“TẤM ĐỆM” HAY “VÒNG KIM CÔ” PHÁP LÝ?

TRANG ANH

Công ước Viên 1980 của Liên Hợp Quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG) đang điều chỉnh khoảng 2/3 giao dịch thương mại thế giới và là Công ước về thương mại có diện áp dụng rộng rãi nhất hiện nay. Tham gia CISG, các doanh nghiệp (DN) sẽ có thêm một “tấm đệm” pháp lý an toàn để thực hiện các hợp đồng mua bán với các đối tác nước ngoài.

Doanh nghiệp được lời gấp bội

Công ước Viên hiện được áp dụng tại 74 quốc gia thành viên, trong đó có những đối tác thương mại đặc biệt lớn như Hoa Kỳ, Pháp, Đức, Canada, Australia, Nhật Bản, Trung Quốc… Việc CISG được áp dụng rộng rãi đã phần nào cho thấy lợi ích mà Công ước này mang lại cho các nền kinh tế. Ở Việt Nam, mặc dù đã không ít lần được các chuyên gia trong nước và nước ngoài khuyến nghị song đến nay chúng ta vẫn chưa gia nhập CISG.
Theo GS Nguyễn Thị Mơ (ĐH  Ngoại Thương), nguyên nhân chủ yếu do sự chậm trễ trong nhận thức của cơ quan công quyền, trong khi giới luật gia lại thờ ơ và thiếu hiểu biết về các công ước quốc tế. Nhưng “tiên trách kỷ, hậu trách nhân”, nguyên nhân chủ quan đầu tiên là vì DN chưa mạnh dạn kiến nghị những khó khăn gặp phải khi thương thảo hợp đồng mua bán với đối tác nước ngoài nên Nhà nước không thể biết mà gỡ khó. Có DN chấp nhận mất hợp đồng “béo bở” chỉ vì không thống nhất được nguồn luật áp dụng cho hợp đồng đồng mua bán với đối tác.
Tại buổi tọa đàm Công ước Viên về mua bán hàng hóa quốc tế do Phòng Thương mại & Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổ chức (11/5), các chuyên gia đã thống nhất cho rằng Việt Nam không nên đứng ngoài một Công ước đem lại rất nhiều lợi ích kinh tế và lợi ích pháp lý.

Continue reading

THAY THẾ ĐIỀU KHOẢN HỢP ĐỒNG

NGUYỄN TRUNG NAM  -  Công ty Luật EPlegal

Trong nhiều trường hợp khi các bên mua bán hàng hóa trao đổi qua lại rất nhiều đề nghị – đề nghị thay đổi đề nghị cũ bằng cả miệng và văn bản, việc xác định đề nghị nào sẽ có giá trị ràng buộc đối với các bên là hết sức khó khăn, đặc biệt là khi một hay hai bên đã tiến hành thực hiện một phần hoặc toàn bộ hợp đồng.

Tranh chấp giữa bên bán (nguyên đơn) là một Cty của Italia với bên mua (bị đơn) là một Cty ở New York, Mỹ. Nội dung tranh chấp về mẫu hợp đồng, trong đó điều khoản trọng tài sẽ áp dụng theo thư đề nghị của bên nào.

Diễn biến tranh chấp

Bên mua gửi một đơn đặt hàng đến bên bán của Italia về việc mua 100.000 đôi giày tại biên giới Italia/Yugoslav tuân theo một mẫu hợp đồng khung về các điều khoản, trong đó có điều khoản về trọng tài xử tại Moscow. Ngoài ra, theo đơn hàng này bên mua phải mở Thư tín dụng cho bên bán trước mỗi đợt giao hàng. Bên bán chấp nhận đơn đặt hàng này bằng một thư xác nhận. Tuy nhiên có thông báo loại trừ điều khoản về trọng tài (trước tòa bên mua tuyên bố không hề nhận được thông báo này). Chỉ khoảng 5 tháng sau khi nhận được đơn đặt hàng, bên mua mới nhận được một văn bản khác của bên bán nêu rõ không chấp nhận áp dụng điều khoản trọng tài. Trong thời gian đó các bên đàm phán bằng miệng nhiều lần về điều khoản trọng tài, đồng thời các bên bắt đầu thực hiện hợp đồng trước khi đạt được thỏa thuận về điều khoản này. Bên mua đã mở thư tín dụng đầu tiên cho người thụ hưởng là bên bán và bên bán đã vận chuyển một phần hàng hóa theo thỏa thuận. Sau đó bên mua khiếu nại bên bán về lỗi hợp đồng và yêu cầu phân xử trọng tài tại Moscow theo mẫu hợp đồng khung ban đầu.

Tòa án cho rằng, tại thời điểm hợp đồng xác lập các bên tham gia hợp đồng có trụ sở tại Mỹ và Italia, vì vậy hợp đồng thuộc sự điều chỉnh của Công ước Vienna (CISG). Tòa đã xem xét các giao dịch trước đó của các bên và cho rằng từ rất nhiều giao dịch theo thông lệ của hai bên từ trước, bên bán có trách nhiệm phải cảnh báo bên mua kịp thời về việc mình không đồng ý áp dụng điều khoản trọng tài, trách nhiệm này còn cao hơn khi bên bán biết rằng bên mua đã mở thư tín dụng cho người thụ hưởng là bên bán. Tòa không chấp nhận lập luận bên bán cho rằng thư trả lời của bên bán từ chối áp dụng điều khoản trọng tài đã tạo thành một đề nghị thay thế đề nghị cũ vì thư này được gửi quá trễ. Ngược lại, việc bên bán đã vận chuyển một phần hàng hóa, cũng như sau đó vẫn tiếp tục dựa vào mẫu hợp đồng khung cho thấy bên bán đã chấp nhận đề nghị của bên mua thông qua hành động (Điều 18.1; 8.3 CISG). Cuối cùng, tòa kết luận hợp đồng đã được hình thành trên cơ sở đơn hàng ban đầu do bên mua gửi và được chấp nhận bởi bên bán.

Continue reading

NÂNG CAO KHẢ NĂNG ĐÁP ỨNG CÁC QUY ĐỊNH VÀ TIÊU CHUẨN QUỐC TẾ VỀ MÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI MỘT SỐ MẶT HÀNG XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

TS. BÙI HỮU ĐẠO – Vụ Khoa học – Bộ Thương mại

I. Giới thiệu chung

Việc thực hiện các hiệp định/công ước quốc tế về môi trường cũng như áp dụng hệ thống tiêu chuẩn quốc tế về môi trường trong bối cảnh tự do hoá thương mại đã góp phần tích cực hạn chế ô nhiễm môi trường giữa các nước, khuyến khích sản xuất và trao đổi sản phẩm thân thiện với môi trường. Tuy nhiên, trong bối cảnh tự do hoá thương mại, khi các rào cản thương mại được loại bỏ, các tiêu chuẩn và quy định về môi trường, trong nhiều trường hợp, đã trở thành "hàng rào xanh" trong buôn bán quốc tế và ngày càng được áp dụng rộng rãi ở các nước phát triển. Trong điều kiện như vậy, việc đáp ứng các quy định và tiêu chuẩn quốc tế về môi trường trong buôn bán quốc tế hiện nay đang là thách thức to lớn đối với các nước kém phát triển, nơi đang thiếu nhiều điều kiện để thực hiện và áp dụng các hiệp định/công ước và tiêu chuẩn quốc tế về môi trường.

Thực tế những năm qua, cùng với việc ra đời của các công nghệ kỹ thuật mới thúc đẩy quá trình toàn cầu hoá, môi trường ngày càng suy thoái, tài nguyên thiên nhiên ngày càng suy giảm và khoảng cách giàu nghèo giữa các nước trên thế giới ngày càng trở nên sâu sắc.

Chính vì vậy, trước nhu cầu tiếp tục cần có môi trường kinh tế quốc tế thuận lợi và năng động hỗ trợ hợp tác quốc tế, thực hiện các hành động cụ thể đã cam kết, chúng ta cần phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội và BVMT- coi đây như là ba trụ cột của quá trình phát triển bền vững và chúng có sự phụ thuộc tương hỗ, củng cố lẫn nhau. Bản thân môi trường không thể tự bảo vệ chính mình trước những ảnh hưởng tiêu cực hết sức mạnh mẽ của các ngành thương mại không bền vững, việc sản xuất và tiêu thụ quá mức của con người, dân số gia tăng, phát triển công nghệ sản xuất không thân thiện với môi trường.

Xuất khẩu Việt Nam hiện nay đang là trụ cột chính của nền kinh tế. Trong những năm tới, đẩy mạnh xuất khẩu vẫn là định hướng chiến lược quan trọng của Việt Nam. Tuy nhiên, xuất khẩu hiện nay của ta chủ yếu vẫn dựa vào nhóm hàng có nguồn gốc thiên nhiên, giá trị gia tăng thấp, đòi hỏi của các nước nhập khẩu ngày càng cao về các tiêu chuẩn và quy định môi trường. Trong điều kiện như vậy, vấn đề đặt ra đối với Việt Nam là cần có chính sách thương mại và môi trường như thế nào để khai thác triệt để các lợi thế của tự do hoá thương mại, góp phần vượt qua các rào cản môi trường để mở đường cho hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam. Để làm được điều đó cần thiết phải nghiên cứu những tác động của hệ thống các quy định và tiêu chuẩn quốc tế về môi trường đối với cạnh tranh thương mại quốc tế của Việt Nam, xác định những hạn chế và khả năng đáp ứng các quy định và tiêu chuẩn môi trường của các doanh nghiệp trong nước để đẩy mạnh xuất khẩu, từ đó đưa ra những giải pháp và kiến nghị nâng cao khả năng đáp ứng các yêu cầu về môi trường, nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hoá xuất khẩu Việt Nam nhằm tăng trưởng xuất khẩu và bảo vệ môi trường.

Continue reading

CÁC THOẢ THUẬN LOẠI BỎ CÁC RÀO CẢN PHI THUẾ QUAN TRONG ASEAN, APEC VÀ WTO

VĂN PHÒNG ỦY BAN QUỐC GIA VỀ HỢP TÁC KINH TẾ QUỐC TẾ

A. Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN)

Mục tiêu

Việc thành lập Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (AFTA) năm 1992 đã đưa ASEAN vượt ra khỏi khuôn khổ của một Thoả thuận Ưu đãi Thương mại thành một hình thức hội nhập sâu hơn. Hiệp định ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) yêu cầu các Quốc gia Thành viên phải loại bỏ các hạn chế định lượng đối với những sản phẩm quy định trong Chương trình CEPT ngay sau khi cắt giảm thuế quan, và tập trung loại bỏ các Rào cản Phi Thuế quan khác trong giai đoạn 5 năm sau khi các sản phẩm này được cắt giảm thuế quan. Theo Hiệp định ASEAN – CEPT, các Rào cản Phi Thuế quan được định nghĩa là các biện pháp ngăn cấm hoặc hạn chế một cách có hiệu quả việc nhập khẩu hoặc xuất khẩu hàng hoá. Lộ trình Hội nhập của ASEAN quy định chi tiết rằng các Rào cản Phi Thuế quan cần phải được loại bỏ vào năm 2010 đối với ASEAN – 6 và năm 2015/2018 đối với các nước CLMV (Campuchia, Lào, Myanma và Việt Nam).

Chương trình và các cam kết

ASEAN phân loại các biện pháp phi thuế quan thành: (i) Các rào cản kỹ thuật đối với thương mại (TBT); (ii) Các biện pháp kiểm dịch động thực vật (SPS); (iii) các biện pháp an ninh và môi trường; (iv) các quy trình thủ tục cấp phép nhập khẩu và/hoặc các biện pháp hành chính. Qui trình loại bỏ các Rào cản Phi Thuế quan về cơ bản đã được thống nhất, bao gồm việc (a) xác minh thông tin về các Rào cản Phi Thuế quan, (b) sắp xếp thứ tự ưu tiên các sản phẩm và các Rào cản Phi Thuế quan, (c) thiết lập một chương trình công tác, và (d) nhận nhiệm vụ từ các Bộ trưởng Kinh tế ASEAN giao thực thi chương trình công tác.

Một chương trình công tác đã được thiết lập chủ yếu bao gồm việc xác minh và thông báo chéo về các Rào cản Phi Thuế quan, thiết lập cơ sở dữ liệu, và rà soát các định nghĩa hoạt động về các Rào cản Phi Thuế quan được thông qua bởi Hệ thống Mã hoá về các Biện pháp Kiểm soát Thương mại của UNCTAD. Mô hình của chương trình này dựa trên các tiêu chí đã được thông qua tại Cuộc họp lần thứ 19 của Hội đồng AFTA năm 2005, cụ thể như sau:

Continue reading

các thoả thuận loại bỏ các rào cản phi thuế quan trong ASEAN, APEC VÀ WTO

VĂN PHÒNG ỦY BAN QUỐC GIA VỀ HỢP TÁC KINH TẾ QUỐC TẾ

A. Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN)

Mục tiêu

Việc thành lập Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (AFTA) năm 1992 đã đưa ASEAN vượt ra khỏi khuôn khổ của một Thoả thuận Ưu đãi Thương mại thành một hình thức hội nhập sâu hơn. Hiệp định ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) yêu cầu các Quốc gia Thành viên phải loại bỏ các hạn chế định lượng đối với những sản phẩm quy định trong Chương trình CEPT ngay sau khi cắt giảm thuế quan, và tập trung loại bỏ các Rào cản Phi Thuế quan khác trong giai đoạn 5 năm sau khi các sản phẩm này được cắt giảm thuế quan. Theo Hiệp định ASEAN – CEPT, các Rào cản Phi Thuế quan được định nghĩa là các biện pháp ngăn cấm hoặc hạn chế một cách có hiệu quả việc nhập khẩu hoặc xuất khẩu hàng hoá. Lộ trình Hội nhập của ASEAN quy định chi tiết rằng các Rào cản Phi Thuế quan cần phải được loại bỏ vào năm 2010 đối với ASEAN – 6 và năm 2015/2018 đối với các nước CLMV (Campuchia, Lào, Myanma và Việt Nam).

Chương trình và các cam kết

ASEAN phân loại các biện pháp phi thuế quan thành: (i) Các rào cản kỹ thuật đối với thương mại (TBT); (ii) Các biện pháp kiểm dịch động thực vật (SPS); (iii) các biện pháp an ninh và môi trường; (iv) các quy trình thủ tục cấp phép nhập khẩu và/hoặc các biện pháp hành chính. Qui trình loại bỏ các Rào cản Phi Thuế quan về cơ bản đã được thống nhất, bao gồm việc (a) xác minh thông tin về các Rào cản Phi Thuế quan, (b) sắp xếp thứ tự ưu tiên các sản phẩm và các Rào cản Phi Thuế quan, (c) thiết lập một chương trình công tác, và (d) nhận nhiệm vụ từ các Bộ trưởng Kinh tế ASEAN giao thực thi chương trình công tác.

Một chương trình công tác đã được thiết lập chủ yếu bao gồm việc xác minh và thông báo chéo về các Rào cản Phi Thuế quan, thiết lập cơ sở dữ liệu, và rà soát các định nghĩa hoạt động về các Rào cản Phi Thuế quan được thông qua bởi Hệ thống Mã hoá về các Biện pháp Kiểm soát Thương mại của UNCTAD. Mô hình của chương trình này dựa trên các tiêu chí đã được thông qua tại Cuộc họp lần thứ 19 của Hội đồng AFTA năm 2005, cụ thể như sau:

Continue reading

VIỆT NAM TRONG XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ NGÀY NAY

PGS.TS. CAO DUY HẠ

I. Xu hướng phát triển thương mại quốc tế ngày nay

Các quốc gia trên thế giới hiện nay dù lớn hay nhỏ, sớm hay muộn đều đi theo xu hướng tham gia ngày càng nhiều vào quá trình hợp tác kinh tế khu vực và thế giới, đa phương, đa chiều, đa lĩnh vực, trong đó thương mại là một trong những lĩnh vực được coi là trọng tâm. Đặc điểm nổi bật về xu hướng phát triển thương mại quốc tế ngày nay là:

1. Nội dung hoạt động thương mại rộng lớn mang tính quốc tế, chi phối hầu hết các lĩnh vực đời sống kinh tế – xã hội. Do đó, thương mại ngày nay không chỉ là những hoạt động mua bán sản phẩm hàng hóa vật thể mà còn bao gồm cả những hành vi mua bán và dịch vụ phi vật thể, tất cả đều nhằm thu lợi nhuận.

2. Hình thành các loại hình công ty, tập đoàn lớn, công ty xuyên quốc gia, đa quốc gia, với phạm vi hoạt động không biên giới và hình thành các tổ chức, hiệp hội thương mại khu vực và toàn cầu. Phạm vi tác động của thương mại quốc tế ngày nay mang ý nghĩa vô cùng sâu rộng, bao gồm nhiều thành phần thương mại, nhiều thương nhân và hợp thành mạng lưới chằng chịt các loại hình kinh doanh và dịch vụ; vừa liên doanh, liên kết, vừa tự do hoá, vừa độc quyền, vừa cạnh tranh, vừa hợp tác, vừa bình đẳng và không bình đẳng trong kinh doanh, đều cùng nhau tham gia hoạt động mua bán và dịch vụ trên thị trường, trên cơ sở hành lang pháp luật quốc gia và luật lệ quốc tế.

3. Xu thế liên doanh liên kết thương mại song phương, đa phương, bình đẳng ngày càng mở rộng và không ngừng phát triển. Đặc điểm kinh doanh thương mại ngày nay gồm hai chiều hướng: Một là, kinh doanh chuyên ngành, theo một sản phẩm hay một thương hiệu nhất định thành một hệ thống trên toàn cầu. Hai là, tổ chức mô hình những công ty, tập đoàn kinh doanh tổng hợp với nhiều loại hình, nhiều hàng hóa và dịch vụ khác nhau để nâng cao ưu thế cạnh tranh và chiếm lĩnh thị trường khu vực và thị trường thế giới.

Continue reading

CÔNG NHẬN TẠO SỰ TIN CẬY CHO XÃ HỘI VÀ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

VŨ XUÂN THỦY – Giám đốc Văn phòng Công nhận Chất lượng, Bộ KH&CN

Với vai trò đánh giá, công nhận các tổ chức đánh giá sự phù hợp trong chứng nhận sản phẩm/dịch vụ của các cơ sở sản xuất kinh doanh, hoạt động công nhận là một trong những phương cách giúp cho hàng hóa có thể tự do lưu thông giữa các quốc gia, là công cụ hạn chế các rào cản không cần thiết, tạo sự tin cậy cho xã hội và thương mại quốc tế.

Vai trò của hoạt động công nhận

Công nhận được hiểu là: “Việc đánh giá, xác nhận của một tổ chức có thẩm quyền về năng lực của tổ chức đánh giá sự phù hợp cho một hoạt động cụ thể” [ISO/IEC 17011: 2004]. Trong thực tế thì, công nhận là hoạt động của một tổ chức được chính phủ thừa nhận, thực hiện việc đánh giá công nhận các tổ chức chứng nhận (TCCN), phòng thí nghiệm (PTN), tổ chức giám định (TCGĐ) – các tổ chức này được gọi chung là các tổ chức đánh giá sự phù hợp – theo các chuẩn mực quốc tế. Có hai lý do chính dẫn đến việc ra đời và phát triển rộng khắp của hoạt động công nhận hiện nay trên thế giới:

Continue reading

BÀN VỀ CHỨNG TỪ GỐC TRONG GIAO DỊCH THƯ TÍN DỤNG

PHẠM THỊ THANH NGA – Sở giao dịch VietinBank

Trong hoạt động tín dụng chứng từ, việc xác định một chứng từ là bản gốc (original) hay bản sao (copy) là một vấn đề hết sức quan trọng. Chính vì vậy mà trong các văn bản liên quan đến tín dụng chứng từ như UCP, ISPB,.v.v. đều có những điều khoản rõ ràng quy định việc xác định tính chất gốc của một loại chứng từ. Tuy vậy, trong thực tế giao dịch thư tín dụng, các quy định này trong nhiều trường hợp đã từng bị cáo buộc là kẻ tội đồ gây tranh cãi và kiện tụng nhiều nhất. Trong phạm vi bài viết này, tác giả sẽ điểm lại các quy định về chứng từ gốc tại UCP 500, ISBP và gần đây nhất là UCP 600 với mong muốn được chia sẻ kinh nghiệm, các tình huống thực tế với những người mà công việc hàng ngày gắn liền với các giao dịch thư tín dụng.

Quy định về chứng từ gốc tại điều 20(b) UCP 500

Điều 20(b) UCP 500 quy định về chứng từ gốc như sau: “ Trừ phi LC quy định khác, các ngân hàng cũng sẽ chấp nhận là chứng từ gốc (đối với) chứng từ được tạo lập hoặc thể hiện là đã được tạo lập:
(i)     Bằng hệ thống sao chụp, tự động hoặc được vi tính hóa;
(ii)     Là các bản sao bằng giấy than;
Miễn là chứng từ đó được ghi chú là bản gốc và thể hiện được ký ở nơi cần thiết. Chứng từ có thể ký bằng chữ viết tay, bằng chữ ký qua fax, bằng chữ ký đục lỗ, bằng con dấu, bằng biểu tượng, hoặc bằng bất cứ phương pháp xác thực bằng điện tử hay cơ khí khác.”
Quy định về chứng từ gốc như vậy tưởng là đã quá rõ ràng cho các bên thực hành LC. Nhưng trên thực tế đã có không ít tranh chấp liên quan đến vấn đề chứng từ gốc xảy ra. Hai vụ tranh chấp dưới đây đã được tranh luận rất nhiều trên các diễn đàn của cộng đồng những người thực hành thư tín dụng trên toàn thế giới.

Những phán quyết trái ngược của các tòa án khi xác định tính chất gốc của chứng từ.
Vụ tranh chấp 1: Glencore International AG v Bank of China, [1996]

Continue reading

QUI TẮC XUẤT XỨ ĐỐI VỚI DỊCH VỤ: VẤN ĐỀ ĐANG NỔI LÊN TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ VÀ Ý NGHĨA ĐỐI VỚI DỊCH VỤ VẬN TẢI BIỂN VIỆT NAM

THS. NGUYỄN CHIẾN THÁNG – Viện Kinh tế, Viện Khoa học và Xã hội Việt Nam

1. Mở đầu

Nếu như quy tắc xuất xứ đối với hàng hóa đã có ý nghĩa quan trọng từ lâu trong các hiệp định thương mại quốc tế, thì quy tắc xuất xứ đối với dịch vụ mới chỉ thu hút sự chú ý trong thời gian gần đây, khi vai trò của thương mại dịch vụ ngày càng gia tăng và thế giới đang chứng kiến sự ra đời đến chóng mặt các hiệp định thương mại tự do (FTA) song phương và khu vực, đặc biệt là khu vực châu á – Thái Bình Dương, như một lối thoát đối với một số nước trong khu vực trước những bước tiến chậm chạp của quá trình tự do hóa thương mại trong khuôn khổ đàm phán đa phương WTO. Vấn đề các nước quan tâm là quy tắc xuất xứ cần phải được thiết kế như thế nào để đưa vào các hiệp định thương mại tự do, nhằm hạn chế việc các bên thứ ba hưởng những ưu đãi thương mại trong dịch vụ mà đáng ra chỉ được trao cho các bên ký kết hiệp định.

Đối với trường hợp Việt Nam, hiện nay chúng ta đang tham gia vào Hiệp định thương mại tự do khu vực ASEAN và cũng đang xúc tiến tìm kiếm các thỏa thuận thương mại tự do song phương với các đối tác quan trọng như Nhật Bản hay một số đối tác thương mại khác. Trước xu thế thương mại dịch vụ ngày càng gia tăng, việc áp dụng quy tắc xuất xứ đối với dịch vụ trong Hiệp định Khung về thương mại dịch vụ ASEAN (ASEAN Framework Agreement on Services, gọi tắt là AFAS) hay các hiệp định thương mại tự do song phương khác mà Việt Nam đang tìm kiếm là một điều hoàn toàn có thể. Do vậy, việc tìm hiểu rõ nội dung của khái niệm này cùng với tác động của nó đối với các doanh nghiệp đang hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ là hết sức cần thiết.

Với mục đích trên, nghiên cứu này được chia làm 2 phần. Phần đầu trình bày khái niệm quy tắc xuất xứ đối với dịch vụ, tầm quan trọng của quy tắc này trong thương mại quốc tế, và các tiêu chí áp dụng trong thực tế. Trong phần thứ hai, tác giả mô phỏng tác động của các tiêu chí trên (nếu được áp dụng trong Hiệp định AFAS) đối với các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (ĐTNN) từ các nước ngoài khối ASEAN trong ngành vận tải biển của Việt Nam – là một ngành dịch vụ có mức độ hội nhập sâu với nền kinh tế trong khu vực cũng như thế giới.

2. Khái niệm

2.1. Quy tắc xuất xứ đối với dịch vụ là gì?

CÁC YÊU CẦU ĐỐI VỚI CHÍNH SÁCH KINH TẾ CHUNG KHI GIA NHẬP WTO

TRẦN HỮU BƯU, NGUYỄN VÂN CHI, PHẠM THỊ TƯỚC, TRƯƠNG THÙY LINH, TRẦN HÀO HÙNG VÀ TRỊNH MINH ANH 

Giới thiệu

Trong giai đoạn đầu của quá trình gia nhập, giống như các nước đang gia nhập khác, Việt Nam được yêu cầu cung cấp các thông tin chi tiết về cơ chế kinh tế và thương mại của mình. Các Hiệp định WTO không đưa ra các nghĩa vụ trực tiếp mà chính sách kinh tế của các Thành viên phải tuân thủ cũng như không quy định các công cụ chính để thực thi chính sách. Nhưng từ hệ thống của WTO có thể thấy rằng các chính sách kinh tế chung của các Thành viên có tác động quan trọng tới cơ chế thương mại nói chung và quyết định nội dung của các biện pháp thương mại một cách đáng kể.

Do đó, Việt Nam được yêu cầu cung cấp các thông tin chi tiết về chính sách thương mại của mình trong Bị vong lục về cơ chế Ngoại thương của mình, Bị vong lục được cung cấp cho WTO trong giai đoạn đầu của tiến trình gia nhập, và sau đó Việt Nam được yêu cầu cung cấp cho Ban công tác về việc Việt Nam gia nhập WTO (Ban công tác) những thay đổi lớn trong các chính sách kinh tế của mình.

1. Chính sách tài chính và tiền tệ

Như được chỉ ra tại các đoạn 9 – 17 trong Báo cáo của Ban công tác, đại diện của Việt Nam thông báo cho Ban công tác những yếu tố quan trọng nhất trong chính sách tài chính và tiền tệ của Việt Nam và các khía cạnh thể chế liên quan. Đại diện của Việt Nam khẳng định với Ban công tác rằng mục tiêu chính của chính sách tiền tệ của Việt Nam là ổn định giá trị của tiền Đồng nhằm kiểm soát lạm phát và thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội. Đại diện này cũng cung cấp thông tin về sự phát triển của hệ thống ngân hàng thương mại, kể cả lịch trình cổ phần hóa dự kiến. Quá trình cải cách hệ thống thuế cũng được mô tả chi tiết.

1.1. Thông tin chung và quá trình gia nhập WTO

Việt Nam phải thông báo chi tiết về hệ thống thanh toán và giao dịch ngoại hối của mình cho WTO do vai trò quyết định của hệ thống này đối với việc duy trì các mối quan hệ kinh tế phù hợp với các quy tắc của WTO4. Như đại diện của Việt Nam giải thích, Việt Nam đã thay thế hệ thống tỷ giá hối đoái cố định bằng một cơ chế tỷ giá linh hoạt thả nổi có quản lý từ năm 1989. Việt Nam đã bình thường hoá quan hệ tài chính với Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) vào năm 1993 và đã từng bước tuân thủ các yêu cầu tại Điều VIII trong Điều lệ IMF. Mục tiêu đưa Đồng Việt Nam trở thành đồng tiền chuyển đổi được đặt ra vào năm 2001 và các biện pháp kiểm soát giao dịch vãng lai đã dần dần được tự do hóa.

Continue reading

CÁC KHÍA CẠNH PHÁP LÝ CỦA QUÁ TRÌNH GIA NHẬP WTO

PETER NARAY & NGUYỄN KHÁNH NGỌC

Giới thiệu

Trong quá trình đàm phán bất kỳ điều ước quốc tế nào, bên cạnh các cân nhắc về chính trị quyết định sự cần thiết và mục tiêu của điều ước, các khía cạnh pháp lý có tầm quan trọng đặc biệt. Đối với các nước theo cách tiếp cận “nhất nguyên” đối với các điều ước quốc tế, tức là các điều ước quốc tế đã ký kết có thể được áp dụng trực tiếp trong hệ thống luật pháp trong nước thì các điều ước quốc tế là một nguồn luật quan trọng. Dù một Thành viên WTO có cách tiếp cận pháp lý như thế nào đối với với các điều ước quốc tế mà Thành viên này tham gia, WTO coi việc thực hiện các nghĩa vụ trong WTO là yếu tố có tầm quan trọng quyết định, thể hiện ở quy định "Mỗi Thành viên sẽ đảm bảo việc các luật, quy định và thủ tục hành chính tuân thủ với các nghĩa vụ của Thành viên đó…”126.

Theo Luật Đàm phán, ký kết và gia nhập các Điều ước quốc tế của Việt Nam năm 2005 (“Luật Điều ước”) thì các điều ước quốc tế mà Việt Nam là Thành viên được thừa nhận là có hiệu lực pháp lý để áp dụng trực tiếp trong nội luật nếu như các cơ quan có thẩm quyền quyết định áp dụng trực tiếp và sẽ được ưu tiên áp dụng trong trường hợp luật trong nước quy định khác127. Do đó, không thể hiểu hết tác động pháp lý của việc trở thành Thành viên WTO cũng như các cam kết trong Tổ chức này nếu như không biết rõ hiệu lực pháp lý của các cam kết và cách thức các cam kết này được thực thi trong nội luật. Một công cụ pháp lý quan trọng đối với WTO là Nghị quyết số 71/2006/QH11 ngày 29/11/2006 của Quốc hội về việc phê chuẩn Nghị định thư gia nhập Hiệp định WTO của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (Nghị quyết phê chuẩn số 71). Một yếu tố nữa cũng quan trọng là năm 2001 Việt Nam đã trở thành Thành viên của Công ước Viên năm 1969 về Điều ước quốc tế, Công ước được thừa nhận là cơ sở pháp luật và hướng dẫn diễn giải tất cả các quy tắc và cam kết trong WTO128; do đó, Việt Nam phải thực thi các nghĩa vụ và cam kết của mình phù hợp với các quy tắc của WTO như được diễn giải theo các quy tắc của Công ước Viên.

Nghiên cứu này nhằm phân tích tác động của các khía cạnh pháp lý trong quá trình gia nhập WTO của Việt Nam thông qua rà soát các cam kết WTO liên quan tới lĩnh vực pháp lý129, như thực hiện các điều ước quốc tế (kể cả các cam kết WTO) thông qua quy định pháp luật trong nước, áp dụng thống nhất và minh bạch hóa chính sách (công bố luật, nhận xét của công chúng và công văn).

Continue reading

TỔNG QUAN VỀ TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI

PSG.TS. NGUYỄN NHƯ BÌNH – Khoa Kinh tế & Kinh doanh Quốc tế, Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội

1.1. HỆ THỐNG THƯƠNG MẠI ĐA PHƯƠNG: NHỮNG VẤN ĐỀ KHÁI QUÁT

1.1.1. Thương mại quốc tế và hội nhập toàn cầu

Thương mại quốc tế có lịch sử lâu đời. Từ thời trung cổ đã có hoạt động giao lưu buôn bán giữa các quốc gia trong phạm vi từng khu vực cũng như giữa Đông và Tây. Sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa tư bản đã dẫn đến sự bùng nổ của thương mại quốc tế, gắn liền với chủ nghĩa thực dân cũ cướp bóc và nô dịch thuộc địa. Trong suốt các thế kỷ 16, 17 và 18, lý thuyết trọng thương có vai trò thống trị trong việc giải thích về thương mại quốc tế. Thế kỷ 19 với sự ra đời của lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith, nhất là lý thuyết lợi thế so sánh của D. Ricardo, thương mại thế giới đã được dẫn dắt theo một chiều hướng khác: chuyên môn hóa và trao đổi, điều đó sẽ mang lại lợi ích cho các quốc gia tham gia thương mại quốc tế và cho nền kinh tế thế giới.

Hệ thống thương mại đa phương đã được thiết lập cùng với việc ký kết Hiệp định Chung về Thuế quan và Thương mại vào năm 1947 (GATT 1947). Các lý thuyết thương mại quốc tế đã dẫn dắt và cổ vũ cho xu hướng tự do hóa thương mại trong hệ thống thương mại đa phương. Kể từ năm 1948 đến nay, thương mại quốc tế đã có những bước phát triển nhảy vọt. Năm 1948, tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của thế giới đạt 58 tỷ USD và tổng kim ngạch nhập khẩu đạt 62 tỷ USD. Các con số tương ứng về tổng kim ngạch xuất khẩu và tổng kim ngạch nhập khẩu của năm 1980 là 2.034 tỷ USD và 2.075 tỷ USD, năm 1990 là 3.449 tỷ USD và 3.550 tỷ USD, năm 2000 là 6.452 tỷ USD và 6.724 tỷ USD, và năm 2005 là 10.431 tỷ USD và 10.783 tỷ USD1.

Continue reading

Ý NGHĨA CỦA VIỆC GIA NHẬP WTO ĐỐI VỚI CHÍNH PHỦ VÀ CÁC DOANH NGHIỆP

MUTRAP

1. Bản chất của WTO

Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) được thành lập vào ngày 1 tháng 1 năm 1995 và là một bước phát triển toàn diện của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT). WTO quản lý các Hiệp định thương mại do các Thành viên ký kết, đặc biệt là Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT), Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ (GATS) và Hiệp định về quyền sở hữu trí tuệ (TRIPs). Các quy định và thủ tục của WTO tạo ra một khuôn khổ cho việc trao đổi hàng hóa, dịch vụ và sở hữu trí tuệ. Các nguyên tắc và quy định được các Thành viên đàm phán thông qua các cuộc thảo luận chính thức và không chính thức khác trong các diễn đàn khác nhau của WTO và các vòng đàm phán thương mại đa phương định kỳ như Vòng đàm phán Đôha vì sự phát triển hiện nay (DDA).

Các Thành viên WTO có trình độ kinh tế khác nhau, từ những nền kinh tế kém phát triển nhất cho tới những nền kinh tế phát triển nhất. Sự thành công của tổ chức này được thể hiện ở sự phát triển liên tục số lượng các nước tham gia. Kể từ khi tổ chức này được thành lập, đã có hai mươi hai nước – kể cả Việt Nam – gia nhập WTO, đưa tổng số Thành viên lên tới 150 (tới thời điểm tháng 10 năm 2007), chiếm trên 90% tổng thương mại toàn cầu. Các Thành viên mới của châu Á gia nhập WTO trước Việt Nam là Trung Quốc và Đài Loan, hai nền kinh tế gia nhập năm 2001 và 2002, Ácmênia (2003), Campuchia (2004) và Nêpan (2004).

WTO coi việc không phân biệt đối xử, mở cửa thị trường và cạnh tranh toàn cầu trong thương mại quốc tế sẽ thúc đẩy phúc lợi quốc gia tại tất cả các nước là triết lý nền tảng của mình. Một lý do khiến WTO tồn tại là các hạn chế về chính trị đã ngăn cản các Chính phủ áp dụng các chính sách thương mại hiệu quả hơn, và thông qua sự trao đổi có đi có lại các cam kết tự do hóa, các nước có thể vượt qua các hạn chế chính trị này. Các quy định và thủ tục của WTO (www.wto.org) được xây dựng dựa trên một số nguyên tắc chung, các nguyên tắc này có thể được tóm tắt dưới đây:

Continue reading

Ý NGHĨA CỦA VIỆC GIA NHẬP WTO đối với Chính phủ và các doanh nghiệp

MUTRAP

1. Bản chất của WTO

Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) được thành lập vào ngày 1 tháng 1 năm 1995 và là một bước phát triển toàn diện của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT). WTO quản lý các Hiệp định thương mại do các Thành viên ký kết, đặc biệt là Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT), Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ (GATS) và Hiệp định về quyền sở hữu trí tuệ (TRIPs). Các quy định và thủ tục của WTO tạo ra một khuôn khổ cho việc trao đổi hàng hóa, dịch vụ và sở hữu trí tuệ. Các nguyên tắc và quy định được các Thành viên đàm phán thông qua các cuộc thảo luận chính thức và không chính thức khác trong các diễn đàn khác nhau của WTO và các vòng đàm phán thương mại đa phương định kỳ như Vòng đàm phán Đôha vì sự phát triển hiện nay (DDA).

Các Thành viên WTO có trình độ kinh tế khác nhau, từ những nền kinh tế kém phát triển nhất cho tới những nền kinh tế phát triển nhất. Sự thành công của tổ chức này được thể hiện ở sự phát triển liên tục số lượng các nước tham gia. Kể từ khi tổ chức này được thành lập, đã có hai mươi hai nước – kể cả Việt Nam – gia nhập WTO, đưa tổng số Thành viên lên tới 150 (tới thời điểm tháng 10 năm 2007), chiếm trên 90% tổng thương mại toàn cầu. Các Thành viên mới của châu Á gia nhập WTO trước Việt Nam là Trung Quốc và Đài Loan, hai nền kinh tế gia nhập năm 2001 và 2002, Ácmênia (2003), Campuchia (2004) và Nêpan (2004).

WTO coi việc không phân biệt đối xử, mở cửa thị trường và cạnh tranh toàn cầu trong thương mại quốc tế sẽ thúc đẩy phúc lợi quốc gia tại tất cả các nước là triết lý nền tảng của mình. Một lý do khiến WTO tồn tại là các hạn chế về chính trị đã ngăn cản các Chính phủ áp dụng các chính sách thương mại hiệu quả hơn, và thông qua sự trao đổi có đi có lại các cam kết tự do hóa, các nước có thể vượt qua các hạn chế chính trị này. Các quy định và thủ tục của WTO (www.wto.org) được xây dựng dựa trên một số nguyên tắc chung, các nguyên tắc này có thể được tóm tắt dưới đây:

Continue reading

CAM KẾT VỀ DỊCH VỤ KHI GIA NHẬP WTO: BÌNH LUẬN CỦA NGƯỜI TRONG CUỘC

MUTRAP

LỜI NÓI ĐẦU

Trong 2 năm qua, sau khi chính thức trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Việt Nam đã nghiêm túc thực hiện các cam kết của mình với tổ chức này trong tất cả các lĩnh vực như thuế, phi thuế, sở hữu trí tuệ, dịch vụ… Sự nghiêm túc của Việt Nam được các thành viên WTO và cộng đồng doanh nghiệp trong và ngoài nước đánh giá cao và đó cũng là một trong những nguyên nhân quan trọng góp phần tạo ra kết quả thu hút vốn đầu tư nước ngoài đầy ấn tượng trong 2 năm 2007 và 2008 vừa qua.

Tuy nhiên, như ở nhiều thành viên mới gia nhập WTO khác, quá trình thực thi cam kết ở Việt Nam cũng đã gặp một số vướng mắc gây khó khăn không nhỏ cho doanh nghiệp và các cơ quan quản lý nhà nước hu quan. Những vướng mắc này chủ yếu phát sinh trong lĩnh vực dịch vụ, một lĩnh vực còn khá mới và hết sức phức tạp, không chỉ với nước ta mà còn với nhiều nước khác trên thế giới.

Sự phức tạp trong thực thi các cam kết dịch vụ bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, trong đó có những nguyên nhân không dễ nhận biết nếu dịch vụ hoặc đàm phán dịch vụ không phải là lĩnh vực chuyên môn của người có liên quan. Trong những nguyên nhân này, có nguyên nhân thuộc về cách định nghĩa và phân loại dịch vụ, có nguyên nhân thuộc về cách thức cam kết mở cửa thị trường dịch vụ, nhưng cũng có những nguyên nhân bắt nguồn từ chiến thuật đàm phán của các nhà đàm phán, tức là không mấy liên quan tới bản chất và nội dung, khiến quá trình thực thi vốn đã phức tạp càng trở nên phức tạp và rắc rối hơn.

Sự phức tạp trong thực thi các cam kết dịch vụ đã và đang gây khó khăn cho các doanh nghiệp và cơ quan quản lý, cấp phép đầu tư tại các địa phương. Nhiều doanh nghiệp, do chưa hiểu rõ nội dung của Biểu cam kết dịch vụ, đã bỏ công điều tra, chắp nối, xây dựng nghiên cứu tiền khả thi và nộp đơn xin thành lập các dự án đầu tư trong những ngành hoặc phân ngành dịch vụ mà Biểu cam kết dịch vụ không cho phép hoặc chỉ cho phép sau một thời gian chuyển đổi, dẫn đến việc hồ sơ xin phép bị cơ quan cấp phép từ chối và doanh nghiệp phải gánh chịu những mất mát to lớn về thời gian và chi phí. Ở chiều ngược lại, cũng do chưa nắm rõ nội dung của Biểu cam kết nên rải rác đã xuất hiện tình trạng cơ quan quản lý nhà nước từ chối các quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư khiến nhà đầu tư phải khiếu nại, ảnh hưởng đến uy tín không chỉ của cơ quan quản lý nhà nước có liên quan mà còn của cả Chính phủ Việt Nam trong quá trình thực thi cam kết gia nhập WTO.

Continue reading

CÁC QUAN NGẠI THƯƠNG MẠI LIÊN QUAN ĐẾN TBT VÀ ĐỘNG THÁI CỦA VIỆT NAM

LÊ QUỐC BẢO

Theo thống kê của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) trong khoảng 10 năm (từ năm 1995 đến 2005) đã có 133 quan ngại thương mại liên quan đến TBT (Đề án triển khai thực hiện Hiệp định hàng rào kỹ thuật trong thương mại) và số lượng các quan ngại mới mỗi năm một tăng. Vậy các quan ngại thương mại liên quan đến TBT là gì? Ảnh hưởng của nó đến các nước thành viên ra sao, và chúng ta phải làm gì trước những quan ngại này?

Các quan ngại thương mại liên quan đến TBT

Các quan ngại thương mại (Trade concern) liên quan đến TBT là sự quan tâm của một hoặc nhiều nước thành viên WTO đối với các quy định nêu trong quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn hoặc quy trình đánh giá sự phù hợp của một nước thành viên khác và cho rằng, các quy định này có hoặc có thể sẽ tác động tiêu cực đến thương mại của họ.

Theo thống kê của WTO, từ năm 1995 đến năm 2005 có khoảng 133 quan ngại đã được đưa ra, và số lượng quan ngại mới mi năm đều tăng theo thời gian. Nếu xét theo nhóm nước, thì nhóm các nước phát triển có số quan ngại nhiều hơn so với các nước đang phát triển. Các quan ngại tập trung vào 9 nguyên nhân chủ yếu sau: Các quy định đưa ra thiếu cơ sở khoa học; nhằm vào các mục tiêu không hợp pháp/không hợp lý; tác động tiêu cực đến thương mại; mang tính phân biệt đối xử; không sử dụng tiêu chuẩn quốc tế khi đưa ra quy định; các quy định phức tạp, thiếu sự thông hiểu; là rào cản không cần thiết đối với thương mại; không đảm bảo tính công khai, minh bạch khi đưa ra quy định; các nguyên nhân khác. Trong đó, các nguyên nhân phổ biến và chiếm tỷ lệ cao là: Các quy định phức tạp, thiếu sự thông hiểu (chiếm 50%), là rào cản không cần thiết đối với thương mại (chiếm 62%) và không đảm bảo tính công khai, minh bạch (chiếm 80%).

Các quan ngại đề cập đến các sản phẩm/lĩnh vực nào?

Có 5 nhóm sản phẩm/lĩnh vực mà các quan ngại đề cập là: Các sản phẩm thực phẩm, đồ uống giải khát và rượu; sản phẩm hoá chất; dệt may; máy móc, cơ khí và thiết bị điện; phương tiện giao thông (đường bộ/thuỷ/hàng không) và trang thiết bị giao thông có liên quan. Dưới đây là một số quan ngại tiêu biểu:

Continue reading

NGUYÊN TẮC TỰ DO CHỌN LUẬT CHO HỢP ĐỒNG TỪ CÔNG ƯỚC ROME 1980 ĐẾN QUI TẮC ROME I VÀ NHÌN VỀ VIỆT NAM

NGUYỄN THỊ HỒNG TRINH – Khoa Luật, Đại học Huế

Các bên trong hợp đồng có yếu tố nước ngoài được tự do lựa chọn luật áp dụng cho quan hệ hợp đồng giữa họ là một nguyên tắc chung của luật hợp đồng được thừa nhận rộng rãi trên thế giới1. Nguyên tắc này bắt đầu phát triển vào thế kỉ 202 và thịnh hành ở Mỹ, châu Âu sau nhiều năm tranh luận. Phần lớn các hợp đồng quốc tế đều có điều khoản chọn luật và điều khoản này đến nay đều được Tòa án xem xét khi có tranh chấp xảy ra3. Công ước Rome 1980 về luật áp dụng cho nghĩa vụ hợp đồng4 và Quy tắc Rome I5 cũng cho phép các bên chọn luật điều chỉnh hợp đồng giữa họ. Nguyên tắc này được pháp luật Việt Nam ghi nhận tại Điều 769 của Bộ luật Dân sự năm 2005 (BLDS). Bài viết phân tích nguyên tắc tự do chọn luật áp dụng cho hợp đồng trong Công ước Rome và sự phát triển ở Quy tắc Rome I. Từ đó so sánh với quy tắc chọn luật của pháp luật Việt Nam.

1. Nguyên tắc các bên tự do lựa chọn luật áp dụng cho hợp đồng

Nguyên tắc cơ bản được Điều 3 Công ước Rome và Điều 3 Quy tắc Rome I đưa ra là “hợp đồng sẽ được điều chỉnh bởi luật do các bên lựa chọn”. Điều 769 của BLDS Việt Nam quy định: “Quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng được xác định theo luật nơi thực hiện hợp đồng, nếu không có thỏa thuận khác”. Như vậy, so với sự ghi nhận trực tiếp của Công ước Rome và Quy tắc Rome I, pháp luật Việt Nam dùng cụm từ “nếu không có thỏa thuận khác” thì có phần chung chung và không rõ ràng bằng. Trong khi cả Công ước Rome và Quy tắc Rome I đều có Điều 3 về quyền tự do chọn luật với 4 khoản thì Điều 769 của BLDS Việt Nam chỉ ghi nhận trong cụm từ “nếu không có thỏa thuận khác”. Điều này dẫn đến hệ quả là có một số khía cạnh của quyền tự do chọn luật áp dụng cho hợp đồng được tư pháp quốc tế thế giới, trong đó có hai văn bản trên đề cập thì pháp luật Việt Nam lại chưa quy định hoặc nếu có cũng chưa rõ ràng6.

1.1. Các bên có được lựa chọn luật của một nước không phải là thành viên của Liên minh châu Âu không?

Công ước Rome ghi nhận quyền của các bên được tự do lựa chọn luật áp dụng cho hợp đồng dù đó là luật của các nước thành viên EU hay không. Điều 2 Công ước quy định: “Bất kỳ luật nào được chỉ định bởi Công ước sẽ được áp dụng mặc cho đó là luật của nước ký kết Công ước hay không”. Tương tự, Quy tắc Rome I có đề cập đến vấn đề này tại Điều 2 nhưng với tiêu đề bao trùm hơn “áp dụng phổ biến (universal application)” như sau: “Bất cứ luật được chỉ định bởi Quy tắc này sẽ được áp dụng cho dù đó có phải là luật của nước thành viên hay không”. Như vậy, luật được lựa chọn không giới hạn trong luật của các quốc gia ký kết Công ước Rome hay luật của nước thành viên Liên minh châu Âu7.

Continue reading

DANH CHÍNH NGÔN THUẬN

THU TRANG – Ban pháp chế (VCCI)

Sự tham gia hạn chế của cộng đồng doanh nghiệp trong các vấn đề có liên quan đến chính sách thương mại quốc tế có thể là một trong những nguyên nhân khiến việc tận dụng những lợi thế, vượt qua các thách thức từ các cam kết thương mại quốc tế hiện tại của chúng ta còn không ít bất cập.

Lấy ý kiến doanh nghiệp: một tỷ lệ quá thấp

Thời gian gần đây, cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam đã có nhiều cơ hội hơn để tham gia vào quá trình hoạch định chính sách và xây dựng pháp luật nội địa. Điều này đã bước đầu mang lại những kết quả tích cực. Một hệ thống pháp luật về hoạt động kinh doanh đầu tư với những thay đổi căn bản theo hướng thông thoáng hơn, đáp ứng tốt hơn nhu cầu doanh nghiệp, từ đó giúp nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh và sự phát triển của nền kinh tế là một minh chứng cho việc này.

Tuy nhiên, sự tham gia của cộng đồng doanh nghiệp vào các chính sách, cam kết thương mại quốc tế của Việt Nam chưa có được sự phối hợp công – tư như vậy. Luật Ký kết và Gia nhập Điều ước quốc tế (2005), văn bản cơ sở về vấn đề này, không có quy định bắt buộc nào về việc lấy ý kiến của cộng đồng doanh nghiệp, cũng không có cơ chế nào để cộng đồng này được thông tin về định hướng đàm phán cũng như không có kênh chính thức nào để chủ động có tiếng nói, phản ánh nguyện vọng của mình đối với quá trình này.

Trên thực tế, dù không có quy định, đâu đó trong các đàm phán thương mại quốc tế (đặc biệt trong đàm phán gia nhập WTO), một số cơ quan bộ ngành vẫn lấy ý kiến và sử dụng thông tin từ doanh nghiệp, hiệp hội.

Continue reading

ĐIỀU KIỆN GIAO HÀNG CIF

SAGA.VN

1. Khái niệm

CIF được viết tắt từ Cost Insurance and Freight nghĩa là giá thành, bảo hiểm và cước. Đây là một thuật ngữ thương mại quốc tế được sử dụng rộng rãi trong các hợp đồng mua bán quốc tế. Khi giá cả được nêu làCIF, nó có nghĩa là giá của bên bán hàng đã bao gồm giá thành của sản phẩm, cước phí vận chuyển và phí bảo hiểm. Người bán mua bảo hiểm và thuê phương tiện vận tải chuyên chở hàng hoá đến cảng đã nêu tên. Người bán hết trách nhiệm với hàng hoá kể từ khi hàng hoá được giao lên boong tàu do người bán thuê tại cảng đi. Mọi phát sinh sau thời điểm giao hàng, người mua phải chịu trách nhiệm. Người bán phải mua bảo hiểm và chịu mọi chi phí phát sinh liên quan như giấy phép, thông quan xuất khẩu…

Về mặt quốc tế, thuật ngữ này chỉ rõ cảng đến, ví dụ "CIF New York" hay “CIF Hải Phòng". Điều kiện CIF chỉ áp dụng cho phương thức vận tải biển hoặc đường thuỷ nội địa. Ở Việt Nam, đa phần các doanh nghiệp đều nhập khẩu theo giá CIF.

Giống CFR  về giá thành và cước, điều kiện CIF chỉ bổ sung thêm là bên bán hàng phải chịu thêm trách nhiệm mua bảo hiểm cho hàng hoá hay nói một cách khác là có bảo hiểm đơn có thể chuyển nhượng được để bảo chứng (tiền đảm bảo) cho các rủi ro trong quá trình vận chuyển từ các nhà bảo hiểm. Giá trị của bảo hiểm đơn cần bảo chứng cho giá CIF cộng 10 phần trăm và khi có thể cần phải là loại hình tiền tệ đã được ghi trong hợp đồng mua bán.

2. Nghĩa vụ của các bên

a. Nghĩa vụ của bên bán

A1. Cung cấp hàng theo đúng hợp đồng

Người bán phải cung cấp hàng hoá và hoá đơn thương mại hoặc thông điệp điện tử tương đương, theo đúng hợp đồng mua bán và cung cấp mọi bằng chứng về việc đó nếu hợp đồng yêu cầu.

A2. Giấy phép, cho phép và thủ tục

Người bán phải tự chịu rủi ro và chi phí để lấy giấy phép xuất khẩu hoặc sự cho phép chính thức khác. Người bán cũng phải thực hiện, nếu có quy định, mọi thủ tục hải quan bắt buộc phải có đối với việc xuất khẩu hàng hoá.

Continue reading