MỘT KHÔNG GIAN TỰ DO CHO SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÁ NHÂN

NGUYỄN VĂN TRỌNG

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mở đầu bản Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bằng lời bất hủ của bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Suốt hơn nửa thế kỷ qua mọi người chúng ta đều chân thành xúc động khi đọc những lời hào hùng này. Có nghĩa là bằng trái tim chúng ta đã tiếp thu những giá trị đó; thế nhưng việc tiếp thu chúng bằng lý trí vẫn còn là việc phải bàn thảo vì có thể có nhiều cách diễn giải những “lời bất hủ” ấy.

Những lời bất hủ trên đã được viết ra trong tinh thần của thời đại Khai Minh ở phương Tây hướng tới sự khẳng định các giá trị nhân bản nhằm giải phóng con người cá nhân khỏi các định kiến bất công của xã hội đẳng cấp. Nhà soạn nhạc thiên tài W. A. Mozart năm 1778 đã biến vở kịch Đám cưới Figaro của Beaumarchais thành vở nhạc kịch bất hủ thể hiện tinh thần của thời đại. Ông đã để cho Figaro chất vấn nhà quý tộc Almavia rằng ông đã làm gì để có được sự giàu có, đẳng cấp và địa vị, và sau đó Figaro tự trả lời: “Ông chỉ có mất công sinh ra đời mà thôi, không có gì hơn“. Vở nhạc kịch là một bản tụng ca trữ tình cho yêu sách của con người cá nhân tự khẳng định mình, đòi quyền giành lấy chỗ đứng trong xã hội bằng lao động cần cù và tài năng sáng tạo của bản thân.

Như vậy, “tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng” hàm ý sự đòi hỏi bình đẳng về phẩm giá của mỗi người trong xã hội chống lại mọi kỳ thị đều dựa trên đẳng cấp, là sự đòi hỏi bình đẳng về cơ hội cho mọi người có thể giành lấy chỗ đứng của mình bằng lao động và tài năng của bản thân. Sự đòi hỏi bình đẳng về phẩm giá dẫn tới yêu cầu xây dựng một nhà nước dân chủ dựa trên khái niệm công dân với sự bình đẳng trước pháp luật. Sự đòi hỏi bình đẳng về cơ hội dẫn tới lý tưởng về mục tiêu của con người là “sự phát triển cao nhất và hài hòa nhất hướng tới một toàn thể trọn vẹn và nhất quán” và để cho lý tưởng ấy thành hiện thực thì càn phải có “sự tự do và tính đa dạng của các tình huống” (Wilhlm von Humboldt, 1767-1835). Do đó, “quyền được sống và quyền mưu cầu hạnh phúc” cho mỗi cá nhân hàm nghĩa một không gian tự do cần thiết cho sự phát triển của cá nhân. Phạm vi của không gian ấy được quy định bởi ranh giới cho sự can thiệp của quyền lực mà xã hội có thể vận dụng hợp pháp đối với cá nhân thông quan phương tiện luật pháp hay dư luận xã hội.

Continue reading →

QUYỀN NHÂN THÂN CỦA CÁ NHÂN: SỔ HỘ KHẨU – CHUYỆN NHỎ HÓA TO

SÁU NGHỆ

Bác sỹ Nguyễn Thị Mai lấy chồng năm 1994 và về sống với chồng, sinh con, ở căn nhà số 226 Trần Hưng Đạo (Ninh Kiều, Cần Thơ) liên tục đến nay. Ngày 21/10/2008, mẹ con chị bị xóa tên khỏi hộ khẩu.

Sau đó, người giúp việc cho chị liên tục từ năm 1997 đến nay không được tiếp tục đăng ký tạm trú. Khi quyền cư trú bị xâm phạm, chị Mai gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống.

Sốt sắng cắt hộ khẩu, tạm trú

Khi chị Nguyễn Thị Mai còn nằm trong bụng mẹ thì cha qua đời. Mẹ của chị lúc đó mới 23 tuổi và ở vậy nuôi 3 con thơ. Tuổi nhỏ của chị lớn lên trong thiếu thốn.

Nghèo khó cho chị tính tự lập, chị tốt nghiệp Đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh, được đào tạo chuyên khoa mắt, sau 8 năm học tập, ra trường năm 1992 và bây giờ là người mổ mắt bằng tia la-de có tiếng.

Tuy nhiên, con đường đến với chuyên khoa yêu thích lại không bằng phẳng. Học xong, về quê hương Cần Thơ, chị không xin được việc làm. Khi chị thi đậu công chức thì được điều về… khoa nội của một bệnh viện tuyến huyện.

Ở đó, một cô y tá có quyền đã đập bàn ra lệnh về chuyên môn cho chị, không chịu được, chị xin nghỉ. Chị làm cho các hãng dược và năm 2001, xin việc ở chuyên khoa mắt một bệnh viện tư nhân tại thành phố Hồ Chí Minh. Tuần làm việc 5 ngày, cuối tuần về với chồng con ở Cần Thơ.

Chồng của chị là bác sỹ ở một bệnh viện lớn tại Cần Thơ, có phòng mạch ngoài giờ tại nhà riêng số 226, Trần Hưng Đạo (Ninh Kiều, Cần Thơ). Lấy nhau rồi, chị giúp chồng khám bệnh ngoài giờ, sau này làm việc trên thành phố Hồ Chí Minh, cuối tuần về nhà chị vẫn cùng chồng khám bệnh. Cuộc sống hai vợ chồng hạnh phúc, kinh tế ngày càng khá giả.

Continue reading →

HỆ THỐNG CÁC VĂN KIỆN PHÁP LÝ VỀ QUYỀN CON NGƯỜI

ĐTH – Vụ Pháp luật quốc tế, Bộ Tư pháp

Một trong những thành tựu lớn nhất của nhân loại trong thể kỷ 20 là đã tạo dựng được một hệ thống pháp luật quốc tế về quyền con người. Hệ thống này trước hết phải kể đến Hiến chương Liên hợp quốc (1945), Tuyên ngôn Nhân quyền (1948) và hai Công ước quốc tế về quyền con người năm 1966 (Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, văn hoá và xã hội và Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị). Bên cạnh đó, hệ thống này còn có hàng trăm văn kiện quốc tế khác được ban hành dưới nhiều cấp độ pháp lý hình thức khác nhau như điều ước, công ước, nghị định thư, hướng dẫn, khuyến nghị… được các quốc gia thừa nhận và tôn trọng.

1. Hiến chương Liên hợp quốc

Hiến chương Liên hợp quốc được ban hành ngay sau khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc vào năm 1945. Đây là văn bản quốc tế rất quan trọng, không chỉ là cơ sở pháp lý quốc tế quan trọng thành lập Liên hợp quốc mà còn là văn kiện ghi nhận sự bảo vệ quyền con người trên phạm vi toàn cầu. Hiến chương đã đặt nền móng cho việc thiết lập một cơ chế pháp lý quốc tế về bảo vệ và thúc đẩy sự phát triển của các quyền con người trên thế giới.

Lời mở đầu của Hiến chương xác định quyết tâm của nhân dân các nước: “…phòng ngừa cho những thế hệ tương lại khỏi thảm hoạ chiến tranh; …Tin tưởng vào những nguyên tắc cơ bản, nhân phẩm và giá trị của con người, vào quyền bình đẳng nam nữ, vào quyền bình đẳng giữa các nước lớn và nhỏ; Tạo mọi điều kiện cần thiết để giữ gìn công lý và tôn trọng những nghĩa vụ do những điều ước và các nguồn khác của Luật quốc tế đặt ra; Khuyến khích sự tiến bộ xã hội và nâng cao điều kiện sống trong một nền tự do rộng rãi hơn”. Điều 1 của Hiến chương xác định mục đích của Liên hợp quốc là “thực hiện sự hợp tác quốc tế trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế về kinh tế, xã hội, văn hoá và nhân đạo và khuyến khích phát triển sự tôn trọng các quyền con người và tự do cho tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc, nam nữ, ngôn ngữ hoặc tôn giáo”. Điều 3 Hiến chương kêu gọi các quốc gia “thúc đẩy và khuyến khích sự tôn trọng quyền con người”. Hiến chương kêu gọi tất cả các nước cùng phối hợp hành động với Liên hợp quốc để đạt được việc tôn trọng và thực hiện quyền con người trên phạm vi toàn cầu.

Continue reading →

DỰ THẢO NGHỊ ĐỊNH QUI ĐỊNH CHI TIẾT VÀ HƯỚNG DẪN THI HÀNH MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT QUỐC TỊCH VIỆT NAM NĂM 2008 (Dự thảo 1)

CHÍNH PHỦ 

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Quốc tịch Việt Nam số …./2008/QH12 ngày       tháng        năm 2008;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp,

CHƯƠNG 1: NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1.  Phạm vi áp dụng
Nghị định này quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Điều 11, Điều 37, Điều 38 và Điều 41 của Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 về giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam; thủ tục, trình tự giải quyết việc xin nhập, xin trở lại, xin thôi quốc tịch Việt Nam, việc cấp giấy chứng nhận có quốc tịch Việt Nam, giấy xác nhận mất quốc tịch Việt Nam.

Điều 2. Giá trị của giấy tờ do cơ quan nước ngoài cấp hoặc chứng thực

Giấy tờ kèm theo đơn xin giải quyết các việc về quốc tịch Việt Nam do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp hoặc chứng thực phải được hợp pháp hóa lãnh sự; giấy tờ bằng tiếng nước ngoài phải được dịch ra tiếng Việt, bản dịch phải được chứng thực theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Điều 3.
Giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam
Ngoài các giấy tờ quy định tại khoản 1, 2 và 3 Điều 11 Luật Quốc tịch Việt Nam thì một trong các giấy tờ sau đây cũng có giá trị chứng minh có quốc tịch Việt Nam:
1. Sổ hộ khẩu;
2. Thẻ cử tri mới nhất;
3. Giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam của cha mẹ, của cha hoặc mẹ;
4. Giấy xác nhận đăng ký công dân do Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài cấp;
5. Giấy tờ, tài liệu chứng minh đương sự là người có quốc tịch Việt Nam theo điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia;
6. Quyết định công nhận việc nuôi con nuôi đối với trẻ em là người nước ngoài.

Continue reading →

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO CỦA CÔNG DÂN

TRẦN VĂN TRUYỀN – Tổng Thanh tra Chính phủ

Thời gian qua, công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân đã đạt được những kết quả, góp phần vào việc ổn định an ninh, chính trị, phục vụ phát triển kinh tế – xã hội. Tuy nhiên, tình hình khiếu nại, tố cáo của công dân ở một số địa phương vẫn có chiều hướng gia tăng. Bài viết chỉ rõ nguyên nhân, nêu ra những giải pháp cần triển khai thực hiện tốt nhằm nâng cao hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo trong thời gian tới.

Khiếu nại, tố cáo là quyền cơ bản của công dân được quy định trong Hiến pháp, là công cụ pháp lý để công dân bảo vệ quyền và lợi ích của mình khi bị xâm phạm, là biểu hiện của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Khiếu nại, tố cáo là một kênh thông tin khách quan phản ánh việc thực thi quyền lực của bộ máy nhà nước, phản ánh tình hình thực hiện công vụ của cán bộ, công chức. Do đó, công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo không những có vai trò quan trọng trong quản lý nhà nước, mà còn thể hiện mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân. Thông qua giải quyết khiếu nại, tố cáo, Đảng và Nhà nước kiểm tra tính đúng đắn, sự phù hợp của đường lối, chính sách, pháp luật do mình ban hành, từ đó có cơ sở thực tiễn để hoàn thiện sự lãnh đạo của Đảng và hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước. Vì vậy, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân là một vấn đề được Đảng, Nhà nước và nhân dân đặc biệt quan tâm. Để việc khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo đúng pháp luật, góp phần phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức; tạo cơ sở pháp lý trong giải quyết khiếu nại, tố cáo Nhà nước ta đã ban hành Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 và được sửa đổi, bổ sung vào các năm 2004, 2005. Để phát huy và nâng cao trách nhiệm trong giải quyết khiếu nại, tố cáo của cả hệ thống chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị số 09-CT/TW ngày 6-3-2002 về một số vấn đề cấp bách cần thực hiện trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo hiện nay.

Continue reading →

QUYỀN CON NGƯỜI VÀ THỰC HIỆN QUYỀN CON NGƯỜI TRONG ĐIỀU KIỆN HIỆN NAY

image TRẦN DUY HƯƠNG  – Nguyên Tổng Biên tập Tạp chí Quốc phòng toàn dân

Ở Việt Nam, các quyền cơ bản của con người đã và đang được thực hiện trên thực tế và được Hiến pháp, pháp luật Nhà nước bảo vệ. Những chính sách, pháp luật về đời sống chính trị, kinh tế, xã hội và nhất là về tôn giáo đã đi vào cuộc sống, được các giáo hội, các tu sĩ, chức sắc, chức việc, tín đồ tôn giáo hoan nghênh. Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã và đang làm tất cả những gì có thể làm được nhằm thực hiện ngày càng tốt hơn dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam, đồng thời góp phần tích cực vào việc giải quyết các vấn đề dân chủ, nhân quyền trên thế giới.

Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ tuyên bố vào năm 1776 ghi rõ: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Tuyên ngôn của cách mạng tư sản Pháp (1789) tuyên bố: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”. Những lời tuyên bố trong các tuyên ngôn nói trên đã khẳng định sự mong muốn của con người, của công dân với hai tư cách: tư cách con người nói chung và tư cách công dân của một quốc gia dân tộc nói riêng. Tuy nhiên, ở thời kỳ đầu, quyền con người mới được thể hiện với ý nghĩa trừu tượng, còn quyền công dân, trong đó cơ bản là quyền tư hữu thiêng liêng thì không bị giới hạn.

Quyền con người là thành quả đấu tranh lâu dài qua các thời đại của nhân loại, của các dân tộc bị áp bức trên thế giới nhằm xác lập quyền bình đẳng, tự do trong các quan hệ giữa người và người, cũng như giữa các dân tộc; và đó cũng là thành quả đấu tranh của loài người nhằm hướng tới làm chủ thiên nhiên, làm chủ xã hội, làm chủ bản thân mình. Đó là quyền của mỗi người với tư cách là thực thể tự nhiên và xã hội, không phân biệt quốc tịch, màu da, ngôn ngữ, chính kiến, v.v.. được bảo đảm bằng luật pháp quốc tế và quốc gia mà trước hết là luật pháp quốc gia.

Continue reading →

GIÁ TRỊ PHÁP LÝ CỦA TỜ KHAI ĐĂNG KÝ HỘ TỊCH

NGUYỄN THANH XUÂN – Bộ Tư pháp

Đăng ký hộ tịch là một trong những quyền và nghĩa vụ của công dân được Nhà nước và pháp luật tôn trọng và bảo vệ. Điều này được thể hiện ở chỗ khi người dân đến đăng ký hộ tịch, nếu họ đã nộp đủ các hồ sơ, giấy tờ theo quy định thì cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phải thực hiện việc đăng ký hộ tịch mà không có quyền từ chối việc đăng ký hộ tịch đó. Nếu người đi đăng ký hộ tịch còn thiếu các thủ tục thì cơ quan đăng ký hộ tịch có trách nhiệm hướng dẫn đầy đủ, cụ thể, rõ ràng để công dân hiểu và có sự bổ sung.

Hiện nay, trong những trường hợp đăng ký hộ tịch nhất định như đăng ký lại việc sinh, cấp lại bản chính giấy khai sinh, đăng ký kết hôn, đăng ký lại việc tử, cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân, đăng ký lại việc nuôi con nuôi… thì hồ sơ đăng ký hộ tịch của công dân khi có yêu cầu thường có các tờ khai đăng ký theo mẫu quy định nhằm xác định nội dung nhân thân của một cá nhân, từ đó có sự đối chiếu xác minh nhằm giải quyết đúng quy định cũng như yêu cầu đăng ký hộ tịch của người dân. Trước đây, các mẫu tờ khai đăng ký hộ tịch được quy định tại Nghị định số 83/1998/NĐ-CP ngày 10/10/1998 của Chính phủ về đăng ký hộ tịch và Quyết định số 1203/QĐ-TP/HT ngày 26/12/1998 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về việc ban hành biểu mẫu, sổ sách hộ tịch theo quy định tại Nghị định số 83/1998/NĐ-CP.

So sánh các mẫu tờ khai hiện nay và trước đây có một số điểm khác nhau về nội dung. Theo các quy định pháp luật hộ tịch hiện hành như tờ khai hiện tại không có các xác nhận của người làm chứng hay lý do không đăng ký đúng hạn khi đăng ký khai tử quá hạn… Các mẫu tờ khai hộ tịch như quy định hiện nay không thể hiện sự “xin – cho” như các mẫu trước đây mà thể hiện rõ việc đăng ký hộ tịch là yêu cầu của người dân đối với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Đây là sự khác biệt cơ bản giữa các mẫu tờ khai hộ tịch hiện nay và trước đây. Điều này thể hiện tinh thần cải cách hành chính mạnh mẽ, thể hiện sự bình đẳng giữa người dân và cơ quan đăng ký hộ tịch, tạo điều kiện để các quyền và lợi ích hợp pháp của người dân được đảm bảo và thực hiện theo quy định của pháp luật.

Continue reading →

VẤN ĐỀ QUẢN LÝ VÀ CẤP LÝ LỊCH TƯ PHÁP CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ MỘT SỐ Ý KIẾN ĐỐI VỚI DỰ THẢO LUẬT LÝ LỊCH TƯ PHÁP

ĐẶNG TRUNG HÀ – Vụ Pháp luật quốc tế – Bộ Tư pháp

Lý lịch tư pháp theo pháp luật Việt Nam được hiểu là “bộ nhớ” về các án tính của những cá nhân đã từng can án hình sự. Dưới góc độ khoa học pháp lý, lý lịch tư pháp được định nghĩa là những dữ liệu về tình trạng pháp lý của một cá nhân, ghi nhận là những thông tin về các chế tài, hình phạt, biện pháp pháp lý đã áp dụng đối với cá nhân đó.

Khi tìm hiểu về vấn đề này trong pháp luật một số nước, chúng ta có thể thấy có hai loại thuật ngữ dùng để chỉ khái niệm này như: criminal record hay criminal history record (lý lịch tư pháp hình sự); judicial record hay court record (dùng để chỉ những dữ liệu về các bản án, quyết định của ngành tư pháp, toà án trong đó bao gồm cả các án hình sự và phi hình sự). Để tìm hiểu phương pháp quản lý và cấp lý lịch tư pháp của một số nước từ đó góp phần hoàn thiện pháp luật Việt Nam, tham luận bước đầu xin được đề cập đến pháp luật của một số nước, trong đó có chú ý tìm hiểu 02 nước thuộc hệ thống pháp luật Common law(Hoa Kỳ và Vương quốc  Liên hiệp Anh) và 01 nước thuộc hệ thống pháp luật Civil law (Cộng hoà Pháp). Do các thông tin và tài liệu tác giả chủ yếu thu thập được thông qua các website, cơ sở dữ liệu pháp luật, một số sách, tạp chí nước ngoài và được tập hợp lại trên dựa vào chủ quan của tác giả, nên chắc chắn không tránh khỏi sai sót. Tác giả rất mong nhận được ý kiến đóng góp từ phía các chuyên gia để việc nghiên cứu đạt kết quả tốt hơn.

I. Pháp luật một số nước về lý lịch tư pháp

1. Hợp chủng quốc Hoa Kỳ.

            Vấn đề quản lý hệ thống dữ liệu và phạm vi cung cấp lý lịch tư pháp cũng đang là vấn đề hiện gây tranh cãi tại Hoa Kỳ, đặc biệt là trong quan hệ với vấn đề cấm phân biệt đối xử trong tuyển dụng lao động. Theo luật về các quyền dân sự của Liên bang cũng như các bang tại Hoa Kỳ quy định cấm mọi hình thức phân biệt đối xử đối với những người đã bị kết án hình sự và đã chấp hành hình phạt. Từ quy định của luật liên bang, hầu hết các bang đều ban hành các đạo luật nhằm cụ thể hoá quy định về cấm phân biệt đối xử này trong đó hạn chế việc các cá nhân, tổ chức kiểm tra lý lịch tư pháp của một người. Hiện nay, nhất là trong quá trình tuyển chọn lao động làm việc trong các ngành dịch vụ đặc thù, nhu cầu kiểm tra lý lịch tư pháp ngày càng gia tăng và những tổ chức tuyển dụng lao động đã có những kiến nghị với Quốc hội liên bang cũng như Quốc hội của các bang mở rộng hơn nữa quyền của các tổ chức này trong việc kiểm tra lý lịch tư pháp của người lao động.

Continue reading →

LUẬT QUỐC TỊCH VIỆT NAM NĂM 2008

Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10;

Quốc hội ban hành Luật quốc tịch Việt Nam.

CHƯƠNG I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Quốc tịch Việt Nam

Quốc tịch Việt Nam thể hiện mối quan hệ gắn bó của cá nhân với Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của công dân Việt Nam đối với Nhà nước và quyền, trách nhiệm của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đối với công dân Việt Nam.

Điều 2. Quyền đối với quốc tịch

1. Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mỗi cá nhân đều có quyền có quốc tịch. Công dân Việt Nam không bị tước quốc tịch Việt Nam, trừ trường hợp quy định tại Điều 31 của Luật này.

2. Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam, mọi thành viên của các dân tộc đều bình đẳng về quyền có quốc tịch Việt Nam.

Điều 3. Giải thích từ ngữ

Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. Quốc tịch nước ngoài là quốc tịch của một nước khác không phải là quốc tịch Việt Nam.

Continue reading →

VẤN ĐỀ QUẢN LÝ VÀ CẤP LÝ LỊCH TƯ PHÁP CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ MỘT SỐ Ý KIẾN ĐỐI VỚI DỰ THẢO LUẬT LÝ LỊCH TƯ PHÁP

ĐẶNG TRUNG HÀ – Vụ quan hệ quốc tế – Bộ tư pháp

Lý lịch tư pháp theo pháp luật Việt Nam được hiểu là “bộ nhớ” về các án tích của những cá nhân đã từng can án hình sự. Dưới góc độ khoa học pháp lý, lý lịch tư pháp được định nghĩa là những dữ liệu về tình trạng pháp lý của một cá nhân, ghi nhận là những thông tin về các chế tài, hình phạt, biện pháp pháp lý đã áp dụng đối với cá nhân đó.

Khi tìm hiểu về vấn đề này trong pháp luật một số nước, chúng ta có thể thấy có hai loại thuật ngữ dùng để chỉ khái niệm này như: criminal record hay criminal history record (lý lịch tư pháp hình sự); judicial record hay court record (dùng để chỉ những dữ liệu về các bản án, quyết định của ngành tư pháp, toà án trong đó bao gồm cả các án hình sự và phi hình sự). Để tìm hiểu phương pháp quản lý và cấp lý lịch tư pháp của một số nước từ đó góp phần hoàn thiện pháp luật Việt Nam, tham luận bước đầu xin được đề cập đến pháp luật của một số nước, trong đó có chú ý tìm hiểu 02 nước thuộc hệ thống pháp luật Common law(Hoa Kỳ và Vương quốc  Liên hiệp Anh) và 01 nước thuộc hệ thống pháp luật Civil law (Cộng hoà Pháp). Do các thông tin và tài liệu tác giả chủ yếu thu thập được thông qua các website, cơ sở dữ liệu pháp luật, một số sách, tạp chí nước ngoài và được tập hợp lại trên dựa vào chủ quan của tác giả, nên chắc chắn không tránh khỏi sai sót. Tác giả rất mong nhận được ý kiến đóng góp từ phía các chuyên gia để việc nghiên cứu đạt kết quả tốt hơn.

Continue reading →

MỘT Ý TƯỞNG LẬP PHÁP CHƯA TRỌN VẸN

THS. PHẠM TRỌNG CƯỜNG

Trong thể chế tư pháp ở Việt Nam, lý lịch tư pháp (LLTP) là một vấn đề mới mẻ, ít được quan tâm, thậm chí có lúc đã bị quên lãng. Thế nhưng, đây lại là một thiết chế được định hình vững chắc trong hoạt động tư pháp của các quốc gia, trước hết vì những giá trị bổ trợ tư pháp to lớn của nó. Tuy nhiên, thiết kế hệ thống quản lý LLTP như thế nào để đạt được mục đích đó trong bối cảnh CCTP và CCHC? Đây là vấn đề cần được giải trình minh bạch với sự phân tích thấu đáo…

Lý thuyết về mục đích  quản lý LLTP…
      Những thông tin được ghi nhớ về LLTP của một cá nhân có thể coi là bức tranh phản ánh trung thực về  quá khứ của một cá nhân có hay không có tỳ vết. Do đó, khi được quản lý tốt, hệ thống dữ liệu LLTP sẽ giúp các cơ quan tiến hành tố tụng xác định rõ các đặc điểm nhân thân tư pháp của cá nhân, trợ giúp đắc lực cho các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử. Đây là ý nghĩa quan trọng hàng đầu biện giải về sự cần thiết của hệ thống quản lý LLTP của bất kỳ quốc gia nào.
      Kinh nghiệm của một số nước cho thấy, nhiệm vụ hàng đầu của hệ thống quản lý LLTP là phục vụ cho hoạt động tố tụng. Lịch sử hình thành thiết chế này trên thế giới đã khẳng định đây là một bước phát triển của lĩnh vực hoạt động tư pháp, bởi mục đích khởi nguyêncủa thiết chế này là nhằm tạo ra một công cụ bổ trợ hữu hiệu phục vụ công tác xét xử. Phiếu LLTP của một bị cáo là căn cứ để cơ quan công tố xem xét, quyết định có cần áp dụng các biện pháp ngăn chặn (VD: bắt tạm giam, bắt khẩn cấp…) đối với một bị can hay không? Trong giai đoạn xét xử, căn cứ vào Phiếu LLTP, Tòa án xem xét nhân thân của bị cáo, nắm được đầy đủ chính xác các tiền án của bị cáo, trên cơ sở đó cân nhắc các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ khi quyết định hình phạt.

Continue reading →

SỬ DỤNG HÌNH ẢNH TRÊN BÁO CHÍ: ĐỂ LƯƠNG TÂM TỰ ĐIỀU CHỈNH

PHẠM TUẤN ĐẠT

Vừa qua, đã có một số tờ báo mở diễn đàn bàn thảo về vấn đề sử dụng ảnh trên báo chí. Đặc biệt, với vấn đề sử dụng ảnh cá nhân. Luật gia Đàm Việt (trên báo Pháp luật TP HCM số ra ngày 22/7/2008) đã đặt câu hỏi: “Theo tôi, các cơ quan chức năng cũng cần làm rõ thế nào là ảnh cá nhân. Ảnh chụp một mình hay ảnh chụp chung với nhiều người trong các bữa tiệc, các cuộc đi chơi… cũng đều là ảnh cá nhân?”.

Nhà báo – luật gia Nam Thanh (cũng tại tờ báo nói trên) sau khi nêu lên một nguyên tắc được quy định trong Bộ luật Dân sự: “Muốn sử dụng ảnh cá nhân phải được người đó đồng ý, trừ trường hợp vì lợi ích nhà nước, lợi ích công cộng hoặc pháp luật có quy định khác”, đã cho rằng: “Hiểu thế nào về vấn đề này dường như chỉ tùy thuộc vào nhận thức của từng người chứ không có một chuẩn mực pháp lý rõ ràng”.

Thật ra, nhiều người biết rằng, một văn bản luật, dù chặt chẽ đến mấy cũng không thể giải quyết thỏa đáng được tất cả những vấn đề rắc rối phát sinh hàng ngày trong cuộc sống. Bởi vậy, dùng ảnh ra sao để không gây phản cảm cho người đọc, không dẫn đến những vụ khiếu kiện của người có ảnh được đăng… hoàn toàn phụ thuộc vào độ “nhạy” của người có trách nhiệm ở các tòa báo.

Thực tế, ở ta, tuy chưa có trường hợp nào vì liên quan đến việc dùng ảnh trên báo chí mà phải… lĩnh án, song cũng đã có không ít những ì xèo , rắc rối dẫn đến đính chính, bồi thường thiệt hại. Điều đó cho thấy, việc sử dụng ảnh cá nhân trên báo chí không thể xem nhẹ.

Continue reading →

LUẬT QUỐC TỊCH SỬA ĐỔI NĂM 2008: TỪ NGÀY 1/7/2009, CÔNG DÂN VIỆT NAM ĐƯỢC ĐỒNG THỜI CÓ QUỐC TỊCH NƯỚC NGOÀI

HỒNG THÚY

Người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà chưa mất quốc tịch Việt Nam sẽ được Nhà nước công nhận còn quốc tịch Việt Nam. Hôm qua (13/11), với sự nhất trí cao, Quốc hội đã thông qua Luật Quốc tịch Việt Nam (sửa đổi).

Còn hơn 5 năm để đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam

Có thể nói, phải mất rất nhiều năm để có thể thêm mấy chữ “trừ trường hợp Luật này có quy định khác” vào nguyên tắc quốc tịch của Việt Nam. Với Luật Quốc tịch Việt Nam sửa đổi, nguyên tắc quốc tịch được xác định: “Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam công nhận công dân Việt Nam có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam, trừ trường hợp Luật này có quy định khác”.

Một trong các “quy định khác” đáng chú ý là việc nhà nước công nhận người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà chưa mất quốc tịch Việt Nam trước ngày Luật này có hiệu lực thì vẫn còn quốc tịch Việt Nam. Đồng thời, đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài, Nhà nước có chính sách khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài giữ quan hệ gắn bó với gia đình và quê hương, góp phần xây dựng quê hương, đất nước. Nhà nước có chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho người đã mất quốc tịch Việt Nam được trở lại quốc tịch Việt Nam.

Continue reading →

ÁN LIÊN QUAN ĐẾN NGƯỜI MẮC BỆNH TÂM THẦN: KHÔNG GÍAM ĐỊNH, TÒA "CHÀO THUA"

ÁI NHÂN

Các vụ việc dân sự có đương sự bị tâm thần thường gặp khó khăn trong việc giám định làm án bị kéo dài, bế tắc. Theo Chánh án TAND huyện Củ Chi (TP.HCM) Nguyễn Văn Danh, từ đầu năm 2007 đến tháng 9-2008, huyện này có tới 10 vụ án dân sự bế tắc liên quan đến người tâm thần vì không giám định được. TAND huyện đã phải tập hợp hồ sơ, chuyển lên TAND TP.HCM xin ý kiến chỉ đạo.

Phía đương sự thiếu hợp tác

Do việc giám định người bị tâm thần bị trì hoãn nên thời gian giải quyết án cũng kéo dài. Trong ảnh: Theo dõi thông tin giải quyết án tại TAND TP.HCM. Ảnh minh họa: HTD

Năm trước, TAND huyện Củ Chi thụ lý một vụ tranh chấp thừa kế. Trong vụ này có ông P. – bà con của hai bên nguyên, bị đơn được tòa xác định là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Sau khi niêm yết lịch xét xử, tòa mới được công an thông báo là ông P. bị tâm thần (gia đình ông P. và hàng xóm cũng xác nhận).

Trước việc này, tòa đã gửi gia đình ông P. quyết định trưng cầu giám định, yêu cầu họ đưa ông P. đi giám định để tòa có căn cứ tuyên ông mất năng lực hành vi dân sự rồi cử người giám hộ. Tuy nhiên, gia đình ông P. không thiết tha gì với việc chia tài sản nên bỏ mặc luôn. Tòa càng thúc giục họ bao nhiêu thì họ càng đủng đà đủng đỉnh bấy nhiêu, viện ra đủ thứ lý do này lý do kia làm việc giải quyết án bị ách lại cho đến nay.

Continue reading →

PHÂN BIỆT CẢI CHÍNH PHẦN GIỚI TÍNH TRONG GIẤY KHAI SINH VÀ XÁC ĐỊNH LẠI GIỚI TÍNH THEO NHỮNG QUI ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH

THANH XUÂN

Cải chính hộ tịch và xác định lại hộ tịch của một cá nhân là một trong những việc quan trọng trong cuộc sống của một con người. Sự kiện cải chính, xác định lại hộ tịch của một người có thể ảnh hưởng đến quá trình hoạt động dân sự của họ trong sự điều chỉnh bằng các quy định pháp lý mà họ phải tuân thủ khi là công dân trong một xã hội.

Bộ luật Dân sự năm 2005 tại Điều 36 khẳng định cá nhân có quyền được xác định lại giới tính và việc xác định lại giới tính của một người được thực hiện trong trường hợp giới tính của người đó bị khuyết tật bẩm sinh hoặc chưa định hình chính xác mà cần có sự can thiệp của y học nhằm xác định rõ về giới tính. Đồng thời việc xác định lại giới tính được thực hiện theo quy định của pháp luật. Như vậy, nội dung điều luật đã rõ việc xác định giới tính của một người chỉ thực hiện trong trường hợp giới tính của người đó bị khuyết tật bẩm sinh nghĩa là mang yếu tố tự nhiên không có sự tác động của con người. Hoặc trong trường hợp giới tính của người đó chưa định hình chính xác mà cần có sự can thiệp của y học nhằm xác định rõ về giới tính, như vậy một cá nhân mới sinh ra mà giới tính của người đó chưa xác định rõ ràng là nam hay nữ cần có sự can thiệp của y học để xác định  rõ giới tính của người đó.

Continue reading →

BÌNH LUẬN ÁN: CẦN PHÂN BIỆT HỘ KHẨU THƯỜNG TRÚ VÀ HỘ GIA ĐÌNH

LS. ĐINH CÔNG TRÍ –  Trọng tài viên Trung tâm Trọng tài thương mại TP. Hồ Chí Minh

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM SỐ 20/2006/DS.GĐT NGÀY 02.8.2006 CỦA HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

V/v tranh chấp quyền sử dụng đất

XÉT THẤY

Diện tích đất 3569m2 thuộc thửa 199 và thửa 203 là của cụ Nguyễn Quốc Túy (chết năm 1967) và cụ Hồ Thị Chọn (chết năm 1983) để lại. Sau khi cụ Chọn chết, bà Nguyễn Thị Thình (là em ruột của bà Tám – nguyên đơn) và ông Điểm (bị đơn) tiếp tục sử dụng và canh tác trên diện tích đất này. Năm 1988, bà Thình được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời. Năm 1993, bà Thình xuất cảnh đi Mỹ, ông Điểm sử dụng và canh tác trên diện tích đất do bà Thình để lại.

Năm 1994 ông Điểm đại diện hộ gia đình đứng tên kê khai đất (trong đó có 2 thửa đất đang có tranh chấp). Ngày 12-02-1998 ông Điểm đã được UBND huyện Bình Chánh cấp giấy chứng nhận QSDĐ số 937 đối với diện tích đất 11.921m2 (trong đó có DT 3569m2 gồm thửa 199 DT 2.468m2 và thửa 203 DT 1.101m2)

Tại hồ sơ cấp giấy chứng nhận QSDĐ năm 1998 lưu tại UBND huyện Bình Chánh cho thấy Ủy ban đã cấp đất cho 29 hộ, trong đó có hộ ông Nguyễn Thành Điểm.

Continue reading →

GHI QUÊ QUÁN: RỐI!

NHƯ THỦY

Phường: ghi theo quê cha; Sở Tư pháp: ghi theo yêu cầu. Không ai chịu ai nên trẻ chưa làm được khai sinh. Nếu chiều theo ý phường, hai anh em ruột sẽ có hai quê quán khác nhau (!?).

Sau hơn bốn tháng tới lui đăng ký khai sinh cho con, anh Võ Hoàng Tuyên (trú phường Bình An, quận 2, TP.HCM) vẫn chưa được UBND phường Bình An cấp giấy khai sinh theo yêu cầu.

Mỗi người một kiểu

Quê anh Tuyên ở Bình Dương, còn nơi sinh của anh là Sài Gòn (nay là TP.HCM). Năm 1992, từ Bình Dương anh Tuyên chuyển đến TP.HCM sinh sống và vào năm 2002, anh đăng ký hộ khẩu thường trú tại TP.HCM.

Năm 2002, vợ chồng anh Tuyên có con đầu lòng. Khi đăng ký khai sinh cho con tại UBND phường Bình An, anh khai quê quán của con là Bình Dương (tức theo quê quán của cha). Cho rằng việc xác định như thế là không đúng, UBND phường này đã cấp giấy khai sinh cho trẻ với quê quán là TP.HCM (tức theo nơi sinh của cha).

Continue reading →

LUẬT CƯ TRÚ: SAU MỘT NĂM CÓ HIỆU LỰC, THÔNG THOÁNG NHƯNG CHƯA ĐỒNG BỘ

ĐÔNG PHƯƠNG

Theo nhận định của các chuyên gia, sau hơn 1 năm có hiệu lực thi hành (từ 1.7.2007) Luật Cư trú đã tạo bước chuyển biến mới trong việc thực hiện quyền tự do cư trú của công dân và đổi mới nhận thức về công tác đăng ký, quản lý cư trú ở nước ta. Tuy nhiên những vướng mắc phát sinh kể từ khi Luật Cư trú được áp dụng là một thực tế, cần sớm được các cơ quan chức năng tháo gỡ để tạo điều kiện cho người dân được hưởng những quyền lợi hợp pháp.

Hết thời “khổ vì hộ khẩu”

Theo thống kê chưa đầy đủ, sau một năm triển khai, thực hiện Luật Cư trú, Công an các địa phương đã tiếp nhận, giải quyết đăng ký thường trú cho khoảng 300 nghìn hộ với hơn 1 triệu nhân khẩu và giải quyết đăng ký tạm trú cho hơn 100 nghìn hộ với gần 600 nghìn nhân khẩu. Đại tá Nguyễn Ngọc Anh, Vụ trưởng Vụ Pháp chế (Bộ Công an) cho biết: Luật Cư trú có hiệu lực từ ngày 1.7.2007, trong đó có 16 điều liên quan đến hộ khẩu, như cấp mới, cấp lại, đổi, tách hộ khẩu, chuyển hộ khẩu… Luật mới thông thoáng hơn và mang lại nhiều quyền lợi cho người dân.

Continue reading →

NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA DỰ THẢO LUẬT LÝ LỊCH TƯ PHÁP

ĐỖ THÚY LAN – VỤ HÀNH CHÍNH TƯ PHÁP BỘ TƯ PHÁP

Nghị quyết số 11/2007/QH12 ngày 21 tháng 11 năm 2007 của Quốc hội về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội nhiệm kỳ khoá XII và năm 2008 đã đưa Luật Lý lịch tư pháp vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2008 (chương trình chính thức). Hiện nay, Bộ Tư pháp đã hoàn tất Dự án Luật này trình Chính phủ. Dự thảo Luật Lý lịch tư pháp quy định những vấn đề cơ bản về trình tự, thủ tục cung cấp thông tin lý lịch tư pháp, thiết lập Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp và cấp Phiếu lý lịch tư pháp cho cá nhân, cơ quan, tổ chức có yêu cầu.

1. Phạm vi quản lý lý lịch tư pháp

Phạm vi quản lý lý lịch tư pháp là những nội dung mà lý lịch tư pháp cần ghi nhớ để quản lý là nội dung gì, thuộc phạm vi nào. Xác định phạm vi quản lý lý lịch tư pháp là vấn đề hết sức quan trọng trong việc xây dựng Dự thảo Luật lý lịch tư pháp vì vấn đề này có ý nghĩa quyết định toàn bộ nội dung, quy mô và cơ chế quản lý lý lịch tư pháp.

Trong quá trình soạn thảo Dự án Luật, về cơ bản có hai loại ý kiến khác nhau về phạm vi quản lý lý lịch tư pháp. Loại ý kiến thứ nhất cho rằng phạm vi quản lý lý lịch tư pháp chỉ giới hạn ở những nội dung về án tích; loại ý kiến thứ hai cho rằng cần mở rộng phạm vi quản lý lý lịch tư pháp bao gồm cả tiền sự, quyết định xử phạt vi phạm hành chính, quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp…

Continue reading →