý thì tìm cách cấm. Đó là cách hành xử của những người không có năng lực, hay của những người bị lợi ích nhóm chi phối.

Người ta thường hay vin cớ "an ninh" để giữ chế độ hộ khẩu, chế độ khai báo. Việc đó cũng chẳng khác gì việc: vì một số người mắc bệnh hiểm nghèo mà bắt toàn dân phải uống thuốc đặc trị, vừa tốn phí nguồn lực quốc gia, vừa gây phiền hà cho người dân và thậm chí gây nguy hiểm cho họ. Có các cách quản lý khác hữu hiệu hơn nhiều.

Continue reading

QUI ĐỊNH BỔ SUNG HỘ TỊCH CẦN ĐƯỢC ÁP DỤNG THÔNG NHẤT

NGUYỄN THANH

So với Nghị định 83 (Nghị định 83/1998/NĐ-CP ngày 10/10/1998 của chính phủ về việc đăng ký hộ tịch – Civillawinfor) trước đây, các quy định về điều chỉnh, bổ sung hộ tịch ngày càng thông thoáng hơn. Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng, các cơ quan có thẩm quyền chưa thực hiện thống nhất, dẫn đến khó khăn cho người dân khi có yêu cầu đăng ký hộ tịch.

Sai, khi ra quyết định bổ sung hộ tịch

Nghị định 158 (Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngyaf 27/12/2005 của Chính phủ về việc đăng ký và quản lý hộ tịch – Civillawinfor) quy định rõ: UBND cấp xã, nơi đã đăng ký khai sinh trước đây, hay UBND cấp huyện mà trong địa hạt của huyện đó đương sự đã đăng ký khai sinh trước đây có thẩm quyền giải quyết bổ sung hộ tịch cho mọi trường hợp, không phân biệt độ tuổi. Theo quy định, người yêu cầu bổ sung hộ tịch phải nộp Tờ khai (theo mẫu quy định), xuất trình bản chính Giấy khai sinh của người cần bổ sung hộ tịch và các giấy tờ liên quan để làm căn cứ cho việc bổ sung hộ tịch. Việc bổ sung hộ tịch được giải quyết ngay sau khi nhận đủ giấy tờ hợp lệ. Nội dung bổ sung được ghi trực tiếp vào những cột, mục tương ứng trong Sổ đăng ký khai sinh và bản chính Giấy khai sinh. Cán bộ Tư pháp hộ tịch đóng dấu vào phần ghi bổ sung. Cột ghi chú của Sổ đăng ký khai sinh và mặt sau của bản chính Giấy khai sinh phải ghi rõ nội dung bổ sung; căn cứ ghi bổ sung; họ, tên, chữ ký của người ghi bổ sung; ngày, tháng, năm bổ sung. Cán bộ Tư pháp hộ tịch đóng dấu vào phần đã ghi bổ sung. Trường hợp nội dung Sổ đăng ký khai sinh và bản chính Giấy khai sinh trước đây không có cột mục cần ghi bổ sung, thì nội dung bổ sung được ghi vào mặt sau của bản chính Giấy khai sinh và cột ghi chú của Sổ đăng ký khai sinh. Trong trường hợp, việc đăng ký hộ tịch trước đây do UBND cấp xã thực hiện, nhưng sổ hộ tịch chỉ còn lưu tại UBND cấp huyện, thì UBND cấp huyện thực hiện việc bổ sung.  Sau khi thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, xác định lại giới tính, nội dung bổ sung hộ tịch đã được ghi vào Sổ đăng ký khai sinh, thì bản sao Giấy khai sinh từ Sổ đăng ký khai sinh sẽ ghi theo nội dung đã thay đổi, cải chính hoặc bổ sung. Như vậy, trong quy trình bổ sung hộ tịch theo Nghị định 158, cơ quan giải quyết việc bổ sung hộ tịch không phải ra bất cứ quyết định bổ sung hộ tịch nào, mà chỉ căn cứ vào các giấy tờ liên quan để làm căn cứ cho việc bổ sung hộ tịch.

Continue reading

KHÁI NIỆM VÀ PHÂN LOẠI QUYỀN NHÂN THÂN

TS. BÙI ĐĂNG HIẾU – Trường Đại học Luật Hà Nội

Điều 24 Bộ luật dân sự (BLDS) 2005 quy định: “Quyền nhân thân được quy định trong Bộ luật này là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”. Quy định này đã nêu lên khái niệm về quyền nhân thân thông qua hai đặc điểm cơ bản là: gắn liền với cá nhân, không chuyển dịch. Nếu chỉ dừng lại ở những đặc điểm đó thì khái niệm quyền nhân thân sẽ vướng phải một số bất cập nhất định sau đây.

Thứ nhất, hai đặc điểm nêu trên thực sự chưa đủ để phân biệt quyền nhân thân với các quyền dân sự khác, bởi lẽ có một số quyền tài sản cũng mang đủ hai đặc điểm này. Pháp luật hôn nhân và gia đình quy định rằng quyền được cấp dưỡng và nghĩa vụ cấp dưỡng cũng được gắn liền với những cá nhân nhất định như: giữa cha mẹ và con, giữa anh chị em với nhau, giữa ông bà và cháu, giữa vợ và chồng. Quyền yêu cầu cấp dưỡng và nghĩa vụ cấp dưỡng không thể thay thế bằng các quyền, nghĩa vụ khác và cũng “không thể chuyển giao cho người khác” (Điều 50 Luật Hôn nhân và gia đình 2000). Quyền này là quyền tài sản chứ không phải là quyền nhân thân. Điều 309 BLDS 2005 cũng quy định một số quyền tài sản không thể chuyển giao cho người khác như “quyền yêu cầu cấp dưỡng, yêu cầu bồi thường thiệt hại do xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm uy tín”. Các quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại này được phát sinh khi các quyền nhân thân của cá nhân bị xâm phạm, chúng là quyền tài sản nhưng cũng gắn liền với cá nhân người bị thiệt hại và cũng không dịch chuyển được sang cho chủ thể khác.

Thứ hai, Điều 24 BLDS 2005 quy định rằng quyền nhân thân là quyền “gắn liền với mỗi cá nhân”, vậy thì các chủ thể khác (như pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác) có các quyền nhân thân của mình không? Điều 604 và Điều 611 BLDS 2005 có đề cấp đến “danh dự, uy tín của pháp nhân, chủ thể khác”, vậy đây có được coi là quyền nhân thân của pháp nhân và các chủ thể khác không? Điều 1 Nghị quyết số 01/2004/NQ-HĐTP ngày 28/04/2004, cũng như Điều 1 Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/07/2006 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, đều quy định giống nhau rằng “Thiệt hại do tổn thất về tinh thần của pháp nhân và các chủ thể khác không phải là pháp nhân (gọi chung là tổ chức) được hiểu là do danh dự, uy tín bị xâm phạm, tổ chức đó bị giảm sút hoặc mất đi sự tín nhiệm, lòng tin … vì bị hiểu nhầm và cần phải được bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất mà tổ chức phải chịu”. Các quy định đó đều hướng tới sự thừa nhận các quyền nhân thân đối với pháp nhân và các chủ thể khác.

Continue reading

ĐĂNG KÝ HỘ TỊCH CÒN PHIỀN HÀ

NGUYỄN HUỲNH HUYỆN

Hơn 2 năm thi hành Nghị định 158 của Chính phủ, những vướng mắc phát sinh trong quá trình đăng ký và quản lý hộ tịch đã cơ bản được khắc phục. Tuy nhiên, quá trình giải quyết các thủ tục đăng ký hộ tịch cho người dân ở cơ sở vẫn nảy sinh sai sót, vướng mắc.

Trước hết là việc cấp khai sinh theo yêu cầu công dân. Theo Điều 13 của Nghị định 158 thì trách nhiệm và thẩm quyền đăng ký khai sinh cho công dân thuộc UBND cấp xã, tuy nhiên một số địa phương vẫn chưa thực hiện đúng quy định này, cụ thể vẫn còn đặt ra một số thủ tục hành chính mà luật pháp không quy định như: phải xác minh trước khi đăng ký, yêu cầu xuất trình sổ hộ khẩu, hoặc chứng minh nhân dân… Có nơi, để được thực hiện đăng ký khai sinh còn phải hoàn thành các nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước, nghĩa vụ lao động, hoặc các khoản phí và lệ phí khác của địa phương… Chính phủ, Bộ Tư pháp đã có văn bản chỉ đạo và nghiêm cấm, khi thực hiện đăng ký khai sinh, UBND cấp xã không được đặt ra một điều kiện ràng buộc nào để hạn chế quyền được khai sinh của trẻ em.

Nghị định 158 của Chính phủ còn quy định, giấy khai sinh là giấy tờ hộ tịch gốc của mỗi cá nhân. Mọi hồ sơ, giấy tờ của cá nhân có nội dung ghi về họ, tên, chữ đệm; ngày, tháng, năm sinh; giới tính; dân tộc; quốc tịch; quê quán; quan hệ cha, mẹ, con phải phù hợp với giấy khai sinh của người đó. Tuy nhiên, một số cơ quan chưa coi giấy tờ hộ tịch do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp cho cá nhân là căn cứ pháp lý xác nhận sự kiện hộ tịch của cá nhân đó. Cụ thể, theo quy định, những giấy tờ khác của công dân như hộ khẩu, chứng minh nhân dân, các chứng chỉ, bằng cấp, lý lịch… phải căn cứ vào giấy khai sinh gốc để cải sửa cho phù hợp, nhưng một số nơi, Ngành Giáo dục, Công an, Lao động, Thương binh – Xã hội… không căn cứ vào giấy khai sinh (bản chính) để cải sửa, lại hướng dẫn cho công dân làm các thủ tục khác để cải chính, gây tốn kém thời gian, không đúng quy định pháp luật.

Continue reading

THÔNG TIN ĐƯỢC TIẾP CẬN VÀ NỘI HÀM CỦA QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN

CHU THỊ THÁI HÀ – Bộ Tư pháp 

1. Thông tin được tiếp cận

1.1 Thông tin được tiếp cận theo kinh nghiệm quốc tế

Luật về quyền tiếp cận thông tin của các nước quy định về phạm vi thông tin được tiếp cận không giống nhau. Có hai cách chính quy định trong luật về phạm vi thông tin được tiếp cận, đó là: liệt kê một loạt các loại thông tin cơ quan công quyền có trách nhiệm phải công bố trong thời hạn luật định và sau đó là những thông tin miễn trừ tiết lộ (cách 1) hoặc xác định và liệt kê những loại thông tin không công khai, hạn chế, miễn trừ tiếp cận (cách 2).

Áp dụng theo cách thứ nhất:

Theo Pháp lệnh về Công khai thông tin của Cộng hoà nhân dân Trung Hoa thì phạm vi công bố thông tin là: lợi ích cốt yếu của công dân, pháp nhân hoặc tổ chức khác; các yêu cầu mở rộng kiến thức hoặc sự tham gia của công chúng; việc thành lập, nghĩa vụ hoặc các thủ tục hành chính của các cơ quan nhà nước; các thông tin khác phải được công bố theo quy định của các luật, văn bản pháp quy khác… (Điều 9 của Pháp lệnh). Ngoài ra, Pháp lệnh còn quy định danh mục các vấn đề mà chính quyền các cấp (từ cấp xã đến cấp tỉnh) có trách nhiệm cung cấp thông tin cho nhân dân, trong đó cũng phải chú trọng đến những thông tin cơ bản mà người dân quan tâm (Điều 10, Điều 11, Điều 12). Tuy nhiên, Pháp lệnh không liệt kê các thông tin không được phép tiết lộ mà chỉ quy định nguyên tắc chung tại Điều 8 là các cơ quan nhà nước không được gây tổn hại tới an ninh quốc gia, trật tự công cộng; an ninh kinh tế và sự ổn định xã hội khi công bố thông tin của chính quyền. Và cơ quan nhà nước phải thiết lập một cơ chế toàn diện để kiểm tra và bảo vệ bí mật thông tin của chính quyền trước khi công bố (Điều 14).

Continue reading

NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT TIẾP CẬN THÔNG TIN MỘT SỐ NƯỚC

TS. NGUYỄN KIM THOA – Vụ pháp luật hình sự – hành chính, Bộ Tư pháp

Tự do thông tin là một quyền cơ bản đối với mỗi con người. Quyền này cho phép và tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Đây là một sự bảo vệ quan trọng chống lại các hình thức lạm dụng, các việc làm sai trái và tham nhũng. Quyền này cũng có thể đem lại lợi ích cho các Chính phủ thông qua việc đem lại sự minh bạch và cởi mở trong các quá trình ra quyết định và qua đó cải thiện lòng tin của công chúng đối với các hoạt động của Chính phủ (1).

1. Lợi ích của việc ban hành luật tiếp cận thông tin

Đến năm 2009, đã có 86 nước trên thế giới ban hành Luật về Tiếp cận thông tin. Quốc gia đầu tiên ban hành luật liên quan đến quyền tiếp cận thông tin là Thụy Điển (năm 1766), sau đó một số nước khác cũng có đạo luật riêng như Mỹ ban hành Luật Tự do thông tin (năm 1966), Canada (1983), Hungary (1992), Anh (năm 2000), Nam Phi (năm 2000)… Ở châu á, một số nước đã ban hành luật này như Thái Lan (12/1997), Hàn Quốc (1/1998), Nhật Bản (4/2001), Ấn Độ (năm 2005), Inđônêxia, Trung Quốc, Thái Lan, Philippines… Một số quốc gia khác cũng đang trong quá trình chuẩn bị ban hành luật này hoặc ban hành nghị định riêng để điều chỉnh về vấn đề này.

Theo Báo cáo về tiếp cận thông tin trên thế giới thì việc ban hành luật về tiếp cận thông tin mang lại một số lợi ích cơ bản sau đây:

1.1. Thu hút sự tham gia của công chúng và thực hiện dân chủ

Tự do thông tin là yếu tố quan trọng trong việc thu hút sự tham gia của công chúng vào các công việc xã hội. Đồng thời, công chúng chỉ thực sự có khả năng tham gia vào các quá trình dân chủ khi họ có đầy đủ các thông tin về các chính sách và hoạt động của Chính phủ. Dân chủ là dựa trên sự đồng thuận của các công dân và sau đó Chính phủ thông báo cho các công dân về các hoạt động của mình và thừa nhận quyền của các công dân được tham gia vào các công việc của Chính phủ.

Continue reading

CẦN HƯỚNG DẪN CỤ THỂ MỨC THU LỆ PHÍ HỘ TỊCH

NGUYỄN XUÂN VIỄN

Ngày 27.12.2005, Chính phủ ban hành Nghị định số 158/2005/NĐ-CP về đăng ký và quản lý hộ tịch. Ngay sau đó, các Bộ, ngành liên quan cũng đã ban hành các Thông tư, văn bản hướng dẫn nghiệp vụ nhằm triển khai thực hiện có hiệu quả, thống nhất các công việc liên quan. Tuy nhiên, khi áp dụng Nghị định 158, một số địa phương gặp vướng mắc liên quan đến mức thu lệ phí hộ tịch.

Theo quy định tại Điều 12 về Lệ phí đăng ký hộ tịch: “Cơ quan đăng ký hộ tịch được thu lệ phí theo quy định của pháp luật, trong đó bao gồm cả chi phí cho giấy tờ, biểu mẫu hộ tịch. Mức thu, nộp, quản lý và sử dụng lệ phí đăng ký hộ tịch do Bộ Tài chính quy định”. Như vậy, ngoài chi phí cho giấy tờ, biểu mẫu hộ tịch, cơ quan tiến hành đăng ký hộ tịch được thu lệ phí theo quy định. Vướng mắc ở đây là chưa có một quy định nào thống nhất về vấn đề này. Theo Thông tư số 97/2006/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn về phí và lệ phí thuộc thẩm quyền quyết định của HĐND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì mức thu lệ phí hộ tịch thuộc thẩm quyền quyết định của HĐND cấp tỉnh. Nhưng, theo quy định tại Điều 12 của Nghị định số 158, mức thu, nộp, quản lý và sử dụng lệ phí đăng ký hộ tịch do Bộ Tài chính quy định. Theo quy định của Luật Ban hành văn bản QPPL thì phải áp dụng quy định tại Nghị định số 158 nhưng đến nay, Bộ Tài chính cũng chưa có quy định cụ thể về mức thu lệ phí đăng ký và quản lý hộ tịch theo Nghị định số 158. Trường hợp cụ thể, mức thu lệ phí đối với đăng ký khai sinh lần đầu (người đi đăng ký khai sinh yêu cầu cấp 1 bản chính và 10 bản sao), thì mức lệ phí được thu là bao nhiêu? Có ý kiến cho rằng, theo quy định hiện hành, đối với người đăng ký khai sinh lần đầu thì không thu lệ phí giấy khai sinh bản chính; thu lệ phí đối với các giấy đăng ký khai sinh bản sao. Trường hợp trên, mức thu cụ thể là: 10 tờ giấy khai sinh bản sao có giá là 5.000 đồng (theo mức giá quy định chung) cộng với khoản lệ phí mà cơ quan đăng ký hộ tịch thu cho việc cấp bản sao giấy khai sinh là 3.000/1 bản (theo quy định tại Thông tư 92/2008/TTLT-BTC-BTP Hướng dẫn về mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng lệ phí cấp bản sao, lệ phí chứng thực). Như vậy, tổng mức lệ phí người đề nghị cấp bản sao giấy khai sinh cho trường hợp trên phải trả là 35.000 đồng.

Continue reading

QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN – ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN CÁC QUYỀN CON NGƯỜI VÀ QUYỀN CÔNG DÂN

PGS.TS. THÁI VĨNH THẮNG – Đại học Luật Hà Nội

Quyền tiếp cận thông tin chính là điều kiện tiên quyết để bảo đảm thực hiện các quyền con người và quyền công dân. Trong thời đại hội nhập quốc tế và toàn cầu hoá, quyền tiếp cận thông tin đã và đang trở nên một quyền cơ bản và là một trong những quyền quan trọng nhất của con người và công dân. Việc ban hành Luật Tiếp cận thông tin đối với Việt Nam hiện nay là cần thiết và cấp bách.

1. Nội dung cơ bản của quyền tiếp cận thông tin

Quyền tiếp cận thông tin (right to access to information) là quyền của mọi công dân được tiếp cận các thông tin được ban hành và lưu giữ tại các cơ quan, tổ chức công quyền, đặc biệt là các cơ quan hành chính nhà nước. Các cơ quan công quyền nắm giữ thông tin không vì bản thân họ mà với tư cách là người bảo vệ lợi ích của công chúng. Thông tin được coi là tài sản quốc gia và cũng như mọi tài sản khác, không thể để cho một cá nhân hay tổ chức nào độc quyền chiếm đoạt nếu đó không phải là các thông tin liên quan đến bí mật quốc gia, bí mật kinh doanh, bí mật cá nhân. Quyền tiếp cận thông tin được coi là một trong những quyền cơ bản của con người và công dân. Điều 19 Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền đã khẳng định: “Mọi người có quyền tự do ngôn luận và bày tỏ ý kiến, quyền này bao gồm quyền tự do giữ quan điểm không có sự can thiệp và tự do tìm kiếm, tiếp nhận và chia sẻ các ý tưởng và thông tin bằng bất kỳ phương tiện nào mà không có biên giới”. Điều 19 Công ước quốc tế về các Quyền dân sự và chính trị năm 1966 đã quy định: “Mọi người đều có quyền giữ quan điểm của mình mà không ai được can thiệp vào. Mọi người có quyền tự do ngôn luận, quyền này bao gồm cả quyền tự do tìm kiếm, nhận và truyền đạt mọi loại tin tức, ý kiến, không phân biệt ranh giới, hình thức tuyên truyền miệng hoặc bản viết, in, hoặc bằng hình thức nghệ thuật hoặc thông qua mọi phương tiện đại chúng khác tuỳ theo sự lựa chọn của họ”. Nhận thức được tầm quan trọng của Công ước quốc tế về các Quyền dân sự và chính trị, Việt Nam đã tham gia Công ước này năm 1982.

Continue reading

THỰC TRẠNG QUỐC TỊCH CỦA NGƯỜI VIỆT NAM ĐỊNH CƯ Ở NƯỚC NGOÀI

HỘI ĐỒNG PHỐI HỢP CÔNG TÁC PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CỦA CHÍNH PHỦ

Dân cư là một trong những bộ phận cấu thành nên một quốc gia. Dân cư của một quốc gia không chỉ bao gồm công dân của nước đó mà còn có người có quốc tịch nước ngoài, người có hai hay nhiều quốc tịch và người không quốc tịch. Sở dĩ có tình trạng công dân của một nước này lại làm ăn, sinh sống ở một nước khác là do có hiện tượng di dân. Di dân không phải là một hiện tượng ngẫu nhiên mà là sản phẩm của đời sống kinh tế, xã hội, an ninh, chính trị, văn hoá trong từng thời đại. Ngày nay, di dân thế giới là hệ quả của quá trình toàn cầu hoá.

Dòng người Việt Nam di cư ra nước ngoài cũng không nằm ngoài quy luật ấy. Người Việt Nam ra nước ngoài định cư từ rất sớm (khoảng từ thế kỷ thứ XIII) do nhiều nguyên nhân khác nhau, cư trú ở những địa bàn khác nhau về địa lý và chính trị. Từ đó đã tạo nên cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài đa dạng và phức tạp.

Đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài thì vấn đề quốc tịch hết sức quan trọng. Việc họ còn hay không còn giữ quốc tịch Việt Nam cũng như đã được nhập quốc tịch nước ngoài hay chưa có ảnh hưởng trực tiếp đến địa vị pháp lý của họ.

I. Khái quát tình hình người Việt Nam định cư ở nước ngoài

Người Việt Nam định cư ở nước ngoài theo giải thích từ ngữ tại Điều 3 Luật quốc tịch Việt Nam là “công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài”. Như vậy, cộng đồng người Việt Nam định cư ở nước ngoài bao gồm cả công dân Việt Nam (những người còn quốc tịch Việt Nam) và người gốc Việt Nam (người đã từng có quốc tịch Việt Nam mà khi sinh ra quốc tịch của họ được xác định theo nguyên tắc huyết thống và con, cháu của họ). Hiện nay, có khoảng 3,4 triệu người Việt Nam định cư ở nước ngoài, cư trú ở gần 90 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, trong đó tập trung chủ yếu ở 21 nước thuộc các khu vực: Bắc Mỹ, Tây Bắc Âu, Nga và Đông Âu, Đông Nam Á, Đông Bắc Á và châu Úc. Một số khu vực khác như Nam và Tây Á, Trung Đông, Châu Phi và Nam Mỹ tuy cũng có người Việt làm ăn, sinh sống song số lượng rất ít.

Continue reading

THỰC TRẠNG QUỐC TỊCH của người Việt Nam định cư ở nước ngoài

HỘI ĐỒNG PHỐI HỢP CÔNG TÁC PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CỦA CHÍNH PHỦ

Dân cư là một trong những bộ phận cấu thành nên một quốc gia. Dân cư của một quốc gia không chỉ bao gồm công dân của nước đó mà còn có người có quốc tịch nước ngoài, người có hai hay nhiều quốc tịch và người không quốc tịch. Sở dĩ có tình trạng công dân của một nước này lại làm ăn, sinh sống ở một nước khác là do có hiện tượng di dân. Di dân không phải là một hiện tượng ngẫu nhiên mà là sản phẩm của đời sống kinh tế, xã hội, an ninh, chính trị, văn hoá trong từng thời đại. Ngày nay, di dân thế giới là hệ quả của quá trình toàn cầu hoá.

Dòng người Việt Nam di cư ra nước ngoài cũng không nằm ngoài quy luật ấy. Người Việt Nam ra nước ngoài định cư từ rất sớm (khoảng từ thế kỷ thứ XIII) do nhiều nguyên nhân khác nhau, cư trú ở những địa bàn khác nhau về địa lý và chính trị. Từ đó đã tạo nên cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài đa dạng và phức tạp.

Đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài thì vấn đề quốc tịch hết sức quan trọng. Việc họ còn hay không còn giữ quốc tịch Việt Nam cũng như đã được nhập quốc tịch nước ngoài hay chưa có ảnh hưởng trực tiếp đến địa vị pháp lý của họ.

I. Khái quát tình hình người Việt Nam định cư ở nước ngoài

Người Việt Nam định cư ở nước ngoài theo giải thích từ ngữ tại Điều 3 Luật quốc tịch Việt Nam là “công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài”. Như vậy, cộng đồng người Việt Nam định cư ở nước ngoài bao gồm cả công dân Việt Nam (những người còn quốc tịch Việt Nam) và người gốc Việt Nam (người đã từng có quốc tịch Việt Nam mà khi sinh ra quốc tịch của họ được xác định theo nguyên tắc huyết thống và con, cháu của họ). Hiện nay, có khoảng 3,4 triệu người Việt Nam định cư ở nước ngoài, cư trú ở gần 90 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, trong đó tập trung chủ yếu ở 21 nước thuộc các khu vực: Bắc Mỹ, Tây Bắc Âu, Nga và Đông Âu, Đông Nam Á, Đông Bắc Á và châu Úc. Một số khu vực khác như Nam và Tây Á, Trung Đông, Châu Phi và Nam Mỹ tuy cũng có người Việt làm ăn, sinh sống song số lượng rất ít.

Continue reading

QUYỀN ĐƯỢC LÃNG QUÊN

NGUYỄN HẢI VÂN (Pháp)

Triết gia người Đức Friedrich Nietzsche (1844-1900) cho rằng: “Nếu không biết cách quên, ta sẽ không biết được niềm hạnh phúc, không có tâm trạng vui vẻ, sự kỳ vọng, lòng tự hào và cũng không biết hiện tại là gì”.

Quyền được lãng quên là một trong các quyền chính đáng của con người, mặc dù trên thực tế chỉ có “quyền về hình ảnh cá nhân” là được pháp luật quy định rõ ràng trên giấy trắng mực đen. Việc tìm hiểu về tư duy pháp lý của hai thứ quyền tạm gọi là quyền được lãng quên dành cho kẻ thủ ác và quyền được lãng quên dành cho người bị hại, cho phép suy nghĩ thêm về thái độ hành xử khi đối diện với nỗi đau, sự bất hạnh của đồng loại.

Quyền được lãng quên dành cho kẻ thủ ác

Quyền được lãng quên là một thuật ngữ không chính thức tồn tại trong pháp luật hình sự các nước. Tuy nhiên đó là một khái niệm có thật trong thực tiễn xét xử và thực thi pháp luật. Đó chính là quyết định xóa án tích trong lý lịch tư pháp của một người từng bị kết án căn cứ quy định tại các điều từ điều 64-67 Bộ luật hình sự.

Động tác xóa án tích ngoài ra, nhìn từ góc độ tập quán, cũng phù hợp với câu “Đánh kẻ chạy đi, không ai đánh người chạy lại”. Con người không ai tránh được một lần sai lầm trong đời. Chấp nhận cho người khác sửa sai là một chọn lựa mang tính nhân văn.

Continue reading

QUI ĐỊNH VỀ ĐIỀU KIỆN HIẾN XÁC, BỘ PHÂN CƠ THỂ NGƯỜI SAU KHI CHẾT

BÙI ĐỨC HIỂN – Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp Luật

Nhằm tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho việc lấy, ghép mô; bộ phận cơ thể và tạo nguồn cung cấp mô, tạng dồi dào phục vụ cho việc cứu chữa người bệnh và nghiên cứu khoa học, Nhà nước ta đã ban hành một số văn bản pháp luật điều chỉnh về việc hiến xác, hiến bộ phận cơ thể người mà tiêu biểu là Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể và hiến, lấy xác năm 2006, trong đó có quy định cụ thể về điều kiện hiến xác; bộ phận cơ thể khi còn sống cũng như điều kiện hiến mô, bộ phận cơ thể sau khi chết.

Tuy nhiên, thực tiễn thực hiện việc hiến, lấy ghép mô, bộ phận cơ thể cho thấy pháp luật về vấn đề này còn khá nhiều điểm bất cập, đặc biệt là trong các quy định về điều kiện hiến mô, bộ phận cơ thể sau khi chết. Chính vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện các quy định pháp luật về điều kiện hiến mô, bộ phận cơ thể sau khi chết có cân nhắc, tiếp thu kinh nghiệm nước ngoài là một nhu cầu cấp thiết.

1. Khái quát về điều kiện hiến mô, bộ phận cơ thể sau khi chết trước khi có Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể và hiến, lấy xác năm 2006

1.1 Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân năm 1989 và văn bản hướng dẫn

Theo số liệu của Bộ Y tế cho thấy, từ những năm đầu của thập kỷ 50, nước ta đã có những ca ghép mô, bộ phận cơ thể người đầu tiên như: ghép da, ghép giác mạc từ tử thi vô thừa nhận và đặc biệt vào đầu những năm 70, việc ghép gan và tim đã được thực hiện trên lợn do Giáo sư Tôn Thất Tùng và một số bác sĩ khác tiến hành (1). Tuy nhiên, thời kỳ này chưa có một băn bản pháp lý nào của Nhà nước quy định về điều kiện hiến, lấy ghép mô, bộ phận cơ thể người. Đến cuối thập niên 80 và những năm đầu thập niên 90 những ca lấy, ghép thử nghiệm thận, gan đã cho những kết quả đáng mừng. Và do nhu cầu của nhân dân về chăm sóc, bảo vệ sức khỏe ngày càng tăng, đồng thời để tạo hành lang pháp lý cho việc lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể có hiệu quả, năm 1989 Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân (Luật BVSKND) được Quốc hội thông qua. Để chủ động bảo vệ và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân, trong Luật quy định rất nhiều vấn đề về phòng ngừa bệnh, khám chữa bệnh, điều dưỡng và phục hồi chức năng… trong đó lần đầu tiên có quy định về điều kiện hiến mô, bộ phận cơ thể người: “1, Thầy thuốc chỉ tiến hành lấy mô hoặc bộ phận của cơ thể người sống hay người chết dùng vào mục đích y tế sau khi đã được sự đồng ý của người cho, của thân nhân người chết hoặc người chết có di chúc để lại. 2, Việc ghép mô hoặc một bộ phận cho cơ thể người bệnh phải được sự đồng ý của người bệnh hoặc thân nhân hay người giám hộ của người bệnh chưa thành niên…” (2).

Continue reading

QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN: QUI ĐỊNH QUỐC TẾ VÀ ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA LUẬT MỘT SỐ NƯỚC

TS. TƯỜNG DUY KIÊN

Quyền tiếp cận thông tin hay quyền được thông tin là quyền cơ bản của con người, đây không phải là khái niệm mới, mà đã xuất hiện trong Thời kỳ Ánh sáng vào thế kỷ 18. Chính trong đạo Luật về tự do báo chí của Thuỵ Điển được ban hành vào năm 1766 đã thiết lập nguyên tắc các hồ sơ của chính phủ phải công khai cho công chúng và trao cho người dân quyền được yêu cầu tiếp cận các văn bản của các cơ quan chính phủ.

I. Quyền tiếp cận thông tin – chuẩn mực và quy định quốc tế

1, Sơ lược lịch sử phát triển khái niệm quyền tiếp cận thông tin

Quyền tiếp cận thông tin hay quyền được thông tin là quyền cơ bản của con người, đây không phải là khái niệm mới, mà đã xuất hiện trong Thời kỳ Ánh sáng vào thế kỷ 18. Chính trong đạo Luật về tự do báo chí của Thuỵ Điển được ban hành vào năm 1766 đã thiết lập nguyên tắc các hồ sơ của chính phủ phải công khai cho công chúng và trao cho người dân quyền được yêu cầu tiếp cận các văn bản của các cơ quan chính phủ. Trong bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp năm 1789 cũng xác lập nguyên tắc: “Việc tự do trao đổi về tư tưởng và ý kiến là một trong những quyền quý giá nhất của con người; mọi công dân có thể phát ngôn, viết hay tiến hành in ấn một cách tự do, nhưng phải chịu trách nhiệm về sự lạm dụng quyền tự do đó” (Điều 11); và “mọi công dân đều có quyền trực tiếp hoặc thông qua các đại diện của mình được xem xét sự cần thiết của thuế công cộng, được tự do thoả thuận đóng góp, được theo dõi việc sử dụng và được ấn định chỉ tiêu thuế, cách thức và thời hạn đóng góp; xã hội có quyền bắt mọi công chức phải báo cáo về công việc quản lý của họ” (xem Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Trung tâm nghiên cứu quyền con người, Các văn kiện quốc tế về quyền con người, Nxb TP Hồ Chí Minh 1997, trang 15, 16). Tương tự, các nguyên tắc này, cũng được quy định trong Tuyên ngôn của Hà Lan vào năm 1795.

Continue reading

QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN: Quy định quốc tế và đặc điểm chung của luật một số nước

TS. TƯỜNG DUY KIÊN

Quyền tiếp cận thông tin hay quyền được thông tin là quyền cơ bản của con người, đây không phải là khái niệm mới, mà đã xuất hiện trong Thời kỳ Ánh sáng vào thế kỷ 18. Chính trong đạo Luật về tự do báo chí của Thuỵ Điển được ban hành vào năm 1766 đã thiết lập nguyên tắc các hồ sơ của chính phủ phải công khai cho công chúng và trao cho người dân quyền được yêu cầu tiếp cận các văn bản của các cơ quan chính phủ.

I. Quyền tiếp cận thông tin – chuẩn mực và quy định quốc tế

1, Sơ lược lịch sử phát triển khái niệm quyền tiếp cận thông tin

Quyền tiếp cận thông tin hay quyền được thông tin là quyền cơ bản của con người, đây không phải là khái niệm mới, mà đã xuất hiện trong Thời kỳ Ánh sáng vào thế kỷ 18. Chính trong đạo Luật về tự do báo chí của Thuỵ Điển được ban hành vào năm 1766 đã thiết lập nguyên tắc các hồ sơ của chính phủ phải công khai cho công chúng và trao cho người dân quyền được yêu cầu tiếp cận các văn bản của các cơ quan chính phủ. Trong bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp năm 1789 cũng xác lập nguyên tắc: “Việc tự do trao đổi về tư tưởng và ý kiến là một trong những quyền quý giá nhất của con người; mọi công dân có thể phát ngôn, viết hay tiến hành in ấn một cách tự do, nhưng phải chịu trách nhiệm về sự lạm dụng quyền tự do đó” (Điều 11); và “mọi công dân đều có quyền trực tiếp hoặc thông qua các đại diện của mình được xem xét sự cần thiết của thuế công cộng, được tự do thoả thuận đóng góp, được theo dõi việc sử dụng và được ấn định chỉ tiêu thuế, cách thức và thời hạn đóng góp; xã hội có quyền bắt mọi công chức phải báo cáo về công việc quản lý của họ” (xem Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Trung tâm nghiên cứu quyền con người, Các văn kiện quốc tế về quyền con người, Nxb TP Hồ Chí Minh 1997, trang 15, 16). Tương tự, các nguyên tắc này, cũng được quy định trong Tuyên ngôn của Hà Lan vào năm 1795.

Continue reading

DỰ THẢO TỜ TRÌNH CHÍNH PHỦ VỀ DỰ THẢO LUẬT TIẾP CẬN THÔNG TIN

Kính gửi: Chính phủ

Thực hiện Nghị quyết số 27/2008/NQ-QH12 về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2009 và bổ sung Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội khoá XII, được sự phân công của Chính phủ, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan xây dựng Dự thảo Luật tiếp cận thông tin (sau đây gọi là Dự thảo Luật). Bộ Tư pháp xin trình Chính phủ những nội dung chính liên quan đến Dự thảo Luật như sau:

I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH VĂN BẢN

Ở nước ta, quyền được thông tin đã được xác định trong Hiến pháp năm 1992. Cụ thể, Điều 69 của Hiến pháp quy định công dân có quyền được thông tin theo quy định của pháp luật: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật”. Trong thời gian qua, quyền tiếp cận thông tin cũng được sự quan tâm thích đáng của Đảng và đã được thể hiện trong nhiều chủ trương, chính sách của Đảng. Cụ thể, Nghị quyết Hội nghị lần thứ Ba, Ban chấp hành Trung ương Đảng (Khoá X) về tăng cường sự lãnh đạo của Ðảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí đã đề ra nhiệm vụ nghiên cứu ban hành Luật bảo đảm quyền được thông tin của công dân và coi đây là một trong các biện pháp phòng, chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước.

Continue reading

PHÂN TÍCH SO SÁNH PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI

TOBY MENDEL – Chuyên gia nghiên cứu về tiếp cận thông tin của Tổ chức Article 19

Theo các cuộc khảo sát được tiến hành trong thời gian gần đây, nhiều quốc gia trên thế giới đều thừa nhận rằng mọi cá nhân đều có quyền được tiếp cận thông tin do các cơ quan công quyền nắm giữ và việc ban hành một đạo luật để thực thi quyền này một cách hiệu quả trên thực tế là hoàn toàn phù hợp và cần thiết. Kết quả khảo sát đã chỉ ra rằng rất nhiều nội dung của các đạo luật trong nước có những quy định tương đồng nhau như nguyên tắc bảo đảm tính công khai, nghĩa vụ đăng tải thông tin,…

Tuy nhiên các đạo luật của từng quốc gia cũng có những điểm khác biệt và đôi khi còn trái chiều nhau, đặc biệt về các quy định về khái niệm thông tin, phạm vi thẩm quyền, phạm vi miễn trừ hay các trường hợp ngoại lệ. Đồng thời, các cuộc khảo sát đó cũng đã tìm ra được những phương pháp tiếp cận đầy sáng tạo để đáp ứng với hoàn cảnh của từng quốc gia khác nhau.

Khái niệm quyền được tiếp cận thông tin

Quyền được tiếp cận thông tin do các cơ quan công quyền nắm giữ là cơ sở để thông qua luật về quyền tiếp cận thông tin và luật của hầu hết các nước đều quy định khá rõ về nguyên tắc này. Ví dụ như Luật của Mexico và Jamaica quy định quyền hoàn toàn tự do tiếp cận thông tin nếu không rơi vào các trường hợp ngoại lệ. Trong khi đó ở Thái Lan và Anh, quyền này tuy mang sắc thái thủ tục nhiều hơn, nhưng luật của hai nước này cũng quy định rằng bất kỳ ai cũng có thể yêu cầu cung cấp thông tin và tuỳ thuộc vào một số điều kiện nhất định về mặt thủ tục và nội dung, đều có thể có thông tin đó. Mặc dù trên thực tế khó chứng minh được sự khác nhau của cách định nghĩa này song phương pháp tiếp cận dựa vào quyền hơn là dựa vào nghĩa vụ càng ngày càng tỏ ra có sức thuyết phục.

Continue reading

BÁO CÁO QUỐC GIA KIỂM ĐIỂM ĐỊNH KỲ VIỆC THỰC HIỆN QUYỀN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM

I. Phương pháp soạn thảo Báo cáo Quốc gia.

A. Quy trình soạn thảo Báo cáo.

1. Báo cáo này được soạn thảo theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 5/1 ngày 18/06/2007 của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc (HĐNQ LHQ) nhằm kiểm điểm tình hình thực hiện các quyền con người trên lãnh thổ Việt Nam. Ban soạn thảo đã được thành lập theo cơ chế Nhóm Công tác liên ngành với sự tham gia của các cơ quan liên quan trực tiếp đến việc bảo vệ, thực hiện và thúc đẩy các quyền con người: Văn phòng Chính phủ, Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Ban Tôn giáo Chính phủ (thuộc Bộ Nội vụ), Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội, Ủy ban Vì sự tiến bộ của Phụ nữ, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Uỷ ban Dân tộc, Toà án Nhân dân Tối cao và Bộ Ngoại giao. Bộ Ngoại giao là cơ quan đầu mối soạn thảo Báo cáo.

B. Tổ chức tham vấn ý kiến về Báo cáo.

2. Việt Nam đã cử nhiều đoàn đi học hỏi kinh nghiệm quốc tế về soạn thảo báo cáo Cơ chế Kiểm điểm Định kỳ (UPR) như tham dự Hội thảo tập huấn do Liên hợp quốc (LHQ) tổ chức và dự các phiên bảo vệ báo cáo UPR tại Hội đồng Nhân quyền; tổ chức các hội thảo trong nước có sự tham dự của chuyên gia LHQ và một số nước đã bảo vệ báo cáo nhằm giới thiệu về cơ chế UPR và kinh nghiệm làm báo cáo của các nước này.

Continue reading

NHÂN QUYỀN Ở VIỆT NAM – NHÌN TỪ SỰ PHÁT TRIỂN, TIẾN BỘ XÃ HỘI

VŨ PHÙ NGHĨA

Ở các góc độ khác nhau, người ta có thể đưa ra nhiều tiêu chí để đánh giá về tình hình nhân quyền của một quốc gia. Tuy nhiên, có một tiêu chí cơ bản mà bất cứ ai cũng phải thừa nhận, đó là "quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc". Điều này đã được "Tuyên ngôn Độc lập" của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ xác nhận từ năm 1776.

Từ luận cứ cơ bản này, soi rọi vào xã hội nước ta, kể từ khi có Đảng Cộng sản Việt Nam đến nay, thông qua hệ thống các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước, nhất là những thay đổi tích cực trong đời sống xã hội cũng như cuộc sống của người dân đã cho thấy chăm lo đến các quyền cơ bản của người dân luôn luôn là mối quan tâm, là mục đích nhất quán của Đảng và Nhà nước ta. Một thực tế không thể phủ nhận là, mặc dù một đất nước phải gánh chịu những di chứng nặng nề của những năm dài chiến tranh, xuất phát điểm về kinh tế, xã hội lại thấp kém, lạc hậu nhưng vấn đề nhân quyền ở Việt Nam đã được thực hiện ngày càng đầy đủ, toàn diện hơn cùng với sự phát triển, tiến bộ của đất nước.

Xuất phát từ hoàn cảnh một đất nước nông nghiệp lạc hậu, khi người dân Việt Nam phải sống lầm than, tủi nhục dưới ách nô lệ của đế quốc, phong kiến; bị đe dọa triền miên bởi đói, rét, mù chữ, nghèo túng thì nói tới nhân quyền không gì khác hơn trước hết người dân phải có cơm ăn, áo mặc, được học hành, được sống trong tự do, độc lập. Nhiều tổ chức và nhiều người Việt Nam yêu nước đã nhận ra thực tế trên và tìm cách đưa dân tộc thoát khỏi thực trạng đó, song vì lý do này hay lý do khác đều không thành công. Trên thực tế, duy nhất Đảng Cộng sản đã giải quyết thành công được yêu cầu này. Lý do sâu xa của sự thành công đó chính là mục tiêu, lý tưởng phấn đấu của Đảng phù hợp với nguyện vọng thiết thực, đồng thời đó cũng là quyền con người của đại đa số quần chúng nhân dân.

Continue reading