CẦN TÔN TRỌNG NGHỊ QUYẾT 71/2006/NQ-QH11 CỦA QUỐC HỘI KHÓA 11 VỀ PHÊ CHUẨN VIỆC VIỆT NAM THAM GIA WTO

LG. CAO BÁ KHOÁT – Giám đốc Công ty TNHH Tư vấn doanh nghiệp K và Cộng sự

Trong quá trình gia nhập WTO, Việt Nam đã thoả hiệp nhiều vấn đề với các bên đàm phán. Trong đó, đoạn 502 và 503, Báo cáo của Ban công tác về việc Việt Nam gia nhập WTO (Báo cáo của Ban công tác) quy định: các liên doanh theo các cam kết trong Biểu cam kết dịch vụ và các liên doanh đã thành lập trước ngày Luật Doanh nghiệp 2005 có hiệu lực có quyền thoả thuận trong điều lệ liên doanh tỷ lệ đa số phiếu chính xác cần có để đưa ra tất cả các quyết định, bao gồm cả tỷ lệ đa số đơn giản là 51%.

Để thực thi cam kết này, ngày 29/11/2006, Quốc hội Việt Nam đã ban hành Nghị quyết 71/2006/NQ-QH11  (Nghị quyết 71) phê chuẩn việc Việt Nam gia nhập WTO, theo đó các cam kết WTO được áp dụng trực tiếp. Liên quan đến Luật Doanh nghiệp 2005, Nghị quyết 71 (Phần Phụ lục) quy định: Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty cổ phần được quyền quy định trong Điều lệ công ty các nội dung sau:

-Số đại diện cần thiết để tổ chức cuộc họp và hình thức thông qua quyết định của Hội đồng thành viên, Đại hội đồng cổ đông;

-Các vấn đề thuộc thẩm quyền quyết định của Hội đồng thành viên, Đại hội đồng cổ đông;

-Tỷ lệ đa số phiếu cần thiết (kể cả tỷ lệ đa số 51%) để thông qua các quyết định của Hội đồng thành viên, Đại hội đồng cổ đông.

Tuy nhiên, Luật Doanh nghiệp 2005 lại quy định tỷ lệ tối thiểu cần có để thông qua quyết định của Hội đồng thành viên, Đại hội đồng cổ đông là 65% (Điều 52 và 104). Điều này mâu thuẫn với cam kết WTO của Việt Nam. Theo khoản 3 Điều 3 Luật Doanh nghiệp 2005 thì "trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của Luật này thì áp dụng theo quy định của điều ước quốc tế". Theo điều khoản trên, những quy định tại Nghị quyết 71 đã phải được thực hiện kể từ khi Nghị quyết này có hiệu lực. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có bất kỳ một văn bản nào hướng dẫn để thực hiện những quy định nêu trên của Nghị quyết 71.

Continue reading

AN TOÀN THỰC PHẨM VÀ THƯƠNG MẠI: KẺ THẮNG, NGƯỜI THUA TRONG THẾ GIỚI KHÔNG HÀI HOÀ

JOHN S. WILSON VÀ TSUNCHIRO OTSUKI – Ngân hàng Thế giới

An toàn thực phẩm hiện là vấn đề nóng trong buôn bán các sản phẩm nông nghiệp. Các tiêu chuẩn quốc tế về an toàn thực phẩm được xây dựng như thế nào để hạn chế những ảnh hưởng không tốt đến hoạt động xuất khẩu của các nước đang phát triển là vấn đề luôn được quan tâm, nghiên cứu. Các chuyên gia đã xem đây là một cuộc chiến mà kẻ thắng và người thua đều đến từ “một thế giới không hài hòa”.

Bài viết này đề cập đến những tác động đối với việc xuất khẩu nông sản của các nước (đặc biệt là các nước đang phát triển) khi Uỷ ban châu Âu (EC) quy định tiêu chuẩn Aflatoxin chặt chẽ hơn tiêu chuẩn Codex (được WTO thừa nhận là tiêu chuẩn quốc tế).

Một đòi hỏi khách quan là cần có sự hiểu biết một cách chính xác hơn về các quy định an toàn thực phẩm ảnh hưởng thế nào đến thương mại và ở phạm vi rộng hơn, trong việc đối phó với các thách thức nhằm tuân thủ Hiệp định về áp dụng biện pháp kiểm dịch động thực vật (Hiệp định SPS) của WTO. Hiệp định SPS đưa ra các hướng dẫn mà theo đó, các tiêu chuẩn sản phẩm nông nghiệp phải xây dựng dựa trên cơ sở khoa học và không có sự phân biệt đối xử hay cản trở thương mại một cách tuỳ tiện. Các nguyên tắc của WTO cho phép các nước thành viên đưa ra các tiêu chuẩn quốc gia ở bất cứ mức nào mà họ cho là phù hợp, mặc dù các nước đều được khuyến khích sử dụng các tiêu chuẩn quốc tế hiện có. Các nguyên tắc của WTO cho rằng, hài hoà và tương đương là phương pháp được ưu tiên để đảm bảo không phân biệt đối xử. Hệ thống các tiêu chuẩn an toàn thực phẩm không đồng bộ là trái với cả hai nguyên tắc trên của WTO và kém hiệu quả kinh tế, gây chi phí giao dịch cao cho nhà xuất khẩu và người tiêu dùng trên phạm vi toàn cầu. Mặc dù số liệu trong bài viết này còn hạn chế, song cũng cho thấy là phần lớn các nước đang phát triển bị ảnh hưởng bởi hệ thống tiêu chuẩn chưa đồng bộ này, theo đó các doanh nghiệp của các nước này phải đối mặt với các tiêu chuẩn khác nhau tại các thị trường xuất khẩu đa dạng.

Continue reading

BÀI HỌC VỀ THƯƠNG MẠI VÀ MÔI TRƯỜNG NHÌN TỪ MỘT VỤ KIỆN TRONG WTO

VĂN PHÒNG TBT VIỆT NAM (tổng hợp)

Trong các vụ kiện thương mại liên quan đến môi trường trong khuôn khổ Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) có một ví dụ rất thú vị về việc phá “hàng rào xanh” nhờ áp dụng quy tắc minh bạch và không phân biệt đối xử của WTO. Đó là vụ kiện tôm – rùa biển do Ấn Độ, Malaysia, Pakistan và Thái Lan đưa ra chống lại Hoa Kỳ. Kết luận của vụ kiện là bài học quý cho tất cả các nước thành viên WTO trong hoạt động xuất/nhập khẩu liên quan đến lĩnh vực thương mại và môi trường.

Mục tiêu là bảo vệ động vật quý hiếm hay là sự phân biệt đối xử?

Năm 1997, các nước Ấn Độ, Malaysia, Pakistan và Thái Lan đưa ra vụ kiện chống Hoa Kỳ ban hành lệnh cấm nhập khẩu tôm và các sản phẩm từ tôm với lý do bảo vệ rùa biển.

Việc kiện của 4 nước nói trên xuất phát từ Luật Bảo vệ các loài quý hiếm của Hoa Kỳ (ban hành năm 1973), theo đó, ngư dân Hoa Kỳ đánh bắt tôm cần phải sử dụng dụng cụ ngăn chặn rùa biển mắc lưới với mục đích bảo vệ loài rùa biển di cư đang có nguy cơ bị tuyệt chủng vì các hoạt động của con người. Theo đó, Hoa Kỳ sẽ tiến hành đàm phán nhằm ký kết với các nước thực hiện nhiều hoạt động đánh bắt tôm các thoả thuận về bảo vệ rùa biển. Các loại tôm được đánh bắt với kỹ thuật có thể gây nguy hiểm cho rùa biển được pháp luật Hoa Kỳ bảo vệ sẽ bị cấm nhập khẩu vào nước này, trừ khi Tổng thống Hoa Kỳ chứng nhận mỗi năm trước Thượng nghị viện là việc đánh bắt tôm tại nước liên quan thoả mãn các quy định về bảo vệ rùa biển. Năm 1989, tại Điều 609 Luật Dân sự Hoa Kỳ, quy định này đã được áp dụng cả đối với các tàu đánh bắt tôm của các nước xuất khẩu vào Hoa Kỳ.

Trong hai năm 1991 và 1993, một số quy định được đưa ra nhằm thi hành Điều 609 nêu trên. Theo các quy định này, Điều 609 chỉ được áp dụng cho các nước vùng Caribê và Tây Atlantic. Tháng 4.1996, các quy định này đã được áp dụng cho tất cả các loài tôm được đánh bắt trên toàn thế giới.

Continue reading

Bài học về thương mại và môi trường NHÌN TỪ MỘT VỤ KIỆN TRONG WTO

VĂN PHÒNG TBT VIỆT NAM (tổng hợp)

Trong các vụ kiện thương mại liên quan đến môi trường trong khuôn khổ Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) có một ví dụ rất thú vị về việc phá “hàng rào xanh” nhờ áp dụng quy tắc minh bạch và không phân biệt đối xử của WTO. Đó là vụ kiện tôm – rùa biển do Ấn Độ, Malaysia, Pakistan và Thái Lan đưa ra chống lại Hoa Kỳ. Kết luận của vụ kiện là bài học quý cho tất cả các nước thành viên WTO trong hoạt động xuất/nhập khẩu liên quan đến lĩnh vực thương mại và môi trường.

Mục tiêu là bảo vệ động vật quý hiếm hay là sự phân biệt đối xử?

Năm 1997, các nước Ấn Độ, Malaysia, Pakistan và Thái Lan đưa ra vụ kiện chống Hoa Kỳ ban hành lệnh cấm nhập khẩu tôm và các sản phẩm từ tôm với lý do bảo vệ rùa biển.

Việc kiện của 4 nước nói trên xuất phát từ Luật Bảo vệ các loài quý hiếm của Hoa Kỳ (ban hành năm 1973), theo đó, ngư dân Hoa Kỳ đánh bắt tôm cần phải sử dụng dụng cụ ngăn chặn rùa biển mắc lưới với mục đích bảo vệ loài rùa biển di cư đang có nguy cơ bị tuyệt chủng vì các hoạt động của con người. Theo đó, Hoa Kỳ sẽ tiến hành đàm phán nhằm ký kết với các nước thực hiện nhiều hoạt động đánh bắt tôm các thoả thuận về bảo vệ rùa biển. Các loại tôm được đánh bắt với kỹ thuật có thể gây nguy hiểm cho rùa biển được pháp luật Hoa Kỳ bảo vệ sẽ bị cấm nhập khẩu vào nước này, trừ khi Tổng thống Hoa Kỳ chứng nhận mỗi năm trước Thượng nghị viện là việc đánh bắt tôm tại nước liên quan thoả mãn các quy định về bảo vệ rùa biển. Năm 1989, tại Điều 609 Luật Dân sự Hoa Kỳ, quy định này đã được áp dụng cả đối với các tàu đánh bắt tôm của các nước xuất khẩu vào Hoa Kỳ.

Trong hai năm 1991 và 1993, một số quy định được đưa ra nhằm thi hành Điều 609 nêu trên. Theo các quy định này, Điều 609 chỉ được áp dụng cho các nước vùng Caribê và Tây Atlantic. Tháng 4.1996, các quy định này đã được áp dụng cho tất cả các loài tôm được đánh bắt trên toàn thế giới.

Continue reading

BÀN VỀ CƠ CHẾ KIỂM SOÁT BIÊN GIỚI NHẰM BẢO HỘ HIỆU QUẢ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ

TS. ĐẶNG VŨ HUÂN -  Bộ Tư Pháp

Bảo hộ sở hữu trí tuệ là vấn đề quan trọng trong thương mại quốc tế và là lĩnh vực được WTO quan tâm xây dựng hành lang pháp lý khá chặt chẽ thông qua Hiệp định về các khía cạnh thương mại liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS). Đây là một Hiệp định đa phương của WTO có tính toàn diện nhất về quyền sở hữu trí tuệ. Ngoài các yêu cầu chung quy định nghĩa vụ của các quốc gia thành viên trong xây dựng pháp luật, các thiết chế thực thi hiệu quả quyền sở hữu trí tuệ; phải đối xử công bằng đối với các chủ thể và đối tượng bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, TRIPS còn quy định về các biện pháp kiểm soát biên giới nhằm bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ (quy định từ Điều 51 đến Điều 60 của Hiệp định).

Trong bài viết này, chúng tôi muốn trao đổi về các biện pháp kiểm soát biên giới theo yêu cầu của TRIPS và những nỗ lực của Việt Nam trong việc xây dựng và hoàn thiện cơ chế kiểm soát biên giới nhằm bảo hộ hiệu quả quyền sở hữu trí tuệ.

1. Yêu cầu của các Hiệp định quốc tế về kiểm soát biên giới đối với hàng hóa xuất, nhập khẩu nhằm bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ

Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, bảo vệ môi trường kinh doanh lành mạnh, ngăn chặn sự thâm nhập của bất kỳ loại hàng hóa giả mạo, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ nào vào thị trường nội địa của các quốc gia đã trở thành yêu cầu không chỉ riêng cho hệ thống pháp luật của từng quốc gia, mà nó đã trở thành các cam kết quốc tế.

Trước khi có Hiệp định TRIPS, thì Công ước về Bảo hộ sở hữu công nghiệp (Công ước Pari năm 1883, được sửa đổi tại Stockholm năm 1967) tại Điều 9 có quy định về thu giữ khi nhập khẩu hàng hóa có gắn trái phép nhãn hiệu hàng hóa hay tên thương mại.

“1. Tất cả hàng hóa mang nhãn hiệu hàng hóa hoặc tên thương mại một cách bất hợp pháp đều bị thu giữ khi nhập khẩu vào những nước thành viên của Liên hiệp, nơi mà nhãn hiệu hàng hóa hoặc tên thương mại đó có quyền được bảo hộ pháp lý.

2. Việc thu giữ hàng hóa cũng áp dụng tại nước nơi đã xảy ra việc sản xuất hàng hóa có gắn nhãn hiệu hàng hóa hoặc tên thương mại một cách trái phép hoặc tại nước nơi hàng hóa đã được nhập vào.

Continue reading

VI PHẠM CƠ BẢN HỢP ĐỒNG

TS. NGUYỄN MINH HẰNG – Đại học ngoại thương Hà Nội

Nếu không vì lý do bất khả kháng, người bán không nên tự tuyên bố ngừng thực hiện hợp đồng

Khi một bên vi phạm hợp đồng và vi phạm đó là vi phạm cơ bản thì bên kia có quyền hủy hợp đồng. Thực tiễn tranh chấp trong kinh doanh quốc tế cho thấy không dễ dàng để xác định đâu là vi phạm cơ bản.

Tranh chấp giữa Bên mua là các Cty của Argentina và của Hungary, Bên bán là một Cty của Nga. Bên mua kiện bên bán đã vi phạm cơ bản hợp đồng vì đã không giao hàng như cam kết. Bên bán cho rằng Bên mua đã vi phạm cơ bản hợp đồng vì đã chậm thanh toán. Tranh chấp được xét xử tại Hội đồng trọng tài Zurich, phán quyết tuyên ngày 31/5/1996. Công ước Vienna năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (sau đây gọi tắt là CISG) đã được áp dụng.

Diễn biến tranh chấp

Từ năm 1991, người bán Nga (một tổ chức của Chính phủ) ký kết một số hợp đồng bán nhôm cho một số người mua có trụ sở kinh doanh ở Argentina và Hungary (bên mua). Việc giao hàng được tiến hành đúng thời hạn cho tới khi Cty người bán chuyển quyền sở hữu cho một Cty tư nhân của Nga. Cty này ngay lập tức tuyên bố sẽ không tiếp tục thực hiện việc giao hàng. Trong quá trình trao đổi thư từ giữa hai bên sau đó, bên mua lưu ý rằng, họ sẽ phải chịu những thiệt hại nặng nề nếu như hàng hoá không được giao đúng hạn. Bên bán đưa ra hoá đơn theo đó ghi rõ số tiền cụ thể đòi bên mua phải thanh toán theo nhiều chuyến hàng trước đó. Bên bán cho rằng, việc bên mua trì hoãn thanh toán tiền hàng những lô hàng trước dẫn tới vi phạm cơ bản nghĩa vụ của bên mua, do vậy, bên bán có quyền từ chối thực hiện hợp đồng. Bên mua đề nghị đàm phán để giải quyết tranh chấp nhưng bên bán từ chối. Bên mua đã kiện bên bán ra trọng tài đòi bồi thường các khoản thiệt hại phát sinh do không giao hàng.

Continue reading

HỦY BỎ HỢP ĐỒNG DO CHẬM GIAO HÀNG

TS. NGUYỄN MINH HẰNG – Đại học Ngoại thương Hà Nội

Thông thường, khi người bán chậm giao hàng, người mua không được quyền hủy hợp đồng mà chỉ được đòi bồi thường thiệt hại. Tuy vậy, trong một số tình huống nhất định, người mua có quyền hủy hợp đồng ngay khi người bán không thể giao hàng khi hết thời hạn.

Tranh chấp giữa Cty Diversitel Communications Inc. (Canada) và công ty Glacier Bay Inc. (Mỹ). Người bán Mỹ không giao hàng khi hết thời hạn quy định trong hợp đồng. Hai bên tranh cãi về việc liệu người mua Canada có quyền hủy hợp đồng hay không. Tranh chấp được xét xử tại Tòa Công lý tối cao tại Ontario (Ontario Supreme Court of Justice), phán quyết tuyên ngày 6/10/2003.

Diễn biến tranh chấp

Người mua Canada và người bán Mỹ đã ký kết một hợp đồng mua bán hệ thống cách nhiệt chân không. Để đáp ứng những thỏa thuận đã tồn tại từ trước tới nay với Bộ Quốc phòng Canada về chất lượng thiết bị và quá trình lắp đặt hệ thống tại một nhà máy ở Bắc Cực, người mua đã cố định một lịch trình giao hàng cụ thể.

Người mua đã thanh toán theo giá hợp đồng nhưng người bán không giao hàng trong thời gian đã thỏa thuận. Người mua đã kiện người bán ra Tòa án Công lý tối cao bang Ontario yêu cầu hủy hợp đồng. Người bán không đồng ý, cho rằng người bán không có đủ căn cứ để hủy hợp đồng.

Phân tích và quyết định của Tòa án

Về luật áp dụng, Tòa tuyên bố rằng Công ước Vienna năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa (CISG) sẽ được áp dụng để giải quyết tranh chấp vì Canada và Mỹ đều là thành viên của công ước này. Để xem xét hợp đồng có thể bị hủy hay không, Tòa đã dẫn chiếu điều 25 CISG: “Một sự vi phạm hợp đồng do một bên gây ra là vi phạm cơ bản nếu sự vi phạm đó làm cho bên kia bị thiệt hại mà người bị thiệt hại, trong một chừng mực đáng kể bị mất cái mà họ có quyền chờ đợi trên cơ sở hợp đồng, trừ phi bên vi phạm không tiên liệu được hậu quả đó và một người có lý trí minh mẫn cũng sẽ không tiên liệu được nếu họ cũng ở vào hoàn cảnh tương tự”.

Continue reading

NHỮNG RỦI RO PHÁP LÝ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TRONG GIAI ĐOẠN “HẬU WTO”

TS. NGUYỄN THỊ THU TRANG – Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam

Những rủi ro pháp lý “hữu hình”

Về bản chất, WTO là một tập hợp các quy tắc thương mại chung, làm khuôn mẫu điều chỉnh và định hướng hoạt động thương mại quốc tế, tạo ra một sân chơi chung, bằng một luật chơi chung cho doanh nghiệp các nước trong hội nhập. Điều này cũng đồng nghĩa với việc WTO mang lại những đảm bảo an toàn về pháp lý cho các doanh nghiệp tham gia vào quá trình này.

Tuy nhiên, cần nhận thức một cách đầy đủ rằng, các quy tắc thương mại trong WTO là kết quả của một quá trình đàm phán lợi ích, trong đó một mặt các quốc gia phải cam kết mở cửa thị trường, mặt khác họ lại tạo ra các công cụ pháp lý để bảo vệ nền sản xuất trong nước. Trong không ít trường hợp, những công cụ được thiết lập nhân danh thương mại công bằng, an ninh an toàn, bảo vệ môi trường… lại được sử dụng vì mục tiêu bảo hộ, và do đó chúng trở thành những rào cản, rủi ro pháp lý “hữu hình” đối với doanh nghiệp xuất khẩu.

Có thể kể đến một số loại “rủi ro” đã được ghi nhận trong WTO như sau:

Các hàng rào kỹ thuật (TBT) và vệ sinh động thực vật (SPS)

Tại sao là rủi ro?

Hiệp định về các hàng rào kỹ thuật đối với thương mại (TBT) và Hiệp định về các biện pháp kiểm dịch động thực vật (SPS) của WTO cho phép các quốc gia áp đặt một hệ thống quy định về các tiêu chuẩn kỹ thuật và những quy tắc vệ sinh dịch tễ mà hàng hóa nhập khẩu bắt buộc phải tuân thủ. Về nguyên tắc, các quốc gia phải áp dụng các quy định này vì mục đích chính đáng (an ninh quốc gia, chống gian lận, bảo vệ an toàn sức khoẻ, tính mạng con người, động thực vật…), trên cơ sở các căn cứ khoa học và không phân biệt đối xử đối với hàng hóa từ các nước xuất khẩu khác nhau (trừ trường hợp nông phẩm từ các nước hay vùng nhiễm dịch), giữa hàng trong nước và hàng nhập khẩu… nhằm đảm bảo rằng các quy định này không trở thành những rào cản không cần thiết đối với thương mại.

Continue reading

NHỮNG RỦI RO PHÁP LÝ đối với doanh nghiệp trong giai đoạn hậu “hậu WTO”

TS. NGUYỄN THỊ THU TRANG – Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam

Những rủi ro pháp lý “hữu hình”

Về bản chất, WTO là một tập hợp các quy tắc thương mại chung, làm khuôn mẫu điều chỉnh và định hướng hoạt động thương mại quốc tế, tạo ra một sân chơi chung, bằng một luật chơi chung cho doanh nghiệp các nước trong hội nhập. Điều này cũng đồng nghĩa với việc WTO mang lại những đảm bảo an toàn về pháp lý cho các doanh nghiệp tham gia vào quá trình này.

Tuy nhiên, cần nhận thức một cách đầy đủ rằng, các quy tắc thương mại trong WTO là kết quả của một quá trình đàm phán lợi ích, trong đó một mặt các quốc gia phải cam kết mở cửa thị trường, mặt khác họ lại tạo ra các công cụ pháp lý để bảo vệ nền sản xuất trong nước. Trong không ít trường hợp, những công cụ được thiết lập nhân danh thương mại công bằng, an ninh an toàn, bảo vệ môi trường… lại được sử dụng vì mục tiêu bảo hộ, và do đó chúng trở thành những rào cản, rủi ro pháp lý “hữu hình” đối với doanh nghiệp xuất khẩu.

Có thể kể đến một số loại “rủi ro” đã được ghi nhận trong WTO như sau:

Các hàng rào kỹ thuật (TBT) và vệ sinh động thực vật (SPS)

Tại sao là rủi ro?

Hiệp định về các hàng rào kỹ thuật đối với thương mại (TBT) và Hiệp định về các biện pháp kiểm dịch động thực vật (SPS) của WTO cho phép các quốc gia áp đặt một hệ thống quy định về các tiêu chuẩn kỹ thuật và những quy tắc vệ sinh dịch tễ mà hàng hóa nhập khẩu bắt buộc phải tuân thủ. Về nguyên tắc, các quốc gia phải áp dụng các quy định này vì mục đích chính đáng (an ninh quốc gia, chống gian lận, bảo vệ an toàn sức khoẻ, tính mạng con người, động thực vật…), trên cơ sở các căn cứ khoa học và không phân biệt đối xử đối với hàng hóa từ các nước xuất khẩu khác nhau (trừ trường hợp nông phẩm từ các nước hay vùng nhiễm dịch), giữa hàng trong nước và hàng nhập khẩu… nhằm đảm bảo rằng các quy định này không trở thành những rào cản không cần thiết đối với thương mại.

Continue reading

SỰ KIỆN BẤT KHẢ KHÁNG VÀ MỘT VÀI LƯU Ý TRONG THỰC TIỄN ÁP DỤNG

 ĐỖ MINH TUẤN – Công ty Luật Châu Á (AsiaLaw)

Thực hiện nghiêm chỉnh hợp đồng là nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng và cũng là một nguyên tắc luật định. Tuy nhiên, không phải lúc nào hợp đồng cũng được thực hiện một cách suôn sẻ hoặc hoàn hảo. Vẫn có những biến cố xẩy ra làm ảnh hưởng đến quá trình thực hiện hợp đồng của các bên. Trong đó có những sự cố nằm ngoài khả năng dự đoán và kiểm soát của các bên, và xẩy ra không phải do lỗi của các bên. Khi những sự cố này làm cho một bên không thể thực hiện đúng hoặc đầy đủ nghĩa vụ của mình thì vấn đề trách nhiệm sẽ ra sao? Hợp đồng có nên tiếp tục được thực hiện hay không? Là những câu hỏi sẽ được giải đáp bởi cơ chế "sự kiện bất khả kháng" trong luật hợp đồng.

1. Sự kiện bất khả kháng

Ngày 10/10/2008, Công ty A (Việt Nam) ký hợp đồng xuất khẩu dưa chuột cho công ty B (Singapore), thời hạn giao hàng là 30 ngày kể từ ngày mở L/C không huỷ ngang. Ngày 20/10/2008, Ngân hàng công ty B mở L/C không huỷ ngang cho người thụ hưởng là Công ty A. Nhưng mãi đến tận 15/01/2009, Công ty A vẫn không giao hàng cho Công ty B. Công ty B khiếu nại thì Công ty A trả lời rằng do trong thời gian tháng 11/2008, lũ lụt xẩy ra ở khu vực Bắc Bộ của Việt Nam ảnh hưởng đến vụ mùa dưa chuột, nên không thể gom đủ hàng giao cho Công ty B, vì vậy Công ty A đề xuất hoàn trả lại tiền cho Công ty B và đề nghị được miễn trách nhiệm vì lý do bất khả kháng. Vấn đề đặt ra là sự kiện lũ lụt ở khu vực Bắc Bộ có phải là sự kiện bất khả kháng trong trường hợp này hay không?

Ngày 15/12/2009, Công ty A của Việt Nam ký hợp đồng xuất khẩu lô hải sản sang EU cho công ty B có trụ sở tại EU. Theo quy định của Hợp đồng thì hàng phải được giao tại cảng của EU trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày mở L/C không huỷ ngang. Ngày 25/12/2009, Ngân hàng công ty B mở L/C không huỷ ngang cho người thụ hưởng là Công ty A. Tuy nhiên hàng đến chậm so với dự kiện 20 ngày, Công ty A nại lý do hàng đến chậm vì việc cơ quan hành chính Việt Nam còn lúng túng trong việc triển khai cấp giấy chứng nhận khai thác theo quy chế IUU của EU nên thủ tục hành chính chậm chạp dẫn đến việc hàng đến chậm so với dự kiến và đề nghị được miễn trách nhiệm do sự kiện bất khả kháng. Vậy việc cơ quan hành chính Việt Nam túng túng, chậm trễ trong việc triển khai thủ tục cấp giấy chứng nhận khai thác theo quy chế IUU của EU có phải là sự kiện bất khả kháng hay không?

Continue reading

NHÌN LẠI THƯƠNG MẠI VIỆT NAM SAU 2 NĂM GIA NHẬP TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI WTO

LÊ DUY NGHĨA – Cục Xúc tiến Thương mại, Bộ Công Thương

Như vậy đã qua 2 năm Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Dù trước khi gia nhập WTO chúng ta đã được tập dượt thông qua việc tham gia các tổ chức kinh tế – thương mại khu vực, tiếp cận với các nền kinh tế hàng đầu thế giới, song vẫn không khỏi lấn bấn trước thời vận mới.

Tuy vậy với quan điểm biện chứng, biết rõ mình đi lên từ điểm xuất phát thấp, trước sự kiện này chúng ta không quá lạc quan về thời cơ bởi không phải thuận lợi nào cũng nâng bước ta đi, ban tặng ta quả ngọt, đồng thời cũng không quá băn khoăn về những thách thức bởi thấu hiểu rằng không phải bất cứ khó khăn nào cũng cản ngăn ta đi tới, mang đến cho ta trái đắng. Vào giao thời giữa 2008 và 2009, hãy nhìn lại bước đi ban đầu trong hành trình cùng WTO với sự lựa chọn "ngoại thương" là đối tượng để suy xét, vì đây là lĩnh vực nhạy cảm, bộc lộ sớm và khá toàn diện trước những tác động của thời cuộc mới.

Xuất khẩu (XK) của năm 2007 ước đạt 48,5 tỷ USD, tăng 21,9 % so với năm 2006. Với nhập khẩu (NK) các chỉ số tương ứng là ước đạt 62,6 tỷ USD và 39,6 % . Nhập siêu (NS) 14,1 tỷ USD Tỷ lệ NS 29,1%.

Trên nền tảng thành công đó, chúng ta hành quân vào năm 2008 với nhiều hy vọng về những điều tốt đẹp. Song năm 2008 kinh tế thế giới diễn biến nhanh, phức tạp, khó lường; thân nhiệt nền kinh tế đất nước lên xuống thất thường. Trước đây, quý IV thường "thừa thắng tiến lên", còn thời khắc này của năm 2008 lại bắt đầu chao đảo vì làn gió khủng hoảng toàn cầu bắt đầu lan đến. Cho nên chúng ta phải đợi đến tháng cuối cùng mới thở phào nhẹ nhõm, mới chắc chắn thành công. Hơn thế nữa lại thành công trên cả 3 mặt: đẩy mạnh XK, hạn chế tốc độ tăng NK, kiềm chế NS.

Xin nhìn lại từng lĩnh vực qua các thời khắc trong năm để thấy đạt được kết quả trên là đáng trân trọng.

Continue reading

QUẢN LÝ RỦI RO HỐI ĐOÁI GIAO DỊCH TRONG KINH DOANH QUỐC TẾ

VÕ THỊ THÚY ANH – Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng

Tóm tắt

Bài báo này trình bày các chiến lược quản lý rủi ro hối đoái giao dịch trong kinh doanh quốc tế như chiến lược kỹ thuật hoạt động, chiến lược hợp đồng tài chính, cách thức vận dụng các chiến lược này cũng như đánh giá ưu, nhược điểm của từng chiến lược. Hơn nữa, bài báo nêu rõ rằng doanh nghiệp nên tự bảo vệ mình khỏi rủi ro hối đoái giao dịch trong kinh doanh quốc tế thông qua bảo hiểm khi thị trường tài chính không hoàn hảo hay khi tỷ giá hối đoái (TGHĐ) biến động lớn. Nếu thực hiện bảo hiểm, đầu tư kết hợp quyền chọn hay quyền chọn là công cụ tài chính tốt nhất, hợp đồng kỳ hạn là sự lựa chọn tốt thứ hai của các doanh nghiệp kinh doanh quốc tế.

1. Đặt vấn đề

Rủi ro hối đoái giao dịch (transaction exposure) (từ đây được gọi là rủi ro giao dịch: RRGD) là một vấn đề mà các doanh nghiệp (DN) luôn phải đối đầu trong kinh doanh quốc tế. RRGD xảy ra khi DN có dòng tiền mặt ràng buộc bằng hợp đồng (contractual cash flow) được định giá bằng ngoại tệ.

Để quản lý RRGD trong kinh doanh quốc tế, DN có thể tìm cách đẩy các rủi ro này cho đối tác thông qua các kỹ thuật hoạt động (operational techniques) hoặc tạo ra trạng thái đóng bằng ngoại tệ cho doanh nghiệp bằng các hợp đồng tài chính (financial contracts).

Nội dung chính của bài báo là hệ thống hóa các biện pháp biện pháp quản lý RRGD trong hoạt động kinh doanh quốc tế. Mặt khác, bài báo cũng giải quyết câu hỏi: DN có nên bảo hiểm RRGD hay không? Nếu có thì nên sử dụng biện pháp nào? Cuối cùng, bài báo chỉ ra những định hướng nghiên cứu trong tương lai về vấn đề RRGD.

2. Các biện pháp quản lý RRGD

Để quản lý RRGD, các hợp đồng tài chính mà các doanh nghiệp thường sử dụng là hợp đồng kỳ hạn (forward), quyền chọn (option), hoán đổi (swap) và hợp đồng tín dụng. Các kỹ thuật hoạt động có thể sử dụng là lựa chọn tiền tệ để ghi hóa đơn, netting và chiến lược lead/lag.

Continue reading

BÁN PHÁ GIÁ VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI VIỆT NAM

LÂM MINH CHÂU – Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng

Tóm tắt

Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng đã tạo ra các thách thức to lớn cho các quốc gia cùng với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt trên thị trường thế giới. Các quốc gia này phải đối mặt với những khó khăn trong đẩy mạnh xuất khẩu do các nước nhập khẩu đã tận dụng những qui định mở để tạo ra những rào cản mới như chống bán phá giá, chống trợ cấp…để bảo hộ sản xuất trong nước. Bài viết này đề cập đến một số qui định của WTO về bán phá giá hàng hóa và tình hình về các vụ kiện chống bán phá giá của nước ngoài đối với Việt Nam. Từ đó đề xuất những giải pháp để chủ động phòng ngừa và tích cực đối phó với các vụ kiện chống bán phá giá của các doanh nghiệp Việt Nam.

1. Các quy định của WTO về bán phá giá

Theo Hiệp định về chống bán phá giá của WTO (ADP) bán phá giá là việc bán một hàng hoá nào đó với giá thấp hơn giá của nó trên thị trường nội địa của nước xuất khẩu. Nói một cách đơn giản, để xác định hành động bán phá giá ta phải so sánh giá cả ở hai thị trường. Tuy nhiên trên thực tế, việc xác định giá hàng hoá ở thị trường nước xuất khẩu (giá trị bình thường) và giá ở thị trường nước nhập khẩu (giá xuất khẩu) để tạo ra cơ sở chính xác cho sự so sánh giá trên hai thị trường là khá phức tạp.

Theo WTO, giá trị bình thường của hàng hoá là giá của hàng hoá đã được ấn định phụ thuộc vào sức tiêu thụ trên thị trường nước xuất khẩu. Khi không có giá nội địa để so sánh thì gía trị bình thường được coi là tổng các chi phí sản xuất, tiêu thụ hàng hoá cộng với một phần lợi nhuận nào đó. Hoặc theo cách khác, giá trị bình thường có thể là giá xuất khẩu sang một nước thứ ba.Trong trường hợp khi nước xuất khẩu chưa được công nhận là có nền kinh tế thị trường thì giá trị bình thường được xác định trên cơ sở giá hàng hoá tương tự của một nước thứ ba có nền kinh tế thị trường.

Giá xuất khẩu hàng hoá thường được xác định trên cơ sở giá giao dịch giữa người xuất khẩu và nhập khẩu tại nước nhập khẩu.Tuy nhiên, giá giao dịch có thể không được chấp nhận là giá xuất khẩu trong trường hợp buôn bán đối lưu, hoặc trao đổi nội bộ.

Continue reading

NHỮNG YẾU TỐ LÀM GIẢM KHẢ NĂNG ỨNG PHÓ CỦA VIỆT NAM TRONG CÁC VỤ KIỆN BÁN PHÁ GIÁ

NGUYỄN NGỌC SƠN – Đại học Luật TPHCM & NGUYỄN PHI THĂNG – Sở Nội vụ Lâm Đồng

Tại bài viết “Giảm thiểu thiệt hại trong các vụ kiện chống bán phá giá ở nước ngoài khi các doanh nghiệp Việt Nam là bị đơn” trên Nghiên cứu Lập pháp số tháng 11/2007, chúng tôi đã phân tích cụ thể tổng quan về các vụ kiện bán phá giá mà doanh nghiệp Việt Nam là bị đơn. Từ thực tiễn ấy, chúng ta đã nhận ra những hạn chế trong nhận thức và kinh nghiệm của các doanh nghiệp cũng như sự thụ động của các Hiệp hội, các cơ quan hữu trách. Để làm rõ vấn đề hơn nữa, chúng tôi tập trung phân tích về mặt lý luận và nhận thức những hạn chế cơ bản được coi là nhân tố ảnh hưởng đến khả năng ứng phó của doanh nghiệp trong các vụ việc về bán phá giá.

1. Những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng ứng phó của doanh nghiệp Việt Nam

1.1 Chưa nhận thức đúng đắn về bản chất pháp lý của hiện tượng bán phá giá

Có lẽ, vấn đề bán phá giá và pháp luật chống bán phá giá sẽ không tạo ra sự quan tâm của xã hội và luật pháp nếu không có sự kiện các sản phẩm cá tra, cá basa của Việt Nam nhập khẩu vào Hoa Kỳ bị cho là bán phá giá nên bị áp thuế chống bán phá giá đe dọa đến sự thịnh vượng của nhiều ngành kinh tế đang phát triển như chăn nuôi, chế biến … trong những năm đầu của thiên niên kỷ mới. Khoa học pháp lý Việt Nam đã tiếp nhận các lý thuyết về bán phá giá, pháp luật chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu trong bối cảnh doanh nghiệp của chúng ta đang là bị đơn. Pháp luật chống bán phá giá được xây dựng không từ nhu cầu thực tế thị trường mà từ sức ép của quá trình hội nhập với tâm trạng bất bình về những tổn thất do biện pháp chống bán phá giá được các nước áp dụng đang gây ra cho các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam. Vì vậy, sự hạn chế trong hiểu biết về bản chất pháp lý của hành vi bán phá giá là điều tất yếu. Thực trạng pháp luật về chống bán phá giá đủ để chứng minh cho nhận định trên.

Continue reading

NHỮNG YẾU TỐ làm giảm khả năng ứng phó của Việt Nam trong các vụ kiện bán phá giá

NGUYỄN NGỌC SƠN – Đại học Luật TPHCM

NGUYỄN PHI THĂNG – Sở Nội vụ Lâm Đồng

Tại bài viết “Giảm thiểu thiệt hại trong các vụ kiện chống bán phá giá ở nước ngoài khi các doanh nghiệp Việt Nam là bị đơn” trên Nghiên cứu Lập pháp số tháng 11/2007, chúng tôi đã phân tích cụ thể tổng quan về các vụ kiện bán phá giá mà doanh nghiệp Việt Nam là bị đơn. Từ thực tiễn ấy, chúng ta đã nhận ra những hạn chế trong nhận thức và kinh nghiệm của các doanh nghiệp cũng như sự thụ động của các Hiệp hội, các cơ quan hữu trách. Để làm rõ vấn đề hơn nữa, chúng tôi tập trung phân tích về mặt lý luận và nhận thức những hạn chế cơ bản được coi là nhân tố ảnh hưởng đến khả năng ứng phó của doanh nghiệp trong các vụ việc về bán phá giá.

1. Những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng ứng phó của doanh nghiệp Việt Nam

1.1 Chưa nhận thức đúng đắn về bản chất pháp lý của hiện tượng bán phá giá

Có lẽ, vấn đề bán phá giá và pháp luật chống bán phá giá sẽ không tạo ra sự quan tâm của xã hội và luật pháp nếu không có sự kiện các sản phẩm cá tra, cá basa của Việt Nam nhập khẩu vào Hoa Kỳ bị cho là bán phá giá nên bị áp thuế chống bán phá giá đe dọa đến sự thịnh vượng của nhiều ngành kinh tế đang phát triển như chăn nuôi, chế biến … trong những năm đầu của thiên niên kỷ mới. Khoa học pháp lý Việt Nam đã tiếp nhận các lý thuyết về bán phá giá, pháp luật chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu trong bối cảnh doanh nghiệp của chúng ta đang là bị đơn. Pháp luật chống bán phá giá được xây dựng không từ nhu cầu thực tế thị trường mà từ sức ép của quá trình hội nhập với tâm trạng bất bình về những tổn thất do biện pháp chống bán phá giá được các nước áp dụng đang gây ra cho các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam. Vì vậy, sự hạn chế trong hiểu biết về bản chất pháp lý của hành vi bán phá giá là điều tất yếu. Thực trạng pháp luật về chống bán phá giá đủ để chứng minh cho nhận định trên.

Continue reading

CÁC ĐIỀU KIỆN THƯƠNG MẠI THEO BỘ LUẬT THƯƠNG MẠI THỐNG NHẤT CỦA HOA KỲ

ĐỖ MINH TUẤN| Hanoi BizLaw

Các doanh nghiệp Việt Nam khi giao kết hợp đồng xuất khẩu hoặc nhập khẩu với Hoa Kỳ Canada cần lưu ý rằng điều kiện thương mại áp dụng bởi các thương nhân Bắc Mỹ (bao gồm Mỹ và Canada, thậm chí của Mexico) đều thích áp dụng các điều kiện thương mại theo tập quán của Bắc Mỹ. Văn bản qui phạm pháp luật thể hiện rõ nét các điều kiện thương mại này là Bộ Luật Thương mại thống nhất của Hoa Kỳ. Các điều kiện thương mại của Bắc Mỹ khác nhiều so với các điều kiện thương mại được qui định trong Incoterms 2000 và Incoterms 1990. Trong Bộ Luật Thương mại thống nhất có năm điều kiện thương mại cơ bản là F.O.B, F.A.S, C.I.F, C.&.F, và Ex-Ship.

Điều kiện F.O.B Bắc Mỹ có hai loại là F.O.B nơi bốc xếp và F.O.B nơi đến. Nếu áp dụng F.O.B nơi bốc xếp (the place of shipment) thì người bán có nghĩa vụ giao hàng cho người vận chuyển và chịu mọi chi phí và rủi ro cho đến khi hàng được giao cho người vận chuyển tại cảng bốc xếp. Còn theo F.O.B nơi đến (the place of destination) thì người bán phải chịu rủi ro cho đến khi hàng được giao cho bên bán tại nơi đến. Đây là một điểm khác biệt so với FOB trong Incoterms 2000, theo FOB – Incoterms 2000 thì người bán sẽ được giải phóng trách nhiệm kể từ thời điểm hàng vượt qua lan can tàu tại cảng bốc xếp. Do vậy nếu áp dụng F.O.B Bắc Mỹ cần lưu ý ghi rõ là F.O.B nơi bốc xếp hay F.O.B nơi đến.

Nếu điều kiện F.A.S (Free alongside) được áp dụng thì người bán có nghĩa vụ giao hàng dọc mạn tàu tại cảng chỉ định và chịu mọi phí tổn và rủi ro cho đến khi hàng được giao dọc mạn tàu tại cảng chỉ định.

Cùng với F.O.B các thương gia Bắc Mỹ rất ưa chuộng C.I.F. Điều kiện C.I.F có nghĩa là bên bán sẽ chịu phí bảo hiểm vận chuyển hàng hóa và cước phí vận tải. Về bản chất thì C.I.F Bắc Mỹ cũng tương tự với CIF của Incoterms 2000.

Continue reading

CHỦ NGHĨA BẢO HỘ VÀ CHÍNH TRỊ

BRUCE STOKES – Chuyên mục Kinh tế quốc tế của tờ National Journal

Chủ nghĩa bảo hộ đã có một lịch sử tồn tại khá dài. Trước những áp lực chính trị, các chính phủ ở các quốc gia phát triển và đang phát triển đã phải bảo hộ ngành dệt may, sản xuất ô tô, nông nghiệp và các nhà sản xuất khác trước làn sóng nhập khẩu. Ở nhiều nơi, người nông dân mặc dù chỉ chiếm số ít nhưng lại được nhận trợ cấp bảo hộ, bởi lẽ họ nắm trong tay sức mạnh của những lá phiếu bầu cử. Do bảo hộ mang tính chính trị nên các giải pháp cũng phải mang tính chính trị.

Chủ nghĩa bảo hộ – những biện pháp của chính phủ nhằm bảo vệ các nhà sản xuất trong nước trước sự cạnh tranh với nước ngoài – có nguồn gốc sâu xa trong chính trị của các quốc gia trên thế giới. Chủ nghĩa bảo hộ vừa là sản phẩm của những nhóm lợi ích đặc biệt vừa phản ánh mối lo ngại chung của xã hội trước những thay đổi. Tuy vậy, chủ nghĩa bảo hộ cũng đi liền với cái giá phải trả rất lớn về kinh tế.

Việc chống lại tự do hóa thương mại cũng như căn nguyên chính trị của nó hầu như không phải là chuyện mới. Trong nửa đầu thế kỷ 19, nước Anh đã áp đặt thuế quan nhập khẩu để bảo hộ cho người nông dân và điền chủ nước Anh trước sự cạnh tranh của hàng ngũ cốc nhập khẩu rất rẻ từ nước ngoài. Song, mức thuế quan nhập khẩu đó đã làm tăng giá thực phẩm ở các thành phố của nước Anh, buộc tư bản công nghiệp miễn cưỡng phải trả lương cao hơn để công nhân có đủ tiền mua lương thực. Năm 1846, sau một cuộc đấu tranh lâu dài tại Quốc hội, Đạo luật Bảo hộ sản xuất ngô (Corn Laws) đã bị bãi bỏ, nhờ đó đã cởi trói và mở đường cho sự vươn lên về chính trị của tầng lớp trung lưu mới ở nước Anh. 

Các cuộc đấu tranh tương tự như vậy về thuế quan cũng trở thành vấn đề nổi cộm trong nền chính trị Hoa Kỳ trong một thời gian dài ở thế kỷ XIX. Vào đêm trước của cuộc Nội chiến ở Hoa Kỳ (1861-1865), các tiểu bang công nghiệp ở miền Bắc đã chủ trương dựng lên hàng rào thuế quan thật cao để bảo vệ ngành công nghiệp chế tạo của họ trước sự cạnh tranh từ châu Âu. Các tiểu bang miền Nam thì chủ trương áp dụng thuế quan thấp vì họ nhập khẩu rất nhiều hàng hóa tiêu dùng, từ vải lanh tới máy móc nông nghiệp. Chúng ta có thể thấy tầm quan trọng của vấn đề này như thế nào qua sự kiện sau: khi Jefferson Davis, chủ tịch của phe chủ trương ly khai khỏi Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, đọc diễn văn nhậm chức vào năm 1861, ông đã dành phần lớn thời gian trong bài phát biểu của mình để nói về việc cần áp dụng mức thuế quan nhập khẩu thấp, chứ không nói về chế độ nô lệ.

Continue reading

VÀI NHẬN XÉT VÀ SUY NGHĨ VỀ CÔNG BẰNG TRONG MẬU DỊCH (FAIR TRADE)

NGÔ VĨNH LONG

       Trong bài về sự bí ẩn trong “thế giới hàng hóa” của Marx,[1] tác giả Lữ Phương có viết những dòng sau đây về trao đổi hàng hóa (trang 1):

Trừ những trường hợp riêng biệt, nguyên tắc của trao đổi là ngang giá, hai bên đều có lợi, mình cần cái mình không có mà không bị thiệt thòi. Muốn như vậy thì phải tìm ra một chuẩn mực chung giữa hai hàng hoá để làm cơ sở cho cuộc trao đổi đó.

Chuẩn mực chung đó là gì?  Trong trao đổi đơn giản, Marx cho rằng nếu đó là sự chi phí sức lao động tính bằng độ lâu (durée) về thời gian của các loại lao động riêng biệt thì trong xã hội mà sự trao đổi hàng hoá đã trở thành hiện tượng “chi phối”, phổ biến, sự chi phí về sức lao động đó đã biểu hiện như một hình thái đồng nhất, trừu tượng mang ý nghĩa của một bản thể xã hội gọi là giá trị. Không có cái bản thể chung quy định cho hình thái giá trị này làm cơ sở thì việc trao đổi hàng hoá sẽ trở nên tuỳ tiện, không thể bảo đảm được nguyên tắc ngang giá, có lợi cho các đối tác trên phạm vi toàn xã hội.

             Đoạn trích ở trên có hai câu gây cho tôi ít nhiều suy nghĩ: “Trừ những trường hợp riêng biệt, nguyên tắc của trao đổi là ngang giá, hai bên đều có lợi” và “Không có cái bản thể chung quy định cho hình thái giá trị này làm cơ sở thì việc trao đổi hàng hoá sẽ trở nên tuỳ tiện, không thể bảo đảm được nguyên tắc ngang giá, có lợi cho các đối tác trên phạm vi toàn xã hội.” Lữ Phương đã trình bày rất chi tiết phân tích của Marx về “hình thái giá trị” đề cập ở trên; và việc đánh giá nguyên tắc ngang giá của Marx như thế nào là tùy người “đọc.”

Nhưng vì hiện nay tại nhiều nước trên thế giới người ta nói rất nhiều đến việc “hai bên đều có lợi” (“giải pháp cùng thắng,” win-win solution) trong trao đổi hàng hóa (mậu dịch) và việc “có lợi cho các đối tác trên phạm vi toàn xã hội” (mà tiếng Anh người ta gói trong các khái niệm như “cosmopolitan egalitarianism” và “global justice”), nhân cơ hội nầy tôi xin trình bày một vài nhận xét và suy nghĩ về công bằng trong mậu dịch. Theo tôi công bằng trong mậu dịch (Fair Trade) là một nhân tố của công bằng cho toàn xã hội loài người (global justice, cosmopolitan egalitarianism) nhưng, khác với khái niệm global justice hay cosmopolitan egalitarianism, có một quan niệm với những mục tiêu rất thiết thực mà người ta có thể, từng bước, đạt được từ các cấu trúc kinh tế, xã hội và chính trị hiện hữu qua những cuộc vận động hay đấu tranh kiên trì.

Continue reading

THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ – KÊNH GIAO THƯƠNG QUỐC TẾ HIỆU QUẢ

MINH HOÀNG

Cùng với sự bùng nổ của cuộc cách mạng công nghệ thông tin – truyền thông (CNTT – TT), sự ra đời và phát triển của siêu xa lộ thông tin toàn cầu Internet, nhân loại được bổ sung thêm một nguồn tài nguyên mới – Tài nguyên thông tin. Và đã làm thay đổi mọi hoạt động của nền kinh tế thế giới. Thương mại điện tử (TMĐT) ra đời, với sự phát triển ngoạn mục xét cả về nội dung cũng như phạm vi, đối tượng và tính hiệu quả của nó, đã nhanh chóng khẳng định vị thế trong nền kinh tế quốc tế. Bên cạnh những lợi ích tiềm tàng, TMĐT đang đặt ra nhiều thách thức, nhất là các nước đang phát triển về vốn, về hạ tầng cơ sở, về pháp lý và … cả thói quen của thị trường, xã hội.

Ngày nay cuộc cách mạng CNTT và viễn thông (ICT) diễn ra một cách sôi động đang tác động trực tiếp và sâu sắc đến mọi hoạt động kinh tế xã hội của hầu hết các quốc gia trên thế giới. Càng về những năm gần đây, tại các nước công nghiệp phát triển cũng như ở các nước NICs, xuất hiện ngày càng nhiều loại hình kinh doanh mới hoạt động trên các mạng truyền thông số và đặc biệt là trên mạng Internet, đó là các doanh nghiệp TMĐT. Sự xuất hiện của mô hình kinh doanh này không chỉ làm đa dạng hoá hoạt động doanh nghiệp của con người mà còn thực sự trở thành một cuộc cách mạng kinh tế – xã hội có ý nghĩa lịch sử, đánh dấu bước đột phá mới về kinh tế của nhân loại trong thiên niên kỷ thứ ba.

TMĐT sử dụng hệ thống mạng truyền thông số toàn cầu để tạo ra một thị trường điện tử cho tất cả các loại hình sản phẩm, dịch vụ, công nghệ và hàng hoá; bao hàm tất cả các hoạt động cần thiết để hoàn tất một thương vụ, trong đó có đàm phán, trao đổi chứng từ, truy cập thông tin từ các dịch vụ trợ giúp (thuế, bảo hiểm, vận tải…) và ngân hàng, tất cả được thực hiện trong các điều kiện an toàn và bảo mật. Trong TMĐT, người ta sử dụng các phương tiện chủ yếu như máy điện thoại, fax, hệ thống thiết bị thanh toán điện tử, mạng nội bộ (Inttranet), mạng ngoại bộ (Extranet) và mạng toàn cầu (Internet).

Continue reading